Cuốn xoay vòng đời sinh tử

Một cơn bão đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới; cơn bão tiếp ngay sau kia thì sẽ gây gió giật ở vùng biển đảo thuộc Philippines ngoài biển Đông.

Trước biến cố thời tiết, người ta nghĩ thật khôn ngoan khi tranh thủ tích trữ thực phẩm, cuống cuồng thu vén mọi thứ hầu đảm bảo gia đình, người thân mình vẫn đủ đầy, thuận tiện riêng có.

Trên bình diện điều hành kinh tế- xã hội vĩ mô, nhà nước vội vàng tìm cách quy trách nhiệm cho mặt phía bên kia, rồi gây niềm kinh khiếp cho chính ta về điều đó.

Làm sao nền chính trị của sự giả dối, đổ lỗi này có thể trở thành nền chính trị của giải pháp và hy vọng, khi dân chúng vẫn còn mang trong lòng cơn bão lũ của sự sợ hãi?

Tham vấn tâm lý và kỹ năng lắng nghe

Kinh nghiệm cho thấy, bất luận mức độ khó khăn, trục trặc đến thế nào trong vấn đề người trẻ đang trình bày thì việc lắng nghe đích thực luôn là phương thức trợ giúp xác đáng, tất yếu nên làm.

Với bối cảnh học đường, cá nhân tôi tin rằng lắng nghe chân thành, không đánh giá (genuine non-judgemental listening) hơi khá hiếm hoi; do vậy, quả thật dễ thương vô cùng khi phát hiện ra phẩm tính ấy ở cái nơi vốn tràn đầy cảm xúc này.

Việc sử dụng các kỹ năng tham vấn (gồm lắng nghe) không nên bị nhầm lẫn sang tham vấn tâm lý (counseling)– một điều khác hẳn và là một hoạt động nhiều chuyên biệt hơn, với các tiến trình và ranh giới hết sức đặc thù.

Tham vấn tâm lý đặt để hợp đồng cụ thể giữa nhà tham vấn (counselor) được đào tạo và huấn luyện với người biết rõ họ đang là thân chủ (client).

Lắng nghe tốt có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm tương thích và ở tại nơi nào phù hợp. Tham vấn tâm lý, trái lại, thường hay diễn tiến cùng một chỗ, đa phần sắp xếp lịch gặp hàng tuần cùng khoảng thời gian xác định chặt chẽ.

Dựa vào mô hình sử dụng, nhà tham vấn sẽ làm việc theo cách thức riêng, vận hành lý thuyết đáng tin cậy và các ý tưởng gắn với mô hình mang tính lý thuyết đặc thù đó; cũng rõ ràng là công việc của nhà tham vấn mang bản chất trị liệu.

Thầy, cô giáo và các thành viên khác trong nhà trường thường dẫu chẳng được đào tạo bài bản về tham vấn tâm lý thì vẫn có thể triển khai, khoanh vùng phạm vi và thao tác các kỹ năng tham vấn để tạo tác động như ý, đúng đắn.

Vậy, những gì thiết lập sự lắng nghe tốt?

Carl Rogers (1902-1987)– nhà tham vấn và tâm lý trị liệu Nhân văn— đã chỉ ra rõ ràng các thành phần mà ông gọi là ‘điều kiện căn cốt” (“core conditions”) là yếu tính cho bất kỳ một mối quan hệ mang tính trị liệu (therapeutic relationship).

Có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài trong thế giới tham vấn, song các ý tưởng của Carl Rogers cũng được vận dụng bởi những đối tượng không chuyên do chúng xác lập nền tảng để lắng nghe tốt.

Ba điều kiện căn cốt đó là:

  • thích đáng (congruence). Đây là quan hệ chân thật nhất giữa cảm nhận nội tại với những gì biểu lộ ra bên ngoài của người ta. Thích đáng, do đó, không phải là ‘diễn trò, đóng vai’ mà đích thị mình đang chính thực (real), chân thành (genuine) và trong suốt (transparent).
  • tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard). Điều này mang nghĩa, hiến tặng một sự quan tâm, chú ý đủ đầy mà không hề đánh giá hay lượng định (evaluation).
  • thấu cảm (empathy). Liên quan tới việc nhìn thế giới thông qua đôi mắt của kẻ khác và chấp nhận các tri giác cùng cảm xúc ‘như nó là’ với người ta, và tuyệt không làm mất đi những ranh giới cũng như cảm nhận của cái tôi tách biệt.

Với các điều kiện căn cốt vừa nêu, Carl Rogers tin là sẽ trợ giúp người ta tự tìm thấy đường hướng, xác định giải pháp và lớn lên rất riêng.

Đúng là thật dễ dàng nói ra, thậm chí chẳng khó viết xuống, về các điều kiện hiện diện tinh tế nhất thuộc kỹ năng truyền thông liên nhân cách. Song chỉ khi mình thực sự trải nghiệm thì mới có khả năng hiểu cảm nhận của người được lắng nghe ra sao…

Tiếc thay, các thầy, cô giáo cơ chừng ít khi chú tâm tới kiểu lắng nghe này, dù thực tế chẳng có lý do nào để họ không thể hiện nổi.

