Giữa đớn đau vì mất mát, nhận ra giận dữ và thất vọng

Chắc rồi tin tức cậu học sinh lớp 10 rời xa nhà, xuống thành phố đi học ở trường tư Nguyễn Khuyến vừa lựa chọn tự tử gần đây sẽ được thay thế bằng tin tức một người trẻ nào đó lại kết thúc sớm đời mình.

Lâu nay, câu chuyện trẻ vị thành niên, mới lớn tự sát chưa bao giờ thôi gây thắc mắc, và ‘tại sao’ thường trở thành tâm điểm dò tìm, mong đợi trả lời thoả đáng. Trước một sinh mạng tuyệt tận, chúng ta ít nhiều đều bị tác động, ảnh hưởng.

Khi nghĩ tới kẻ nay đà khuất bóng, các phẩm tính nhân văn khiến chúng ta khởi sinh lòng từ bi; song khi chú mục xác định nguyên nhân gây nên cái chết, chúng ta sẽ dễ dàng cảm thấy tức giận.

Đôi khi không tức giận chi thì hoá ra đồ vô tri vô dụng, song hồ như chúng ta khó thấy rằng cơn giận chẳng mấy chốc kiểm soát chúng ta. Cần cẩn thận với sự bùng phát đột ngột. Nếu đó là sự trả đũa nhắm vào tội phạm mà không khiến những sinh linh bé nhỏ khác mang vạ, tốt; vì chẳng trả đũa gì cũng có thể sai, và nó thường bị hiểu nhầm. Và một trong những cách thể hiện bất bạo động hữu ích là vun bồi tư duy đúng đắn và có cái nhìn chắc thật, toàn diện.

Nghe xem tin tức bạo lực và chết chóc, nhiều cảm xúc xáo trộn khủng khiếp, lắm lúc thật ước gì trơ khấc, bất động đặng khỏi đau đớn, tổn thương. Song lần nữa, nếu nhìn sâu vào tâm trí mình, lối trỏ lại chỉ về hướng giận dữ. Thực tế, xảy ra điều đó cũng là bình thường, dù kỳ cùng thì không nên để cảm nhận ấy giữ mãi mức độ tức giận…

Nhân mất mát vừa qua, thử xem kiến thức tâm lý học cơ bản cho chúng ta hiểu biết gì?

Trạng thái cảm xúc bao gồm mẫu hình chứa các phản ứng nhận thức, sinh lý, và hành vi đối với các sự kiện xảy ra; nói khác, cảm xúc liên quan chặt chẽ với động cơ: chúng ta phản ứng một cách cảm xúc với các thôi thúc và mục tiêu ưng cái bụng, bị đe doạ hoặc hụt hẫng… Cảm xúc trỏ các cảm giác chứa đựng sự đánh giá chủ quan, các tiến trình sinh lý, và niềm tin nắm giữ lâu nay.

Trong khi đó, tâm trạng thì là trạng thái khuếch tán cảm xúc kéo dài mà nó quấy nhiễu ghê gớm cả suy tư lẫn các hành vi, ứng xử.

Còn stress được hiểu là mẫu hình gồm các đáp ứng mang tính hành vi và sinh lý đối với các sự kiện mà năng lực người ta phù hợp hoặc quá tải.

Nôm na, khả năng phục hồi là phẩm tính sáng giá mà ai đó bị đời đánh bầm dập, lên bờ xuống ruộng te tua xơ mướp chẳng hạn vẫn đủ sức chịu đựng, quay về ‘lợi hại hơn xưa’. Thay vì bị thất bại đè bẹp hoặc cạn kiệt giải pháp, người sở hữu khả năng phục hồi tốt có thể tìm ra cách ‘rũ bùn đứng dậy sáng loà’. Một số yếu tố đảm bảo sự phục hồi hiện thực là thái độ tích cực, lạc quan, khả năng điều chỉnh cảm xúc, và cả khả năng nhìn thất bại dưới dạng giúp mình phát hiện các khiếm khuyết cần bổ sung, thay đổi…

Làm kẻ mới lớn đồng nghĩa là tâm tính khó yên ả, cảm xúc đôi hồi bất chợt, náo động khó hiểu, áp lực học tập, lòng tự tin, kinh nghiệm sống…  Tự sát đứng hàng thứ ba sau việc bị giết hại và tai nạn với độ tuổi từ 15 tới 24.

