J. Soi (13): Chuyện ăn chay, ăn mặn

Câu hỏi ‘tại sao quá ít người ăn chay’ tại Việt Nam không rõ sẽ được ai đó quan tâm trả lời ra sao; ngay cả khi số lượng đối tượng chẳng chiếm tỷ lệ bao nhiêu đi nữa, vẫn không thể che lấp sự thật đáng quan tâm hơn nằm ở câu chuyện về động cơ chay, mặn.

Mà khoan, trước hết, thiên hạ sẽ nghĩ họ có quyền thật dễ dãi để cật vấn ngay: tại sao ăn chay?

– Quan tâm về mặt đạo đức sự đối xử đối với động vật

– Các lý do hướng theo yếu tố thuộc môi trường và sức khỏe

– Không thích hoặc ghê tởm mùi thịt tươi, hay do áp lực xã hội từ bạn bè, vợ/ chồng…

Thế rồi, trên diễn trình tranh cãi, soi mói nhau lại tòi ra vấn nạn nhạy cảm: quay lại ăn mặn. Tại sao?

– Sức khỏe suy mòn

– Những điều phiền nhiễu, rắc rối gặp phải và bị bêu riếu về mặt xã hội

– Bị thôi thúc không chống cưỡng lại nổi

– Có sự thay đổi trong cách tư duy mang hơi hướng đạo đức.

Với đa phần mọi người, sự quyến rũ của việc ăn thịt là khó chối cãi và chẳng thể từ bỏ. Có sự giả tạo đậm sắc thái tự nhiên rằng một hành vi như thế là phải lẽ, tất yếu và tự nhiên thôi.

Thực tế đời sống nhân loại chứng thực, câu chuyện còn vượt xa thói quen thọ dụng thực phẩm vì nó luôn mang hơi hướng tâm linh, tôn giáo.

Vũ khí, cũng như thuốc độc, có khả năng gây chết/ giết người. Vì thế, kẻ buôn bán vũ khí (thương mại) cơ chừng đã lựa chọn phương thức sống sai trái. Tại sao ư? Mục đích chính của họ, đích thị mục đích duy nhất của họ là giết chóc. Các tay  giao dịch, buôn bán ấy giữ vị trí trung tâm trong hệ thống mắt xích có thể dẫn đưa tới ai đó bị giết chết, ngay cả tự thân anh ta không giết bất kỳ ai cả.

A, kẻ sản xuất vũ khí; – B, buôn bán vũ khí, và – C, người tậu hàng và bắn giết.

Bây giờ, nếu đảo ngược trình tự này và áp dụng nó đối với việc ăn thịt thì chắc chắn ta sẽ có cùng kết luận tương tự như sắp vẽ ra sau đây:

– C, ăn thịt; – B, bán thịt; – A, kẻ giết mổ và làm thịt.

Tạm thời dừng ở đây; thế đọc xong rồi, quý vị nghĩ sao?

Trạng thái loạn thần dưới cái nhìn của Tâm lý học (3)

[Tiếp tục]

Có thể nói rằng, người mắc loạn thần gặp vấn đề hoạt động của thùy não trước trán bị hạn chế.

Từ đây làm nảy sinh câu hỏi: “Liệu loạn thần là nguyên nhân hay hậu quả của hoạt động bị hạn chế của thùy não trước trán?” Có lẽ, câu trả lời là cả hai. Cá nhân mắc loạn thần đặc trưng có lý trí tự thân: “Tôi nghe tiếng nói ở trong đầu. Điều này nghĩa là có ai đó hoặc điều gì đó đang nói trong đầu của tôi.”

Dù khoa học dạy chúng ta rằng không được định kiến về trải nghiệm thể lý và tâm trí bằng cách loại trừ nét khác biệt trên bề mặt giá trị của nó, song loạn thần, bao gồm ảo giác và hoang tưởng, thể hiện của nhiều cá nhân mắc loạn thần cho thấy không thể có ý thức thích đáng, hoặc khó mà am hiểu rốt ráo đầy lý trí.