Nhằm hỗ trợ cho việc lắng nghe hiệu quả, cần nắm biết các trở ngại, cản ngăn nào hay xuất hiện. Đó cũng là nội dung blog Tâm Ngã dự tính trình bày vào lần tới.

Xin thoải mái để lại ý kiến, trao đổi; tạm biệt và hẹn gặp lại.

Cái chết của tâm trí

Một câu chuyện dễ gợi lòng trắc ẩn; bởi ngoài giọng kể cho thấy bị cảm xúc chi phối của người viết, bài báo còn phác họa sự thủy chung, tình nghĩa vợ chồng trộn lẫn với hơi thở hắt ra trước thực trạng nghèo khó, túng quẫn và mệt mỏi của kiếp nhân sinh.

Song vượt lên trên hết, vẫn không thể không thấy thái độ nghiêm cẩn cần xác quyết đúng đắn hơn về quyền làm người, phản ánh chất lượng sống và ý chí tự thân lựa chọn, rằng đối tượng trong hoàn cảnh bệnh tật thập tử nhất sinh phải được tôn trọng quyết định biện pháp chữa trị hoặc cách chấm dứt vận mệnh riêng tư…

Giờ đây, Đức chỉ tồn tại dưới dạng thực vật, đầu óc hoàn toàn không còn nhận biết được gì, còn sống mà như qua đời. Vợ chồng già và cô con dâu chăm sóc Đức như một đứa trẻ, cũng bỉm và sữa. Nhưng đứa trẻ còn biết khóc cười, còn Đức chỉ im lặng, vô tri.

Giọng ông Đạt buồn rượi: “ Vợ chồng tôi đều ngoài 70 tuổi, sức cùng lực kiệt, lại không có lương hưu. Tôi là thầy thuốc đông y, nhưng từ khi con trai bị nạn, tôi chán bỏ luôn nghề. Vợ tôi trước là công nhân nhà máy cơ khí Mai Động, nghỉ mất sức đã mấy chục năm nay. Hai vợ chồng nuôi nhau đã khó, nói chi đến việc phải chăm sóc thuốc thang cho con. Mọi gánh nặng đổ dồn lên vai đứa con dâu 40 tuổi, con dâu lại đang phải nuôi cháu nội 4 tuổi của tôi…. Hằng tháng riêng tiền thuê người trông nom đã 5 triệu đồng. Trong khi đó, quyết định của toà buộc gia đình bị cáo phải chi 500 nghìn đồng/một tháng thuê người trông nom. Ở Hà Nội này ai có thể thuê được giúp việc 500 nghìn đồng/tháng?”.

Trạng thái sống đời thực vật” (“persistent vegetative state“), nôm na có thể hiểu là ‘người bệnh trông tỉnh táo thế song kỳ thực là vô thức‘; rối loạn ý thức này trái ngược “hội chứng khóa trái bên trong” (locked-in syndrome) là ‘người bệnh tưởng vô thức song kỳ thực lại tỉnh táo“.

Theo giới chuyên môn, những phát hiện mới trong nghiên cứu và thực tiễn lâm sàng không hề phủ nhận khái niệm ‘trạng thái thực vật’ mà chỉ có nghĩa các chẩn đoán không tuyệt chính xác như lâu nay luôn quen nghĩ vậy.

Liệu những bệnh nhân ‘sống đời thực vật’ như thế (cũng gọi là những bệnh nhân ‘đang trong tình trạng thức tỉnh song không đáp ứng được‘) hoặc những bệnh nhân sống với ý thức tối thiểu nhất có trải nghiệm giấc ngủ bình thường?

Câu trả lời thực tế, họ có khả năng bước vào được cõi mộng cũng đã hàm ý “trong họ vẫn có dạng ý thức về bản ngã, ngoài một thứ nhận biết nào đó về thế giới bên ngoài“.

Gặp dịp thuận tiện, tôi sẽ giới thiệu các phương cách khai thác quyền năng của bộ não nhằm tái cấu trúc, sắp xếp lại đời sống khi người ta mang trạng thái bị tổn thương.

Lời cuối. Chợt nghĩ, ước muốn an toàn quá mức ghê gớm trong thời buổi ngày nay đúng là tiền thân khiến thiên hạ trở thành nô lệ của chính họ.

Hai thắc mắc khi lần đầu gặp mặt

Lần đầu tiên gặp mặt ai đó, một người thường thấy thắc mắc về 2 câu hỏi.

Mọi trả lời xoay quanh hai thắc mắc ấy sẽ tạo nên hiệu ứng quyết định cách thức họ nghĩ về ta cũng như  lối họ cần đối xử với ta ra sao.

GS Tâm lý trường Princeton là Susan Fiske đã chỉ rõ rằng, toàn bộ đánh giá xã hội chung quy đều được cô đọng thành hai chiều kích dưới đây.

