Lễ hội Halloween: sao thiên hạ vẫn mãi còn mê thích?

Nhìn chung, ma quỷ vốn là loài gây tâm thần kinh thiên động địa; ai cũng nhắc tới với vẻ hoảng sợ và tuyệt chẳng muốn dây vào, nói chi tới chuyện vui đùa tí tởn.

Vậy mà cái lễ hội khá khác lạ với dân Việt í vẫn được giới trẻ tiếp nhận thoải mái; thậm chí, dù đó đây có tiếng nói chỉ trích lẫn biểu thị sự ngó lơ thì trên thế giới, xem chừng văn hóa Halloween cứ tiếp tục được thiên hạ mê thích và con số doanh thu lĩnh vực ghê khiếp này cứ tăng không ngừng, chỉ tính riêng chi phí do người lớn mua sắm đồ trang phục Halloween năm nay đã là 1,21 tỷ USD.

Dựa trên truyền thống Pagan và các truyền thống tôn giáo khác, lễ hội không chính thức này đã trở thành một thứ truyền thống đa phần không thế tục. Những gì người ta nhận được từ nó?

Mỗi năm đến hẹn lại lên, ngày này, người ta có thể yên tâm thể hiện các huyễn tượng của bản thân, khắc chế những nỗi sợ hãi, và biểu đạt các phẩm chất nội tâm thường hay ẩn giấu lâu nay.

Trong khi người ta thi thoảng mới khoác lên mình các bộ trang phục khôi hài, những bộ đồ phát khiếp ấy cứ lặng thầm tạo lập nên hẳn một xu hướng thời trang.

Dưới đây là các lý do có thể giải thích tại sao người ta thích ăn mặc như thế:

@ Có thể chế nhạo nỗi sợ hãi. Đời sống chúng ta đầy tràn căng thẳng thể xác cũng như áp lực tinh thần, và chúng ta giải quyết nỗi sợ hãi, lo lắng trên bình diện căn bản hàng ngày. Mặc các đồ rùng rợn giúp chúng ta xử lý, dẫu ở tầm mức tiềm thức thôi, các món thứ khiến mình kinh sợ nhất. Hình thức các thây ma vật vờ hiện là đồ trang phục thông dụng vô cùng. Chẳng hạn, nếu thử hỏi Google, “Bed Bug Halloween Costume”, tích tắc sẽ cho ra chừng 199.000 kết quả. Tại sao chúng rùng rợn vậy? Bởi ban ngày ẩn ấp, chờ đến đêm về tấn công bất ngờ khi ta ngủ. Halloween mời gọi chúng ta nhìn vào nỗi sợ cái chết. Chúng ta cũng có thể xử lý nỗi sợ mất quyền kiểm soát hoặc đơn giản làm sinh thể khác biệt.

@ Có thể biểu đạt những gì đang bị lãng quên. Một cách tiềm thức, chúng ta có thể phóng chiếu vào các bộ đồ trang phục những phẩm chất mình kiềm nén trong đời sống thường ngày. Chẳng phải quá dễ dàng quan sát thấy biết bao phụ nữ thích ăn mặc những bộ đồ trang phục thiếu vải, quyến rũ và bắt mắt? Điều ấy e chừng vì họ chặn nén các cái tôi táo bạo, dục tình nơi công sở và ở nhà riêng.

Phát hiện ra phần mồi chài nội tại của họ thật đáng phấn khích và hợp lệ, và chuyện mặc tại các hội hè tiệc tùng là ổn những thứ khó khoác lên người tại cơ quan hay chốn hội thảo thâm nghiêm. Mặc như một siêu nhân (đồ trang phục hay thuê số 1) cơ chừng biểu đạt lòng dũng cảm, sức mạnh, và ước muốn cứu rỗi thế giới, những phẩm chất mình không thể nhận ra thông thường ở chính bản thân mình.

Chúng ta cũng có thể biểu đạt các giá trị hoặc quan điểm mà chúng ta không thể phóng xuất ra ngoài như thông lệ được. Chúng ta cũng có thể nhạo báng các nhân vật quyền lực hoặc phô diễn kiến thức mình biết bởi việc trình bày, thể hiện một sự kiện đương đại nóng bỏng tính thời sự. Chúng ta có thể xuất hiện bằng vẻ ngoài thông minh, ưu uất, hung bạo, trẻ con hoặc mảnh khảnh– tất cả, phụ thuộc vào các nhu cầu của chúng ta. Một mụ phù thủy là hình ảnh gì đó vượt trên hẳn một mụ phù thủy. Mụ là một con đàn bà không giả vờ là mình xinh đẹp. Các đồ trang phục giúp chúng ta biểu đạt một nỗi niềm tự do chúng ta luôn luôn khát khao khôn tả.