Năm 1929, Freud tuyên bố: “Cảm nhận về cái tôi hiện tại chỉ là phần dư còn lại của một cái gì rộng lớn hơn– thực sự gộp vào tất cả– cảm nhận tương ứng với một mối dây liên kết thân thiết hơn giữa cái tôi (ego) và thế giới xung quanh.

Trong phạm vi thuộc phẩm chất niềm tin trị liệu, một trải nghiệm thông qua quan hệ với một vị thần, tôn giáo biểu đạt mối liên kết với một vị thần có thể biểu đạt một sự diễn lại trạng thái nguyên thủy đến độ nó tái tạo mối kết nối cộng sinh  mà ý nghĩa báo trước mối quan hệ với đối tượng bà mẹ.

Sự đồ vật hóa (reification) của một mối quan hệ dễ được xem là mục tiêu của mối đồng minh mang tính trị liệu. Tuy vậy, một sự kết nối như thế với nhà trị liệu trong đời sống trưởng thành của một người không phải là sự tái tạo của mối kết nối với Thượng đế, hoặc đối tượng bà mẹ, hoặc bất kỳ một nhân vật mang tính biểu tượng cơ bản nào khác từng được xây dựng trong thuở thiếu thời hoặc tâm trí vô thức.

Người trưởng thành không phải là nguyên khởi bất chấp cái ấy (id) đang bị che lấp. Người trưởng thành sở hữu cái tôi (ego) và một lương năng (conscience) được thiết lập như lẽ phải và cảm nhận về bổn phận đạo đức. Vì các lý do đó, mối quan hệ giữa thân chủ (client) và nhà trị liệu của anh ta (therapist) không đòi hỏi phải kết nối với tôn giáo hoặc tình mẫu tử, cộng sinhvà thân mật quá mức, hoặc một sự cảm nhận hồi quang tất tật nhằm đạt được hiệu quả. Thực tế cho thấy nhu cầu này có thể làm trục trặc chức năng và phản trị liệu.

Phẩm chất bản năng đi kèm với các ảo giác, tuy vậy, trong một vài thực tại có thể được các nhà trị liệu và lâm sàng không loạn thần xem như là trải nghiệm loạn thần.

Cá nhân mắc loạn thần không thể biết lý trí với các ảo giác. Anh ta không thể làm hiện lên trong mình sự đồng cảm, thấu cảm hoặc tội nghiệp. Anh ta không thể vượt thoát khỏi khu vực trong đó chúng trú ngụ, bất kể những ảo giác của người mắc loạn thần xảy đến tại lãnh địa thể xác hoặc tâm trí.

Hơn nữa, như một sự lặp lại định tĩnh và đáng giá, trải nghiệm loạn thần có thể xảy đến như một hiện tượng mà tự thân sự biểu đạt trên mức độ của trải nghiệm bên trong tâm thần đã không thể chịu đựng và chấp nhận nổi trong sự được tri nhận như tính thân mật nội tâm thần.

Các thực tại không thường được đề cập bởi các nhà trị liệu và lâm sàng không loạn thần  thuộc địa hạt của những tưởng tượng, và sự tưởng tượng có thể chỉ là phương tiện duy nhất mà các nhà cá nhân không mắc loạn thần cơ chừng dễ thấu cảm với đối tượng mắc loạn thần.

Các cá nhân mắc loạn thần sống với các trải nghiệm sinh động mà hầu hết thiên hạ có thể thấu hiểu nổi, và nếu người không mắc loạn thần nhận ra sự kiện này, điều ấy có thể giúp cho các cá nhân mắc loạn thần hiểu biết tốt hơn trải nghiệm loạn thần.