  1. Mức độ nhiệt tình của người này? Ý tưởng về sự nhiệt tình (warmth) bao gồm những điều như đáng tin cậy, thân thiện, hay giúp đỡ, dễ gần gũi và đại loại thế… Những đánh giá về sự nhiệt tình ban đầu được tạo ra chỉ trong một thoáng chốc gặp gỡ.
  2. Năng lực của người này? Nhìn nhận năng lực (competent) đòi hỏi thời gian lâu hơn để định dạng và thường chú ý mấy thứ như sự thông minh, tính sáng tạo, khả năng tri giác, v.v…

Nghiên cứu của GS. Susan Fiske tìm hiểu, xem xét cách đánh giá xã hội ở các kiểu hình, thời gian và nền văn hóa, song hai khái niệm trên cứ được lặp đi lặp lại trong những lớp vỏ, dáng vẻ khác biệt.

Không chỉ quen đánh giá như vậy về người khác mà chúng ta còn hay xác lập khung hành vi họ khi sử dụng hai câu hỏi đấy; chúng ta cũng băn khoăn tự hỏi bản thân không biết có phải ấy là sự thân thiện, đạo đức, thành thật, thông minh, v.v…

Chất thiết yếu của sự nhiệt tình và năng lực có thể phản ánh những phản ứng mang tính suy rút, bản năng từ hai câu hỏi về người khác:

  1. Bạn bè hay kẻ thù? Liệu người này có làm tôi đau khổ hay sẽ hỗ trợ cho tôi?
  2. Có khả năng gây tổn thương hoặc giúp đỡ? Người này sẽ chỉ giúp tôi nếu họ thân thiện hay sẽ làm tôi tổn thương do họ không được tử tế cho lắm?

Làm thế nào mà sự nhiệt tình và năng lực của người khác tìm nhận ra ta? Theo nghiên cứu mới đây của Carlson và cs. (2011), chắc chắn là mình biết khá rõ cách thức người khác nghĩ về bản thân mình như thế nào.

Không có ai khác ngoài chính chúng ta đang ở đây, cùng nhau

Khi những băng nhóm xung đột lợi ích cứ chực xông ra tranh giành và xâu xé nhau quyết liệt, cái lạnh tự nhiên của đất trời lại lặng lẽ tràn vào làm điên đảo thêm lòng người đa sự.

Tin tức cho hay, mưa trên đường phố Thủ đô không buộc ngăn thiên hạ phải ở nhà; họ vẫn xếp hàng tấp nập cả ngày để mua vàng.

Thống kê gần đây nhất phản ánh một màu vàng đối lập nhức óc, đau đầu: cả nước có gần 600.000 lượt hộ gia đình thiếu đói (trên 2 triệu lượt nhân khẩu); dù chênh lệch số liệu, thực trạng nghèo khổ cũng khó che giấu nổi vì phơi bày nhãn tiền, thậm chí, càng tỏ bày nghịch lý trước quyết định Việt Nam lựa chọn cơ hội chiếm vị trí quán quân thế giới về xuất khẩu gạo.

Cộng đồng mạng thì tấn công cá nhân, bỉ bôi vùng miền, thảm nạn giáo dục sánh cùng tao loạn giao thông, công an lạm dụng quyền lực đến độ đủ khiến dân tình sợ hãi đề phòng, vái dài tẩy chay khinh miệt (nước mất thì còn đâu đảng mà cố sức chứng tỏ thái độ nhất mực trung thành),…

Thực tế, cái ác không thèm ngồi lên ngôi; nó khôn khéo sử dụng trí tuệ tập thể hầu vô hình hóa sự điều khiển âm binh để sai đi chiếm giữ, tha hóa cho bằng hết mọi địa hạt, lĩnh vực, khía cạnh, tầng lớp trong đời sống xã hội.

Ích kỷ đì vô tư tới độ sói trán. Ai rán cởi mở thì bị coi là con ở dở hơi. Lễ nghĩa đồng bào, giềng mối yêu thương bay biến, rơi rụng mất hết rồi chăng? Bi quan vì di căn, hay ăn năn bởi bất lực?

Hiện giờ chúng ta thiếu rất nhiều khả năng giúp đỡ những người khác. Nhưng nếu việc gì chúng ta làm đều được điều động bởi ý muốn làm giảm nhẹ sự khổ đau của họ, ước mong thường trực này cuối cùng sẽ thành tựu. Động lực dẫn vào kinh những năng lực của những hành động của chúng ta, như là một kinh dẫn nước đem nước đi đến nơi nào cần. Mọi sự đều phụ thuộc vào động lực của chúng ta…

[Dilgo Khyentse Rinpoche. (2009). Kho tàng tâm của các bậc giác ngộ. Sài Gòn: Nxb. Văn hóa Sài Gòn, tr.23]

Chẳng phải bọn nó, lũ mày– khệnh khạng trí thức bị vô minh dẫn dắt, chỉnh sửa lời phát biểu… Sẽ là tội ác tày đình với muôn dân, nếu cứ liều mạng sử dụng chiêu bài đánh thức nỗi sợ hãi và đổ vấy trách nhiệm hòng đánh lạc hướng sự theo dõi, chú ý của nhân quần rồi ma mãnh tiếp tục dối lừa dư luận.

