‘Tại sao tôi’ lại thế? (2)

4) Thỏa mãn sự tò mò. Chúng ta muốn biết người khác nhìn đời như thế nào. Điều đó có thể gồm cả sự so sánh mình với họ (ví dụ, họ quá dễ dàng so với tôi… ắt họ vượt qua ngoạn mục các vấn đề, trong khi tôi bây giờ chắc là không thể).

5) Có những ngờ vực, tri giác riêng dù là bi quan hay khẳng định. Đó là thứ kiểu thỏa mãn ác nghiệt chúng ta nghe thấy được từ những gì suy tư suốt một thời gian dài là sự thật; chúng ta xoay siết– bởi di truyền, bởi những sự lựa chọn kém cỏi, bởi bất kỳ yếu tố nào khác– và nó sẽ vô cùng khốn khổ đặng mới thoát nạn và điều hướng cuộc đời mình khác đi. Có câu chuyện như vậy đấy.

Nếu chúng ta có thể xác quyết rằng mình đang tuyệt vọng, điều ấy hàm nghĩa chúng ta chẳng phải làm điều gì cả, bởi vì làm gì cũng vô bổ thôi. Chí ít, đấy là những gì chúng ta bảo với chính bản thân mình.

6) Chòng chành, ngắc ngứ, tắc tị. Chúng ta phát hiện, không điều gì mình chưa từng biết tới. Mình vốn truy cập trang điện tử này rồi, rất nhiều lần, đã lướt đi lướt lại qua hàng tá trang. Chúng ta cứ tìm kiếm (và tìm kiếm tiếp) chẳng có mục tiêu nào thực sự rõ ràng. Lục lọi Google vấn đề thắc mắc đưa lại ảo giác về việc đang làm điều gì đó ý nghĩa nhằm cải thiện đời mình, trong khi đó là vấn đề thời gian đích thị để khởi sự hành động dựa trên những gì chúng ta biết. Có phải chăng mình đang lưỡng lự tiến hành bất kỳ đổi thay vì e ngại thất bại? Bởi vì sự phấn đấu đòi hỏi quá ghê gớm, to tát? Hay mình cứ dùng những thứ tự tìm kiếm dạng này ngõ hầu làm hại chính bản thân ta? Có thể lắm.

Nhiều người rất có khả năng dùng một cơ hội để trở nên tốt hơn theo cách thức ngăn ngừa chính bản thân mình tốt hơn lên. Chúng ta là những bậc thầy lão luyện cả ở khía cạnh trêu ngươi lẫn tự làm hại mình.

Biết ai đã làm tan nát trái tim ghê gớm nhất không? ‘Nghèo’ (“Tại sao tôi quá nghèo đến vậy?”). Nhìn qua các kết quả tìm kiếm, nhận ra nhiều người đã tự tô vẽ tâm trí mình rằng, đúng thế, họ thật nghèo. Đó là một sự thật không thể đảo ngược đối với họ. Hầu hết cứ không ngừng nói rằng họ nghèo– theo những cách thức tinh tế hoặc thẳng tuột, và họ sống trong nỗi thống khổ. Trong đời sống hàng ngày khi không lên mạng, họ cố khoác mặt nạ rằng họ khốn khổ và thường trực bộ dạng vậy, cứ để mặc nó ăn dần ăn mòn đời mình.

Nó đem lại nỗi đau khủng khiếp khi mình nhìn vào bản thân và thấy sự nghèo khổ. Cảm nhận nó khi những kẻ khác nhìn chòng chọc vào. Cáo buộc mình đáng bị hắt hủi và cô độc suốt phần đời còn lại. Trừ khi mình làm điều gì đó… song điều gì đây? Tự tri giác về sự ‘nghèo’ không bao giờ chỉ là chuyện tiền bạc, danh vọng, địa vị, áo quần, nhà cửa, hoặc một sự kết nối tất cả mọi thứ đó… bởi nó là cảm xúc sâu thẳm về sự xoắn quấn bất công băng qua đời mình.

Cảm xúc thật sâu xa và lan rộng, riết róng cách thức chúng ta định dạng bản thân, rằng chúng ta cho rằng điều đấy đúng là sự thật. Nó dẫn tới chuyện khống chế, chủ đạo mọi thứ.

“Tại sao tôi nghèo thế” dội ngược lại trong một số thứ khác (‘ế’, ‘buồn’, ‘bỏ đi’, ‘không hạnh phúc’, ‘thất bại’). Nhìn thẳng vào chính mình và nhận ra một cái u lồi. Không có gì sất. Không xinh gái hay đẹp trai, không khí thế, chỉ là một sự viên tròn đẫm màu trì trệ và đau đớn.

Những người khác có thể làm tổn thương mình và họ giỏi giang trong việc hành hạ chúng ta. Song khi họ không lượn lờ xung quanh thì chúng ta lại cứ tiếp tục giữ mình như thế. Chúng ta tự viện dẫn kiên cường rằng không có cuộc đời nào khác cho chúng ta, không có những thay thế nào lâu dài và chắc thật cả đâu cho trạng thái mình mắc kẹt lâu nay.

