Giữa hai cây Sala

Vâng, ngay cả Đức Phật cũng phải chết.

Dù là Đấng Giác Ngộ song Ngài là bậc Giác Ngộ mang hình hài con người (human being), và mỗi một con người phải chết vì mỗi một con người được sinh ra. Mọi thứ có một sự khởi đầu thì phải có một sự kết thúc. Dường như thật kỳ lạ khi một vị Phật phải chết, song nhìn nhận Ngài như một con người hoặc thuộc phạm vi của con người thì Ngài phải chết.

Đức Phật và các đồ đệ thầy tu thường đi lang thang suốt 9 tháng trong năm, vào giai đoạn mùa mưa họ thường trú lại tại một địa điểm nào đó. Ba tháng mùa mưa này họ nghỉ ở ngôi làng Beluva.

Mùa mưa làm cho bệnh tình của Đức Phật nặng hơn.

Người dân Mallas định cư trên lãnh địa Kusinara đã trồng song song hai hàng cây sala, chạy từ hướng đông sang hướng tây.

Tại mút cận đông, giữa hai cây sala cuối hàng là một cái sân đập đắp cao thường dùng làm nơi hội họp. Đức Phật nằm ở đấy, đầu hướng bắc còn chân hướng nam.

Thế nằm quen thuộc của Ngài nghiêng bên phải, đầu hướng bắc, chân hướng nam nên sẽ đối mặt hướng tây, nhìn thẳng ngay ra hàng cây sala sum suê.

Đức Phật đã tạ thế, nhập diệt giữa không gian mở. Theo truyền thống kinh điển, Đức Phật cũng đản sinh trong không gian mở (dưới gốc cây sala tại vườn Lumbini). Ngài Giác Ngộ giữa không gian mở, và thường thuyết giảng giữa không gian mở. Nói khác, Đức Phật suốt đời sống thật gần gũi với thiên nhiên.

Tham khảo: The Buddha’s Victory.

Những ngày cuối tháng Tư

Như dự báo cho sự chuyển đổi lớn lao tựa cuộc Cách mạng năm nào.

Tang thương, nghịch lý và mọi thứ cứ liên tục bị đẩy tới điểm cùng tuyệt.

Thực trạng đất nước trở thành hàn thử biểu sống còn của một loạt giá trị cốt lõi đảm bảo cuộc sống yên bình, hạnh phúc.

Cái ác khốn nạn, đau đớn bởi không ở bên kia chiến tuyến mà nằm ngay trong lòng kẻ quyền thế, thân quen– nơi đây, bây giờ thì việc hít thở cũng phải hết sức cẩn thận.

Những lời rao giảng vừa kệch cỡm vừa kém cỏi; buồn thay, vẫn còn nhiều tụng ca nhai lại giỏi giang đến độ chẳng nghe thấy tiếng rên xiết khổ sở của cái băng rè.

Tháng Tư luôn là nỗi niềm mất mát, bất chấp hoa loa kèn hớn hở nở tung trắng lóa.

May thay, năm này yêu thương đã tìm ra cách để uy nghi lớn lên– kết quả chuyển hóa lặng thầm từ nơi chốn tủi nhục, đọa đầy và nhầy nhụa.

Nhắn (11): Năng lượng tích tụ ngu dốt

Một tủ lạnh, một máy giặt, một TV, một bếp gas kèm bình gas với bàn chứa đựng xoong nồi cùng thức ăn dự trữ các kiểu, một tủ quần áo đảm bảo mỗi ngày một bộ, một laptop…– tất cả chứa trong căn phòng dùng ở và ngủ luôn tầm 12m²; đó là chưa kể máy quạt vào mùa nắng nóng chạy liên tục.

Nên tự hào, vì với cả đống vật dụng như thế mà không làm chủ sở hữu trở chứng ốm đau thì mới là chuyện lạ hay chăng.

Người xấu xí

Thầm hí hửng khi nghĩ tới cảnh sắp cùng ‘chị nhà’ (thuận hòa lời đề nghị của chủ xị) tham dự buổi chung vui nhân dịp một bạn gái trắng trẻo lên xe hoa.