Mạnh dạn nắm lấy thứ công cụ cực kỳ hữu hiệu là truyền thông. Sự thật đích thị: không có ai khác ngoài chính chúng ta đang ở đây, cùng nhau– kết nối, biến chuyển, thay đổi!

Những điều cần biết khi thầm lặng nghĩ về Mỹ Hòa

Đúng 4 năm trước, ngày này, sự cố sập cầu Cần Thơ xảy ra.

Với người dân xã Mỹ Hòa, tang thương dạo ấy e chừng mãi gắn chặt cùng niềm xúc cảm tàn khốc và kinh hoàng, là cảm nhận thống khổ vô bờ của việc mất người thân cũng như sẽ gợi nhắc hoài ký ức âm u về tính mong manh, vô thường của đời sống.

Thời gian trôi đi, hầu hết người dưng kẻ lạ chúng ta thấy mình đã vượt qua và tiến tới vì vòng quay cứ đắp đổi, tiếp diễn vô tư; song dịp lễ giỗ thế này thật dễ khơi lên trong lòng người (ai là đối tượng ngoài cuộc cơ chứ?) bao cơn xúc động khó kiềm giữ nước mắt.

Cảm nhận lễ giỗ là gì và tại sao chúng lại nổi lên trong ta?

Lần nữa, cần nhớ chẳng chút thừa thãi rằng, khi một sự kiện sang chấn ghê gớm xảy đến thì thông thường người ta sẽ trải nghiệm hàng lọat cảm nhận trong quãng thời gian nhiều tuần, ngày trước và sau lễ giỗ đó.

Chẳng hạn, thấy trằn trọc, khó ngủ và trông mệt mỏi hơn; thậm chí, có thể không gỡ bỏ ra nổi những hình ảnh khủng khiếp cứ đè nặng cõi lòng; nhận ra mình dễ lãng đãng, mất tập trung, khóc lóc và rơi lệ thầm hoặc dễ dàng cáu bẳn; đôi khi đó là tâm trạng bồn chồn, ray rứt, chực muốn thoát khỏi, mong chóng qua đi mà thôi; hoặc có thể mình sẽ thấy không thoải mái lúc ở một mình và chợt dâng cao ao ước được chung đụng, quần tụ với gia đình, bè bạn…

Các triệu chứng này dường như chẳng mấy chốc mà tan biến nhanh sau dịp lễ giỗ.

Phản ứng nào cứ đào sâu trong lòng lúc ấy?

Những khởi phát bùng lan dính dáng tới phản ứng lễ giỗ sẽ nhận biết được ở mỗi một cá nhân từng trải nghiệm ngày ấy.

Với số này, đó là những hồi tưởng và hình ảnh của sự kiện chứng thực; số kia quay về sống lại lúc xem vô tuyến truyền hình đưa tin, trình chiếu những bộ phim, phóng sự tài liệu liên quan; và vẫn còn những người có thể bực bội lúc nghe còi xe cứu thương, khi đang ngồi trên máy bay lao vào đám mây, chạy xe máy băng ngang chiếc cầu rộng rãi, hoặc tụt xuống cầu thang máy trong tòa nhà chót vót, v.v…

Nghiêm trọng nhất là những phản ứng ra sao?

Với nhiều người, sự cố sập cầu dẫn Cần Thơ tạo nên rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).

Các triệu chứng như vậy có thể khởi lên ngay khi chuyện xảy ra hoặc xuất hiện nhiều năm tháng về sau. Suốt dịp lễ giỗ, các triệu chứng có thể tái diễn trở đi trở lại– ngập tràn, khủng khiếp những sự kiện ám ảnh chưa thôi.

Trong khi hầu hết phản ứng dịp lễ giỗ tự chúng dần biến tăm thì các triệu chứng PTSD thường không thế, nên thật quan yếu việc trò chuyện, trao đổi với chuyên gia chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Các cách thức nhận biết về sự cố và nỗi thương tiếc của tôi

Tất cả chúng ta đương đầu khác nhau hoàn toàn và nảy sinh những nhu cầu tách biệt xung quanh thời điểm xảy ra những sự kiện gây sang chấn, như vụ 11.9 hoặc vụ sập cầu dẫn Cần Thơ.

Tới ngày lễ giỗ, một số người chỉ thấy cần ghi nhớ trong lòng rồi chẳng bận tâm, nghĩ ngợi lâu dài hơn; tuy vậy, với những kẻ khác, có thể nên ‘làm’ điều gì đó ngõ hầu ghi khắc sự kiện, trải nghiệm và mất mát.

Dưới đây là vài lựa chọn.