Cơ chừng mình muốn thay đổi, và thi thoảng vượt thắng với một ham muốn kiến lập sự nỗ lực, song nó rốt cục tạo cách thức dẫn tới niềm tin rằng chúng ta không có đủ khả năng làm nổi điều đó. Ngay cả khi mình nghĩ mình có thể, chúng ta lại cứ ưa thích dự đoán sẽ thất bại, và bất kỳ sai hỏng nào sẽ chứng tỏ một lần và mãi mãi rằng chúng ta rõ ràng đang mắc kẹt. (Thất bại đâu có minh chứng điều như vậy, song đó là lời buộc tội dối trá chúng ta thường thích vơ về). Quan niệm mình là ai khít khớp với tâm trí và nó tô phủ lên mọi thứ trong đời chúng ta.

Nhiều vô kể thứ đã bị bỏ qua khi tâm trí chúng ta cứ chạy quá tải với những suy tư kiểu vừa nêu. Thực tế, có nhiều điều để suy ngẫm, để vui thú, để ngạc nhiên, để yêu thương thế giới này, để tranh đấu, để quan tâm, để học hỏi và khám phá rồi sống cùng với nó.

Bi kịch khi những tri giác tự thân ngăn ngừa chúng ta nhìn ra điều thiện lành này, tiềm năng to lớn này, và khiến chúng ta không tin tưởng rằng chúng ta có thể là một phần của thế giới tốt đẹp ấy.

Quá chừng năng lượng tinh thần bị tiêu tốn cho những vấn nạn đời mình. Đôi khi những giải pháp tương đối thẳng thắn, nếu nó là thứ giải pháp mà chúng ta kiên trì theo đuổi. Những dịp khác, vấn nạn lại vô cùng phức tạp. Và những nỗ lực triển khai nhằm giải quyết nó có thể đẩy chúng ta lùi lại.

Thay vì thế, cần làm việc với niềm đam mê và các dự án ưa thích, nuôi dưỡng các mối quan hệ thân quen, vun bồi tâm trí mình– ngắn gọn, làm mọi thứ có thể để đời sống mình phong phú hơn và khiến nỗi đớn đau vơi bớt– chúng ta giằng xé bản thân trên tiến trình nỗ lực nhằm để chính bản thân mình tốt hơn lên.

Có thể là hữu ích khi tìm một cái tên cho một vấn đề riêng biệt nào đấy. Chẳng hạn, nếu chúng ta nhận ra mình mệt mỏi, trống rỗng và thiếu vắng niềm hoan lạc thì có thể ấy là các dấu hiệu của tình trạng trầm uất, rồi gọi tên nó “trầm cảm”– biết nó như nó là– có thể là bước đầu tiên để quản lý đủ để chúng ta chỉnh trị bản thân hướng tới một cuộc sống lành mạnh hơn.

Song khi gán nhãn cảm nhận tiêu cực thường xuyên và hồi quy quay về thì sẽ hết sức khó khăn để tin tưởng mình có thể nhìn nhận bản thân khác biệt hoàn toàn– rằng chúng ta có thể kẻ sống khác, hạnh phúc hơn, nhiều hài lòng và dẫn đến một cuộc đời phong phú, đa dạng, đầy ý nghĩa– khi chúng ta không bị buộc phải gánh vác sức nặng từ mỗi xác định duy nhất nào về bản thân mình.

Hiểu biết và nhấn mạnh tri giác về bản thân, đặc biệt khi chúng tiêu cực ghê gớm, là sự cần thiết đảm bảo sức khỏe thể lý lẫn tinh thần lành mạnh, và cho một đời sống phong nhiêu dài lâu; bởi những suy tư của chúng ta là căn cốt cho kiểu dạng đời sống mình sẽ trải nghiệm.

Giật phắt đứt hẳn những tri giác tự đánh bại bản thân có thể là cuộc chiến đấu kéo dài cả đời người, song hy vọng rằng nó không kết thúc trong sự nhượng bộ cho thảm cảnh thất bại, mà khẳng khái tuyệt chẳng chút xíu lay chuyển rằng chúng ta hành xử đúng đắn với bản thân suốt dọc tháng năm còn lại.

Lòng vòng một câu hỏi hai nòng

Tại sao kiếm tìm nhà đầu tư tài chính hay vay ngân hàng để mua đồ đặng thực hiện dự án là một chuyện, dẫn tới việc cầm cố hoặc thế chấp gì đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác?

Lẽ nào ở đây cần xem xét mối quan hệ giữa nợ nần, mệnh giá và thêm điều thứ ba nào đấy có thể khiến cho sự vụ sẽ tốt lên, êm ấm hơn hẳn?

Tâm linh, sức khỏe tâm thần và giới trẻ

Mọi truyền thống tâm linh đều nhấn mạnh rằng đời người là một cơ hội duy nhất và có một tiềm lực ghê gớm mà thường ta không hề ngờ tới. Nếu bỏ lỡ cơ hội mà kiếp này cống hiến cho ta để chuyển hóa bản thân thì rất có thể phải mất một thời gian vô cùng tận nữa ta mới có một cơ hội khác. (Mỗi ngày trầm tư về sinh tử, sđd, tr.187).