@ Chúng ta biến thành kẻ ẩn danh. Chúng ta có thể có thể gạt sang bên những cưỡng ép văn hóa và những gì chúng ta tri nhận là bình thường khi đeo một cái mặt nạ. Các quy tắc quen thuộc và cấu trúc xã hội bị bãi bỏ trong lễ hội Halloween, và bên dưới một bộ trang phục, chúng ta thành kẻ dũng cảm hơn, và chẳng hoàn toàn sợ bị đánh giá nọ kia một chút xíu nào.  Một gã ngày ngày chôn chân phờ phạc ngồi hàng giờ liền bên máy tính bán áo quần có thể nhảy nhót mê sảng, hò reo nhặng xị và múa may quay cuồng hết cỡ trong bộ đồ một con khỉ đột to xác kềnh càng. Không ai nghĩ gã này điên khùng gì cả.

@ Có thể bộc lộ ra ngoài các huyễn tưởng một cách an toàn. Ai chẳng có lúc ước họ giá mà là một nàng công chúa kiều diễm, một nghệ sĩ thuần phục sư tử đại tài, hoặc một siêu nhân? Halloween cho phép chúng ta biểu đạt bất kỳ điều chi mình mơ tưởng bấy lâu, hoặc e ngại theo đuổi chưa thôi. Amelia Earhart, Bill Gates, hoặc Barack Obama có thể đều nối kết ước ao của chúng ta tới sự phiêu lưu, giàu có và quyền lực. Hoặc, chúng ta có thể huyễn tưởng đang quay về thời thơ ấu êm đềm, ngây dại tuyệt vời…

Halloween cho chúng ta quyền khám phá và vinh danh bản chất thẳm sâu, bí ẩn trong lòng. Bầu không khí ma quái, kinh khiếp ấy kích họat thiên hạ. Chúng ta có thể để lại đằng sau hệ hình ứng xử quen thuộc và tiến hành ve vãn những nỗi sợ hãi.

Đừng quên rằng trong khi cuồng nhiệt phấn khích vì nuông theo, thích thú quá chừng trong huyễn tưởng, sự thật đích thị: nó luôn chỉ là một huyễn tưởng.

Lời cuối, ngay tại Việt Nam, các trường học có tổ chức lễ hội hóa trang vẫn thừa khả năng dàn dựng chương trình mang tính giáo dục sâu sắc hơn; chẳng hạn, giúp học sinh, sinh viên trao đổi, thảo luận về các bộ đồ thời trang thiết kế cho chúng hoặc do họ tự tay làm.

Mục tiêu xem xét, hiểu biết về việc sử dụng các mẫu rập khuôn và định kiến thể hiện trên các phương tiện truyền thông thị giác (visual media); dùng các kỹ năng và chiến lược phù hợp để hiểu biết và diễn dịch truyền thông thị giác,… được triển khai thông qua tiến trình làm việc nhóm như phân tích một bộ đồ trang phục Halloween theo các tiêu chí: kiểu trang phục, thể hiện bản dạng giới, sắc tộc, tuổi tác,…

Tự đọa đày vướng mắc, chấp nhận, và ôm choàng sự thay đổi

Nghe mọi người tranh cãi, bàn luận về việc ‘chấp nhận’ và ‘chấp nhận người khác’, tôi thường cảm thấy như thể họ đang ủng hộ cho một thứ chủ nghĩa tương đối khá lười biếng– tất cả mọi quan điểm đều đúng đắn như nhau, tất cả mọi ý kiến luôn xứng đáng, tất cả mọi thực hành và niềm tin thì vượt xa hẳn những lời chỉ trích.

Bản thân từng chống kháng ý tưởng này về sự chấp nhận bởi vì nó đổ xuống quá phẳng phiu, trơn láng bề mặt của thực tế.

Trong một số tình huống, mình có thể bất đồng với ai đó khi nhìn nhận các giá trị bộc lộ qua khẳng định của họ, hoặc chấp nhận rằng  họ có những trải nghiệm và phương thức sống riêng có. Nhiều lần khác, cái kiểu ‘chấp nhận’ này khởi đi từ thói quen biếng nhác, không đích thị thành thực và vô cảm, và dễ dẫn tới lắm vấn đề tồi tệ nếu người ta dùng nó như lời cáo lỗi hoặc lờ tịt những tạo tác phá hoại, hủy diệt gây ra.

Không những cần thể hiện trên một thang đo vĩ mô như chuyện ô nhiễm môi trường, chấp nhận cũng hết sức trọng yếu khi triển khai ở tầng mức vi tế hơn như biết bao trục trặc thuộc các mối quan hệ đôi lứa hàng ngày.