Tâm lý trị liệu trong truyền thống nhân loại có thể trợ giúp cho các cá nhân mắc loạn thần, đặc biệt với năng lực truyền đạt sự thấu cảm bởi nhà lâm sàng không loạn thần đối với trạng thái cảm xúc của cá nhân người mắc loạn thần, là kết quả của trạng thái ý thức của anh ta. Trạng thái ý thức này có thể được nhà lâm sàng tri nhận đầy thấu cảm mà không hề tán thành, đối với thế giới quan của cá nhân mắc loạn thần.

Trải nghiệm của cá nhân mắc loạn thần có thể cần được chấp nhận trước tiên, thứ đến là thấu hiểu, rồi sự thử thách sau rốt, nếu đây là điều khả thể của các nhà lâm sàng khi làm việc với người mắc loạn thần.

Cách trị liệu đáng tin cậy nhất cho loạn thần vẫn là dược lý, và hiệu quả của cách điều trị này phải được xem xét hài hòa với thực nghiệm khéo léo trong việc phát hiện thuốc men đúng đắn, hoặc nối kết thuốc men với đặc tính sinh hóa thuộc cá nhân người mắc loạn thần.

Lý thú là, với hầu hết giai đoạn trong đời, các thuốc chống loạn thần (antipsychotic medications) được gọi bằng cụm từ “các loại áo bao bọc trực tiếp tâm thần” song gần đây, các thuốc thế hệ không theo truyền thống mới hơn có năng lực để “tổ chức tâm trí”.

Cũng đáng nói, các cá nhân mắc loạn thần như thế có điểm số xấp xỉ 10. trở lên trong thang điểm IQ tổng quát khi học sử dụng thuốc chống loạn thần thể hiện mới hơn, đối lập với điểm số của những người tham gia thực nghiệm không dùng thuốc.

Trong khi điều này có thể tiếp tục cổ vũ cho việc điều trị người mắc loạn thần thì vấn đề loạn thần vẫn còn là điều vô cùng khó khăn để gỡ bỏ, mà dường như chính là đang cần gỡ bỏ dần tâm trí loạn thần.

Mưa đêm

Thời điểm cuối năm thường hay mưa, không có gì lạ.

Khi ngày sắp hết, trên đường về nhà, bắt gặp bầu không khí ướt sũng nào quá bất ngờ.

Những cuộc hẹn hò, tiếp xúc chừng như chỉ cố kéo dài thêm sự ràng buộc và nối kết, theo thông lệ của người.

Và cứ thế, vô tư tháng ngày qua…

Trong chén trà nhập nhoạng, tôi chợt nhìn thấy khuôn mặt người thờ hắt ngắn, dài mỏi mệt. Lễ nghi, thù tạc giữ chức năng ngăn giữ đối tượng đỡ khóc òa vì bất lực trước trò cười cợt của tha nhân.

… Dần dần, những tình huống nọ kia đòi buộc chúng ta phải nhìn kỹ hơn lòng mình; để không thể chối bỏ thêm nữa những phần cố tình lờ tịt hoặc gắng sức đè nén vì xã hội gán nhãn cho nó là xấu xa hay sai trái.

Khó khăn nhất khi thực hành từ bi chính là cảm giác bản thân không thấu hiểu được hành xử của kẻ xúc phạm, làm hại mình. Kỳ diệu thay, cũng tại thời điểm đớn đau này diễn ra quá trình chuyển hóa nội tại.

Giống với bất kỳ kỹ năng nào, lòng từ bi triển nở với sự hiện diện của điều cản trở.

Từ bi rốt ráo, là năng lực nhận ra mối dây kết nối sâu xa giữa bản thân mình với những người khác.

Hơn thế, lòng từ bi đích thực giúp chúng ta nhận ra rằng ranh giới mình hằng tưởng nghĩ giữa bản thân và những người khác chỉ là ảo ảnh.

Mưa đêm mềm mượt ủ che…

Vì một người vừa nằm xuống…

Hôm qua, Stanley Karnow, sử gia Hoa Kỳ và tác giả của cuốn sách “Viet Nam: A History” (đại chúng chắc quen biết hơn khi xem trên TV bộ phim tài liệu “Việt Nam, thiên lịch sử truyền hình”) qua đời.