Nhà Phật nói đại ý, được sinh làm người còn khó khăn hơn là một con rùa mù cứ một trăm năm mới ngoi lên mặt biển một lần và đút được cái đầu của nó vào chiếc vòng gỗ cứ nổi lềnh bềnh, nhấp nhô theo sóng.

Ngày nay, nghiên cứu khoa học cho thấy, bất kể sự khác biệt trong niềm tin và các lễ nghi thuộc các tôn giáo lớn trên thế giới thì tâm linh luôn có tác dụng tăng cường sức khỏe tâm thần.

Theo đó, với chức năng là nét nhân cách thì người có trình độ tâm linh thường giảm thiểu cảm nhận về cái tôi của bản thân và thể hiện mức cởi mở và kết nối sâu xa hơn với phần còn lại của vũ trụ. Đáng chú ý, tần suất tham gia các họat động tôn giáo cũng như sự trợ giúp từ giáo đoàn không mang mấy ý nghĩa trong mối quan hệ giữa nhân cách, tâm linh, tôn giáo và sức khỏe.

Về lợi lạc sức khỏe, nghiên cứu đã phát hiện tác dụng cụ thể: sự nâng đỡ từ tôn giáo và tâm linh góp phần cải thiện thành tựu sức khỏe cả ở nam lẫn nữ đang phải đối phó với các trạng thái bệnh lý mạn tính.

Liên quan tới sự phát triển của giới trẻ thì những kết quả ban đầu vén lộ cách thức họ nhìn nhận tâm linh thuộc về các hành vi, cảm xúc và quan hệ tích cực.

Cụ thể, các đáp ứng với câu hỏi “Điều gì có ý nghĩa đối với một người trẻ tâm linh?” chứng tỏ dứt khoát các hành vi tâm linh của họ gắn kết với sự phát triển cá nhân và xã hội, bao gồm:

  • Có mục đích
  • Có sự ràng buộc với nhiều kết nối, tính cả kết nối với một quyền năng tối cao hơn (đặc trưng là Thượng Đế), con người và thiên nhiên
  • Có một nền tảng thân – tâm an lạc; hòa trộn niềm vui, trạng thái đủ đầy, năng lượng và bình yên
  • Có niềm tin vững chắc
  • Có lòng quả quyết (self-confidence)
  • Có sự thôi thúc hướng tới đạo đức, luân lý; chẳng hạn, động cơ làm điều đúng và nói sự thật.

Điều này gián tiếp lý giải tại sao một cuộc trao đổi, trò chuyện ý nghĩa có thể đem lại hạnh phúc.

Mặt khác, không khó hiểu tí nào khi các nhà sinh thái học hiện đại chia sẻ điểm tương đồng với Phật tử ‘nhìn thấy thế giới qua một bông hoa’:

Mỗi chúng ta lớn lên trong mối giao hội với những người khác, phụ thuộc và không thể chia tách khỏi nhau. Nỗ lực định vị một mẩu tí xíu không thể xâm phạm của cái tôi bên trong bất kỳ ai (hoặc đích thị, trong bất kỳ thực thể nào) thì chẳng hề giống như việc tìm thấy một hột rắn đặc trong một quả mơ. Điều ấy tựa việc bóc củ hành vậy: chúng ta là những lớp xếp trong những lớp, không có gì ở trung tâm. Hoặc, tựa xoáy nước trong một dòng sông, mỗi chúng ta dẫu có thể định dạng và nổi bật song kỳ thực, không có ‘chúng ta’ liên tục vẫn còn nơi chốn nào cả: chỉ là một mẫu hình dòng chảy chuyển động liên lỉ, bởi mọi người đều cấu thành toàn thể từ thứ, món, chất liệu phi ngã (non-self stuff) mà tất thảy cứ đang rời đi, băng qua. Với Phật tử và nhà sinh thái học, rốt ráo chúng ta là phụ tùng thay thế vốn được kiến tạo nhờ thu dọn từ đống thải bỏ của vũ trụ, mà các thành phần nguyên tử và phân tử ‘chúng ta’ được vay tạm nhất thời, và hậu quả là chúng sẽ bị tái chế.

Do vậy, sự tồn tại của chúng ta không phải là hiện tượng riêng biệt và có thể tách lìa. Lòng từ bi đích thực, theo nghĩa đau đớn cùng (sufffering with), nên được làm dịu bớt– thực tế là không thể chối bỏ– khi không ai làm người đón nhận duy mối quan tâm của riêng anh/ chị ấy…

Đứng trước quan điểm tương tức, liên thuộc giữa các sinh thể và môi trường như thế, một thái độ định kiến và cố chấp quả thật là phản động. Tâm bệnh học cho biết, định kiến có thể là nguyên nhân gây ra trầm cảm ở các mức độ xã hội, bên trong mỗi cá nhân và quan hệ liên nhân cách.

Và yêu thương, như lời bài hát thấm đẫm chất tâm linh và trị liệu, chính là sự chăm nom và tử tế với nhau giữa những chúng sinh cùng chịu đựng nỗi khổ niềm đau dằng dặc.