Hiện bị hối thúc đương đầu với vô vàn nan giải về tài chính khủng hoảng, mong sao rất nhiều gia đình bắt đầu ôm choàng cuộc đời và quan hệ họ đang có, hơn là cầm nắm, giữ rịt ý tưởng làm thế nào điều ấy ‘giá mà’… E chừng họ sẽ giảm thiểu việc làm tổn thương nhau như những bạn tình đầu ấp tay gối, gắng tạo nên nỗ lực bớt chỉ trích và đòi hỏi, có nhiều mối quan tâm hơn và chú mục vào quan hệ, thay vì phấn khích do khát khao sở hữu những tài vật phù du: nhiều tiền, nhiều bạn bè, đất cát lủ khủ, nhà cửa tân thời, xe cộ đời mới,…

Bởi vì, rốt ráo chấp nhận khiến mỗi một sinh mệnh đối diện với cảnh trí bất tận khôn lường của sự thật vô thường (impermanence). Như nó là thế, và hoàn hảo theo cách đó.

Năm mươi năm trước, nhà tâm lý học lừng danh Carl Rogers đã xây dựng một triết lý sâu xa về tiềm năng của con người xoay quanh ý tưởng đơn giản này: “Thật kỳ cục nghịch lý là khi tôi chấp nhận chính mình như tôi hiện thế, rồi thì tôi có thể thay đổi.

Đọc Tiến Trình Thành Nhân (On Becoming A Person), ngay từ chương thứ nhất, tác giả đã nêu ra vấn đề về sự chấp nhận:

Tôi nghĩ đó là mẫu hình thông dụng ngày càng tăng lên trong nền văn hóa chúng ta vì ai cũng cho rằng, “Mỗi một người khác kia phải cảm nhận, suy tư và tin tưởng giống y chang như tôi vậy.”

Và sau đấy một vài dòng là diễn đạt rõ ràng hơn:

Mỗi cá nhân là hòn đảo tự thân– với một cảm nhận hết sức thực tiễn; và anh ta chỉ có thể bắc các cây cầu sang những hòn đảo khác nếu trước tiên nhất anh ta thật ao ước muốn là bản thân anh ta và cho phép mình được là chính mình. Vậy nên tôi phát hiện thấy, khi tôi có thể chấp nhận người khác, đặc biệt là chấp nhận các cảm xúc, thái độ và niềm tin rằng anh ta là một thực thể sống động rồi thì ra chính tôi đang trợ giúp anh ta trên tiến trình thành nhân: và điều ấy với tôi dường như mang một ý nghĩa lớn lao.

Tách chuyển khỏi hẳn chủ nghĩa tương đối biếng lười đã nêu, sự chấp nhận mô tả ở đây có vẻ nhắm tới việc nhận ra rằng, các cảm xúc/ niềm tin/ v.v… của người ta là đích thực và chắc thật với bản thân họ. Nó chứa đựng ý nghĩa đối với họ theo nhiều cách thức.  Có thể là chúng ta hoàn toàn bất đồng với những gì họ đang biểu đạt hoặc chúng ta nhận ra nó đáng ghét, song chúng ta chấp nhận nó là thực tế đối với họ.

Chúng ta vốn có một xu hướng ghê gớm trong việc làm mất hiệu lực kẻ khác bằng lối tảng lờ rằng những gì họ suy nghĩ hoặc cảm nhận là không thực tế (“Bạn không thể nghiêm túc được,” chúng ta nói thế, hoặc “Không ai suy nghĩ kiểu thế bao giờ” hoặc “Bạn đang nói dối”); thậm chí, chúng ta tô điểm đủ trò bao biện để quyết khống chế (“Bạn đích thị mệt mỏi rồi, bạn không thực sự cảm nhận giống như thế” hoặc “Bạn đang bất ổn, cảm tính, năm nóng năm lạnh…”).

Carl Rogers bày tỏ, khi ông trở nên “cởi mở hơn các thực tế trong lòng mình và ở trong lòng người khác”, ông thường dễ dàng nghiêng theo hướng lắng nghe và cố gắng thấu hiểu, thay vì ngay lập tức vội vàng nhảy ùm “hàn sửa điều này điều nọ” hoặc gập cong, uốn lượn người ta theo cách thức riêng mình đang nhìn nhận thế giới.

Tôi nghĩ, kiểu chấp nhận này nói chung là cách tiếp cận tốt; nó giảm thiểu các dịp mình áp chế võ đoán ai đó theo những suy tư của bản thân, điều khiển họ và bảo với họ cực kỳ chính xác những gì họ đang cần suy tư/ cảm nhận.

Nó cũng đồng vọng với những gì tôi đọc được về thực tập tỉnh thức (mindfulness) và chấp nhận khoảnh khắc hiện tại như nó đang là, với tất thảy các phẩm chất tiêu cực lẫn tiêu cực vốn có (chứ chẳng phải, tránh né thực tế hay thêu dệt nó bằng những suy tư cá nhân nên giống thế nọ thế kia).

