Nhắn (3): Lệch lạc?

Người ta vẫn thường bảo cô í rằng hành trình là tất cả chuyện đáng quan tâm nhất, rằng điểm đến chỉ là thứ phát, rằng cô í nên dành thời gian để tưởng thưởng mỗi một khoảnh khắc đưa cô í tới nơi đôi chân mong cô chạm vào.

Cô í không tán đồng chút xíu, bởi vì hành trình chỉ là phương tiện cho một mục đích rốt ráo– đích thực thế đấy. Cô í cho rằng, nếu mình bị chặn lại ở đôi chỗ không hợp thời thì nên phóng bằng con đường khác, bởi vì điểm đến là mục đích của mình chứ không phải việc vui thú ra sao, bất kể cuộc hành trình đã vạch định sẵn rồi.

Mãi lúc chạm điểm đến thì thôi, cho dẫu mọi thứ thế nào, hành trình là tiếng báo hiệu của chiếc đồng hồ cứ lắc rơi xuống những khoảnh khắc cho tới khi cô í đạt được điều cô í muốn. Không có gì hơn điều đó cả.

Bạn nghĩ cô í lập luận vòng vèo chí lý, hay nghe như cô í đang bao bọc, biện hộ khéo léo quá chăng…

Bốn năm mới có một ngày hôm nay

Mùa xuất gia, song chúng mình đang trú tạm ở bốn phương tám hướng vẫn cứ thản nhiên hưởng thụ, giả tảng sượng sùng chưa chịu rời nhà để tiếp tục còn mãi loay hoay tướng vay, hay mượn, sướng chiều, vương gượng và ngủ nướng.

Trải qua bao nhiêu mối quan hệ phiền não trước khi ta dừng lại với duy nhất mỗi Người?

Môi trường sống và đạo đức trong việc làm cha mẹ: áp bức, kiệt sức và bạo lực

Câu chuyện ông bố 53 tuổi dùng búa đập vào đầu, mặt con trai 24 tuổi đang ngủ khiến cậu này tử vong được các trang mạng truyền thông chính thống đưa tin theo hướng ngầm cho hành động của vị phụ huynh này là đáng được thông cảm: con quá hỗn láo, không dạy bảo nổi.

Thao thức cả đêm, ông Cường uất hận. Và những nỗi uất hận dồn nén đã khiến ông đi đến quyết định phải trừng trị Nhẫn

Sau khi ăn sáng, ông Cường quay về nhà, thấy Nhẫn còn đang ngủ nên đã lấy chiếc búa đinh đập liên tiếp vào mặt và người cho đến khi nghe thấy tiếng kêu thất thanh của cô con dâu.

Như thế, thời gian trôi qua, ngày mới đến cùng các chất nạp vào cơ thể không phải là nguồn dinh dưỡng tốt lành, đủ khả năng đem lại cho bậc làm cha mẹ tâm trạng tỉnh táo, nghĩ khác đi và cách xuất xử hợp lý. Lưu ý thêm, giải pháp đánh chết con được bạn đọc ủng hộ.

Chuyện vừa xảy ra ngay tại Hà Nội gợi nhớ vụ mới đây về người cha ở xứ Cờ hoa bắn thủng laptop của con gái.

Xoay quanh chủ đề thời sự giáo dục học đường và nuôi dạy con cái, lần nữa, thấy nổi lên thực tại trầm uất; đồng thời, thảm kịch đau lòng bố dùng búa giết chết con thể hiện rõ ràng thái độ uy quyền, vô hình trung, góp phần lý giải nguyên cớ phạm tội và phản ánh môi trường sống hết sức quan ngại.

Rốt ráo ra, đó là vấn đề thuộc tâm trí, đạo đức, cảm xúcnhìn nhận thông tin.

Ông Trần Văn Cường thủ đắc một tiêu chuẩn cao hơn, ông là bố và ông kết liễu đời con mình trong một trạng thái khó nói là điên loạn. Dự tính của ông đích thực là gì; chẳng biết thật rõ ràng, song tôi đoan chắc không phải vì muốn làm thay đổi hành vi của cậu út ngỗ nghịch.

