Trong sự xoắn bện mơ hồ của nỗi sợ hãi và bối rối…

Vụ việc hàng trăm học sinh bị rút máu không khó để quy trách nhiệm đầu tàu cho đại học Vinh cũng như dễ dàng nhìn ra rằng nó gắn chặt hết sức sâu xa với vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.

Điều khiến tôi quan tâm khi tình cờ đọc thấy thông tin trên là cảm nhận nguy cơ ác cảm (loss aversion)– thích lảng tránh những sự mất mát, thiệt thòi để hướng tới của kiếm được, lợi lạc– một khuynh hướng hết sức quyền uy.

Sự kiện này tiếp tục phản ánh tri nhận của giới bác sĩ y khoa về đối tượng bệnh nhân (tiềm năng).

Có nhiều thứ đối với nền y khoa tốt lành hơn là một kỹ thuật viên giỏi giang.

Biết thật rõ ràng cách thức thông tin được trình bày trong các quyết định ngầm sẵn định kiến có thể bổ ích cho cả bác sĩ lẫn bệnh nhân ngõ hầu kiến tạo nên nhiều quyết định hữu lý hơn hẳn.

Tôi cũng khá băn khoăn rằng liệu hiện diện bất kỳ lý do nào khiến người ta không có nguồn năng lượng để lo lắng cho tha nhân? Sở hữu lòng từ bi (compassion) và thấu cảm (empathy) vì con người, chúng sinh đâu đồng nghĩa mình sử dụng nó. Lòng từ bi cũng tựa như tình yêu vậy: càng cho đi nhiều thì mình càng có thêm nhiều để cho đi.

Tâm lý học vốn hay sử dụng rộng rãi với độ tin cậy cao trắc nghiệm Big Five để đánh giá các nét nhân cách căn bản. Nét nhân cách lớn nhất của Big Five là sự tận tâm (conscientiousness). Nghiên cứu chắc chắn và nhất quán cho thấy nét tính cách này là đòi hỏi tối thiểu cho sự thành công trong công việc. Theo đó, người đạt điểm số cao ở nét nhân cách này được tri nhận là đối tượng mang tính kỷ luật bản thân (self-discipline), hành động đầy tinh thần trách nhiệm, mục tiêu hướng tới thành tựu, có óc tổ chức và  đáng tin cậy.

Chúng ta không mong đợi các bác sĩ y khoa cũng là nhà tâm lý học. Song chúng ta có thể kỳ vọng việc tiếp tục giáo dục y tế có thể cung cấp các kỹ năng truyền thông và những sự thấu hiểu tâm lý cần thiết đặng trợ giúp các bác sĩ ngành y trở thành kiểu dạng người mà họ muốn được là…

Quan hệ chàng – nàng và câu chuyện trên mạng xã hội

Công nghệ dính dáng bao nhiêu với đời sống cá nhân khi người ta gặp gỡ mặt đối mặt (offline), đó là câu hỏi chắc chắn thu hút nhiều nhà nghiên cứu khi các trang mạng xã hội ngày càng trở nên thân thuộc.

Chẳng hạn, từng có nghiên cứu phát hiện ra rằng cơ hội được nhìn thấy và chỉnh sửa lại thông tin cá nhân trên mạng xã hội (social media) làm tăng lên sự tự tôn (self-esteem) của người dùng, và truyền thông cùng với bạn bè trực tuyến (online) góp phần cải thiện sự gần gũi, thân mật cho quan hệ gặp mặt trực tiếp, ngoài máy tính. Tuy vậy, sử dụng mạng xã hội có thể bao hàm cả điều tốt lẫn điều xấu cho một mối quan hệ chàng – nàng lãng mạn.

Tác giả Papp và các cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu 58 cặp đôi hẹn hò và tìm hiểu việc sử dụng mạng xã hội cũng như cách thức họ thể hiện, trình bày hồ sơ cá nhân trên internet.

Giới nữ và giới nam tham gia thực nghiệm đều báo cáo các mẫu hình tương tự trong việc sử dụng mạng xã hội, từ chuyện quan tâm đến cho tới tần suất, cường độ truy cập, sự kết nối với những người khác ở các trang mạng khác nhau, và việc trình bày về quan hệ yêu đương của họ (tỷ dụ, thổ lộ tình trạng hôn nhân như “đang bắt cặp” [in a relationship] hoặc cô độc [single], và kèm theo cả hình ảnh đối tác của họ nữa).

Cách thức các cặp đôi miêu tả mối quan hệ lãng mạn của họ trên hồ sơ chứng tỏ tầm ảnh hưởng quan trọng của chức năng quan hệ. Thú vị nhất, cánh đàn ông thổ lộ mình đang bắt cặp, đã có nơi chốn rồi thường nói họ hạnh phúc hơn và người phối ngẫu, bạn tình cũng hạnh phúc hơn– so với những ai không khai báo gì.

Dẫu vậy, sự cởi mở, tỏ bày từ phía chị em rằng mình đang có người thương lại không liên quan với sự thỏa mãn trong quan hệ. Thứ đến, phụ nữ kèm cả các hình ảnh về bạn tình đã phát biểu họ hài lòng về mối quan hệ và có người tình hạnh phúc hơn– so với những ai không giới thiệu; trong khi đó, sự trình bày thêm hình đối tác ở các chàng lại không ăn khít với sự thỏa mãn trong quan hệ.

Khác biệt về giới như thế khẳng định, cả nam lẫn nữ đặt để không hề giống nhau về tầm quan trọng trong việc phô diễn công khai chân dung quan hệ của họ. Các lý lẽ, cãi cọ trong chuyện phô diễn hồ sơ cho thấy tình trạng có vấn đề ảnh hưởng tới hạnh phúc trong quan hệ nói chung, và nó dính dáng các chủ đề rộng hơn như ghen tuông, cam kết và quyền lực.

Cũng cần biết rằng, thời gian truy cập quá mức trên các trang mạng xã hội cho thấy một dấu chỉ của sự ghen tuông bên trong mối quan hệ. Những trang mạng như thế thường cung cấp thông tin về đối tác hết sức mơ hồ hoặc không thì chẳng tương thích, kéo theo việc làm tăng thêm sự không tin tưởng và hệ lụy là khiến người trong cuộc giám sát cao độ trang hồ sơ của đối tác đang quan hệ với mình.

Chẳng hạn, nhiều đối tác nói rằng họ trở nên ghen tuông sau khi bạn trai hoặc bạn gái thêm (add) vào danh sách một người bạn không quen biết khác giới.

Lưu tâm đến thông tin này, các cặp có thể hưởng lợi từ việc trao đổi cởi mở với nhau về việc sử dụng các mạng xã hội nhằm phục vụ cho mục tiêu định hình quan hệ và ngăn ngừa các lĩnh vực có thể gây xung đột, đồng thời làm cho nhau hạnh phúc hơn trong quan hệ đang thiết lập.

Nhân tiện, nếu bạn đọc có bất kỳ trải nghiệm vui buồn đáng nhớ liên quan đến việc sử dụng mạng tác động tới quan hệ của mình thì làm ơn thoải mái gõ xuống chia sẻ nhé!