Thêm lần nữa, những gì chúng ta tiến hành khi chúng ta muốn thay đổi chính mình hoặc khi những hành vi, cảm xúc và suy tư của kẻ khác đang tàn phá chính họ và hủy diệt tha nhân? Chúng ta có thể chấp nhận rằng những gì mình đang làm là thực tế và phục vụ một số nhu cầu tâm lý thiết yếu… song giả sử họ muốn thay đổi và đề nghị trợ giúp, làm thế nào chúng ta có thể giúp họ?

Câu trả lời tuyệt không hề đơn giản chút nào, nhưng chí ít lúc này, Rogers viết ngay trong chương thứ nhất rằng nó là một nghịch lý:

Khía cạnh nghịch lý với trải nghiệm của bản thân là khi tôi càng đơn giản ước muốn được là chính mình, trong tất cả tính phức tạp này của đời sống và khi tôi càng ước muốn thấu hiểu và chấp nhận các thực tế trong con người mình và trong kẻ khác thì càng khơi động không ngừng sự thay đổi.

Cách cởi bỏ sự đánh giá và mong đợi như thế có thể truyền dẫn đời sống thực tế hàng ngày với cảm giác về sự dễ chịu, hài hước và thanh thản. Vô cùng tréo ngoe, việc chấp nhận mình đích thực đang là và sự vụ như thế có thể cài đặt trạng thái cho sự thay đổi diễn tiến dễ dàng.

Dĩ nhiên, nghịch lý của sự chấp nhận này cũng là cánh cửa hướng tới một sự thay đổi đã và đang tỏ ra là một mô hình hợp trội thật hiệu quả đối với các cặp đôi nữa. Áp lực phải thay đổi hoặc khác biệt chuyển tải thông điệp cơ bản rằng, có điều gì đó sai lạc với mình, bất luận “mình” đây là nền văn hóa lãng phí, một cuộc hôn nhân, người tình, hoặc ngay cả là… chính mình.

… Hôm nay, trời trở lạnh từ buổi trưa, và khách ngồi xe bus chặng gần cuối ngày đã có người tranh thủ cặm cụi đôi tay thoăn thoắt đan len làm khăn choàng cổ. Trở về nhà, trước lúc đi ngủ, tôi còn đọc được quan sát của nhà sinh học tiến hóa E.O. Wilson về trạng thái loài người vào thế kỷ XXI thật ấn tượng:

Nhân loại bây giờ tựa như kẻ mơ mộng cứ mải miết lêu bêu, tranh thủ bắt chụp giữa những huyễn tưởng của cơn ngái ngủ và sự hỗn độn nhốn nháo trong thế giới hiện thực… Chúng ta đang tạo tác một nền văn minh dạng Chiến tranh Giữa Các Vì sao, với thứ cảm xúc của Thời kỳ Đồ đá, các thiết chế hồi Trung cổ, và công nghệ như thần như thánh í…

Chớm đông, bão lòng đơm sớm

Mưa gió, rét mướt kèm tin báo bão tiếp tục khiến cơn sợ quen thuộc dễ dàng nổi lên.

Để phát huy trạng thái bình yên nội tại, theo Dalai Lama, thiên hạ có thể thực hành cầu nguyện (tốt hơn nên chuyển dịch chúng thành hành động); ngoài ra, để đạt được điều này thì còn phụ thuộc vào sự giáo dục và cảm xúc.

Nhận ra, hễ cái gì đã xảy đến bên Trung Quốc thì chẳng mấy chốc cũng xuất hiện ở Việt Nam. Lưu ý sức khỏe liên quan tới thực phẩm mấy năm gần đây là yếu tố chính tạo cho nhiều người chuyển sang lựa chọn việc ăn chay.

Đôi khi, chúng ta quên sống chết là vấn đề sinh tử; nó đích thị thuộc vấn đề nghiêm trọng hơn rất nhiều so với những gì mình tưởng tượng. Bởi chúng ta không nói về một lần sinh ra và một lần chết đi với ý nghĩa rốt ráo, cứu cánh của nó; ở đây, chúng ta đang thực sự muốn đề cập tới những cuộc đời và những cái chết vô số, không đếm xuể nổi…

Các lý do khiến ta nên lựa chọn tâm lý trị liệu

Trầm cảm, lo hãi là khá thông thường đến độ ước tính hàng triệu người trưởng thành đang vướng mắc vào nó. Và nhiều đối tượng cần sự trợ giúp chuyên môn song lại không nhận được sự điều trị; và với những ai kiếm tìm sự trợ giúp thì trước tiên khuyến cáo đề xuất thường là thuốc men.