Không còn cơ hội cho cậu Nhẫn sám hối, sống đời đàng hoàng và báo hiếu. Từ nay, ông Cường và người thân gia đình có lẽ sẽ thôi hết nỗi lo phá gia chi tử.

Lỗi lầm, nếu muốn gọi tên, e là lối suy nghĩ không ngừng đổ tội cho con trai và kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ chấm dứt cơn đau của đấng sinh thành: ông xấu hổ, tủi nhục không chỉ vì những gì cậu con trai lúc sinh thời gây ra…

Do vậy, cùng với sự ra đi biền biệt của cậu con trai là khoảng trống rỗng đầy đe dọa.

Kiểu suy tư của ông bố không tạo nên tác dụng như mong muốn, nó chỉ hàm ý củng cố những vấn đề ngoại giới và bề mặt hơn là bản chất sự thật bộc lộ trong câu chuyện đau thương này; chí ít, nó tuyệt nào dính dáng chi với mục đích của hành động giết người.

Thiệt tình thì cả hai đều cần thiết một sự trưởng thành bởi hai bố con cùng vi phạm nguyên tắc cốt yếu trong quan hệ gia đình: làm mất uy tín, ô danh một ai đó trong gia đình để ai đó bị bật ra, loại trừ khỏi gia đình.

Vâng, vấn đề của con cái ngày nay là vấn đề của cha mẹ.

Nghiêm túc, không hề thuần túy bàn về câu chuyện của riêng mỗi gia đình ông Cường. Chúng mình không làm việc đó, đúng thế, song khi thiên hạ chứng kiến những gì đang xảy ra, nó đại diện và thay thế một hiểm họa khôn lường…

Khi bác sĩ là bệnh nhân…

Đôi khi chúng ta quên bác sĩ là người thường như chúng ta. Họ có gia đình, thuộc thành viên của nhóm bố mẹ/ thầy cô giáo, nhận lãnh trách nhiệm chăm sóc con cái và làm việc nhà, và cũng bị ốm đau nên được đưa tới phòng cấp cứu hoặc nhập viện điều trị.

Một trong những quyết định đầu tiên về bác sĩ- bệnh nhân đối với chuyên gia chăm sóc sức khỏe là phải phát hiện xem người đó có phải thế không…

Quyết định này không hề nhẹ nhàng cho lắm, bởi vì bác sĩ, một khi xác nhận mình với vai trò đó thì dễ làm biến đổi mối quan hệ tiềm năng bác sĩ- bệnh nhân theo hướng hết sức sơ xuất, vô ý.

Nếu đối tượng là bác sĩ thì rốt cục họ có thể hỗ trợ quá mức về phần chuyên môn của mình. Các y tá, hộ lý và thậm chí, sinh viên thực tập sắp hành nghề trong lĩnh vực y khoa đôi khi giả định rằng, bác sĩ- bệnh nhận sẽ tỏ lộ toàn bộ tiền sử liên quan tới bệnh tật (hoặc các sự kiện chính yếu) và có thể lại không hề chu đáo, kỹ lưỡng trong việc thu thập thông tin nhằm phục vụ mục đích điều trị.

Hoặc các nhân viên bệnh viện sẽ cho là bác sĩ- bệnh nhân biết các thủ tục và nghĩ là họ làm cho bác sĩ chán nếu đưa ra các biện pháp can thiệp chi tiết…

Nếu bác sĩ- bệnh nhân không lộ ra mình là bác sĩ, liệu điều đó có ảnh hưởng tới việc điều trị của họ? Khả năng là chắc có.

Sự nhã nhặn nghề nghiệp có thể không thực hiện được. Có một sự hiểu biết tế nhị hoặc mối gắn bó giữa các bác sĩ, điều dưỡng và các nhân viên chăm sóc khác rằng chúng ta là người một nhà và sẽ hỗ trợ tối đa để đảm bảo đồng nghiệp nhận được sự chăm sóc tốt và tinh thần thoải mái nhất.

Đây cũng là sự thật với những ngành nghề khác. Cảnh sát biểu lộ sự tôn trọng bằng phát ngôn hoặc thầm lặng nể vì với nhân viên công lực cùng lực lượng. Thầy, cô giáo nhận ra các đồng nghiệp trong ngành giáo dục. Điều này cũng tương tự với các bác sĩ và đồng nghiệp chăm chỉ của họ tại bệnh viện.

