Phởn phơ và hớn hở

Tất cả chúng ta đang ở đây và ngay bây giờ, với những lời chúc tốt lành lung linh ánh đèn nhấp nháy và giai điệu mùa lễ hội cuối năm rộn ràng.

Lắng nghe tiếng nhạc du dương, kịp xốc lại cổ áo khoác bởi một làn gió lạnh vừa lướt xuống vườn run nhẹ. Mỗi người đều có câu chuyện để kể.

Chúng ta là những gì chúng ta nghĩ; với suy tư, chúng ta kiến tạo nên thế giới; ý tưởng ấy nào mới mẻ gì, cơn cớ sao nó vẫn làm mình rung lên khi nhìn ngắm những người trẻ thật hiền hòa đứng ngồi ở xung quanh. Nhớ một chiều chơi núi Dục Thúy. Nhớ có lần về quê Nam Cao

Bạn phởn và bạn sẽ ớn. Mỗi ta, tự mình thôi thì khó mà hớn hở nổi. Chắc chắn vậy rồi, bởi mình có thể hài lòng, hạnh phúc, thậm chí phát cuồng ngây vì sung sướng tột độ; song hớn hở đòi hỏi một nhóm, và cái nhóm ấy hầu như luôn là một cái nhóm mình có thể nhìn thấy và tiếp chạm– đang cùng sẻ chia các phân tử không khí, mặt trông nhìn mặt thật lâu. Trở lại Bắc Giang, lăn qua nỗi – buồn – Cẩm – Giàng da diết quen lắm rồi mà vẫn lạ.

Nghe tiếng gà gáy qua máy điện thoại di động. Cuộc cách mạng kỹ thuật số diễn tiến ngày càng sâu thẳm, rộng khắp và trọng yếu hơn. Có điều, rốt ráo ra nó lại không đủ sức thôi thúc mạnh mẽ ngõ hầu làm tăng lên sự hớn hở đích thực cho hết thảy bàn dân thiên hạ.

Lần nữa, chẳng nghi ngờ gì, mãi mãi tùy thuộc vào chính chúng ta hiện tồn chung đụng– ở đây và ngay bây giờ.

Khóc, hôn và giới tính (2)

Như đã trình bày, hiện tượng các cô gái thể hiện cử chỉ gắn chặt nhau, âu yếm, thậm chí ôm hôn môi má ở những nơi chốn công cộng không còn là chuyện lạ ở Việt Nam.

Đúng là sống ở Hà Nội không cần phải vội; hôm nay, nhìn thấy trang điện tử phán ngay tắp lự rằng giả đồng tính để chứng tỏ… sành điệu.

Dưới góc độ học thuật, hiện chưa thấy nghiên cứu nào của quốc nội chỉ ra nguyên nhân, tần suất và hậu quả của hiện tượng nữ nhân cặp kè, âu yếm như thể đôi sam đồng tính.

Đây cơ chừng là bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về sự phổ biến và các lý do khiến những cô nàng dị tính lại bày trò hôn nhau tại các buổi lễ lạt, tiệc tùng, liên hoan tưng bừng náo nhiệt (lưu ý lần nữa, cho dù hành vi của họ như vậy thì vẫn không ai xem những đối tượng í là các nữ đồng tính cả).

Nhóm tác giả nghiên cứu phát hiện, 69% nữ sinh viên và nam sinh viên tham dự các buổi tiệc từng chứng kiến hai cô gái hôn nhau hoặc “có chuyện với nhau” và 33% nữ sinh viên đều thổ lộ rằng họ đã “hôn hoặc làm gì đó với người cùng giới tại một buổi tiệc trong trường đại học”.

Nghĩa là, một số đông sinh viên cho biết họ nhìn thấy hành vi đang bàn luận, và chút ít tinh tuyền nữ sinh viên khẳng định bản thân họ đang dấn thân vào sự vụ ấy.

Nghiên cứu nêu trên đóng góp hiệu quả cho một lĩnh vực tâm lý học đang gầy dựng, với những chuyên gia hiện tiếp tục xem xét khi nào và tại  sao chị em phụ nữ tiến bước vào hành vi tình dục hóa bản thân (self-sexualization) như thế.

Theo đó, hiện tượng này xảy ra khi phụ nữ chủ động thể hiện chính mình trong một cách thức khiêu dục gợi tình hoặc là một đối tượng tình dục trước những người khác (Allen & Gervais, 2012)– tỷ dụ, việc ăn mặc lẳng lơ mời gọi, sử dụng các lối đi hẹp biểu diễn tại các câu lạc bộ khiêu vũ, lấy ý kiến thăm dò lúc nhảy đầm hoặc trêu đùa ở các lớp học thoát y, hay hôn các cô gái khác (Nowatzki & Morry, 2009).

Hai tác giả nghiên cứu thượng dẫn còn phỏng vấn các cô gái dị tính hay làm chuyện nọ kia với các cô gái khác; kết quả thu được một số ghi nhận: tất cả sự vụ diễn tiến khi các cô đã uống chất có cồn cũng như do bị xúi giục (chẳng hạn, bạn trai hoặc chơi trò ‘dám không’).