Song vẫn có cách xử trí đáng lựa chọn khác tương hợp cho mọi người: tâm lý trị liệu (psychotherapy). Nghiên cứu không những chỉ ra rằng tính hiệu quả của tâm lý trị liệu trong xử trí các dạng kiểu vấn đề tâm lý nọ kia, nó còn chứng tỏ rằng việc dạy các kỹ năng nhằm trang bị cho họ các chiến lược đối phó mới đủ giải quyết hết sức hiệu quả các vấn đề phòng khi chúng nổi lên lại trong tương lai.

Lần tới khi cảm thấy lo hãi, trầm uất hoặc cần giúp đỡ để quản trị vào thời khắc khó khăn hay vượt qua những tình huống khủng khiếp, xin hãy cân nhắc đến tâm lý trị liệu.

Dưới đây, nêu vài ba lý do cho biết tại sao tâm lý trị liệu có thể là sự lựa chọn đúng đắn.

1. Học hỏi thông qua các vấn đề của chính bản thân mình.

Tất cả chúng ta đều từng nghe câu nói quen thuộc liên quan đến việc cho con cá hay dạy câu; đó cũng là ý tưởng ẩn bên dưới việc trị liệu.

Có rất nhiều điều diễn ra trên tiến trình trị liệu. Nó cần thời gian và nỗ lực làm việc, song khi theo đuổi đủ dài, mình học hỏi được nhiều cách thức ngày càng hiệu quả ngõ hầu khắc phục vấn đề và giải quyết các tình huống khó khăn. Và chung cuộc, các phương tiện mình phát triển kỹ năng và công cụ thao tác như những kiểu lối tư duy khác hẳn nhau, các cơ chế đối phó cực kỳ hữu ích, và nâng cao khả năng xử lý vấn đề.

2. Không phải luôn sát cánh, ngoại trừ để trợ giúp mình.

Suốt tiến trình hợp tác, một chuyên viên tâm lý lắng nghe những gì mình nói mà chẳng hề đánh giá, bất luận những cảm nhận hay suy tư ấy có đáng sợ, tội lỗi hoặc gây bối rối với mình thế nào chăng nữa.

Mọi người thường vén lộ nhiều chuyện kỳ cục và vô cùng riêng tư khi tham gia tâm lý trị liệu, kể cả nỗi sợ người ta sẽ hồi đáp hoặc phản ứng với mình ra sao thì cũng bình thường thôi. Vai trò của nhà tâm lý là duy trì tính trung lập, trợ giúp mình đương đầu tốt hơn với tình huống gây rắc rối, phiền muộn, và làm việc cùng mình nhằm phát hiện một giải pháp tốt cho các mối quan tâm của thân chủ.

3. Các bí mật của mình được bảo vệ kín kẽ.

Bất kể mình nói những gì với chuyên viên tâm lý thì đều được xem là thân tín và riêng tư. Các quy định đạo đức, nguyên tắc hành nghề đòi hỏi các chuyên viên tâm lý trị liệu duy trì sự lặng im về những gì thảo luận hoặc chia sẻ khi làm việc– trừ khi mình hoặc ai đó khác đang gặp nguy hiểm. Mình nên tập thói quen có văn bản bằng giấy đồng ý nếu vị chuyên viên tâm lý muốn thảo luận trường hợp của mình với bác sĩ gia đình hoặc bác sĩ phòng khám đa khoa. Thân tín là tuyệt đối quan trọng!

4. Giá trị dài hạn là không thể phủ nhận.

So sánh với chuyện chỉ dùng mỗi thuốc men thôi, thường tâm lý trị liệu nghe chừng là sự lựa chọn khá đắt đỏ trong ngắn hạn, song nghiên cứu chỉ ra rằng các lợi lạc tâm lý trị liệu đem lại còn tác động tới cả sức khỏe thể lý, thường góp phần làm sức khỏe thể lý tốt hơn rất nhiều, và theo thời gian thì làm giảm các chi phí sức khỏe gộp chung.

5. Tâm lý trị liệu thực sự được việc!

Các nghiên cứu cho thấy, trong nhiều điều kiện và mối quan tâm khác biệt, tâm lý trị liệu thực sự được việc, và nó chứng tỏ đích thị hiệu quả rõ ràng.

Người khốn khổ với các triệu chứng trầm cảm từ nhẹ đến nặng bắt đầu cảm thấy tâm trạng cải thiện, tốt lên sau một vài phiên trị liệu. Nhiều quốc gia khuyến nghị tâm lý trị liệu như là cách điều trị trước tiên đối với các chứng lo hãi và trầm cảm. Giới chuyên môn vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, và tin tốt lành về tâm lý trị liệu liên quan đến cách thức tâm lý trị liệu trợ giúp luôn được mong đợi.

Có rất nhiều người né tránh điều trị vì những trạng thái thông thường như trầm cảm hoặc lo hãi. Họ có thể đã tiêu trừ hết sạch nỗi niềm căng thẳng, áp lực tinh thần kéo dài dằng dặc (chronic stress) để rồi biết được cách thức ngủ ngon, ăn uống lành mạnh và tăng cường chất lượng trong các quan hệ.