Rõ là cơ hội đàn đúm được ngắm nhiều người nói cười dễ thương, vòng eo thon duyên dáng đi lại thướt tha kèm theo cử chỉ nghiêng đầu, so vai rất Tây và cực kỳ thanh nhã. Ồ vâng, tuyền tập hợp miền cái đẹp.

… Hầu hết thời gian thiên hạ nghĩ về cái đẹp mà. Chúng ta cố gắng gây ấn tượng với xung quanh bằng bộ thời trang mới nhất, kiểu tóc vô cùng gợi cảm cùng những đồ mỹ phẩm nhập ngoại đắt tiền, tỏa hương ngất ngây quyến rũ. Chúng ta cố đẩy lên twitter, facebook nóng hổi, kịp thời những tin tức cập nhật đều đặn ai và ở đâu, chuyện buôn dưa quá chừng hấp dẫn nọ, kia ngõ hầu hướng tới biểu tỏ ý mọi người thử xem mình xinh gái, đẹp trai như thế nào…

Với những kẻ nông cạn, đó là toàn bộ ý nghĩa tồn tại trên đời; với phần còn lại chúng ta, đó là những gì mình hết sức nỗ lực vươn tới, mong đạt được và khớp khít vào.

Song, thế nào là xấu xí cơ chứ?

Tình thật, nếu đẹp chủ yếu ở đôi mắt nhìn thì xấu xí cơ chừng cũng nảy nở nguồn cơn từ đó.

Thú vị nhất điều này: chúng ta kỳ thực chẳng thể nhìn thấy ai đấy mình cho là xấu xí nổi đâu, chí ít điều ấy là giả tạo thấy rõ.

Mình sẽ nhận ra rằng, đôi mắt của kẻ ngắm nhìn quá dễ dàng bị lừa phỉnh. Cứ khu trú vào khuôn mặt, định vị lên áo quần mặc phù hợp, v.v… mà vẫn còn giấu che sự xấu xí.

Chúng ta e ngại tránh lại gần đối tượng không hấp dẫn lắm về mặt thể lý, trừ khi mình quen biết từ trước rồi. Ai từng tò mò, lọ mọ vào các trang mạng chuyên thiết kế hẹn hò thì tất hiểu.

Lúc nào cũng tuyên bố rằng bên trong mới quan trọng, song khởi đầu nào nghĩ vậy. Đẹp không phải là câu trả lời, thay vào là tốc độ nhanh chóng lúc đưa ra quyết định; phải làm sao vượt qua đôi mắt vật lý của kẻ ngắm nhìn đầy định kiến.

Đôi khi chúng ta mù quáng tin vào vẻ đẹp bên ngoài của một người để học hỏi là họ thực sự xấu xí.

Cơ chừng, chúng ta dễ bị cuốn hút bởi các thuộc tính thể lý ngoại diện của họ, giọng nói mềm mại hoặc ao ước mình được như thế… Để rồi phát hiện ra họ thực sự xấu xí dưới đôi mắt nhìn của tâm hồn.

Tôi thích những con người thực. Vẻ đẹp thực đến từ bên trong và tỏa sáng ra ngoài.

Người đẹp thì đích thực đẹp? Chắc chắn vậy, chẳng lăn tăn chi, và với bất kỳ ai…

Ngậm ngùi Văn Miếu

Dù xót 20.000 VNĐ tiền mua vé vào cửa và gần 3 tiếng đồng hồ ngồi thẳng lưng, chi phí ấy tính ra còn quá chừng đau đớn thêm khi bất ngờ chứng kiến các giới chức lãnh đạo văn hóa, tư tưởng và xuất bản– cùng một diễn giả học vị tiến sĩ hoạt náo vô duyên– cứ tự nguyện bộc lộ vai mình khá trọn vẹn bi hài.

Một hội sách gợi lên hình nét thị trấn chợ huyện, dù đích thị cơ quan quản lý nhà nước cấp quốc gia tổ chức, giữa điểm di tích lịch sử tôn vinh sự học.

Phát ngôn có thể là hành vi dồn tụ thậm nguy cơ, bởi nó thừa sức phơi bày chất thơ tệ hại của vô thức đến độ người nghe chợt thấy ê chề, muối mặt phải chung đụng khốn cùng trong mê mải hoang tưởng.