Dưới góc nhìn tâm bệnh học, tự sát ở tuổi mới lớn là hiện tượng phức tạp, và quyết không bao giờ vì một lý do duy nhất. Đấy là cách tiếp cận đòi hỏi tăng cường phòng ngừa với các yếu tố bảo vệ, xét yếu tố nguy cơ thì lo lắng xuất hiện khả năng tự làm hại và quyên sinh,  chẳng hạn dễ nảy sinh dự tính tự sát với người nữ, điểm học tập thấp, nghèo hèn, và không sống hoặc chỉ sống cùng với bố/ mẹ (Yeojin et al, 2017); hay người ta thấy các yếu tố sẽ dễ khiến người trẻ Thái Lan tự sát: (1) bị quát mắng thậm tệ và nguyền rủa chết đi bởi thành viên gia đình; (2) không thoả ước mong hoặc bạn trai chẳng lưu tâm trong lần đầu yêu đương; (3) mang thai ngoài ý muốn, và (4) mắc rối loạn tâm thần khiến cảm xúc bùng nổ và các xung năng bộc phát chẳng khống chế nổi (Supattra et al, 2015).

Phân tích số liệu của WHO về tỷ lệ tự sát của nhóm tuổi 15-19 trên toàn thế giới, từ 1990- 2009, cho thấy (Kain et al, 2016), lý do ở các nước phương Tây con số tự sát giảm có thể liên quan tới những cải thiện trong sức khoẻ nói chung; các quốc gia Nam Mỹ tăng thì khả năng là do khủng hoảng kinh tế và tác động của nó tới các gốc gác văn hoá đa dạng, một phần cũng bởi sự tiến bộ trong việc vào sổ bộ sinh, tử…

Hẳn là, ngay cả khi không đói ăn khát uống thì não bộ và hệ thần kinh của trẻ lớn lên trong thế giới nhiều ưu đãi và sung sướng về vật chất có thể phải chịu đựng loại căng thẳng ghê gớm chẳng kém: liên quan nhiều tới tâm lý hơn là áp lực vật chất, và chúng phải đương đầu với sự thất bại thay cho nỗi lo sợ suy kiệt cơ thể…

Với tư cách là những nhà quản lý và giáo viên, chúng ta không thể chấm dứt sự căng thẳng tinh thần trong đời sống học sinh- sinh viên, song chí ít chúng ta có thể tránh thêm stress vào nữa.

Cách hiệu dụng để thực thi điều này vốn là lời tuyên thệ dùng cho những ai hành nghề trợ giúp: Trước tiên Đừng Gây Hại (Do No Harm).

Vậy chúng ta hãy ưu tiên chăm lo bản thân chu đáo, chịu trách nhiệm về tâm trí mình để tự do cho phép chúng ta dùng tâm trí thật đích đáng, và sẵn sàng học hỏi nhiều hơn đặng cảm thấy phúc lành của trạng thái hiện diện, tình bằng hữu, khả năng thực hành, và sự giải thoát.

Lý do luôn luôn có sẵn, và lý do luôn luôn đúng

Không ít lần, dù chưa có sẵn ý tưởng chi cả song vẫn khởi thảo bài viết chỉ vì muốn dùng cho vơi dần hết ảnh chụp minh hoạ còn sót lại trong máy tính. Câu cửa miệng ưa thích lâu nay của bản thân được lấy làm bằng: lý do luôn luôn có sẵn, và lý do luôn luôn đúng.

112 năm và 259 ngày là kỷ lục thế giới ghi nhận cho cụ ông Nhật Bản hiện cao tuổi nhất quả đất: Masazo Nonaka, người vẫn tự mình di chuyển hàng ngày trên chiếc xe lăn. Bí quyết sống thọ là xơi bánh ngọt và tắm nước suối nóng. Đọc ở đâu quên mất tiêu, rằng hình như tính trung bình con người hiện tồn khoảng 79 tuổi.

Vậy nếu lý trí lẫn cảm xúc đều cùng tác động tới việc ra quyết định thì rốt ráo, cái nào quan trọng hơn nhỉ, và kinh nghiệm thì quý vị xử lý thế nào ổn thoả.

Mà nguy cơ (xác suất của điều chắc chắn nào đó) thì bằng may rủi nhân với bộc lộ. Phơi nhiễm bao nhiêu đây, với một hành vi, tiến trình, sản phẩm,… nào đấy.

Những hôm mưa gió giở giời, lúc tinh thần đi xuống hoặc thất bại te tua, hay đơn giản cảm thấy oải thì càng cần thiết bửu bối đút túi quần thường trực: câu khẩu hiệu của riêng mình.

Và chúng ta tiếp tục tăng cường khám phá trong đời sống hàng ngày để học cách tiếp cận với một ý tưởng mới mẻ hoặc ghi nhận một lối suy nghĩ tân kỳ: sáng tạo.