Trạng thái thân- tâm an lạc của chúng ta có thể bị hành hạ bởi thân xác mình đang mang chở. Vậy nếu cần trợ giúp, mà chỉ dùng mỗi thuốc men thì đấy mới là bước khởi đầu. Nó có thể chẳng phải là bước khởi đầu tốt đẹp. Và nó không nên là bước duy nhất.

Nếu mình, hoặc bất cứ ai mình biết, đang sẵn sàng trên con đường đạt đến sức khỏe lành mạnh, an lạc hơn thì xin hãy cân nhắc tâm lý trị liệu— nó vượt xa chuyện hàn gắn, vá chữa nhanh chóng! Thực tế, tâm lý trị liệu vẫn đang không ngừng tiếp tục duy trì một quyền uy mạnh mẽ.

Ở đâu đó, trong tôi và quanh đây

Yên vị trên chiếc ghế đặt cạnh cửa sổ, trước mặt lòa xòa bóng cây khế dưới ánh đèn điện và trông xuống ngay cạnh là ngã tư đường phố có hàng bánh cuốn nổi tiếng; sực nhớ tí chút văn chương nên cười thầm mà khoe với nữ nhân ngồi cùng rằng cần đọc tên quán café là “Mi – môi – xa”…

Người giận dữ thì khác biệt. Mình có thể gặp tình cờ vài ba viễn tượng giận dữ. Cơ bản, họ tương tự nhau, song khác biệt so với phần còn lại của chúng ta. Nỗ lực vào cuộc nhằm xử trí, điều chỉnh một người tức giận giống hệt như đang xử trí, điều chỉnh một người bình thường chỉ làm tăng thêm sự giận dữ. Đây chắc chắn là một lỗi lầm, bởi vì sự tức giận luôn mang theo bên mình thực tiễn riêng có. Một khách hàng tức giận chẳng hề kém tắm, ít nhiều giảm giá trị tí chút gì so với bất kỳ khách hàng nào không tức giận. Thực tế, cô í ở trên đường cong riêng của chính bản thân mình.

Khi người mẹ cùng cậu con trai bước vào phòng tập yoga, làm sao tôi xác định chính xác ngay được mức độ tức giận. Sự nhũn nhặn dễ thấy của mẹ, vẻ bất cần mải mê cắm tai nghe nhạc cậu trẻ vô hình trung đã cố gắng giấu biệt nỗi đớn đau phải sống chung với chồng, với ông bố thường xuyên nổi giận và đổ lỗi cho chị cùng mọi người xung quanh… Bất ngờ là sự bất lực của người phụ nữ tươi xinh (cứ cười mỉm khi đang hoàn thành bảng kiểm tình huống gây tức giận) thổ lộ mức chịu đựng do chứng mất ngủ và sự mất tập trung.

Và còn quá nhiều đối tượng cảm thấy tức giận, bởi không đạt được điều mình mong muốn hoặc do sự vụ xảy đến trái ý họ; những quý vị phụ huynh nhanh chóng lờ đi đề nghị diễn tả sự hụt hẫng và cảm giác bị đe dọa…

Thanh thoát, tĩnh tại, đích thực bình lặng không chủ yếu phụ thuộc bối cảnh, nơi chốn, lứa tuổi. Cô gái lớp 8 bảo mình lâu rồi chẳng hề nỗi giận chi cả; nhờ thiết lập tương giao sâu xa, cô mới lờ mờ hiển thị hóa niềm đau khó nắm bắt về mối tình với cậu bạn trai từng một thời mong đợi luôn là ngọn lửa ấm áp, an toàn giờ nguy cơ đang hóa thành đám than nguội dần. Nghiên cứu cho biết, người mắc trầm cảm khó chỉ ra sự khác biệt giữa các cảm xúc gây khốn khổ khôn nguôi.

Ở đâu đó, trong tôi và quanh đây vẫn lưu giữ ít nhiều ao ước tình hình thay đổi khác đi, hoặc còn tiếp tục chưa sẵn sàng tâm thế chấp nhận thế giới như nó đang là

Nhắn (29): Có trăm điều nhỏ nhặt không biết tỏ cùng ai…

Khi không biết cách truyền thông về những điều nhỏ nhặt gây quấy nhiễu bản thân, mình có thể đưa nhau ra tòa ly dị và không bao giờ hay tỏ chuyện gì đã trở nên sai lạc, tồi tệ.

Nhận diện những xung đột quan hệ ngầm ẩn và tế vi trong giao tiếp ở gia đình.

Một kiểu nhân loại tân thời

* Dấu ấn của một tâm trí có giáo dục là khả năng tiêu khiển một ý tưởng mà không cần buộc phải chấp nhận nó. (Aristotle)

Một nguồn thống kê ngoại quốc vừa cho hay, 30,8 triệu người Việt sử dụng internet, trong đó 95% người dùng truy cập các trang tin tức.