Một khía cạnh khác cũng được các tác giả phát hiện là động cơ của hành vi dạng gái ăn chơi ngút trời, bất cần đời; đứng đầu danh sách là 56% nữ có ham muốn thu hút sự chú ý của đàn ông, như “khởi động” một bạn trai hoặc nói năng ám chỉ à ơi tình dục đối với các chàng còn đơn lẻ đạt tiêu chuẩn; 43% cho biết họ muốn tham gia vào một tiệc vui bá cháy, trong khi 42% dính sát với cô gái khác vì họ say xỉn mất rồi, ngoài ra còn có chuyện câu kết chị em với nhau (26%), thử nghiệm tình dục (23%), tạo sốc (22%), và nhiều khả năng khác như tiền bạc hoặc bia rượu (16%),…

Thực tế, theo giáo sư David Buss, ước tính lịch sử nhân loại cho thấy chỉ khoảng 1- 2% chị em là đồng tính mà thôi– con số không thể nhiều hơn được.

Các nghiên cứu mới nhất, chẳng hạn là ở đây, liên quan tới đối tượng nữ vị thành niên và mới lớn cho thấy 15% bạn gái ngày nay tự định hình bản dạng mình như là đồng tính nữ hoặc lưỡng tính, so với tầm 5% các nam thanh niên xem mình là đồng tính nam hoặc lưỡng tính.

Một trong vô vàn câu hỏi chưa lời giải đáp thấu đáo là việc tại sao chị em đồng tính hoặc lưỡng giới thì không sao cả, còn cánh con trai đàn ông lại trở thành vấn đề? Liệu bạn đọc nào có cao kiến gì chăng?

… Lời cuối, khi độc giả đọc mấy dòng này thì tôi đang tham dự Hòa nhạc Giáng sinh, với giai điệu náo nức và ly vang ấm nóng. Vâng, một cơ hội quan sát buổi gặp gỡ tươi vui có những đối tượng biểu hiện như những gì đã kể bên trên…

“Không khuyên nhủ”– nguyên tắc đôi khi cực kỳ phản tác dụng

Có lẽ, một trong những dặn dò thân thiết, thậm chí đã trở thành tâm niệm nằm lòng với hầu hết các bạn học Tâm lý ra là lời này: “không nên (được) khuyên nhủ” khi làm việc với thân chủ.

Wow, thực tế thì tình sầu khó nói với nó lắm người ơi, bởi nhiều vô kể các đối tượng cất tiếng ca thán hoặc lặng thầm tìm mọi cách chuyển hóa ước muốn thực hiện theo chỉ dạy mà sao mình toàn biểu lộ thái độ lẫn ứng xử trái ngược hẳn. Đúng vậy, rất nhiều đồng môn nhận thấy sự thật phũ phàng là sau những kiềm chế, tự canh phòng bao nhiêu thì họ chợt đưa ra lời khuyên nhủ rất bất chợt dễ dàng bấy nhiêu.

Trước hết, cần phân biệt lời khuyên với việc đưa ra thông tin tham khảo: đặc thù cung cấp các hành động chuyên biệt cho thân chủ, so với việc đưa ra tập hợp gồm kiến thức, những đề nghị thay thế hoặc các sự kiện mà thân chủ cảm thấy hữu ích cho việc chính bản thân họ ra quyết định. (Meier, Scott T., & David, Susan R., 2001, p.24).

Việc đưa ra lời khuyên nhủ, thúc giục thường gây cản trở cho tiến trình tự khám phá của thân chủ, chí ít bởi vì biết bao bạn bè và người thân trong gia đình đã cung cấp lời khuyên cho họ rồi; không những lời khuyên do đó, giống như tin tức đã cũ, (chưa nói một số người rất thích mong đợi để tự họ giải quyết vấn đề nảy sinh) mà sâu xa hơn, chuyện này còn dính dáng với việc vội vàng xử lý chướng ngại khi nó non xanh, chưa hội đủ điều kiện giải quyết,…

“Không khuyên nhủ” sẽ là nguyên tắc cực kỳ phản tác dụng nếu người dùng nó chỉ tiếp cận từ góc độ học thuộc, tuân thủ mà không đích thực nhận diện rõ ràng rồi dấn thân trải nghiệm sâu sắc chính những khó khăn, bất mãn và căng thẳng xảy đến ở từng tình huống, bối cảnh, vụ việc cụ thể.

Suy cho cùng, một khi đối tượng đang cảm thấy phải đương đầu với viễn cảnh bí rị, tắc tị, không biết nói năng, hồi đáp ra sao thì lựa chọn khuyên nhủ rất dễ xuất hiện. Đây là dấu chỉ người thực hành tham vấn chủ quan, bị bỏ rơi hoặc thất lạc hay mất dấu trước dòng suy tư, cảm nhận và biểu hiện hành vi của thân chủ.

Như thế, chất lượng tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ hết sức quan yếu; trong tác nghiệp, cần ưu tiên thiết lập quan hệ, đồng thời chú tâm ghi nhận thói quen thích đặt câu hỏi và tránh chủ quan giả định rằng mình thừa đoán được cách thân chủ phản ứng với các cảm xúc, suy tư và hành động của họ.

Nói cách khác, vấn đề không thuộc kỹ thuật làm việc, bởi chính huyễn tưởng mê mải tự gán mình trong vai trò “kỹ thuật viên, chuyên gia” hiểu tuốt và biết trước khiến nhà tham vấn rơi vào mê hồn trận suy diễn, đứt kết nối khi tiếp xúc.

Cùng với thời gian, những nguyên tắc chỉ mang vẻ thuần túy gắn bó bề mặt sẽ dần dần rơi rụng hết, trong đó nhất định có lời dặn dò thật dễ chấp nhận đầy quyến rũ rằng “không nên khuyên nhủ” gì cả.