Khi bố mẹ và giáo viên trầm cảm…

Chỉ bởi vì lớn tuổi hơn và khôn ngoan hơn không đồng nghĩa là người ta đúng. Điều này đang ngày càng được khẳng định đầy bi hài với hậu quả gây nặng nề cho toàn xã hội khi tiếp tục xuất hiện các vụ việc bố mẹ ép buộc, tạo căng thẳng khủng khiếp và đòi hỏi con cái thái quá, nhất là hiện tượng thầy, cô giáo bạo hành trẻ nhỏ, phát ngôn gây thù oán mà nạn nhân là học sinh phải gánh chịu,…

Những câu chuyện đau lòng và tệ hại như thế phản ánh phong cách làm cha mẹ, kiểu quản lý hành vi (giảng dạy), các chiến lược đối phó cùng tác động của sức khoẻ tâm trí lên khả năng thầy cô giáo thể hiện phù hợp với vị thế riêng có; tỷ dụ, sự mệt mỏi kinh niên, kiệt sức, niềm tin cùng khả năng dự tính cần sự trợ giúp…

Làm người ở Việt Nam đã khổ, làm bố mẹ và thầy cô giáo ở Việt Nam càng khổ gấp bội. Tôi không rõ có báo cáo nào nêu số liệu bao nhiêu phần trăm ông bố bà mẹ và thầy cô giáo trải qua một số trục trặc, dạng thức rối loạn tâm thần nọ kia khi sinh con đẻ cái, trở thành người đứng trên bục giảng.

Với thực trạng bị chê bôi và vết nhơ kéo dài mà nền giáo dục lâu nay chịu đựng, chọn tiêu đề bài viết thế cho an toàn và tránh con mắt tò mò, vì nhẽ ra giới chức giáo dục Việt Nam các cấp phải ưu tiên từ lâu và không ngừng tạo mọi điều kiện gìn giữ trạng thái thân- tâm an lạc (well-being) của thầy cô giáo, bởi sinh viên sư phạm hẳn không thể là kẻ mù chữ song rất cần ‘tri tạo kiến văn’ (literacy) về sức khoẻ tâm trí vốn là thứ phải đạt được nhờ giáo dục bài bản từ đầu đồng thời là kỹ năng sống thiết yếu, và vì thế, đáp ứng ổn thoả với đòi hỏi phức tạp liên quan tới sức khoẻ tâm trí trong xã hội ngày nay.

Liều véo von vĩ mô tí xíu vậy, giờ thì quay về giới thiệu ngay và luôn đề tài liên quan.

Vâng, nghiên cứu chỉ ra rằng bố mẹ mắc các triệu chứng trầm cảm thì rất dễ thành những vị phụ huynh phản ứng thái quá, xúc phạm, ứng xử có vấn đề với con cái. Nhóm nghiên cứu phát hiện thấy, trong khi các bà mẹ mắc triệu chứng trầm cảm hay phản ứng thái quá với hành vi của con trẻ mà từ đó có thể dẫn đến bé gặp trục trặc trong cảm xúc và ứng xử thì các ông bố mắc trầm cảm cũng rứa luôn, có điều không dự báo vấn đề ở trẻ.

Kiểu nuôi dạy thái quá bao gồm thể hiện sự tức giận, tàn nhẫn, và bực bội khi đáp ứng với các yêu cầu của trẻ. Kết quả nghiên cứu khuyến cáo, bố mẹ rất dễ bị tổn thương khi mắc các triệu chứng trầm cảm, ngay cả khi chúng rất nhẹ (tức không đáp ứng tiêu chí chẩn đoán trầm cảm điển hình); ngoài ra, sự hài lòng của bố mẹ với mức độ hỗ trợ xã hội không có tác động chi tới các triệu chứng trầm cảm và việc nuôi dạy con quá mức cả, tuy nhiên, sự hài lòng từ hỗ trợ của chồng/ vợ thì lại có ảnh hưởng.

Gợi ý không chỉ các bố mẹ mắc trầm cảm mà vợ/ chồng họ cũng nên biết cách tự chăm sóc bản thân để nhận sự trợ giúp phù hợp và có thể tạo nên một môi trường nuôi dạy con cái nồng ấm, nhạy cảm e áp dụng được cho các thầy, cô giáo nữa.

Thật vậy, trầm cảm ở thầy, cô giáo Mầm Non có liên quan tới các vấn đề hành vi, từ xung hấn tới buồn bã, ở các cháu được thầy, cô giáo chăm sóc. Nghiên cứu này xác định yếu tố quy về mối liên quan này: bầu không khí đáng thương trong bối cảnh nuôi dạy trẻ nhỏ tồn tại như kết quả của các triệu chứng trầm cảm nơi thầy, cô giáo. Đáng lưu ý, ‘giáo viên’ ở đây trỏ cho những ai hướng dẫn trên lớp cũng như cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ tại nhà.

Theo nghiên cứu trước đây thì các vấn đề hành vi ở trẻ nhỏ, ở đây là trẻ 3 tuổi, tạo nên những trục trặc về sau gồm kết quả học tập giảm sút và thiếu hụt  các kỹ năng xã hội; nghiên cứu vừa dẫn thì bao gồm các hành vi như hung hăng, tức giận, mất khả năng kiểm soát cũng như hành vi nội tâm hoá như trầm uất, lo âu, buồn bã, và thu mình.