Mỗi khuôn mặt là một đại diện cho tính đa dạng bất tận của nhân loại.

Nền văn hóa “liên tục, miên man” (“always on”) đương đại trên toàn cầu ngày nay càng khiến cho mọi sự nhấn sâu thêm trạng thái phụ thuộc, dính mắc, dây dưa. Khi mong đợi đáp ứng là văn hóa thì vụ việc, vấn đề tuyệt không hề giản đơn chỉ là chuyện bật chuyển sang nút “tắt” (“off” button)– với lứa tuổi vị thành niên, mới lớn thì điều ấy đe dọa về tình hình cô độc xã hội; với lực lượng lao động trưởng thành, là sợ hãi rớt rụng, chậm lụt, đứng sau các đồng nghiệp hoặc bị mất việc làm…

Lần nữa, chúng ta chứng kiến điều gì đó (something) đến từ cái không chi cả (nothing); ấy là biểu đạt của hiện tượng hợp trội (emergence): khái niệm này mô tả sự biến đổi bất thình lình cơ chừng khó lý giải nổi xảy đến trên lộ trình tiến hóa, khi những sự bùng vỡ phức tạp cực kỳ ghê gớm nảy sinh từ sự ít phức tạp hơn.

Nghiên cứu cho thấy, tin tức truyền thông phơi bày về bạo lực tạo cho bệnh nhân cảm thấy đau đớn hơn nhiều. Còn xét ở bình diện tiến hóa, người ta phát hiện những chủng loại mới thuộc loài khỉ bộc lộ sự tự nhận thức.

Nên nếu vẫn còn lăn tăn tự hỏi liệu bạo lực trong truyền thông dẫn tới bạo lực ở đời thường thì câu trả lời đã rõ ràng rồi, với cái gọi là “Hội chứng Thế giới Trung bình” (“Mean World Syndrome”)– ý tưởng của lý thuyết gia truyền thông George Gerbner về nội dung bạo lực trên các phương tiện thông tin đại chúng (Gerbner vốn nhắm tới phương tiện giải trí song khái niệm này cũng áp dụng cho bản chất bạo lực trong nội dung đưa tin vốn hay gieo hoang mang lo sợ nữa) khiến mọi người tin rằng thế giới là nơi chốn bạo lực hơn hẳn so với thực tế vốn có của nó.

Vượt xa các giải pháp như là uống café hay chơi ô chữ, nếu muốn tích nạp siêu phàm cho bộ não, mình cần phải thay đổi lối sống của bản thân. Tin vui là các thành tựu khoa học có thể trợ giúp chúng ta theo hướng ngày càng nhân văn và từ bi.

Chẳng hạn, các nhà tâm lý học thực nghiệm đang học hỏi được rằng, cảm nhận của con người về từ bi (compassion)– giúp chúng ta thấu cảm với những đồng loại khác– mở rộng phạm vi con người cảm nhận về, và rằng chúng ta thực sự có thể đào luyện bản thân để trở nên tử tế hơn, ít định kiến hẳn đi…

Quyền năng của từ bi nằm ở chỗ nó cho thấy những khám phá lớn lao về sinh học thần kinh liên quan tới niềm tin và sự tiếp xúc giữa người với người cả trên các tiến trình phân tử lẫn mức độ tế bào—cũng như tác động của chúng tới các trạng thái bệnh lý.

Vậy nên, rốt ráo, hãy dám là chính mình vì đó là cách để bảo vệ và gìn giữ đời sống bản thân tốt nhất đồng thời góp phần thúc đẩy lịch sử nhân loại. Bởi như ghi nhận, qua nghiên cứu, người ta cho thấy điểm số cao về tính thẩm quyền “thì có xu hướng đáp ứng với những khó khăn bằng những chiến lược đối phó hiệu quả, hơn là phương cách giải quyết vụ ma túy, rượu chè, hoặc các thói quen tự tàn phá chính mình. Họ thường khai ra mình có các quan hệ thỏa mãn. Họ ưa thích một cảm nhận mạnh mẽ về việc bản thân đáng giá và sống có mục đích, tự tin trong xử lý lão luyện những thách thức trong đời, và khả năng tuân thủ, thuận theo các mục tiêu đang tìm kiếm.”

Lời cuối, đêm tốt lành; cầu chúc bình yên và may mắn đến với tất cả mọi người.

Cân đong tình tất tong nhân loại

Trong trang trại 16000 m2

Những gì chúng ta nói về khi chúng ta nói về con người là nỗi niềm khổ đau (suffering) hiển hiện.