Một bác sĩ không tỏ lộ nghề nghiệp bản thân có thể lãnh nhận thiệt thòi nhất định (ví dụ, dịch vụ tiến hành nhanh hơn,  qua nhiều công đoạn, ban bệ…) kéo theo ít nhiều sự hài lòng. Họ có thể chỉ được xem như bất kỳ bệnh nhân và e không được ưu đãi nào khác.

Là một bác sĩ- bệnh nhân lại chẳng mấy hay ho bởi nhiều lý do lắm. Chẳng hạn, không ai, ngay cả bác sĩ, muốn thấy chính mình ốm đau, chưa nói là người đời vốn mặc định là bác sĩ có khả năng tự chữa lành bản thân.

Thứ nữa, các bác sĩ có thể cảm thấy có tội bởi bệnh nhân của họ không có tùy chọn vai bác sĩ khi tiến trình điều trị diễn tiến quá chậm chạp. Các bác sĩ- bệnh nhân tin là họ được đảm bảo chăm sóc đúng đắn dù không tỏ lộ nghề nghiệp, tuy họ biết hệ thống chăm sóc sức khỏe không hoàn hảo, và làm họ lo lắng.

Lý do tiếp, các bác sĩ vốn là những người quen điều khiển, ra lệnh và hạn chế tối thiểu việc mất quyền tự quyết.

Lý do cuối cùng là cách thức các đồng nghiệp của họ sẽ đáp ứng thế nào và bác sĩ sẽ đáp ứng ra sao với họ?

Thi thoảng, dường như khá kỳ cục khi thấy một bác sĩ trở thành bệnh nhân, song nếu tất cả chúng ta nhớ rằng mọi bác sĩ đều có cùng niềm vui, ai cũng muốn nhận được khen ngợi và có trách nhiệm như nhau thì rồi sự vụ này, tôi tin, tựa như điều trớ trêu ít nhiều thông thường thôi.

Cá nhân tôi mong muốn mọi người khác đều hòa hợp cùng nhau, đặc biệt nếu bạn là người làm công việc chăm sóc sức khỏe. Chẳng biết độc giả có ai từng là bệnh nhân và mình cho biết bản thân là bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý hoặc người trong ngành y? Hy vọng, đó là thứ trải nghiệm đáng nhớ, tốt đẹp và ấm tình đồng nghiệp.

“Lời khuyên cho ông Vươn”: các chuyên gia sức khỏe tâm thần nên góp thêm những gì khi thảo luận về nhân cách của một người thuộc công chúng?

Cũng như đa số độc giả, tôi thấy bất ngờ với lời khuyên các chuyên gia đưa ra cho ông Đoàn Văn Vươn.

Đều chọn gợi ý cuối trong cả hai mẫu thăm dò kèm theo bài báo, kết quả chứng tỏ quá rõ ràng sự trái ngược giữa ý kiến của chuyên gia với độc giả bình dân.

Trên trang Anh Ba Sàm còn có không ít bình luận phản ứng hết sức gay gắt pha lẫn lời lẽ chỉ trích nặng nề, chẳng hạn:

– “Đọc hai ”chiên da” xôi thịt đưa ra lời khuyên cho ông Vươn chỉ thấy lợm giọng, buồn nôn. Định khuyên ông Vươn làm dân oan suốt đời chắc ?“;

– “Đọc lời khuyên của các vị TS này có thể dễ dàng phản biện lại tất cả các “lời hay ý đẹp” ấy. Nhưng xin chỉ phản biện ví dụ một vài ý cho khỏi dài dòng.“…

– “Hai ‘chiên gia’ này nói anh Vươn không hiểu luật pháp VN, nhưng tôi cho rằng hai người này chỉ biết lý luyết, không biết thực tế xã hội VN“.

… Thật buồn tiếc và xót xa khi biết cảm nhận của bạn đọc trước ý kiến của hai trong số các vị chuyên gia liên quan tới lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần vẫn thường xuyên xuất hiện trên mặt báo.

