Xem film Trung Quốc và nghe người Nhật nói chuyện nhân dịp Giỗ Tổ Hùng Vương

Đó là bộ phim liên quan tới đập thủy điện lớn nhất thế giớiTam Điệp— trên sông Dương Tử của một đạo diễn Trung Quốc.

Cái hoành tráng của đất trời, của công trình đồ sộ càng nhấn chìm thảm hại và cay đắng những thân phận bé nhỏ, thảm thương và tù túng, mù mịt tương lai. Tha hóa, cả về mặt môi trường và nhân văn, là kết quả thu lượm được của một thứ chính sách theo đuổi mê mải hoang tưởng tự cao tự đại.

Viễn cảnh hoang tàn, vô nhân tính, mất gốc và bạo lực. Cứ nhìn cách đạo diễn sử dụng chủ yếu thân xác, hình thể diễn viên lẫn ý đồ chú trọng miêu tả cẩn thận, tỉ mỉ các chi tiết tưởng chừng vặt vãnh, nhỏ nhặt đi kèm với cách máy quay chậm thì đủ rõ tất cả. Đâu cần thoại hay kể lể nọ kia; việc đối lập giữa thiên nhiên và lòng người quá đắc địa, báo hiệu sự phá hủy và đổ vỡ sẽ tiếp tục diễn ra– bất chấp những lãng mạn, siêu thực hay cổ điển thi họa; bởi càng cố tô vẽ, càng vô cùng trần trụi.

Khốn nạn. Xem xong, tra cứu tí chút, thấy Wiki Việt chưa cập nhật tin này. Và lướt vội thêm đây, đâyđây nữa.

Nhìn lại Lễ Giỗ Tổ quen thuộc. Ngậm ngùi thay.

Hôm nay, báo nước ngoài có bài “Việt Nam: Từ anh hùng rớt xuống tận cùng” với đoạn mở đầu nhức nhối.

Xen giữa bối cảnh mua bán rối rít và giao thông nhốn nháo của thủ đô đất Việt, không đếm xuể nổi các dây băng treo cao hô hào dân chúng “Đón Xuân, Mừng Đảng”. Những ngày này, người Hà Nội không có gì nhiều để ăn mừng. Mới gần đây thôi, chưa xa xôi lắm gì cho cam, Việt Nam còn là bức ảnh đẹp của một đất nước đang phát triển mà bây giờ nó đang thụt lùi thật thê thảm.

Tối qua, tại Thư viện Quốc gia, chuyên gia văn hóa Nhật cứ nhắc đi nhắc lại rằng mong các bạn Việt Nam hãy học lấy sai lầm và thất bại của nước Nhật và xin đừng vấp phải, mà cần tính toán và cân nhắc kỹ, nhất là các bạn trẻ đang độ tuổi đôi mươi, nên hình dung xa hơn, vượt qua những thành tựu và hưởng lợi kinh tế sắp đến để nhắm tới hình dung giá trị tinh thần 20 -30 năm nữa.

Việt Nam ơi, Người có đang lắng nghe, cảnh giác và tỉnh thức?

Nhân cách bệnh ở giữa chúng ta

Các chuyên gia nhận thấy, đôi khi không phải toàn bộ các đối tượng nhân cách bệnh (psychopathy) đều là tội phạm bạo lực, giết người.

Theo nghiên cứu, nhiều đối tượng ấy vẫn sống không gây chú ý gì giữa chúng ta. Những kẻ có phần nhân cách bệnh lành tính nhiều hơn đa số chưa phát hiện ra; thậm chí, khó rõ ràng phương thức so sánh với những phần xấu xa hơn trong họ.

Một trăm sinh viên đại học đã hoàn thành bảng tự đo lường nhân cách bệnh qua thăm dò 4 lĩnh vực chính– thiếu hụt khả năng thấu cảm, hoang tưởng tự cao tự đại, tính xung hấn và phạm tội.

Đỉnh 33% và đáy 33% trong thang điểm số tạo thành các nhóm nhân cách bệnh cao và thấp. Sau đó, các nhóm nhân cách bệnh cao và thấp hoàn thành các trắc nghiệm tâm lý thần kinh vốn thường được dùng trong nghiên cứu với nhân cách bệnh gây án.