  • Dành thời gian đoàn tụ với gia đình hay bạn bè; kết nối, thay cho việc ở một mình.
  • Hoặc cần đơn độc. Cắt đứt mọi tin tức; đi ra ngoài, tới những địa điểm dễ gây cảm hứng ghi nhận về vẻ yên tĩnh, thanh bình và xinh đẹp của môi trường xung quanh.
  • Làm từ thiện, tham gia sinh họat cộng đồng, thăm viếng, thắp hương, xới vườn, trồng cây,…– bất kỳ điều gì khiến mình cảm thấy thoải mái.
  • Viết xuống những cảm nhận và ý nghĩa của ngày lễ giỗ mang lại cho mình bây giờ.
  • Cam kết dấn thân tình nguyện, ủng hộ cho tổ chức, đoàn thể nhằm góp phần làm vơi đi nỗi đau buồn cho các nạn nhân.
  • Tạo một truyền thống mới để ngày ấy từ nay mang một ý nghĩa tích cực, khác hẳn.

Dù quen thực hiện hoặc sẽ không làm chi cả ngõ hầu ghi khắc sự kiện thì xin chớ quên việc ưu tiên tự chăm sóc cho bản thân mình thật ổn thỏa. Những việc như duy trì ăn uống, luyện tập, thư giãn đúng đắn (vốn là nền tảng cho trạng thái khỏe mạnh, an lạc) lại thường hay bị bỏ qua trong những dịp lễ giỗ tương tự.

Xin nhớ giúp, mình không hề cô độc vào 4 năm trước và giờ đây, mình cũng không hề cô độc sau chừng ấy thời gian.

Lời cuối; hồi hướng những điều tốt lành, may mắn cho những ai đang đọc thấy những dòng chữ này.

Con cái của những bố mẹ mắc trầm cảm: liệu chúng có đảm bảo hạnh phúc không nhỉ?

Ồ vâng, một câu hỏi nghe hơi chút ngây ngô; tôi chấp nhận thế, bởi vì nó khởi đi từ dạo nào chính mình đã ngỏ lời

Xuyên suốt lịch sử tâm bệnh học, hầu hết các suy tư mang chất học thuật và triết lý về trầm cảm (depression) đều chú mục vào sự buồn bã, âu sầu (sad).

Tỷ dụ, đa phần các can thiệp chuyện trầm cảm cốt tủy nhắm tới làm giảm thiểu những hành vi và ý nghĩ khiến chúng ta đau buồn; cũng như thế, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu các yếu tố tạo cho thiên hạ cảm thấy tồi tệ hoặc ‘khó chịu’ (‘dysphoric’).

Dẫu thế đi nữa, một số nghiên cứu đang chạm tới cùng một kết luận: khi dẫn tới trầm cảm, sự thiếu vắng hạnh phúc (happiness) thậm chí còn quan trọng hơn hẳn so với nỗi sầu buồn.

Tôi đơn cử giới thiệu nghiên cứu này: nhóm tác giả xem xét sự phát triển của tác động tích cực (ví dụ, hạnh phúc) và tác động tiêu cực (chẳng hạn, sầu buồn) với trên 200 trẻ có nguy cơ mắc trầm cảm tương tự nhau và nhóm đồng đẳng nguy cơ thấp (low-risk peers) khác chúng.

Số em này có nguy cơ trầm cảm tương tự nhau, vì chí ít một trong hai bố mẹ chúng mang tiền sử mắc trầm cảm. Các tác giả nghiên cứu trên đánh giá đối tượng trẻ nguy cơ cao vì dưới góc nhìn thống kê, chúng gợi ý hết sức mạnh mẽ hơn nhóm bạn đồng đẳng về khả năng phát triển trầm cảm.

Thực tế, tầm 40-50% trẻ có bố mẹ từng mắc trầm cảm điển hình sẽ thể hiện trầm cảm vào những năm cuối thời kỳ vị thành niên.

Vậy, một khi các trẻ ấy mang nguy cơ cao sẽ tiến triển trầm cảm, nếu tìm xem bằng cách nào chúng khác với bạn cùng trang lứa có lẽ sẽ giúp ta hiểu những yếu tố nào góp phần làm trầm cảm nảy sinh, tiến triển?

Nhóm nghiên cứu có thể phát hiện chẳng hạn, các trẻ này có một biến thể gene đặc thù mà nhóm đồng đẳng kia không hề sở hữu; do đó, họ có thể suy đoán rằng biến thể gene như thế e là đã tham gia tạo nên trầm cảm ở trẻ.

Nhưng trong dự tính nghiên cứu, nhóm tác giả đã không tập trung nhìn vào các gene mà muốn thấy quỹ đạo phát triển tự nhiên của tác động tích cực và tiêu cực trong suốt giai đoạn đầu và giữa thời thơ ấu.

Tức là, họ muốn xem xét những thay đổi do tác động tích cực và tiêu cực gây nên ở tuổi còn bé. Nhóm nghiên cứu biết rằng, chẳng hạn, sự tăng lên của tác động tích cực từ lúc nhỏ tí sang đầu giai đoạn vị thành niên; ngược lại, tác động tiêu cực giảm dần từ ấu thơ sang giai đoạn đầu vị thành niên.