Câu hỏi rất tự nhiên nảy sinh ở đây: đích thị các chuyên gia sức khỏe tâm thần có thể đóng góp gì thêm khi thảo luận về nhân cách của một người thuộc công chúng, như vụ việc ông Đoàn Văn Vươn?

Theo thông lệ, khi các nhà tâm lý học, tâm thần học và các chuyên gia liên quan khác lên tiếng thì những lời bình luận của họ– một cách lý tưởng– đem lại lợi lạc cho cuộc thảo luận về nhân cách (personality).

Bình luận mang tính chuyên môn về các nhân vật của công chúng cũng mở ra giá trị hai chiều xuôi ngược để các nhà tâm lý học và những người khác cung cấp thông tin cho dư luận, và dư luận (lẫn nhân vật của công chúng) có cơ hội đáp ứng bằng những phản hồi riêng trên phương tiện truyền thông.

Theo kiểu cách này, giới chuyên môn có thể học hỏi bằng phương thức nào mà việc tán thành một đánh giá đầy trách nhiệm về một nhân vật của công chúng được tri giác bởi thiên hạ ra sao.

Bình luận công khai của giới chuyên môn về sức khỏe tâm thần chủ yếu nhắm tới đời sống tinh thần của các nhân vật công chúng; đạo đức nghề nghiệp chú tâm cơ bản vào mối quan hệ giữa nhà trị liệu và bệnh nhân, tiết chế các bình luận với truyền thông– chí ít khi nói về sự chết chóc, mất mát…

Mô hình diễn tiến giữa các nhân vật công chúng, những người phản hồi và dư luận có thể bắt đầu bằng thông tin về nhân vật công chúng– thường đã được truyền thông ghi nhận rồi. (hiển thị bằng phần góc trái bên trên của đồ hình vòng tròn)

Tiếp đến, các thành viên của truyền thông bình luận chung về những hành vi hoặc suy nghĩ của cá nhân; những bình luận này thường quan tâm tới cảm nhận đạo đức, chính trị hoặc ý nghĩa quan hệ công chúng về hành động của nhân vật. (góc phải bên trên)

Một dạng đặc thù của những bình luận như thế có thể gồm cả bình luận tâm lý– do các chuyên gia, nhà báo hoặc người khác thực hiện. (góc phải bên dưới)

Bình luận có thể là con đường hai chiều. Thành phần thứ tư của đồ hình biểu hiện các đáp ứng từ dư luận và tự thân nhân vật nổi tiếng. (góc trái bên dưới)

Cái lợi đầu tiên các chuyên gia có thể đem lại là cung cấp các quan điểm và ưu thế ngày càng phong phú nhờ kinh nghiệm và năng lực đào tạo riêng có. Các nhà tâm lý học và tâm thần học góp phần giáo dục công chúng thông qua việc giải thích các nguyên tắc tâm lý liên quan với sự kiện truyền thông.

Giới chuyên môn nhờ được đào tạo bài bản tốt hơn nên nhận ra tác động, ảnh hưởng của các nét tinh thần như kiểu kiếm tìm cảm giác (sensation-seeking) hoặc hướng ra ngoại giới và các động năng tâm thần như các động cơ và khả năng tự kiểm soát (self-control), về con người và hành vi của họ.

Hiểu biết của các chuyên gia về những hiện tượng vừa nêu cho phép dự báo được các khả năng xảy đến với các nhân vật– những gì có thể diễn ra với một người trong tương lai, cũng như cách thức nó tác động tới những người liên quan xung quanh.

Bình luận của các chuyên gia có thể ứng dụng ngay lập tức, chẳng hạn, trong việc xác định những người gây hại cho chính bản thân họ hoặc những nhà lãnh đạo quốc gia nguy hiểm trên bình diện quốc tế hoặc đất nước.

Các chẩn đoán tâm thần và đánh giá căn bản như vậy về nhân cách dường như rất dễ thu hút sự chú ý bởi chúng dính dáng sát sườn với sự kiện.

Đóng góp nữa của giới chuyên môn có thể là đặt để ví dụ cho các tiến trình đánh giá đúng đắn, sâu sắc mà thiên hạ ao ước học hỏi, hiểu biết.