Để cân bằng, như lời tạm kết, một chương trình can thiệp học đường nhằm nâng cao sự tương tác nồng ấm và quan tâm giữa một giáo viên và trẻ nhỏ có thể làm giảm thiểu sự căng thẳng tinh thần của trẻ ở lớp học. Nghiên cứu chuyển tải thông điệp rõ ràng rằng mối quan hệ tích cực giữa thầy cô giáo và học sinh là rất quan trọng; những gì giáo viên tiến hành ở lớp học, cách họ ứng xử, tính quả quyết và sự hỗ trợ của họ thảy đều tác động mạnh mẽ tới trẻ nhỏ và sức khoẻ của chúng.

Xem phim Công Tử (The Big Lebowski), nghĩ về thiền và sự bà điên đáng đồng tiền

Tròn 20 năm một bộ phim (1998). Nội cái tên nguyên gốc lẫn khi Việt dịch ra thì đã thấy cà chớn và bụi bặm, thậm chí tuyền ăn chơi nhảy múa chẳng hề nghiêm trang, đứng đắn một tí nào rồi.

Gã cà lơ phất phơ í thật biết lười và tiêu tốn thời gian điệu nghệ quá chừng. Trên cái nền của sự nhầm nhọt tuổi tên và danh phận, giả định vụ án hình sự bắt cóc tống tiền, và nỗi niềm lo lắng cho sự an toàn của nữ con tin, đề nghị cảnh sát điều tra chiếc xe hơi hết xí quách cùng cái vali chứa khoản tiền triệu Mỹ kim bị đánh mất… bộ phim xen kẽ bằng cảnh chơi bóng gỗ (bowling) và nhân vật chính tắm trong bồn với rượu vang Nga trắng nhấm nháp cùng nhạc dịu êm, rồi bọn đột nhập tè trên tấm thảm vừa khít sàn nhà, thậm chí, đạo diễn còn dàn dựng cả cảnh trao đổi về mỹ thuật, đóng phim khiêu dâm, cuộn mình trong chăn sau khi làm tình để tăng khả năng đậu thai, nói ba hoa chích choè về người thân và công việc, trỏ sang cả việc đi phỏng vấn con nhà người ta vì nghi thằng bé lặng câm í cuỗm đống tiền lớn.

Bi hài, cảm xúc dâng cao, đạo đức thiết tha gìn giữ, hội chứng chiến tranh Vietnam, điện thoại reo và tin nhắn lại trên máy, tôn giáo, phân biệt chủng tộc, chết đột ngột, nghi lễ rải tro thi hài dọc bờ biển, TV đưa tin thời sự về Saddam Hussein, thất nghiệp, thi đấu thể thao…; đủ cả, lắm trò, nhiều tình tiết diễn biến hồi hộp song rốt cuộc thì vớ vẩn, tẻ nhạt, chẳng có gì ghê gớm xảy ra.

Những mường tượng, hình dung, dự tính, đoán định… đều trật lất.

Đúng là đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.

Việc cần làm thì cần tập trung làm. Chơi bowling thì yếu tính là cứ ném bóng thôi. Luyện tập mãi, làm đi làm lại… Không chú trọng và nghĩ tới kết quả.

Không bỏ chạy, né tránh hoặc khao khát nơi chốn nào muốn tới. Mọi thứ đã có ở đây, ngay dưới đôi chân này. Tỉnh giác để ghi nhận những gì đang xảy ra, mà không đánh giá, cũng chẳng quá mê thích, ác cảm hay ghét bỏ chi.

Học hỏi và giác ngộ trên tiến trình của đời thường hàng ngày rối loạn, lung tung. Trân quý bất kỳ cuộc gặp gỡ và với con người trong hoàn cảnh nào. Chỉ làm những gì phải thế, và bắt đầu thư thái. Mắc kẹt nhiều và đòi hỏi thông tin vì e ngại hành động. Đầu tư thời gian và tâm trí, dấn thân, và mọi sự trở thành một phần của đời mình. Suy nghĩ cóc phải là vấn đề; tê cóng do mong đợi kết quả cụ thể và/ hoặc muốn mọi sự hoàn hảo.

Mọi người đều khao khát hạnh phúc. Thay vì khốn khổ với vô vàn đe doạ ảo ảnh chẳng hề xảy đến, hạnh phúc là những gì đang xảy ra. Đủ kiên trì và rộng lượng để khởi sự một ngày mới khác, buồn chán và nhạt nhẽo.