Các sinh viên mang nhân cách bệnh cao cho thấy cũng có mức thấu cảm thấp khi làm trắc nghiệm tự báo cáo, đồng thời cho điểm số kém cỏi trong nhiệm vụ đánh bài Iowa Card (so với các sinh viên nhân cách bệnh thấp), phản ánh cùng kiểu thể hiện thấy ở các nhân cách bệnh phạm tội. Trò chơi đánh bạc này được xem là cách đo lường chức năng một phần đặc thù thuộc vùng trán não bộ gọi là vỏ trán-hốc mắt (OFC)– liên quan tới cảm xúc và việc ra quyết định.

Tuy thiếu hụt ở phần trên, song các sinh viên nhân cách bệnh cao đã chứng tỏ chức năng vận hành và IQ bình thường, giống như hầu hết nhân cách phạm tội. Nhóm nghiên cứu cho rằng, phát hiện của họ chỉ ra các nhân cách bệnh phạm tội và không phạm tội chia sẻ cùng một tiết diện, biên dạng tâm lý thần kinh.

Vậy, những gì khiến các nhân cách bệnh tội phạm trở nên bất ổn, trong khi các nhân cách bệnh không phạm tội thì chẳng phải như thế? Nhóm tác giả công trình suy đoán, có thể các nhân cách bệnh tội phạm bị lèo lái hướng tới việc phạm tội là do bối cảnh sống của họ, nhất là do thiếu vắng giám sát của bố mẹ từ bé, sự mất mát và có bố mẹ đang bị kết án.

Nghiên cứu đi đến kết luận rằng, tiếp tục tập trung vào bản chất của nhân cách bệnh qua xem xét các mẫu phạm tội và không phạm tội là rất quan trọng, vì nó giúp tỏ lộ một số yếu tố bảo vệ các nhân cách bệnh không phạm tội khỏi trở thành nhân cách bệnh gây án và do đó, giảm thiểu sự tàn phá về mặt cảm xúc và tài chính khiến họ trút giận, gây hại.

Các nhân cách bệnh lý cơ chừng không hề mủi lòng trước câu từ, lời nói và ai biết đâu, có thể mình đang hẹn hò với một đối tượng như thế.

Các bảng hỏi đo lường nhân cách bệnh ở trẻ em và vị thành niên không nên được sử dụng trong bối cảnh lâm sàng và tư pháp vì tính hợp pháp của chúng vẫn chưa được xác quyết.

Đây là văn bản giáo khoa về nhân cách bệnh, kèm trích chẩn đoán về rối loạn nhân cách chống đối xã hội (F60.2) từ Bảng Phân loại Quốc tế Bệnh tật lần thứ 10 (ICD-10, Việt- Anh):

Rối loạn nhân cách có đặc điểm là sự không quan tâm đến các ràng buộc xã hội và sự vô tình một cách chai lỳ đối với cảm xúc của những người khác. Có sự khác biệt lớn giữa hành vi ứng xử và các quy tắc chuẩn mực xã hội hiện hành. Hành vi này không thể nhanh chóng thay đổi khi gặp một tình huống bất lợi bao gồm cả hình phạt. Bệnh nhân không thể chịu đựng nổi sự thất bại và rất dễ bùng nổ những cơn gây hấn bao gồm cả bạo lực; bệnh nhân cũng có khuynh hướng trách mắng những người khác hoặc đưa ra những lý lẽ khéo léo để biện minh cho hành vi xung đột với xã hội của bệnh nhân. (tr.243)

Còn đây thì đặt vấn đề liệu một cái trắc nghiệm có thể xác định ai đó là nhân cách bệnh hay không.

Một ngày bình yên.

Tối sáng sang bờ

Tình khúc cho em (Lê Uyên Phương)– ca sĩ: Đình Bảo

Yêu- thì- em. Thứ nhất, lần đầu tiên là tất cả ước ao– trong lĩnh vực khoa học và nghệ thuật. Với sự vụ luyến ái đời thực, chưa chắc phải hết sức tuyệt vời vậy đâu; bởi vì cuộc trò chuyện lứa đôi tựa như trò trình diễn: một lần, mãi mãi và có thể… lặp đi lặp lại.