Thật buồn thêm, ngay tại chính nơi sinh thành đối tượng nghiên cứu của Stanley, nhạc sĩ Phạm Duy cũng vừa ra đi.

Tôi chợt thiển nghĩ, nếu ai chuyên tâm tìm hiểu khía cạnh niềm vui nỗi khổ của thứ dân Việt trên tiến trình cá nhân hóa trong các tác phẩm của vị nhạc sĩ lỗi lạc này, chắc chắn sẽ đem lại ít nhiều lợi lạc chung.

Vượt trên những muộn phiền, khổ đau rất thật và cũng hết sức hư ảo của thân phận người ly loạn, nhạc của Phạm Duy vinh danh thứ ánh sáng siêu tuyệt của ngôn ngữ và sử tính Việt; một kiểu tâm thức vô cùng quen biết, dung dị và mê muội cứ mải miết thuận theo độc lộ ngậm ngùi do mâu thuẫn nội tại buộc ràng phi lý… Điểm uyên áo ấy cơ chừng lại hiển lộ bất ngờ nhất trong loạt bài Tục ca.

Hồi quang riêng chung được phản chiếu tự nhiên khiến đất nước, dân tộc mình càng trở nên buồn đau miên man đồng thời cũng thấm đượm không ít phút giây sáng rỡ; một kiểu nghiệp chướng không thể không thức nhận đủ đầy để rồi cưu mang đặng còn kịp hóa giải nhân duyên tốt đẹp.

Không ai đích thực biết rõ, thấu hiểu tột độ một thứ gì. Dĩ nhiên, phát ngôn vậy, là tôi đang tham dự cuộc trò điêu toa, dối trá và dốt nát; bởi nào hay ho, hữu dụng chi mô hai điều dụ dỗ khá dở hơi: cả sự thích thú đã đặt định, hoàn thành ngay trước sự kiện; lẫn thói không ngừng phân tích dĩ vãng trôi qua…

Dự đoán và nhắm hướng tương lai, chúng ta hay tập trung làm việc dựng xây ý tưởng hoặc hình thành sản phẩm cho ngày sắp tới hơn là vì thời gian hiện tại, hôm nay.

Làm ơn hãy cho tôi biết ai đấy đã từng tiến hành việc gì đó rồi. Hy vọng, nhờ thế, sẽ luôn đi kèm mênh mông ngờ vực và nghi ngại.

Lần nữa, chiêu tuyết tha thiết cho người liệu có phần vận vào bản thân khó cưỡng?

Thiệt tình chưa rõ, song trước mắt, mời thư thái ngồi xem minh họa bằng clip.

Cầu chúc ấm êm, tốt lành và hạnh phúc cho tất cả– không cứ gì là người đang sống ngụ cư trên quê hương, ở quốc nội.

Hoang tưởng có rất nhiều dạng thức

Hoang tưởng (delusion) có rất nhiều dạng thức, song chung quy tất cả chúng đều là thứ ảo ảnh điên đảo (illusion) cứ hoài chăm bẵm, dính bám mãi với sự tồn còn riêng có của chúng ta– chúng ta là ai. Một giả thuyết nảy sinh (không phải là nguyên lý quyết định mình phải tin theo) là chúng ta đang không ngừng kiến lập hết sức nhầm lẫn về chính bản thân mình như thứ cái hiện diện hết sức độc lập, cực kỳ tự trị, và rất khác biệt so với môi trường cũng như các chúng sinh khác (sentient beings). Bản ngã nhỏ nhoi (little ego) ấy đương đầu, chiến đấu suốt đời, vươn đạt tới biết bao điều hay ho, và liên tục cố đẩy bật ra khỏi những chuyện xui rủi. Nội phạm vi trả giá cho sự xây dựng dối lừa thực tiễn này thôi đã dần khiến chúng ta buộc ràng bản thân trong trạng thái xung đột miên viễn.