Với đồ hình đã mô tả, bình luận trên các phương tiện truyền thông là con đường hai chiều xuôi ngược. Điều này đem lại giá trị tiềm năng cho cả công luận lẫn giới chuyên môn sức khỏe tâm thần. Dư luận bàn thảo về những chủ đề như nghiện ngập (addiction) và các rối loạn nhân cách cung cấp phương tiện để hiểu những gì họ cho là đáng quan tâm nhất và cũng cho phép phản hồi trở lại về những gì khoa học tâm lý được hiểu chính xác hoặc bị đánh giá sai lệch. Các cuộc tranh luận công khai góp phần làm rõ ràng hơn ngay trong chính giới chuyên môn về những giả định và mối quan tâm– không phải hoàn toàn tồi tệ khi xem xét các khoa học nhân văn.

Nói như vậy không có nghĩa buộc phải dẫn dắt công luận đi vào nghiên cứu khoa học hoặc tranh cãi đúng sai; những xem xét, cân nhắc khoa học phải được lượng giá bởi những người được đào tạo phương pháp khoa học áp dụng trong các khoa học nhân văn như sinh học, tâm lý học và xã hội học. Đúng hơn, có thể cho rằng, những trao đổi như vậy có thể đáng quan tâm cho cả các thành viên trong công chúng và quan điểm của họ đáng được giới chuyên môn biết tới.

Cũng cần lưu ý, bên cạnh giá phải trả liên quan tới việc đánh giá thì giá phải trả cũng đắt chẳng kém cho việc không tiến hành nó.

Những đánh giá dựa hơi là dạng ý kiến nói theo người khác, nhượng bộ và từ bỏ nghĩa vụ chuyên môn khi bình luận. Đánh giá người khác có thể được nhìn nhận như một nghĩa vụ– trách nhiệm giáo dục và trách nhiệm khuyến cáo, trong trường hợp nhân vật nguy hiểm.

Các nhà tâm lý học, tâm thần học và các chuyên gia sức khỏe tâm thần khác nằm trong số những chuyên gia chịu trách nhiệm, được giao phó về hành vi con người và sức khỏe tâm thần; việc tự thân họ rời bỏ nghĩa vụ này được xem là có vấn đề về mặt đạo đức.

… Bình luận hết sức nghiêm túc, đầy suy ngẫm về nhân cách người khác đòi hỏi kéo theo việc đưa ra những hướng dẫn thực hiện một cách khoa học và mang tính đạo đức– nhất là trước diễn biến phức tạp, thú vịnóng bỏng của sự kiện chưa đến hồi ngã ngũ.

Đám cưới của người đồng tính: quyền lợi chính mình không thể đợi?

[Thể hiện quan điểm của bạn bằng việc bầu chọn (Vote) ở cuối bài]

Đám cưới của một đôi đồng tính nữ ở vùng đất mũi Cà Mau tiếp tục xới lên lật xuống khía cạnh pháp lý và tình người.

Hai cô yêu nhau đã khá lâu, bị gia đình ngăn cản đã dọa tự tử. Trước sự kiên quyết của hai cô, gia đình hai bên đành chiều theo.

Ông Bùi Hùng Cường, Chủ tịch UBND thị trấn Đầm Dơi, cho biết: “Chúng tôi lập biên bản và yêu cầu hai bên cam kết không làm đám cưới và sống chung với nhau nữa. Nếu họ vẫn cứ vi phạm, chúng tôi sẽ xử phạt hành chính”.

Ba của cô Nh nói: “Cán bộ có người mạt sát, nhiếc móc chúng tôi là không biết dạy con, mà không hiểu và thông cảm cho chúng tôi, cũng đau lòng lắm nhưng chúng tôi sinh con mà trời sinh tính”.

Trưởng ban Tư pháp thị trấn Đầm Dơi cũng giải thích: “Theo khoản 5, Điều 10 Luật hôn nhân gia đình, cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”.

Má cô N mặt buồn hỏi trưởng ban tư pháp: Nhưng trời đất cứ sinh ra người đồng tính thì biết làm thế nào?

“Có người nói chúng tôi làm xấu xóm ấp thì cũng tội nghiệp cho chúng tôi lắm”, má cô N nói.