Cảm thấy không thuộc về, bị cộng đồng tẩy chay: ê chề và đau đớn thực thể

Chuyện cô giáo Minh Hương (1993) bắt nữ sinh Phương Anh lớp 3 súc miệng bằng nước vắt giẻ lau bảng, vì bé nói chuyện riêng, nối dài thêm danh sách những vụ bê bối của ngành giáo dục, góp phần làm thực trạng bạo lực học đường phức tạp đến độ Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo vừa cấp tốc ký công văn về tăng cường công tác đảm bảo an toàn, an ninh trường học…

Trả lời phóng viên vào cuối giờ chiều qua, cô Hương liên tục khóc và nói mình rất ân hận. “Sự việc đã đi quá xa, không còn như lúc xảy ra ban đầu nữa. Để xảy ra việc là do tôi lỡ, vì kinh nghiệm của tôi trong các tình huống sư phạm chưa nhiều nên tôi mới xử lý bột phát như thế. Tôi nghĩ chỉ doạ cho con sợ để ngoan hơn trong giờ học chứ hoàn toàn không có ý ghét bỏ hay hành hạ con”, cô Hương vừa khóc vừa nói.

Khi phóng viên đặt câu hỏi về việc chị nói sự thật đã đi quá xa không như ban đầu nữa cụ thể là thế nào, cô Hương đã từ chối kể lại chi tiết vụ việc.

Cảm nhận thuộc về cộng đồng là hết sức quan trọng vì cả sức khoẻ thể chất cũng phụ thuộc vào nó.

Sống ở đời, nói chung, mọi người đều cần cảm thấy mình thuộc về nơi chốn nào đó; đấy là nhu cầu cơ bản rất người. Khi chúng ta không cảm thấy mình thuộc về, các vùng thể hiện cơn đau thể chất ở não bộ kích hoạt. Nghiên cứu của William (2009) nhìn vào đáp ứng khi người ta bị bỏ rơi: đau đớn, đối phó, và nếu sự bị loại trừ, cô lập kéo dài thì xuất hiện trầm cảm và cảm thấy tuyệt vọng.

Như thể, khỏi cần bị bồ đá hoặc tan nát cuộc tình, ngay cả các cử chỉ vi tế như chằm chằm ai đó như thể họ không tồn tại dễ khởi sinh cảm giác bị tẩy chay. Thực tế, ai cũng ít nhiều trải qua song với một số người thì đấy là chuyện họ phải đương đầu mỗi ngày.

Bạn bè thân thiết và gia đình gần gũi có thể đem lại cảm giác thuộc về, song trong thế giới ngày nay, quan hệ giá trị không nên xem thường lại nằm ở sự kết nối với các nhóm xã hội lớn hơn thế nhiều. Và hẳn là chỉ số hạnh phúc tất bị ảnh hưởng, với các dấu hiệu thiết thực như thu nhập không đủ khả năng chi trả, sức khoẻ giảm sút, thiếu tính tự chủ để tự ra quyết định…

Như thế, cảm giác tổn thương cũng gây ra đau đớn thực sự về mặt thân xác, và não đáp ứng tương tự nhau việc ta bị chối bỏ và ta bị thương tích về mặt cơ thể. Câu trả lời cho mối liên kết khá lạ lùng này nằm ở khía cạnh tiến hoá của nhân loại: thời kỳ săn bắn- hái lượm, con người sống trong các nhóm nhỏ theo chuẩn tắc, bị tẩy chay khỏi bộ lạc đồng nghĩa chết chắc, vì chúng ta khó sống đơn lẻ lâu dài. Do đó, ngay từ buổi đầu ấy chúng ta đã phát triển hệ thống cảnh báo nếu mình gặp nguy cơ bị tẩy chay, và các dấu hiệu sớm nhất mang tính định mệnh là bị loại ra. Trải nghiệm những hình thức bị bác bỏ, từ chối, loại ra thế cung cấp lợi thế tiến hoá hết sức đau đớn, vì rốt ráo nó khiến người ta thay đổi hành vi ứng xử, vẫn kết nối với bộ lạc, và cố lờ đi để sống hết tháng năm dằng dặc trên đời.

Sự nâng đỡ và hỗ trợ xã hội, do đó, vô cùng cần thiết với những ai bị khiếm khuyết, nghèo đói, mới nhập cư,… đặc biệt bị phân biệt đối xử tàn tệ như cộng đồng LGBTQ, nhất là với những ai đang trải qua các dấu hiệu, triệu chứng thường gặp của các rối loạn, trục trặc tâm thần như tâm trạng bất ổn, thay đổi cách ghi nhận mọi sự, ám ảnh, sợ hãi, lo âu,.. Đừng quên, các rối loạn tâm thần và trục trặc về sức khoẻ tâm trí thì không loại trừ ai cả.