Điều này, đều tương tự ở hầu hết các bố mẹ. Xin thử nghĩ về tần suất ‘kêu khóc’ mà con cái bạn bộc lộ suốt những năm tháng chào đời. Bé gái nhà đằng ấy thường khóc thế nào khi mới 6 tháng tuổi? Còn vào năm thứ 2? Cháu ra sao hồi lên 7?

[Đa phần trẻ nhỏ chắc chắn khóc suốt lúc 6 tháng, ‘chỉ’ nhiều lần mỗi tuần hồi 2 tuổi và khá hiếm hoi khi lên 7.]

Vấn đề nhóm nghiên cứu xem xét liên quan việc bọn trẻ mang nguy cơ cao trầm cảm khác biệt với những đứa cùng lứa về tác động tích cực và tiêu cực.

Các tác giả tưởng rằng, các bé gặp nguy cơ sẽ bộc lộ nhiều tác động tiêu cực và ít tác động tiêu cực hơn so với nhóm đồng đẳng; nhất là, họ nghĩ, ở đối tượng gặp nguy cơ trầm cảm thì tác động tích cực không hề tỏ ra tăng lên hoặc tác động tiêu cực sẽ giảm đi cùng năm tháng– khác điều mà họ quan sát thấy ở những trẻ phát triển bình thường.

Và họ đã sai. Chí ít thì họ cũng đã sai phần nào.

Thực tế, nhóm nghiên cứu cho biết– trước sự ngạc nhiên của họ– các trẻ nguy cơ chứng tỏ cùng giống “các xu hướng phát triển” như nhóm bạn đồng đẳng. Đáng chú ý, tác động tiêu cực ở chúng giảm theo thời gian tựa điều mong đợi ở hầu hết bé nguy cơ thấp. Cũng rất đáng ngạc nhiên, mức độ tác động tiêu cực thuộc vào bất kỳ năm tháng đang nói tới không hề thấy khác nhau giữa trẻ nguy cơ cao và trẻ ít nguy cơ.

Nên chi, tác động tiêu cực ở trẻ nguy cơ cao giảm theo thời gian trong một kiểu cách ‘đặc thù’, và các bé ấy không hề ‘sầu buồn hơn’ bạn cùng trang lứa nguy cơ mắc trầm cảm thấp.

Song, họ đã thấy một sự khác biệt hẳn hoi khi nhìn vào tác động tích cực. Trẻ nguy cơ cao có vẻ giống với bạn cùng trang lứa ở những mức độ tác động tích cực theo thời gian. Mỗi năm, trẻ nguy cơ cho thấy tác động tích cực ngày càng nhiều tựa như mong đợi ở trẻ nguy cơ thấp. Chuyện cần lưu tâm là, tại bất kỳ năm tháng ấy, trẻ nguy cơ cao cho thấy tác động tích cực giảm hết sức đáng kể so với trẻ nguy cơ thấp.

Như thế là, dù mức độ hạnh phúc của chúng tăng lên theo thời gian thì trẻ nguy cơ cao lại giảm đáng kể mức độ hạnh phúc so với bạn đồng đẳng.

Nhóm tác giả nghiên cứu tin rằng, mức độ nhiều sầu buồn không hề đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển trầm cảm ở nhóm các trẻ mang nguy cơ cao; thay vào đó, mức độ hạnh phúc thấp e mới là tác nhân đã tạo nên trầm cảm ở chúng.

Wow, hàm ý khuyến cáo rõ ràng đối với các bậc làm cha làm mẹ: nên lưu tâm đúng mực tới niềm hạnh phúc của trẻ nhiều ngang mức chú ý chu đáo tới nỗi sầu buồn ở chúng.

Lần nữa. Con cái mình dầu có thể không sầu buồn song chắc gì đảm bảo chúng hạnh phúc, nhỉ?

Ăn và yêu cà dái dê– câu chuyện 20 năm

Bài này gợi tôi nhớ nhiều kỷ niệm đẹp, ánh tuyền sắc tía vui mắt, và lại còn ngon miệng nữa chứ.

Đây đúng là món bản thân thiệt tình ưa chuộng, từ hồi thích ăn chay trường tầm 20 năm trước ở trường Tổng hợp Huế thơ mộng.

Giờ nó vẫn tiếp tục được lựa chọn làm thứ cơ bản mỗi bữa, khi thấy thuận tiện [cập nhật (hé lộ tin mật riêng tư, cụ thể luôn): vừa ghé qua chợ, sau khi chạy bộ về, rồi mới gõ vội vàng Vài lời]; điều duy nhất khác, thuộc uyển chuyển chủ động chung đụng– thi thoảng chiều lòng người thương nên có chút thịt thà thêm vào (tịnh không liên quan ưu tư cách gì đâu nhé).

Ngộ ra, ăn và yêu và viết quả hơi bị sướng. 20 năm, câu chuyện cà dái dê nghe cứ như tận đẩu tận đâu, chẳng dính dáng tí ti gì tới mình.