Cơ chừng, qua vụ việc trên thì thêm lần nữa, khái niệm “hôn nhân” đang đòi hỏi phải xác định lại.

Xã hội chúng ta hiện vẫn không có cùng cách bảo vệ họ như cách lâu nay vẫn đối xử với người dị tính.

Các ông Chủ tịch UBND và Trưởng ban Tư pháp thị trấn Đầm Dơi được pháp luật bảo vệ và luật hiện hành cũng bảo vệ gia đình họ khỏi bị phân biệt đối xử. Cặp đồng tính nữ ở địa phương này, cùng nhiều người đồng tính nam và nữ khác trên cả nước, không được hưởng lợi từ những bảo vệ của pháp luật vừa nêu.

Và bất luận họ có nói nhiều đến đâu rằng họ muốn được chúng ta đối xử như những công dân bình đẳng và cho chúng tôi đầy đủ quyền như chúng ta– thực tế là– trừ phi bạn vận động hoặc thực hiện những quyền đó, nó chỉ là thứ ngôn ngữ mang chất tu từ và âm thanh rổn rảng mà thôi.

Tuy thế, vẫn cần khẳng định rõ ràng, hôn nhân đồng giới không phải là toàn bộ câu chuyện dù việc điều chỉnh luật chắc chắn sẽ phải tiến hành.

Ai quyết định các quyền?

“Quyền” (rights) là một khái niệm tuyệt đối không đơn giản một chút nào. Trẻ sơ sinh có quyền được chăm sóc; tất cả mọi đàn ông, đàn bà đều có quyền mưu cầu hạnh phúc; xã hội có quyền đề ra những luật lệ riêng có và quyết định hậu quả gánh chịu khi các quyền bị xâm hại,…

Chẳng hạn, thật khó tin rằng hôn nhân được thiết lập để bảo vệ quyền của người nam hoặc người nữ mà không nhất thể cùng với việc sinh con đẻ cái.

Ước gì việc sinh đẻ hoặc nhận con nuôi được dàn xếp sẵn giữa một cặp đồng tính chỉ thuần túy là vấn đề hợp đồng khế ước và cả hai cùng có thể làm dễ dàng hóa bởi một cuộc hôn nhân dân sự.

Đó là quyền của đứa bé sinh ra trên thế giới cần được bảo vệ và nuôi nấng bởi những người có trách nhiệm với sự tồn tại của nó. Hình như từ “hôn nhân” xuyên suốt qua các giai đoạn lịch sử nhân loại mang nghĩa chính xác kiểu vậy.

Sự tiến bộ trong các phong trào xoay quanh vấn đề hôn nhân hiện tại vẫn chưa sáng tỏ gì cho lắm.

Trong bối cảnh giữa các động thái tranh đấu và chung sống hòa bình còn mù mờ như thế, nhớ rằng gia đình cơ bản là một thiết chế văn hóa– chứ không đơn thuần chỉ là một sự kiện sinh học– e sẽ góp phần ít nhiều đem lại trạng thái khoan dung và chấp nhận đầy khôn ngoan, khi các quyền lợi liên quan xảy ra xung đột.

Nhắn (2): Toại nguyện hiện tại

* Từ hôm nay, chính thức khóa sổ mục “Chào buổi sáng!“, và nhân số lượt truy cập tới lui blog Tâm Ngã vượt mức ngưỡng 100.000 nên phần “Nhắn” này sẽ được ưu tiên hiện diện thay thế.

——————————————————————————

Ngồi trên xe bus sau bữa cơm tối

tùy ý tâm tư chạy từ mái tóc buộc cao đắp chiếc khăn rằn Nam Bộ hé lộ một làn da trắng

đến cái tên tiếng Anh kệch cỡm “Nhà Thiết kế Việt Nam” bên vỉa hè rắc rối.

Đây là khoảng thời gian lệch sát kịp hủy lặng im ba sàm

trừ tiếng đằng hắng cùng điệu rung lắc chết chìm tháng năm của động cơ mòn mỏi.