Nuôi con chữ trong bồn ngôn ngữ (thứ dữ!)

Triển lãm tranh của họa sĩ Thành Phong được vẽ hết sức sinh động và vui nhộn minh họa cho hơn một trăm câu thành ngữ mà giới trẻ Việt Nam ngày nay hầu như không ai là không dùng và được xã hội cũng như các phương tiện truyền thông chấp nhận rộng rãi.

Lời giới thiệu cho buổi Tọa đàm Ngôn ngữ giới trẻ thời @ cho nên cũng thật ấn tượng ghê cơ.

Quyết liệt giành đối tượng ngại đọc từng chữ nên mê mải chiến lược tiếp thị thứ ngôn ngữ truyện tranh.

Giờ nói cho vuông. Đọc không kịp dừng thở, song vẫn cứ kịp thấy dở. Đã triệt để dành ra hẳn một câu thì phải dụng công khoe tài chữ nghĩa chứ; thiệt tình, độ thuyết phục thẩm mỹ và tính chính xác của thông tin chưa thuần thục, chắc nục cho lắm…

Sau khi có ngôn ngữ, nhân loại phát triển vượt bậc. Và viết, dù là hình thức chật vật nhất, đích thị sáng tạo nên chất cô đặc độc đáo của ngôn ngữ; nó cho phép ngôn ngữ băng xuyên thời gian, xóa nhòa khoảng cách và cài cắm những ý tưởng tồn lưu sau một thế hệ.

Công việc lớn lao, nặng nhọc là kiếm tìm cực kỳ khắc nghiệt, và kết nối, và trải dài vươn rộng ý tưởng làm sao nảy sinh thật năng sản và chịu đựng nổi bao thử thách, va đập.

Từ khóa ở đây: lựa chọn.

Tiếng lóng dễ dính nhọ bồ hóng, vì thế phải mồi chài đặt cược chăng.

Hài hước, hời hợt, hú hí, hừng hực, hi hi hay hơ hơ, hồi hộp,…; tất tật phong cách và chức năng, cấu trúc suy tư thời internet gì gì cũng chấp nhận hết thảy; câu hỏi duy nhất cần được cân nhắc thấu đáo là hòa hợp, khít chặt với truyền thống hay ưu tiên làm nổi bật lên đặc trưng đương đại?

Hay luyên thuyên, buôn chuyện rất dễ bị ghét và được xem là kẻ kém cỏi

Buôn chuyện, bàn tán có thể là sự gắn kết xã hội, ràng buộc chúng ta lại với nhau. Song, những kẻ hay luyên thuyên đủ điều, chuyên nghề đơm đặt, buôn dưa chuyện thiên hạ (gossipers) không những bị coi là thật đáng ghét mà còn chẳng có ảnh hưởng xã hội.

Tác giả Sally Farley phát hiện ra điều trên sau khi phỏng vấn 128 đối tượng (hầu hết là nữ sinh viên) xem họ nghĩ gì về những kẻ họ biết– buôn chuyện rất nhiều hay tuyệt chẳng hề lắm lời chút nào, rồi đánh giá mức độ dễ thương và ảnh hưởng xã hội của người đó, cộng thêm 21 items thể hiện các nét gây phiền nhiễu khác nữa.

Nhằm che đậy mục đích thực chất của nghiên cứu, từ “buôn chuyện” (gossip) đã không hề được sử dụng. Thay vào đó, những người tham gia thực nghiệm được bảo đây là nghiên cứu về “truyền thông không chính thức” (informal communication) và hướng dẫn đặc thù để tìm hiểu việc ai đó “dành nhiều thời gian (hoặc ít thời gian) nói về người khác khi họ vắng mặt”.

Nhằm đề nghị người tham gia thực nghiệm tưởng tượng về một kẻ buôn chuyện thường xuyên, một cách chi tiết hơn là họ thử hình dung về ai đó nói những lời tiêu cực hoặc tích cực về kẻ khác khi đối tượng vắng mặt.

Chung quy, những kẻ buôn chuyện dây dưa ít được thích hơn người không đàm tiếu.