B. Alan Wallace. (2010). The Four Immeasurables: Practices to Open the Heart. Snow Lion.

Trầm ngâm lưng chừng tâm thần học

Dĩ nhiên, với riêng cá nhân tôi điều đó được ưu tiên liên tưởng ngay tới sức khỏe tâm trí và các rối loạn tâm thần.

Bởi biết bao định kiến, tư tưởng tỏ ra kỳ thị và lối phân biệt đối xử với những ai gặp sự cố đau lòng; dù thực tế chứng thực rằng tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm trí không có nghĩa bạn bị điên khùng…

Có nhiều lý do lý giải tại sao các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm trí chưa được sử dụng đúng mức. Một trong những lý do căn bản là vết nhơ, điều sỉ nhục.

Như một cộng đồng xã hội chung đụng bấy lâu, chúng ta thường quen dùng thay thế cho nhau hai thuật ngữ “bệnh tâm thần” (“mental illness”) và “sức khỏe tâm trí” (“mental health”). Đây có thể là nguyên cớ khiến việc tiếp tục duy trì chúng tạo nên vết nhơ khủng khiếp và kéo dài thêm cảm nhận sỉ nhục khi người ta muốn tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm trí.

Theo Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), bệnh tâm thần và sức khỏe tâm trí khác nhau hẳn. Bệnh tâm thần mang đặc trưng của những biến đổi trong ý nghĩ, tâm trạng, hoặc hành vi liên quan tới nỗi niềm đớn đau và thiếu hụt lúc vận hành; trong khi đó, sức khỏe tâm trí là hiện tình an lạc (well-being) chứng tỏ cá nhân thức nhận ra các năng lực bản thân và có thể đương đầu với những căng thẳng tinh thần (stress) ở đời sống hàng ngày.

Với các xã hội đã nhìn nhận được rằng việc tìm kiếm trị liệu là điều quan trọng (nên phân biệt rõ giữa sức khỏe tâm trí và các bệnh tâm thần) thì càng giảm thiểu quan điểm tiêu cực hướng tới các cá nhân ấy bao nhiêu lại cũng thường nỗ lực làm cho đối tượng cần được trợ giúp cảm thấy cởi mở hơn bấy nhiêu. Rốt ráo, chúng ta nên chăm lo cho sức khỏe tâm trí không kém gì so với sự đầu tư vào sức khỏe thể chất (physical health).

Còn vô số ý kiến khác khiến thiên hạ không quen dùng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm trí; chẳng hạn, lắm nghiên cứu xác nhận các biến như sắc tộc, thái độ, khả năng chi trả, và mức độ nâng cao sự kỳ thị hoặc ngăn cản việc tìm kiếm trị liệu (tỷ dụ, Broman; Turner & Liew).

Điều quan trọng cần nhấn mạnh là gánh nặng ghê gớm với sự khốn khổ về sức khỏe tâm trí. Chẳng hạn, bệnh tâm thần liên quan tới sự tăng lên các vấn đề thôi rồi của sức khỏe (tim mạch, béo phì) và lạm dụng chất. Ngoài ra, khi trẻ nhỏ không được điều trị các rối nhiễu tâm trí thì chúng sẽ dễ gặp trục trặc, đớn đau hơn về sau khi lớn lên; nghiên cứu cho thấy, hồi nhỏ không xử lý thì có nguy cơ tạo tác tự tử, lạm dụng chất, dấn thân vào các băng nhóm, bỏ học phổ thông nửa chừng, và các tâm bệnh người trưởng thành.

Do đó,  càng khẩn thiết giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của sức khỏe tâm trí. Hàng trăm công trình nghiên cứu khẳng định, tâm lý trị liệu là phương thức hiệu quả trong trợ giúp con người tiến hành các thay đổi tích cực trong đời sống mà không cần nhờ tới thuốc men. Điều này làm nổi bật hơn về nỗi nhục, vết nhơ  và định kiến xoay quanh việc tìm kiếm điều trị.