May cậu soát vé giờ mới dùng dằng mở lời vừa phải nói về vụ cướp vàng giết người…

Qua công viên mon men những con cờ biết điều cười thê lương sử dụng hoài chưa chán

nhớ gói hạt sen ướp Huế thương thơm vị mùi an thần thư thái.

… Toại nguyện thực sự

khi để cô gái dư dả kiêu kỳ bước xuống nửa chừng Hà Nội

và thử sức nhận ra mình già hên vì sắp sửa tới bến đỗ gần nhà rồi.

Người ăn thịt lờ tịt đi tâm trí của con vật bị giết

Hầu hết mọi người thích ăn thịt, thậm chí nhiều kẻ ruột gan quay quắt nếu thiếu đạm động vật mỗi ngày.

Một con mèo rừng hôm kia bị nhà hàng dìm chết dưới hồ Tây để phục vụ thực khách khoái khẩu loài hoang dã quý hiếm.

Có lẽ, tại mỗi bữa, ít khi mình nhớ tới ý niệm rằng, quyết định dùng món thịt, nghĩa là ta chấp nhận các con vật sẽ bị giết đảm bảo đủ để mình có thể xơi chúng.

Một bài báo gần đây khẳng định, khi ăn thịt người ta thường lờ đi tâm trí của những con vật mà họ ăn.

Các thực nghiệm nêu trong nghiên cứu chứng tỏ, người lựa chọn ăn thịt thường buộc phải vật lộn với nghịch lý đạo đức của chuyện xơi một con vật có bộ não— bất kể họ nhận ra điều đó hay không.

Do tầm quan trọng của việc ăn đối với việc sống còn, chúng ta nghĩ về các loại động vật làm thức ăn theo kiểu kém phức tạp hơn các động vật khác. Hiệu ứng này đặc biệt mạnh mẽ ở bối cảnh ăn thịt.

Dĩ nhiên, cơ chế vừa nêu không chỉ dành nói tới mỗi việc ăn. Có rất nhiều tình huống trong đời dẫn đến xung đột giữa các mục tiêu và các giá trị đạo đức.

Ăn một thanh chocolate có thể tạo mâu thuẫn với chế độ ăn kiêng. Mua chiếc xe ô tô mới gây căng thẳng với ao ước dành dụm tiền bạc để tậu một căn nhà riêng,…

Cho nên chẳng khó hiểu trạng thái bất hòa trong nhận thức; khi một mục tiêu đã thu hút mình cao độ rồi thì chúng ta thay đổi thái độ về những điều (có thể trước đây bản thân mê tơi, cực thích song giờ thì) dễ khả năng gây xung đột với mục tiêu đó đến độ phải khiến chúng trở nên kém hấp dẫn hẳn đi.

“Sếp đang làm tôi cảm thấy bị stress thôi rồi!”

Có vẻ, vấn đề này khá quen thuộc với không ít người đi làm ở công sở.

Một giám đốc phòng kinh doanh sau khi tham dự một khóa học về Tỉnh thức trong công việc đã nói với tôi: “Hãy chấp nhận những kẻ độc tài, càn bướng, nghe thật hay. Nhưng tôi không thể thẳng thắn với sếp của tôi. Ông ta quá hung hăng, thường la hét, hạch sách nhân viên trong các buổi họp, không ai dám đối đầu với ông ta. Tôi dám chắc là ông ta sẽ đuổi cổ tôi ngay tại chỗ nếu tôi nói thẳng những nghĩ suy trong đầu một cách công khai, thẳng thắn”.

Đó chính là điều khiến ta sợ những kẻ độc đoán. Nếu ta thực sự đối đầu với họ, thì khác nào ta chọc cho họ nổi cơn thịnh nộ, ta đâu muốn thế! Nhưng đối đầu trực diện với họ như thế thực sự không cần thiết.Chấp nhận kẻ bạo ngược, độc đoán không có nghĩa là đột nhiên chúng ta tuôn xả tất cả mọi bực tức dồn nén đối với họ ngay trước mặt mọi người. Trái lại, việc đó bắt đầu chỉ bằng một nỗ lực đơn giản bên trong ta.