Trong thang đo ưa thích gồm 13 items, mỗi item cho điểm 1- 9 thì những kẻ buôn chuyện tiêu cực tính trung bình 37 điểm, người không dưa cà mắm muối gì 47 điểm. Ngoài ra, những kẻ buôn chuyện phong phú bị xem là kém hẳn về quyền lực mang tính xã hội, đặc biệt nếu họ là những kẻ buôn chuyện, đặt điều tiêu cực.

Những phát hiện nêu trên trái ngược với một vài nghiên cứu trước đó chỉ ra rằng, các cô gái càng nhiều bạn bè thì càng rất thích buôn dưa.Thậm chí, có nhà Nhân học còn liên kết chuyện buôn dưa với sự chải chuốt, bóng bẩy thể hiện ở các loài giả nhân, mà cả hai hoạt động này nhằm tăng cường sự gắn bó xã hội.

Một dẫn dắt khác dính tới chủ đề nghiên cứu trình bày hiệu ứng lương năng thông thường như là “sự chuyển đổi thái độ hết sức hồi quy“– đơn giản, phát hiện thấy ai nói lời tốt đẹp về những người khác khi họ vắng mặt thì được đánh giá là thật dễ thương ghê, trong khi những kẻ thích vu khống, phỉ báng sau lưng người khác lại bị xem là ác nghiệt hơn hẳn.

Nghiên cứu đang bàn mở rộng một cách hiệu quả điều này cốt chỉ ra rằng, những kẻ buôn chuyện tiêu cực không chỉ bị ghét bỏ mà còn được thiên hạ nhìn nhận là kém cỏi về mặt xã hội.

Mặc dù còn vài khiếm khuyết, nghiên cứu trình bày một trong số ít ỏi thực nghiệm về cách thức kẻ buôn chuyện qua sự tri nhận của người khác, Farley kết luận. Nghiên cứu tương lai sẽ xem xét một số yếu tố trung gian quan trọng khác về sự buôn chuyện như ấn nhập trong buôn chuyện, chủ đề dưa lê, và động cơ cho chuyện buôn (phục vụ nhóm đối lập với phục vụ cho chính cá nhân).

Lời cuối. Nếu thích ngắm bức ảnh trên thì mời xem tiếp để tò mò biết thêm những đôi môi buông tuồng điều gì.

Nhắn (8): Lòng biết ơn

Hãy để cho lòng biết ơn chảy tràn thành niềm ân sủng bao quanh mình nơi nơi. Rồi thì… đó đích thực là một ngày tốt lành.

Cái chết có thể tới vào bất cứ lúc nào, không phải nó luôn luôn đưa ra lời khuyên trước, kịp thời. Vì thế, nếu còn bất kỳ sự hiểu nhầm, lầm lạc nào chưa được giải quyết thì chúng ta nên khả dĩ gắng xử lý ngay lập tức để khỏi hối tiếc, ăn năn.

Đôi mắt và nỗi rắc rối của ước muốn nhìn

[Bài này được gõ vội vàng, ngoài lý do ‘sự sinh- sinh sự’ quen thuộc lâu nay thì còn cốt để tác giả tự mím chi xíu trước sự kiện lần đầu tiên mất cái vai đầu bảng tưởng chừng mãi mãi, thậm chí, không có mặt ngay trong danh sách trang, bài xôm trò rồi e đành ngượng ngùng nhường ngôi cho hắn.

(Thành thật xin lỗi nếu ai đó quan tâm truy cập, nhất là quãng nửa đêm về sáng, theo từ khóa tới blog Tâm Ngã song không thấy gì như ý cả.)]

Nhận biết trẻ tự kỷ qua đôi mắt“. Tin đưa quá chừng chi tiết, đầy ấn tượng về một cuộc triển lãmtrao đổi đang diễn ra (clip, ảnh chụp minh họa dễ thương).

Trong các vấn đề giác quan trẻ mắc tự kỷ gặp phải, thị giác luôn được chú ý; thậm chí, đáng xem xét nghiên cứu gợi tò mò về việc qua phân tích chức năng thị giác ở trẻ mắc tự kỷ đã khẳng định sự thiếu hụt trong độ quy tụ của mắt nhìn.