Lây bệnh nội thương trầm trọng, song cũng chân thành bày tỏ lòng biết ơn những nhân vật thay mình chịu trận giữa cõi ta bà, khi cuốn sách thân phận được đọc dưới quyền dẫn dắt của vô minh kèm chặt thái độ buông lung.

Nhìn ngó chuyện thiên hạ đã là sai rồi, nên chung quy chẳng trách ai cả cho bằng việc xác định lỗi lầm ngu muội do chính thằng tôi chủ động bước đến dự xem trò nhăng nhít…

Ăn chay: làm sao bán cho đối tượng không muốn mua?

Đang dở bữa trưa thì bạn gọi điện mời tới quán cơm chay.

Thiệt tội nghiệp, Mồng Một vào ngày cuối tuần mà khách tới nhà hàng thưa thớt, chưa đủ chục. Cô bạn nhận xét, cách bố trí phòng ốc tầng lầu, bàn ăn và trang trí tường nhà không hợp lý lắm.

Nhằm trêu chọc ý kiến rằng ăn chay đang thành phong trào ở Hà Nội, tôi bèn láu lỉnh hỏi ngay cậu thanh niên khỏe mạnh ngồi riêng ra bên cạnh. Chàng này khẳng khái lập tức rằng mình không thuộc diện đấy.

Dĩ nhiên, tôi đoán bạn trẻ ấy khó trả lời khác với câu đặt để cố tình ‘có/ không’. Trao đổi vui vui thêm vài ý nữa, quả đúng chàng đi ăn ngẫu nhiên, không trường trai và mới khởi sự tập thói quen dùng chế độ thực phẩm chay từ tháng Tám năm ngoài do bởi ngưỡng mộ một vị tăng tuổi nhỏ đức lớn nào đó.

Nhân rảnh rỗi, tôi chia sẻ nỗi ân hận ít nhiều vì từng khiến con một chủ quán cơm chay ở Đà Nẵng “phá giới” ăn chút xíu mặn do mời tôi đi nhậu, vì cậu í muốn biết có gì ngon lành mà tôi không tiếp tục dùng đồ chay nữa.

Thực lòng thì chính lý do di chuyển khá thường xuyên và tiếp xúc nhiều người thuộc diện tương đối phức tạp nên sẽ trở thành gánh nặng hồi đó khó giải quyết nổi cho tôi, nếu tự mình đem theo thức ăn sẵn khi cần dùng bữa, thù tạc.

Tuy vậy, mỗi lần nghĩ tới những dòng nước mắt đáng tiếc cậu í khóc chân thành càng giúp tôi thức nhận sâu sắc hơn về tính tương thuộc, và nhắc nhở mình phải hết sức cẩn thận với kỳ vọng lẫn ảnh hưởng của bản thân tới tha nhân.

Trần gian vô thường… Đứng trên cao nhìn xuống sân tennis thấy các tay chơi cầm vợt hào hứng gần nhà hàng này, tôi chợt liên kết ý tưởng của một guru tiếp thị. Ừ, làm sao bán cho đối tượng không muốn mua đồ chay đây?

Rõ ràng đây không thuần túy chỉ là câu chuyện đề nghị nên từ bỏ thịt thà hay cần vun bồi từ tâm.

Đúng là không thể đơn giản chào mời rằng “đồ ăn chúng tôi ngon hơn đồ ăn kia”.

Nếu họ nghĩ họ gặp vấn đề giải quyết được thì họ đã xử lý rồi; thậm chí, họ còn có vẻ thích nghiêng theo hướng nêu ra tuyên bố mới về vấn đề của mình và cả tuyên bố mới về giải pháp.

Song, liệu có thể giúp họ tạo một quyết định mới dễ dàng hơn dựa trên thông tin mới?

Bạn đọc có cao kiến gì hơn chăng, chứ hiện tôi thấy hơi bí rị cái đầu…

Bới che về, hè tới

Bới che về, hè tới

Vào hạ rồi. Những cái tôi e chừng lại không ngừng nghỉ xưng tội. Các chuyến đi hồ hởi khởi hành lúc tờ mờ sáng và mải mê lê la đường sá cho đến tận lúc cơn ngái ngủ buộc phải xuống nằm.