Tôi chỉ đề nghị như thế này: “Trong cuộc họp lần tới, hãy buông bỏ đi tất cả mọi định kiến của bạn về ông chủ của mình, dù chỉ trong chốc lát, và chỉ cần có mặt trong phòng họp. Hãy quan tâm, để ý đến những gì đang xảy ra. Hãy chấp nhận hoàn cảnh”.

Dạng phản ứng tương tự đối với sếp có thể giấu kín lịch sử đích thực ở bên dưới. Bất luận vấn đề thế nào đi nữa, không phải sếp mà chính bạn mới là người tạo nên stress cho bản thân.

Bạn đã và đang tạo ra stress gây- ra- với- sếp,” theo lời tác giả cuốn sách Modern Buddhism.

Stress, Kadam Morten gợi mở, là kết quả của “những trạng thái không kiểm soát được tâm trí” như tức giận, hoặc một sự không thỏa đáng trong nghề nghiệp.

Các Phật tử thực hành thiền định (meditation) nhằm thấu hiểu và siêu việt các trạng thái này. Vấn đề ở chỗ, cho dù sếp của bạn có đích thị ghê gớm hay không, mọi thứ tùy thuộc ở cách thức bạn cảm thấy tồi tệ stress mà ông/ bà ta gây ra cho bạn.

Theo CDC, stress dai dẳng, liên quan tới công việc là hiện tượng đang ngày càng lan rộng khắp nơi. Vượt qua thời gian đủ dài, nó có thể gây hại trầm trọng cho cả sức khỏe thể chất và tâm lý.

Nền Y khoa Tây phương cho tới gần đây mới bắt đầu chính xác cái gì là các cơ chế gây stress dây dưa– thông qua việc tuyến thượng thận phóng thích quá mức nội tiết tố cortisolnguyên nhân tạo ra một lọat bệnh lý, từ béo phì tới đái đường và tim mạch. Song bằng chứng đang ngày càng tăng để cuối cùng tiến tới kết luận rằng, stress mạn tính là độc dược cho cả thân xác và tinh thần.

Kadam Morten không ngạc nhiên với các phát hiện vừa nêu. Bởi chúng sát hợp với lời dạy hơn 2000 năm của Siddhartha Gautama, thường được biết tới là Buddha (tiếng Phạn mang nghĩa “người tỉnh thức”).

Theo truyền thống Phật giáo, đời sống của hầu hết mọi người đều đặc trưng bởi sự khổ (suffering). Người Tây phương lạc quan, vốn tự cho mình có thể làm mọi điều e sẽ cười vào mũi ý niệm này, song chỉ cần lưu tâm rằng đây không nhất thiết nói về đói kém, chiến tranh, dịch bệnh.

Với các Phật tử, khổ là sự đẩy kéo bất tận của ham muốn– để có một chiếc xe mới, sếp dễ tính hơn, đi đâu cũng được miễn là thoát khỏi nơi mình đang sống bây giờ,…

Các trạng thái tâm trí do ham muốn gây nên, tác giả Kadam Morten tiếp tục, có thể làm hạn chế năng lực sáng tạo và tinh thần uyển chuyển liền ngay sau đấy. Kỳ cục hết sức, cách tiếp cận đấu- lại- hay- bỏ- chạy (fight-or-flight) để giải quyết vấn đề lại dễ khiến ta tái diễn không ngừng mà mỗi kịch bản đích thị là nguyên nhân làm ta đau khổ.

Thiền định, tác giả nói, là phương pháp thực tiễn nhằm khám phá tâm trí bản thân và vượt qua những thói quen gây hại của sự suy nghĩ.

Áp dụng vào chốn công sở hiện đại, điều này không có nghĩa là cứ hớn hở, tươi vui và để mặc cho “vị sếp kinh khủng” lợi dụng mình.

Đúng hơn, nó có nghĩa là hướng mình thoải mái tới sự yên ả, hữu lý trong các quyết định ngõ hầu giải quyết ổn thỏa, tốt đẹp nhất với sếp, bao gồm cả chuyện– nếu cần thiết– thì quyết định tìm một công việc mới.

Nếu có nhu cầu cần quan tâm, tìm hiểu kỹ càng hơn, mời tải bản định dạng thích hợp cuốn sách từ nguồn dẫn đã nêu bên trên.