Cần biết rằng, dù nhiều quan sát lâm sàng, những công trình tiến hành và báo cáo từ các bậc làm cha mẹ lâu nay cho là trẻ mắc tự kỷ thể hiện kiểu tri giác và chức năng thị giác không điển hình– thí dụ, tính tinh tường của mắt nhìn tăng lên, nhạy cảm cao hơn với ánh sáng và gặp phải nhiều hơn chứng lé (lác) mắt– thì hiểu biết của chúng ta về cơ chế điều khiển nhằm giải thích những bất thường thị giác như thế vẫn còn khá hạn chế.

Theo nghiên cứu vừa nêu, nhóm tác giả thấy 11% trẻ phát triển bình thường và 31% trẻ mắc ASD (Rối loạn Phổ Tự kỷ) gặp vấn đề về sự suy hỏng thị giác– chẳng hạn, cận thị (myopia), loạn thị (astigmatism), v.v… Khác biệt này mang ý nghĩa thống kê; nghĩa là trẻ mắc ASD thực sự dễ gặp phải các trạng thái này hơn rất nhiều, so với trẻ phát triển bình thường.

Trẻ mắc tự kỷ cũng thể hiện sự yếu kém hơn hẳn về độ tinh tường thị giác (visual acuity)– dù vẫn trong giới hạn bình thường–, và độ quy tụ (convergence)  thấp hơn. Độ quy tụ nhằm xử lý sự chuyển động của đôi mắt hướng về nhau để duy trì tiêu điểm các đối tượng đang tiếp cận hoặc thuộc ranh giới gần sát.

Phát hiện độ tinh tường thị giác suy giảm ở trẻ mắc tự kỷ– khi so sánh với trẻ phát triển bình thường– mâu thuẫn với các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra độ tinh tường ở trẻ mắc tự kỷ tăng lên.

Nhận định này mang chúng ta đến giới hạn cơ bản của nghiên cứu đang trình bày.

Dường như, nghiên cứu được quảng cáo như một nghiên cứu về chức năng thị giác của tự kỷ. Do đó, lượng bố mẹ đáp ứng đề nghị tham gia thực nghiệm cơ chừng nghiêng xu hướng con cái gặp vấn đề về thị giác; điều ấy giải thích ít nhiều các mức độ cao những vấn đề thị giác quan sát thấy trong nhóm tự kỷ cũng như các tỷ lệ thấp hơn về độ tinh tường thị giác. Tuy thế, các tác giả của nghiên cứu này cũng nhận ra tỷ lệ lác mắt (strabismus) thấp hơn những báo cáo từng công bố.

Vấn đề độ quy tụ gợi kích thích. Độ quy tụ là một trong các cơ chế chúng ta dùng để ước tính chiều sâu và khoảng cách. Độ quy tụ bị hạn chế do đó, có thể liên quan với tri giác chiều sâu.

Nghiên cứu thượng dẫn gây tò mò, bởi vì hồ sơ tâm lý thần kinh của trẻ mắc tự kỷ chức năng cao (high functioning autism) thường rất tương tự với các quan sát thấy được ở trẻ khiếm khuyết việc học hỏi ngôn ngữ không lời (gồm những yếu kém liên quan trong chức năng vận động – thị giác).

Ngoài ra, nhiều bố mẹ có con mắc ASD cho biết là con cái họ gặp trục trặc khi chơi thể thao và các hoạt động thể lý khác. Vậy nên, tự hỏi việc giảm thiểu độ tinh tường như thế có thể ảnh hưởng ra sao chức năng vận động – thị giác ở tự kỷ.

Một tóm tắt thú vị nữa cho thấy sự ác cảm (aversion) đôi mắt có thể ảnh hưởng tới sự tri nhận khuôn mặt của trẻ mắc tự kỷ.

Tri nhận toàn bộ khuôn mặt là xu thế trải nghiệm và xử lý các khuôn mặt như một sự “tổng thể” chứ không phải là cộng lại các phần.

Ví dụ, khi đề nghị tri nhận một “cái mũi”, người ta thường hay nhìn ra nó như phần của khuôn mặt (thậm chí một khuôn mặt không thật) hơn là việc cái mũi được trình bày cách biệt.