Thưởng thức âm nhạc khi tiếp nhận ỡm ờ

Chiều qua, tôi tranh thủ đến Nhà Hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà Nẵng) để nghe ban nhạc Ấn Độ mang tên Pranava Naadham biểu diễn tầm một tiếng đồng hồ theo phong cách hoà trộn Carnatic mà mấy ngày gần đây nhóm đã có mặt ở Vĩnh Phúc, Yên Bái

Vì Hội Hữu nghị thành phố mời nên trước khi phía bạn thể hiện thì chủ nhà mở màn bằng văn nghệ chào mừng, giao lưu. Đấy là tiết mục múa trên nền nhạc bài Việt Nam Quê Hương Tôi (Đỗ Nhuận), và ca khúc kèm múa phụ hoạ ‘Welcome to Danang’ (Nguyễn Phước Vũ Bảo); cả hai đều do vũ đoàn tên là Nhật Huy trình bày.

Tôi thấy mình lơ ngơ ở đó, giữa số khán giả không đông lắm và đa phần lớn tuổi, ngồi hờ hững kèm đôi mắt nhắm với âm nhạc, ca từ, và vũ điệu Danang- Vietnam. Giai điệu thoả mãn và những uốn éo đơn giản về mặt hình thể của các cô gái trẻ trung chẳng còn đủ sức lôi cuốn, hấp dẫn nữa; thậm chí, tôi đã nghe nhầm ‘Bà Nà sao lạnh ghê’ thành ‘Bà Nà sao lạ ghê’, cứ như thể vì điểm du lịch này vốn thiết kế kiểu cách, lai căng…

Thành thật, tôi chịu khó nghe và ưng ý hơn với phần trình diễn của nhóm nhạc tới từ xứ sở của tôn giáo và tâm linh huyền bí. Dù chưa chiếm trọn vẹn tâm tình mình, song họ đã cho tôi cơ hội hiểu thêm chút về sự khác biệt giữa âm nhạc và tính nhạc. Và thực tế, tôi kịp vừa nhìn ngó, lắng nghe vừa đặt cho bản thân những câu hỏi quen thuộc, rằng ngôn ngữ chúng ta lớn lên và âm nhạc đã nghe hồi nhỏ liệu ảnh hưởng như nào đến cách mình nghe nhạc lúc trưởng thành rồi nhỉ; liệu có sự khác biệt trong khả năng mình học hỏi rồi thưởng thức âm nhạc mình không quen thuộc lắm không? Và suy đoán câu trả lời đòi hỏi xem xét các nghiên cứu liên văn hoá.

Hẳn quan trọng là biết phân biệt khái niệm ‘âm nhạc’ và ‘tính nhạc’; với tính nhạc được hiểu hiểu là đặc điểm tự nhiên phát triển thoải mái dựa trên và bị hạn chế bởi hệ thống nhận thức, trong khi âm nhạc thì như cấu trúc xã hội và văn hoá nảy sinh từ tính nhạc đó. Các cơ chế nhận thức căn bản để ghi nhận, thực hiện và đánh giá âm nhạc là gì. Phân biệt ‘tính nhạc’ do vậy đâu có dễ.

Hầu hết mọi người yêu thích âm nhạc, chí ít vì nó giúp chúng ta biểu đạt cảm xúc đôi khi khó nói thành lời. Âm nhạc lôi cuốn, đánh bật, gây cảm hứng, cảm thấy nối kết; phản ánh chúng ta là ai và trải nghiệm của chúng ta về thế giới. Nhạc mang tính tâm linh, thần bí rất phong phú về biến tấu và da diết giai điệu như của đất nước Ấn Độ quả chạm vào lòng chúng ta theo cách thật đặc biệt.

Âm nhạc thì thiên về cảm xúc, đam mê, phi lý, và đậm chất nữ tính (C. Jung gọi là ‘anima’ ở đàn ông); và dĩ nhiên, tôi còn nhớ rằng chính S. Freud mang nỗi ám sợ âm nhạc như ông tự bạch từ 1914 (Oliver Sacks, 2008). Song chuyện này thì khá mệt mỏi khi đêm đã khuya…

Loạn thần và Phân ly: ‘tình trong như đã’…

Trong tâm tưởng dân chúng nói chung, loạn thần cơ chừng đã là cái tên gây nhiều hoảng sợ, cặp đôi với phân ly nữa thì quá dễ làm dấy lên những nghi ngại vô cùng kinh hoàng.

Cả thập niên trôi qua rồi mà vấn đề cần sa gây loạn thần vẫn chưa thể đưa ra lời cuối dứt khoát, đủ thấy câu chuyện dây dưa khủng khiếp với nhiều hệ luỵ khó lường. Thực tiễn lâm sàng cũng ghi nhận việc người ta mắc loạn thần và thái độ kháng cự dùng thuốc. Tiếp cận loạn thần như kết quả của sang chấn và các hiện tượng tinh thần thì đối lập với chuyện chú mục vào bộ não, mô hình thực nghiệm và y khoa của căn bệnh tâm thần; và nếu thế, liên quan tới các kỹ năng học hỏi. Trải nghiệm tâm thần và phân ly trong trạng thái loạn thần cũng sẽ được trình bày ở đây.