… Dưới đây là vài ba câu hỏi có thể tự đặt ra đặng xem xem các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm trí liệu có thích hợp với bản thân hoặc con em mình:

  • Mình hoặc con em có trải nghiệm trục trặc, lo âu gây rắc rối, đổ vỡ trong đời sống thường nhật?
  • Mình hoặc con cái có cảm thấy buồn bã hơn so với mọi khi?
  • Mình đang cảm thấy đời sống đang nhấn chìm, áp đảo mình?
  • Mình có gặp vấn đề cho việc chuyên tâm vào việc học hoặc công việc?
  • Cảm xúc xảy đến có khiến mình muốn tự làm bản thân đau đớn hay gây tổn thương cho người khác?
  • Mình hay thường xuyên trải qua những nỗi lo lắng, sợ hãi?

Nếu ý trả lời là “Vâng” với bất kỳ câu hỏi nào thì tâm lý trị liệu cơ chừng trợ giúp được đấy. Xin đừng e ngại khi tiếp cận hoặc trao đổi với giới chuyên môn. Và mong nhớ cho rằng, “sức khỏe của mình khởi đầu bởi sự lành mạnh tâm trí”.

Cũng nên biết rằng, nhiều thực nghiệm khẳng định (minh họa xuất sắc) khi tiếp xúc với một “bệnh nhân” hoặc một “bệnh nhân tiềm năng”, một số người hành nghề chăm sóc sức khỏe tâm trí cơ chừng chẳng dễ chẩn đoán đúng các rối loạn và nghiêng theo hướng biểu đạt âm thầm quan điểm riêng vốn phù hợp với trình độ đào tạo và sách vở tham khảo.

Lời cuối. Ưng ý nhất, bản thân tôi thích dùng thuật ngữ “rối loạn tâm thần” thay thế cho cụm từ “bệnh tâm thần” nghe hơi ghê ghê quá.

J. Soi (12): Tinh tế và ghê tởm

Thật bất ngờ khi theo đường dẫn lọt vào blog mình để rồi khiến tôi đọc thấy mấy dòng tự họa chân dung ấy.

Nhại lối nói thịnh hành “thực ra…” thì hình như chẳng thể hoàn toàn là tình cờ được.

Vì nếu liên tưởng thẩm mỹ tinh tế với cảm giác ghê tởm, tức là nó đã ẩn nấp trong mình lâu lắm và giờ mới có cơ lộ ra thôi.

Xã hội hiện đại có thể quản lý sự ghen ăn tức ở, ganh tỵ và thèm muốn thông qua con đường nghệ thuật. Chúng ta đôi khi cười ngay cả lúc đau khổ, bởi vì việc cười giúp mình thoải mái và bảo vệ ta thoát khỏi sự khó chịu chứ không buộc phải thể hiện ra như thế để ngụy trang, che giấu cảm xúc thực trước bàn dân thiên hạ.

Vậy nên, cùng theo phương cách tương tự nỗi ghê tởm căn bản thủ giữ ranh giới thuộc khía cạnh thể xác, sự ghê tởm liên nhân cách có thể đóng vai trò phục vụ cho các ranh giới văn hóa, nhờ quay mặt, ngoảnh đi khỏi những kẻ không thuộc nhóm của mình, và nêu bật chúng ta là người như thế nào…

Những nét xúc cảm khác thường vốn hay kèm theo điều thuận lợi. Gắn kết quá với sự lo lắng dễ phát hiện ra mối nguy hơn, tỷ dụ như mùi khói trong một căn phòng; kẻ hướng ngoại phát ngôn theo lối khiến họ được tri nhận là đáng tin cậy,… Và ngạc nhiên chưa, đối tượng làm bộ kiểu cách, tởm lợm quá mức lại biểu lộ một năng lực siêu phàm trong việc phát hiện ra những vật bẩn thỉu.