Nhìn nhận việc hiểu biết về các khuôn mặt là một bước phát triển cốt yếu và nghiên cứu chỉ ra những bất thường trong tri nhận khuôn mặt ở tự kỷ, các tác giả của công trình muốn xem xét sự phát triển của các năng lực tri nhận khuôn mặt trong nhóm trẻ mắc tự kỷ, so sánh với nhóm trẻ mắc các rối loạn phát triển khác như hội chứng Williamshội chứng Down.

Các tác giả phát hiện thấy, cả ba nhóm chẩn đoán đều chứng tỏ tính bất thường trong sự phát triển về tri nhận khuôn mặt, khi so sánh với trẻ phát triển bình thường.

Tuy thế, kiểu bất thường hết sức khác biệt nhau giữa các nhóm.

Trong khi các mẫu hình của sự khác biệt quá phức tạp để tóm tắt lại ở đây thì thiển nghĩ, một phát hiện đặc thù gây nhiều kích thích.

Trẻ mắc tự kỷ chức năng thấp (không phải chức năng cao) chỉ ra một sự bất lợi ở chuyện định hình đôi mắt dù thuận lợi trong chuyện định hình những cái mồm miệng. Hơn nữa, chúng cũng giỏi hơn trong việc định hình các đôi mắt và cái mũi khi những thứ này được  lộn ngược– hơn là khi hướng lên trên. Điều này trái ngược với những gì thấy ở trẻ phát triển bình thường.

Các tác giả thảo luận cách thức điều này có thể là do một sự ác cảm khi nhìn thật trực tiếp vào đôi mắt, nhất là với những khuôn mặt ở tư thế đứng thẳng.

Do đó, những sự thiếu hụt quan sát thấy trong tri nhận khuôn mặt ở nhóm trẻ mắc tự kỷ có chức năng thấp dường như không phải tạo nên vấn đề trong sự phát triển tự thân các tiến trình tri nhận tổng thể khuôn mặt, thay vào đấy, sự yếu kém này có thể do một sự ác cảm tự nhiên khi nhìn chòng chọc vào khu vực đôi mắt của khuôn mặt.

… Vì tự kỷ đâu chỉ là chuyện trẻ con nên chủ đề đôi mắt và độ rắc rối của ước muốn nhìn cần được khai triển thêm chút, hầu vĩ thanh cảm thông, chia sẻ cùng bố mẹ có con mắc tự kỷ trong khí vị buồn vui dân dã, đời thường.

Nhà hiền triết cổ đại Seneca đã phán rằng, “đôi mắt sẽ không nhìn thấy khi trái tim ước muốn chúng bị mù“; dù ngày càng nhiều bằng chứng khoa học ủng hộ nhận xét khôn ngoan cũng xưa cũ ghê gớm: “đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”.

Tuyên bố của Seneca tự nó giải thích khá rõ ràng; đặc biệt trong bối cảnh cảm xúc. Tỷ dụ, thiên hạ quen thuộc phát ngôn “tình yêu thì mù quáng” (“Love is blind”).

Bởi trong nỗi đớn đau tột cùng khi tình yêu mới hé, chúng ta thường mù tịt trước bất kỳ lỗi lầm khả dĩ nào của người khác. Hoặc lúc giận dữ, chúng ta cũng hay bị che mờ trước các phẩm chất tốt đẹp, dễ thương của người khác.

Trái tim tiếp quản và đôi mắt chẳng nhìn thấy. Vì thế, nên chăng người ta cần dành thời gian để lắng nghe đôi mắt và nhìn thấy đôi tai họ; gì gì, xin đừng tiêu tốn vào những khoảnh khắc ngắm nghía bọn trẻ yêu nhau nhé.

Đổ lỗi cho bản thân và thói quen tự chịu trách nhiệm: muốn làm việc đúng vì lý do đúng

Niềm vui luôn hiện diện bất ngờ, khó đoán, muôn vẻ và lắm lúc nhỏ nhặt lắm.

Không khỏi buồn cười khi đột ngột nghe mấy cái TV ở xung quanh đồng loạt mở to tiếng; vì đã hơn 365 ngày gia chủ vốn kịp mặc định ngưỡng ồn rồi nên chẳng ai nghĩ họ đang hành xử theo bản năng.