Kỹ năng học hỏi và loạn thần

Những khác biệt rõ rệt giữa trải nghiệm ảo giác và hoang tưởng giúp giải thích tại sao các đặc trưng này có khả năng cải thiện nhờ thuốc. Lưu ý rằng, ảo giác và các trục trặc cảm xúc như hoang tưởng là các trải nghiệm nội tạng, và vì thế, chúng có thể liên quan nhiều tới hoá chất bất thường ở não mà từ đó loạn thần xuất hiện. Tuy vậy, các vấn đề nhận thức và xã hội thì lại phụ thuộc vào trải nghiệm trong các thế giới tinh thần và vật chất.

Khi trao đổi nhận thức ở một người mắc tâm thần phân liệt (TTPL), khó khăn trong tư duy của họ là hiển nhiên. Các liên kết lỏng lẻo, từ rối rắm, và câu cú nghèo nàn là vài ví dụ chứng tỏ những khó khăn nhận thức ở những người loạn thần. Một thực tế hiếm khi được xem xét là những người mắc TTPL đối phó với trải nghiệm chưa hề từng được khám phá, nó mới tinh, và không hề dễ dàng để sự nỗ lực của người mắc TTPL hiểu về mặt nhận thức sự thao túng của trải nghiệm loạn thần. Tại sao thiên hạ mong đợi người mắc TTPL có khả năng nghĩ đến những trải nghiệm không phổ biến và không theo chuẩn tắc nhỉ. Không có cơ sở thực tế, không có truyền thống tư duy đích thực đặng cho phép người mắc TTPL suy nghĩ thật hiệu quả về loạn thần.

Các yếu kém rõ ràng về mặt xã hội ở người mắc TTPL phụ thuộc vào trải nghiệm trong thế giới vật chất. Do xu hướng mắc loạn thần xuất hiện ở tuổi vị thành niên và mới lớn, có những hoạt động rất thiết yếu từ khía cạnh phát triển bị buộc phải thoả hiệp do sự chín chắn về mặt xã hội. Dùng cách diễn giải của Erikson về các giai đoạn phát triển xã hội, khi TTPL xuất hiện, cá nhân ở giai đoạn ‘bản sắc đối chọi với sự rối rắm về vai trò’, hoặc giai đoạn ‘gần gũi đương đầu với cô lập’. Loạn thần dẫn tới các trục trặc trong sự hình thành nhân cách và tha hoá liên nhân. Điều này e chừng là do trải nghiệm không chuẩn tắc và trải nghiệm kiệt quệ về mặt xã hội.

Cơ bản, các kỹ năng xã hội và nhận thức yếu kém ở người mắc TTPL bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm không chuẩn tắc, và các ảo giác lẫn hoang tưởng gây hiệu ứng nhân quả tới sự nhận thức lệch lạc và thiếu hụt kỹ năng xã hội. Nếu ảo giác và hoang tưởng có thể giảm bớt ngay từ sớm trên tiến trình mắc TTPL, có thể trải nghiệm không chuẩn tắc này sẽ không gây rắc rối cho các kỹ năng xã hội và nhận thức. Rõ là, hoang tưởng và ảo giác liên quan nhân quả tới kỹ năng nhận thức và xã hội. Bất luận thế nào, hoạt động nhận thức yếu kém và kỹ năng xã hội hạn chế phụ thuộc vào trải nghiệm không chuẩn tắc trong thế giới tinh thần.

Nói gọn thì các kỹ năng xã hội và nhận thức kém cỏi là kết quả của khả năng học hỏi bị giảm sút. Tuy thế, các kỹ năng nhận thức có thể được phản ánh ở siêu nhận thức (meta-cognition) vì nó liên quan tới loạn thần. Nâng cao nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về loạn thần có thể cho phép người mắc TTPL tách rời khỏi trải nghiệm loạn thần của vị ấy. Điều này có thể chứng thực là trị liệu. Tương tự, hướng dẫn các kỹ năng xã hội có thể cũng đem tới lợi lạc trị liệu. Do những thiếu hụt trong học hỏi, các kỹ năng nhận thức và xã hội kém cỏi có năng lực đáp ứng với việc học, và đây là tương quan dương tính với thực tế là các kỹ năng xã hội và nhận thức được hình thành. (còn tiếp)

‘Người khôn’ là ai?

Thấy trên tờ lịch treo tường hôm nay, ‘Hoa thơm ai dễ bỏ rơi, người khôn ai nỡ nặng lời với ai‘.