Qua trang sách ngoại ngữ miên man ám ảnh ấp ủ tin tưởng và gắn bó, mùi vị thức uống phố thị cứ ngỡ là kiểu kiểm duyệt ý nhị cài cắm hờ hững rằng, đừng bao giờ quên trông chừng tâm trí mình. Vì đó là cách chăm sóc bản thân tốt nhất.

Mùa nắng nóng, tăng trưởng, hướng ngoại và uể oải tìm chốn tránh né cho thấy tháng ngày chở che này luôn ẩn giấu nghi thức tâm linh thiết thực của tình điệu dân tộc: nguyện cầu hài hòa, yên ổn và lành mạnh cho tất cả.

Vui thay.

Tôi yêu anh ấy. Không, đó là điều bị cấm đoán…

Tôi yêu anh ấy. Không, đó là điều bị cấm đoán. Do vậy, tôi phải ghét anh ấy. Không, mà điều đấy cũng bị cấm đoán luôn. Nên chi, anh ấy ghét tôi.

Đó là lời của Freud từ năm 1911 minh họa suy tư Phân tâm trong việc diễn giải phương thức phòng vệ chống kháng với tình yêu bị cấm đoán (forbidden love).

Thấy rằng, dù bao ảo vọng điên đảo (paranoid delusions) ngụ ý điều gì thái quá thì những cảm nhận hoang tưởng vẫn là dấu hiệu của trải nghiệm thường ngày, bất luận chúng thường dẫn dắt ta ngờ vực hoặc thù địch dai dẳng hay không… Khi đời sống diễn tiến theo chiều hướng tồi tệ hẳn đi, chẳng đáng ngạc nhiên nếu phóng chiếu ra ngoài nỗi hụt hẫng (frustration) và niềm tức giận (anger), rồi mình còn mãi thắc mắc sao kẻ khác hoặc đích thị cả tự thân đời sống nữa, cơ chừng dành buộc hiển hiện thế cho chính ta chăng. Đây là cách thông dụng dùng xử lý các cảm xúc tiêu cực, bởi những ý nghĩ điên đảo là cơ chế phòng vệ giải quyết va chạm đối lập trước nỗi tức giận hoặc thù hận (hatred) của người ta.

Nhắn (10): Thở thật ý thức đi nhé!

Thở là chiếc cầu nối đời sống với ý thức, hợp nhất thân thể mình với những suy tư.”– Thích Nhất Hạnh.

Đây không phải là một khái niệm mới. Từ “breath” trong tiếng Anh mang nghĩa “tính mệnh và sinh khí”; từ “tâm linh” (spirit) vốn xuất phát bởi “spiritus” (Latin) nghĩa là “thở”. Vào thời Hy Lạp cổ đại, “thần linh, sự hô hấp” (pneuma) gồm cả không khí và tâm hồn. Trong tiếng Hebrew, “ruach” nghĩa là hơi thở và tinh thần sáng tạo.

Ấn bản cổ xưa King James của bộ Kinh Thánh, “tinh thần”, “hơi thở” và “hơi thở của đời sống” được nhắc tới 502 lần. Theo văn hóa Vedanta của Ấn Độ giáo, đó là Prana, là Qi tại Trung Hoa, Mana thuộc văn hóa Hawaii, hay Lung trên Tây Tạng. Tất tật đều quy chiếu về dòng chảy của lực sống hoặc tinh thần bên trong chúng ta, một nguồn năng lượng thiêng liêng mà nghĩa đen thuần câu chữ là làm sinh động thân thể và cho chúng ta sự sống.

Hầu như đa phần chúng ta không để ý tới hơi thở và thường thở nông cạn bằng ngực, thay vì từ bụng. Thở có ý thức dễ làm sạch tâm trí và kiến tạo mối kết nối nội tại sâu xa sẽ trợ giúp chúng ta quản lý đời sống xô bồ thường ngày.

Điều quan trọng là dành thời gian mỗi ngày để thở một cách có ý thức. Và xin đừng quên lời Phật dạy rằng, mạng sống con người tồn tại trong một hơi thở.

Thành công không hàm ý là tự do

Cơ chừng, điều con người có khả năng làm mất dấu trong những ngày này chính xác là như vầy: sự kiện họ phải tạo ra ý nghĩa riêng.