Hoặc đó là cách báo thức đều đặn nặng nề mỗi buổi sáng của cô gái chân dài mê bóng đá giật rầm rầm âm vang để tra ổ khóa đặng đóng cửa phòng, sau đó nàng nện bước đi hùng dũng qua cả đoạn đường dài.

Hay hôm nọ thấy cô kia ngoài 30 chưa chồng– với khuôn mặt trang điểm khá đậm– đang đứng cạnh cổng cơ chừng ngóng chờ ai đến; về sau, lỡ vẳng lại tiếp tục điệu cười hơn mọi sức tưởng tượng– giữa không gian thanh vắng– thì lòng mình cũng dễ dàng cảm thông thật hết sức nhẹ nhàng.

… Vượt trên hoàn cảnh đời thường nhố nhăng, điều quan trọng hình như là mình nên muốn làm việc đúng vì lý do đúng.

Thực tế, nếu xét bầu khí tâm linh thì việc đúng không là việc đúng trừ khi người ta làm nó vì lý do đúng.

Tâm trí chúng ta tựa cái vườn vậy. Mình có thể để lại trong vườn các thiết bị chuyên dụng, cả vô số lùm cỏ dại lẫn nhiều nhiều những bông hoa sẽ lớn lên– dù mình có thể không thích vướng mắc, dính líu với chuyện xảy ra sau đó.

Tuy thế, chúng ta có thể cần chịu trách nhiệm với sự thực tập và vun trồng các phần của tâm trí mình, ngõ hầu cho phép bản thân trở nên ngày càng từ bi và hạnh phúc hơn.

Sự phân biệt giữa thói quen đổ lỗi cho bản thân và tự chịu trách nhiệm còn dính dáng phần khác của trị liệu: các mối quan hệ lạm dụng.

Theo thông lệ, có vẻ thiên hạ hay khuyến khích người bị lạm dụng gánh lấy trách nhiệm, gắng chịu đựng và rời khỏi mối quan hệ.

Tuy vậy, một số người cảm thấy bị xúc phạm bởi ý kiến về việc tự chịu trách nhiệm– họ diễn dịch nó như là đang đổ lỗi cho đối tượng bị lạm dụng về việc vướng mắc trong mối quan hệ tồi tệ, xấu xa.

Sự phân biệt ở đây có thể là chìa khóa giải quyết vụ tranh cãi này– không phải lỗi của cô í khi ở trong một mối quan hệ như vậy, song tùy thuộc cô í để tự nhận lấy trách nhiệm và rời khỏi nó.

Rất cơ bản, chúng ta cần được nâng đỡ, tưởng thưởng và gây cảm hứng; song thảng hoặc, chúng ta cũng sẽ cần tới sự phê bình nữa.

Dĩ nhiên, chúng ta cần phê bình khởi lên bởi trái tim chân thành; phê bình dựa vào cảm xúc tích cực và vào lòng từ; phê bình xuất phát do chỉ quan tâm duy nhất tới sự lợi lạc của chúng ta, chỉ vì sự phát triển của chúng ta.

Cầu chúc một đêm bình yên, an lành cho tất cả mọi người.

Nhắn (7): Không nhất thiết phải bắng nhắng…

Nhắn (7): Không nhất thiết phải bắng nhắng, lắng lo có hay chăng sự ái kỷ/ tự yêu mê bản thân ẩn tàng, giấu kín bên dưới vấn đề này, kia. Nếu một kiểu hình, khuôn mẫu nào đó khiến ta bấn loạn cảm xúc và đau đớn thì rồi ra một số dạng thức của thói quen chăm chút, mê thích mình đang hiển lộ ở ngay tâm điểm của nó đấy.

Tiếp cận tốt nhất cho việc phân tích là chọn một vấn đề thi thoảng làm ta gặp rắc rối, đủ để khi chọn nó, ta có thể khởi đầu nghĩ tới lịch sử liên quan với nó trước đây, vai trò nó từng đóng diễn trong cuộc đời ta, chiều kích đời ta đang tiếp tục xảy đến bởi vì vấn đề này, cũng như cách thức chuyện ấy tác động tới người khác mà ta quen biết.