Tôi đã tập quen nhìn thấy các đôi mắt sưng nhức vì hay khóc nhiều; không rõ biết bao nhiêu giọt lệ ngày đêm đã nhỏ xuống thương thân trách phận, tủi hờn khôn xiết vì cuộc đời chẳng hề diễn ra như ước mơ lòng người, và đặc tính bất toại nguyện tiếp tục nhấn mạnh nét vô thường, vô ngã quá chừng tự nhiên.

Làm thế nào giúp đỡ người mình biết đang mắc Trầm cảm?

Vào một thời điểm, giai đoạn nào đó, bạn bè, người thân và gia đình chúng ta dễ chừng chợt mắc trầm cảm. Mình có thể là tác nhân quan trọng trong nỗ lực phục hồi của họ. Chuyện ấy phụ thuộc vào tính chất đa dạng của trầm cảm, và thực tế có rất nhiều điều mình có thể trợ giúp.

1) Lắng nghe thật thấu cảm: Một trong những điều quan trọng nhất là nói với và lắng nghe người mà mình yêu thương. Hãy hỏi họ cách thức họ cảm nhận song đừng thúc ép họ nói nếu họ chưa sẵn sàng, chú tâm. Nên để cho các cuộc trao đổi, chuyện trò này diễn ra hết sức nhẹ nhàng và cởi mở ngõ hầu chứng tỏ với họ rằng, mình có mặt ở đây là để trợ giúp họ. Cũng tốt khi hỏi họ đâu là điều hữu ích nhất khi họ đang trải nghiệm trạng thái trầm uất. Lắng nghe những gì họ thấy cần chia sẻ, bộc bạch. Nói với họ rằng mình luôn ở đấy để nghe khi họ cần tâm sự.

2) Hiểu biết về rối loạn trầm cảm: Quan trọng chẳng kém là việc mình cần hiểu biết về rối loạn trầm cảm, các triệu chứng, các tiến trình, giai đoạn và cách thức điều trị. Điều này giúp mình hiểu đối tượng yêu thương và cách thức anh/ chị í đang trải nghiệm, cảm nhận; ngoài ra, cũng nên biết những điều liên quan đến trạng thái khỏe mạnh hơn của đối tượng, nhu cầu cần điều trị nhiều nữa, hoặc các đòi hỏi trợ giúp khác,…

3) Ủng hộ sự điều trị của họ: Một lĩnh vực thiết yếu trong việc nâng đỡ đối tượng mắc trầm cảm là cách làm việc cùng họ nhằm duy trì kế hoạch điều trị, bao gồm việc uống thuốc như đã chỉ định, gặp gỡ các chuyên gia chăm sóc sức khỏe theo khuyến cáo, và tìm kiếm lực lượng hỗ trợ thêm khi cần thiết. Mình nên làm người nhắc nhở đối tượng uống thuốc đều đặn mỗi ngày, cả việc giúp đặt lịch hẹn hoặc đưa đón đến phòng khám. Nếu tình trạng bệnh lý của họ không được cải thiện, cần khuyến khích họ tìm kiếm thêm sự hỗ trợ hoặc nhờ sự hỗ trợ khác nữa.

4) Trợ giúp họ trong đời sống hàng ngày:Thường, mọi người mắc trầm cảm hay gặp nhiều trục trặc, khó khăn trong những thứ việc căn bản của đời sống hàng ngày. Khi tiến triển nặng nề, trầm cảm có thể khiến ta cảm thấy bất động, thiếu vắng động cơ và không có khả năng thực hiện ngay cả các nhiệm vụ đơn giản nhất trong đời. Xuyên suốt những thời điểm như thế, một người mắc trầm cảm sẽ cần hỗ trợ trong những hoạt động hàng ngày– mình cần động viên họ tắm táp, ăn uống, hoặc hít thở không khí tươi lành, thậm chí, đôi khi người ta cần trợ giúp lúc vào cửa hàng tạp hóa, lau dọn nhà cửa và thanh toán các hoá đơn…

5) Nâng đỡ các họat động quen thuộc: Cố gắng khuyến khích người mình yêu thương duy trì các họat động vốn quen tiến hành khi họ không mắc trầm cảm. Làm việc, đến trường hoặc hành động. Đừng thúc ép họ làm những gì họ chưa sẵn sàng, song nên khuyến khích họ dấn thân trong đời.

6) Nhận ra các dấu hiệu cảnh báo việc tự tử: Điều quan trọng cần biết về người mắc trầm cảm là họ rất dễ nỗ lực hoặc dính líu tới ý định tự tử. Hết sức nghiêm túc bất kỳ than vãn, bình luận nào liên quan tới việc tự tử hoặc ước muốn chết. Ngay cả nếu mình không tin rằng họ đích thị muốn tự làm hại bản thân thì người ta rõ ràng đang trong trạng thái phiền muộn, đau đớn– nhớ tiếp cận và gọi khẩn cấp cho bộ phận chuyên môn nếu thấy cần thiết…