Họ phải cung cấp một raison d’être (lý do tồn tại) cho chính bản thân mình. Họ phải tái tuyên bố tự do của họ và tìm thấy cách tồn tại tốt nhất khả thể, trong khi đang đương đầu với điều tồi tệ nhất. Tự do và thành công không nhất thiết cùng nhau.

Những người ấy thuộc chúng ta không e ngại thất bại và không e ngại khốn khổ có thể tự do hơn những người nghĩ họ thuộc dạng tự định đoạt lấy và luôn kiểm soát bản thân, bởi vì họ không ngừng nhắm tới mục tiêu thành công rồi sống với nỗi sợ miên man về sự thất bại.

Satre thấu hiểu hơn hết thảy về sự tự do khi ông nói:

để được tự do không có nghĩa là đạt được những gì người ta ao ước (trong nghĩa rộng rãi của việc lựa chọn). Nói khác, thành công không hàm ý là tự do. (Satre, 1943/ 1956: 483)

Ghi nhớ, đây là sự giải phóng tự thân. Nó mang nghĩa rằng, người ta ngay cả khi sống trong những điều kiện tồi tệ nhất vẫn có thể hướng tới tự do, hoặc chí ít thái độ vẫn có được một giới hạn tự do nhỏ nhặt.

Nhằm tạo nên ý nghĩa cho thế giới của họ và để tổ chức thế giới đó cho chính mình tương xứng với niềm tin là sự tự do lớn lao hơn hẳn, so với việc thành tựu những vật phẩm giả tạo được xem trọng quá mức trong nền văn hóa thế kỷ hai mươi mốt.

Vào lúc nhiều người tự thấy mình sống với những điều kiện cơ hàn và nghèo đói, một số lại phát hiện bản thân chuyển những túng bấn thành điều tốt mà Frankl từng khẳng định là nằm trong tầm tay họ.

Frankl cho rằng, có 3 cách thức cơ bản trong kiếm tìm ý nghĩa ở đời (Frankl, 1967). Theo ông, người ta tìm thấy ý nghĩa trong những giá trị hiện sinh của những điều tốt lành chúng ta có thể nhận được từ thế giới, trong những giá trị mang tính sáng tạo của những điều tốt lành chúng ta trao tặng thế giới, và tuyệt đỉnh là trong những giá trị chứa đựng thái độ thuộc đường lối chúng ta lựa chọn ngõ hầu giải quyết với nỗi đớn đau khôn tả xiết mà chúng ta sẽ phải gánh lấy ở đoạn đời này nọ– khi vắng bặt cả trải nghiệm tích cực lẫn tinh thần sáng tạo.

Do đó, nỗi bất hạnh không nằm ở những điều rủi ro rất người mà hơn thế, là bởi sự thiếu vắng ước ao gắng sức chịu đựng và kỳ vọng, khiến điều xấu ác không bị thách thức và làm cho niềm khốn khổ thường trực.

Khi cái hộp Pandora mở ra và điều xấu ác vùng thoát, điều gì đó hoặc ai đấy cần nhất thiết lưu tâm chúng ta tới khả năng cải thiện và vượt thắng. Nó là tiêu chuẩn cốt yếu các nhà tham vấn và tâm lý trị liệu cần xây dựng.

Là những nhà trị liệu có thể hiểu biết, bảo vệ và khuyến khích sự tự do của con người nên chúng ta có khả năng để đóng một vai trò trọng yếu trong việc trợ giúp con người tìm thấy ý nghĩa ở nơi mà sự vô nghĩa lý từng thống trị trước đó.

Vì vậy, cơ chừng giờ đây chúng ta có thể trả lời câu hỏi phải chăng những nhà trị liệu đích thị là kẻ bảo vệ cho hạnh phúc nhân loại hoặc sự mãn nguyện của con người.

Câu trả lời cần đi tới đúng chỗ là: đích thị phạm vi nhà trị liệu nên làm, bởi việc nhấn mạnh hơn là lảng tránh những thực tiễn của đời sống con người. Bất luận điều ấy có nghĩa, việc đào tạo và thực hành của nhà trị liệu buộc phải thay đổi thật lớn lao.

(pp.30- 31)