Thay vì sống với phần tốt nhất của những gì khả thể thuộc về loài người, một số chẳng thèm quan tâm vun bồi và phản hồi luân lý đạo đức của anh ta, lờ đi sự ứng xử sao thật công bằng và vô cảm với đồng loại, và dĩ nhiên, không hề nuôi dưỡng cảm nhận tinh tế nhờ các loại hình văn chương, nghệ thuật.

Món quà quý giá đã bị bỏ phí khi mê mải chúi vào sở thích thẩm mỹ của bản thân: sống từng khoảnh khắc hiện tại thì không có khái niệm, phấn khích và lo hãi.

Một tinh thần khao khát hậu hiện đại

Người ấy vừa mới nhắn tin chưa lâu  đâu, “sao Like, sao Like, sao Like?”. Giời ơi, soi gì mà soi lắm thế hả kẻ dám vả vào đời.

Thử coi, với cái status toàn chỉ có mỗi dấu hỏi lặp đi lặp lại nhõn ba lần thôi thì tay bỉnh bút chuyên mút hút phá đám hay ủng hộ vô tư không cần suy nghĩ, kiêm phóng viên đặc thù nhấn nút cóc thèm đọc hiểu như em đây dù nhanh cỡ mấy chắc cũng phải đợi đến sáng mai… (thở dài rất style gì đó còn chưa nắm rõ.)

Trích Đoản khúc dan díu chi tình, facebook, chương Tái nhập (Reintroduce).

Sống một đời vâng phục: sự bất lực chỉ là do thiếu hụt?

Giờ mới tranh thủ dùng dăm mười phút để bàn chút chút thôi về hai bộ phim Đức xem tuần rồi.

Nói chung, chẳng quá sai khi cho rằng cả hai tác phẩm điện ảnh dễ thương này quy về chủ đề trở ngại trong sức khỏe tâm trí ngăn cản người ta sống tràn đầy, khỏe mạnh.

Dù đó là cô bé Hayat gặp trục trặc trong mối quan hệ gắn bó thời thơ ấu, hay đấy là nỗi sợ phụ thuộc của cậu con trai lớn xác Vincent mắc chứng Tourette thì rốt ráo, sự bất lực không thuần túy tất yếu dẫn đến đớn đau, khốn khổ chỉ vì do thiếu hụt, khuyết tật.

Còn có một nguyên nhân cần bàn thêm, góp phần lý giải những khó khăn cảm xúc và ngay chính đời sống tình cảm mà các bậc làm cha, làm mẹ trong phim cũng buộc phải đương đầu hết sức căng thẳng: năng lực thích ứng với môi trường.

Cô bé Hayat thể hiện khía cạnh các quan hệ đối vật (object relations) khi giữ rịt tay nắm cửa hoặc lựa chọn chỗ ngủ ở góc phòng với chăn buông kín mít; chàng Vincent với hành động bỏ trốn khỏi trại điều trị cùng hai người bạn như muốn minh chứng cho các căn bệnh dính dáng hệ thống tự do ý chí.

Cố gắng kiểm soát (những) điều không kiểm soát nổi, rõ ràng, đẩy các nhân vật lớn bé, già trẻ, nam nữ trong hai bộ phim nêu trên vào vòng quay bất tận của các cảm xúc tiêu cực, âm tính và vừa gây hại ghê gớm cho chính bản thân mình lẫn trong tương tác liên nhân cách.

Không quá ngạc nhiên, lần nữa, xem phim để hiểu biết hơn về tầm quan trọng của sự lựa chọn, nhu cầu thân mật, hành động tử tế và thái độ cải thiện mối quan hệ tương thuộc lẫn nhau luôn là các điều kiện thiết yếu để kiến tạo trạng thái thân- tâm an lạc hết sức vững bền theo suốt dọc dài cuộc đời mỗi người.