Đã đến đoạn kết của entry giật tít cực khủng cốt nhằm khiêu khích trí tưởng tượng, đồng thời gợi tò mò đủ khiến độc giả lướt mắt ghé nhìn rồi đấy:

Viết xuống một thứ gì đó nảy nòi trong đầu thì thành câu chuyện. Kể hai lần, câu chuyện hóa các tiến trình mang chứa cuộc sống tự thân. Lặp lại nhiều hơn nữa, ‘ăn và yêu cà dái dê’ e dễ làm bẽ mặt cá nhân tác giả lắm lắm hoặc ai biết đâu, tạo hứng ra đời một sản phẩm chẳng hạn (tham khảo).

Steve Jobs, chuyện tự làm và sự nghiện việc

Vừa tròn một tháng, ngày ông chủ Steve Jobs gửi thư tuyên bố nghỉ việc và chuyển sang đảm nhận chức vụ khác.

Dù sáng lập viên hết sức thấu suốt và đầy lôi cuốn của hãng máy tính Apple đã buộc phải rời khỏi vị trí CEO (Giám đốc điều hành), vẫn còn lắng đọng tâm hồn bao người những phát ngôn ấn tượng.

Rồi đây, thiên hạ chắc chắn bàn tiếp về thiên tài kinh doanh Steve Jobs, về những sản phẩm của Mac và Apple.

Không có CEO Mỹ nào ngay lập tức đồng nhất hóa bản thân sâu nặng với sự thành công của chính công ty mình. Jobs bao sân ghê gớm mỗi một khía cạnh thiết kế và phát triển Apple, và ông thật đáng khâm phục quá chừng bởi thiên hướng phát huy kỹ nghệ thấm đẫm yếu tố con người trong các sản phẩm của Apple. (Michael Hiltzik, 1.2009)

Bây giờ thì chỉ thử tập trung nhìn lại quyết định lịch sử từ nhiệm nhằm muốn đề cập tới câu chuyện sức khỏe, trạng thái thân tâm thường an lạc (well-being), và cái giá phải trả do chẳng thèm chú ý tới những dấu hiệu cảnh báo của một kẻ nghiện việc (workaholic).

Giới thạo tin không ngạc nhiên trước quyết định của Steve Jobs.

Thành công qua ca mổ cắt bỏ khối u ở tuyến tụy năm 2004, chỉ vài tháng sau Steve Jobs trở lại liền với công việc. Song sức khỏe ông đang dần suy sụp và trông Jobs gầy rộc hẳn đi.

Phân tích toàn bộ kịch bản này dưới góc độ của tâm lý học nơi chỗ làm và sức khỏe nghề nghiệp cho thấy, không khó khăn gì để nhận ra rằng động năng thôi thúc trong Jobs (bất kể tại chỗ làm hoặc khi ở nhà) đích thị tạo nên mức thuế đóng khủng khiếp, góp phần tàn phá sức khỏe và sự an lạc của chính ông.

Năm 2009, Jobs vắng mặt 6 tháng ở công ty do cần can thiệp y khoa: cấy ghép gan. Mọi thứ ‘dường như’ bình thường khi lần nữa, ông quay về làm việc. Nhưng vào tháng 1.2011, Steve Jobs thông báo– một lần nữa– ông phải nằm viện. Rồi thật nhanh chóng, 24.8.2011, cả thế giới phát hiện Steve Jobs không thể trở lại đảm đương vai trò của một CEO.

Trong lá thư gửi nhân viên tháng 1.2011, Jobs viết: “Theo yêu cầu của tôi, ban giám đốc đã đồng ý để tôi được phép nằm viện nghỉ dưỡng, vì vậy tôi có thể tập trung chăm sóc sức khỏe bản thân. Tôi sẽ tiếp tục là Giám đốc điều hành và tham gia vào các quyết định quan trọng mang tính chiến lược cho công ty … Tôi yêu Apple rất nhiều và hy vọng được trở lại ngay khi có thể.”

Hãy để ý kỹ càng tới sự xung đột của các ưu tiên. “Tập trung chăm sóc sức khỏe bản thân“, tuy nhiên liền kề thì, “Tôi sẽ tiếp tục là Giám đốc điều hành và tham gia vào… và hy vọng được trở lại ngay khi có thể”.

Có một câu chuyện tỏ lộ sự chú ý của Jobs đối với cái chi tiết.

Ký ức của chàng Vic Gundotra về cái ngày Chủ nhật kém vui hồi tháng 1.2008, khi Steve Jobs gọi điện bảo cái chữ ‘O’ thứ hai của biểu tượng Google trên iphone “chưa đạt đúng độ nghiêng ở chữ màu vàng” được kể lại như một trong những điều hết sức ngưỡng mộ. Diễn giải khác Gundotra thì đó là một trong các mối quan tâm. Đừng quên, thời điểm ấy chỉ mới cách cái đận kinh hoàng Jobs mắc ung thư tuyến tụy 4 năm.