Thử tìm hiểu thêm ở mạng lưới điểm toàn cầu, nhiều phiên bản liên quan lắm; chẳng hạn, thay ‘dễ’ bằng ‘nỡ’, ‘nặng lời làm chi’ chứ không phải ‘nặng lời với ai’; rồi thì là thể hiện hoàn toàn khác ‘Kim vàng ai nỡ uốn câu, người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời’. Câu ca dao thượng dẫn cũng được giải thích cụ thể luôn: Một người con gái đẹp thì sao nỡ làm họ đau lòng hay bỏ rơi họ; người khôn khéo không bao giờ dùng lời lẽ xúc phạm người khác tổn thương mà họ chỉ dùng lời lẻ ngọt ngào ý nhị để cư xử thôi (sic). Có chỗ phân vai rõ ràng, nên ‘Kim vàng…’ thì trỏ người nói, còn hàm ý câu ca dao đang bàn là phần thưởng người nghe khôn ngoan được đón nhận.

‘Người khôn’ e là nỗi niềm khát khao, nên mới thành hình câu chữ thẳng tuột ‘Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho kẻ dại vừa mừng vừa lo’, hoặc ‘Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe’.

Vậy là kỳ cùng, dù kín đáo hay phơi lộ, chí ít với sự ví von một bông hoa thơm, ‘người khôn’ được xác lập, định dạng thông qua vẻ đẹp hoặc mùi thơm của lời nói thì đến từ sự thực hành.

Tạm chưa xét tới khía cạnh văn bản, ở đây chủ yếu tò mò với đại từ phiếm chỉ ‘ai’. Và với câu ca dao trên cuốn lịch treo tường, ‘ai’ nhiều thế gợi nhắc lại cách nghĩ về ‘khôn ngoan’.

Điều chúng ta làm và chúng ta là ai thì xoắn bện với nhau. Sự ‘khôn ngoan’ thì trống rỗng, không đồng nghĩa là chẳng có gì; nó đích thực rằng mỗi một điều chúng ta gặp gỡ, bao gồm cả chính bản thân chúng ta, vượt qua khả năng chúng ta nắm bắt về nó. Gọi ‘trống rỗng’ (emptiness) vì không có chi khả dĩ giải thích nó. Thực tại tự thân trống rỗng vì chúng ta không thể khít khớp nó với tâm trí chúng ta.

Sự khôn ngoan đích thực vượt trên suy tư và tri giác; không gian trống rỗng vì vậy. Nên khôn ngoan không phải là điều gì đó chúng ta sở hữu và chúng ta dùng để đánh giá về những thứ khác. Khôn ngoan là sự tồn tại tự thân. Chúng ta nhận thức và tận dụng nó. Nhưng chúng ta không tạo ra nó. Một người khôn ngoan là kẻ hoà hợp với sự khôn ngoan đã tồn tại sẵn xung quanh. Chúng ta bảo vệ sự khôn ngoan này bằng cách để nó được là chính nó.

Một người có thể khôn ngoan lúc này và sau đó là kẻ ngốc nghếch. Khôn ngoan là thứ mong manh và trân quý phải được giữ gìn và duy trì; nó không tự động và cũng chẳng dễ dàng có được. Đấy là lý do cần học hỏi từ bất kỳ ai, bất luận vị thế của họ giữa đời, nếu người đó nói hay làm điều gì khôn ngoan. Chúng ta không nhất thiết tôn sùng ai đó đặc biệt. Chúng ta tôn sùng tự thân sự khôn ngoan.

Giữa lùng bùng thông tin

Ôi mẹ cha ta bàng hoàng úp mặt, kiếp phù sinh năm tháng quá đau buồn…

Tin đồn vỡ đập sông Tranh 2; di tản dân do nguy cơ vỡ hồ Nước Rôn; mạng người những cái chết trở thành các con số cộng dồn thêm thảm;  rồi gì mà dự đoán thông tin; thời gian thực sự bỏ hộ khẩu

Wow, các đường dẫn đã khởi tạo dang dở 5 tháng trước. Cả cái hình minh hoạ cũng dễ khiến người nhìn bị nhầm lẫn: đấy không phải sa la mà là hoa đầu lân.

Đây chỉ là chút ghi nhớ dịp quyết định viết blog đều đặn trở lại. Như một dạng thức hiện diện triển khai dưới ba chiều kích: trị liệu, vui thú, và tỉnh thức. Vì thế, các chủ đề sẽ được lần lượt khai thác kỹ càng bao gồm: lòng tự trọng (self-esteem), tháp nhu cầu của Maslow với khái niệm hiện thực hoá, phát triển hoàn mãn bản thân (self-actualization); loạn thần và phân ly; thiền tập; sư phạm, giáo dục, và năng lực sáng tạo; trạng thái tự trị (autonomy); rối loạn trầm cảm; v.v…

Cá tháng Tư, từ từ mà khử…