Schaufeli, Taris, & Rhenen (2008) phác họa 3 đặc điểm thường gặp ở người nghiện việc:

    1. Những người nghiện việc thường dành rất nhiều thời gian cho các họat động liên quan tới công việc. Họ là những lao công chăm chỉ kỳ cùng quá mức.
    2. Những người nghiện việc có một thời gian khốn khổ thoát ra, tách khỏi công việc và trong thời gian đó, họ tiếp tục và thường xuyên nghĩ tới công việc, thậm chí, cả khi họ không làm việc. Điều này khẳng định, họ ưu tư, bận tâm và ám ảnh với công việc.
    3. Những người nghiện việc thể hiện vượt trên hẳn những gì gọi là mong đợi hữu lý từ họ nhằm thỏa mãn hoặc yêu cầu của tổ chức, hoặc đòi hỏi mang tính kinh tế. Do vậy, người nghiện việc thường làm quá độ, cho dù cả khi họ không cần tiền. 

Schaufeli, Taris, & Rhenen (2008) lý giải, những người nghiện việc làm và ấn ép bản thân chuyên cần ngoài mức nghĩ, không vì những tưởng thưởng tài chính, nỗ lực nghề nghiệp hoặc liên quan tới văn hóa của tổ chức. Thay vào đấy, người nghiện việc chăm chỉ siêng năng bởi một động năng, nhu cầu, thôi thúc bên trong lòng mình.

Nghiên cứu của Shimazu, Schaufeli, & Taris (2010) chỉ ra, trạng thái nghiện việc (workaholism) trực tiếp lẫn gián tiếp đều mang tới sức khỏe kém. Nhóm tác giả này nhận thấy, trong khi những người nghiện việc đóng góp cho thành tựu của tổ chức thường nhiều hơn hẳn những kẻ khác thì cái giá họ phải trả cho chính mình (ám chỉ, sức khỏe tồi tệ) là rất cao.

Tâm trí tiếp cận công việc theo lối 24 giờ/7 ngày “là con dao hai lưỡi mà trong mai hậu [có thể và gây nên] sẽ đe dọa sức khỏe và trạng thái an lạc của người lao động.” (Sonnentag và cs., 2008)

Những người nghiện việc, giống như Steve Jobs, không ngừng ám ảnh bởi công việc có vẻ không biết cách hoặc thậm chí, không muốn thoát ra khỏi khi ông đã rời xa công việc thì kết cục, điều gì tất yếu xảy đến cũng chẳng khó đoán. Với riêng Steve Jobs, là sức khỏe đang bị suy giảm trầm trọng.

Chào buổi sáng (55): Và ngọn bát phong vu hồi thổi mãi…

Chào buổi sáng! Gió mùa thu của đất trời đang trỗi lên thật nhẹ nhàng vào sáng cuối tuần nắng dịu dàng, vô tư trải mình thanh thản. Rồi thì sau những ba đào tạm lắng của cuộc sống phố thị, gói cất lại khao khát lợi quyền giằng xé dữ dằn do cơn gió cách mạng xã hội khai diễn kinh khiếp cùng thái độ tùy ý bất cần trước hấp lực gây nghiện được tinh thần thời đại ồn ào mời chào, cuốn hút, rốt chỉ còn bé nhỏ trơ ra duy mỗi thân này, nơi đây, trong che chở tịch nhiên.

Bạt ngàn dọc ngang được- mất- sướng- khổ- khen- chê- nổi tiếng- vô danh tác oai tác quái, quăng quật hành hạ đại chúng còn hiện diện khắp nơi suốt cõi ta bà. Ngay chính tại chốn ngỡ chừng tột bực thâm nghiêm u mật, kín cổng cao tường, che chắn tứ bề, rào giậu chắc chắn, buông mành khép cửa thường trực, v.v… tất tật mọi biện pháp đóng giữ đều tuyệt khó đảm bảo ngăn chặn hữu hiệu sự xuyên thấu ghê gớm, đầy nét giễu cợt trêu ngươi thấy rõ của ngọn bát phong lẫy lừng muôn đời tưởng chừng vô địch.

Lòng tự dặn lòng kiên trì, cố gắng… Người may mắn thụ hưởng mấy kiếp yên ổn, vững vàng (“một thời kỳ dài tương đương với một chu kỳ sống của vũ trụ, gồm hình thành, kéo dài, hủy hoại và giai đoạn không hiện hữu tiếp sau đó”) mà sao ai ai cũng cứ mải miết lo toan tất bật, hồn xiêu phách tán, giành giật tích cóp, xanh mặt tái da, chân tay rã rời bải hoải. Mình làm mình chịu, nghiệp dĩ đa đoan, tham đắm, dính mắc, trùng điệp trăm vạn lần tơ vương lắm mối nên chi ngọn bát phong vu hồi thổi mãi, cho đến khi thế gian buông chùng, thôi mê lầm chấp ngã mà quyết tâm dứt khoát thoát khỏi vòng sinh tử khổ đau. Nguyện cầu; lành thay!