Sự hiện diện của cái vắng mặt

Hôm kia, Đà Nẵng vừa khánh thành hai cây cầu với ước muốn xác lập kỷ lục “những cái nhất Việt Nam và thế giới”.

Ngay trong đêm đó, lại có tin để đưa thật xôm trò trước chuyện người dân chen chật chỗ, làm tắc đường khi ngóng trông “rồng phun lửa”. Những thị phi, ì xèo bàn qua nói lại về chiếc cầu Rồng xứ Đà thành này (tạm gọi là “Hàn Rồng”) đã xảy đến vô cùng rôm rả từ mấy hôm trước trên mạng lưới điểm toàn cầu khi bản phác thảo thiết kế được đặt so sánh với sản phẩm đích thực.

Một vị quan chức trọng yếu của địa phương cũng vừa có bài ký sự thể hiện tinh thần đồng thuận với đường lối phát triển, ý chí, tư duy và quyết tâm hành động của đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố.

Như thế, chúng ta nói với nhau cùng một chủ đề: biểu tượng. Thiển nghĩ, nghĩa là mình cần ít nhiều thấu tỏ về quyền năng của thế giới biểu tượng; mối quan hệ giữa nghệ thuật và sự tiến bộ; về ngôn ngữ nội tại của tiềm thức; rằng thì là, dường như rốt ráo ra, chúng ta đều bị tổn thương; và rằng, việc tập trung kiếm tìm những ứng dụng giấu kín có thể đem lại một số kết quả bất ngờ.

Bất luận ủng hộ hay phản đối, chỉ trích hoặc giảm nhẹ, cố tình lờ đi hay gắng sức soi mói, tập trung vào công năng hay góp ý từ khía cạnh thẩm mỹ, v.v… tất thảy mọi ý kiến đều chứng tỏ giá trị căn bản của việc đặt bày câu hỏi: tại sao chúng ta quá sức bảo vệ (các) biểu tượng?

Là con người, chúng ta bộc lộ sự độc sáng bằng cách minh định bản thân là những tạo vật mang tính biểu tượng duy nhất. Tầm quan trọng của thế giới biểu tượng khởi đi từ sự thông minh đủ khiến chúng ta biết những sự hạn chế của trạng thái thể lý.

Với sự cấu trúc của thế giới biểu tượng, chúng ta có thể làm dịu bớt nỗi đau hiểu biết về những hạn chế thể lý của bản thân, rằng chúng ta chỉ là những đồ con sâu, cái kiến và làm thức ăn cho các đồ con sâu, cái kiến khác mà thôi. Do đó, chúng ta kiến tạo một thế giới văn hóa của ý nghĩa mà trong đó con người không chỉ là loài động vật mà còn là các căn tính mang tính biểu tượng nữa; chúng ta thuộc thành phần của một cái gì rộng lớn hơn và lâu bền hơn so với sự tồn tại thể lý.

Nói khác, trong thế giới biểu tượng, chúng ta có thể bất tử. Mỗi một chúng ta sẽ chết, thậm chí ngay ngày mai, song các tôn giáo của chúng ta sẽ sống mãi. Quốc gia, dân tộc chúng ta sẽ sống mãi. Thậm chí, các môn thể thao ưa thích, hay đội bóng chúng ta hâm mộ sẽ sống mãi. Nếu may mắn, tên tuổi chúng ta sẽ sống mãi với sự tôn vinh của xã hội. Ngắn gọn, chúng ta đầu tư hết sức mạnh mẽ vào các thiết chế và định dạng mang tính văn hóa biểu tượng bởi vì chúng giúp ta cách ly khỏi nỗi sợ nguyên thủy về cái chết đã được báo trước.

Vì thế nên, khi mọi người được nhắc nhở về sức khỏe suy sụp và các hữu hạn của thể lý, họ đeo bám vào thế giới biểu tượng (ví dụ, trở nên tôn giáo và yêu nước hơn, dấn thân vào các hoạt động đặng cảm thấy có ý nghĩa về mặt xã hội).

Các biểu tượng văn hóa cung cấp sự an toàn tâm lý. Và khi cảm thấy bất an, chúng ta trở nên nhạy cảm về những biểu tượng này. Do đó, không có gì quá ngạc nhiên khi một số người đe dọa những biểu tượng này thì ai coi chúng đáng giá sẽ buộc phải tấn công lại ngay.

Chúng ta, trong nhiều cách thức, đang tiếp tục chống kháng với chính chúng ta. Và tôi đồ rằng có một căn bệnh mãn tính quốc gia mang tính chủ đạo với danh sách của những nỗi đớn đau khôn nguôi: hiểu nhầm, ghét bỏ, sai sót trong chăm sóc sức khỏe tâm trí, sợ hãi, khinh miệt, các vụ tai tiếng chính trị nhơ bẩn, nói dối, ác cảm, phân biệt đối xử, ngu dốt, tham lam, định kiến, bất công, mê tín mang tính ý thức hệ, những bất đồng gây bạo động, không có khả năng lắng nghe phía đối lập– và đây chỉ là một sự phân tán nhanh chóng của những thứ khiến chúng ta phiền não– danh sách thì bất tận.

Cần biết rằng, tiềm thức được nhìn nhận như là nguồn của sức sáng tạo, trực giác, cảm hứng, hiểu biết nội tâm, các liên kết nối và tính bừng ngộ tâm linh. Bên trong lãnh địa này, thực tiễn chuyển đổi và mở rộng, tạo tác nên một ma trận có khả năng đàn hồi rất xa và đa chiều kích hơn là khi mình tri nhận bởi tâm trí ý thức.

Truy cập và dành thời gian cho tiềm thức sẽ giúp chúng ta phóng thích khỏi sự giam hãm, hạn chế của tâm trí logic, thực tế. Các thông điệp nhận được từ những giấc mơ và các biểu tượng nguyên thủy, hoặc các nguyên mẫu mà chúng ta được truyền thừa từ tổ tiên đủ nhắc nhở chúng ta về những gì là độc sáng, đích thực và thiêng liêng đối với mỗi một chúng ta. Khi chú tâm tới những thông điệp ấy, bản thân chúng ta hướng theo con đường tiến hóa của tâm hồn mình.

… Tôi nhận thấy mình như bị đánh đố khi thân chủ đề nghị cho họ biết điều gì đó có nghĩa lý gì.

Freud không phải là người đầu tiên giới thiệu ý tưởng về vô thức hoặc ý nghĩa của những biểu tượng không được nhận diện, song ông khiến khái niệm đó trở nên được chú ý phổ thông, và ông làm chúng ta nhận ra rằng nhiều khía cạnh khác biệt nhau của trải nghiệm có các ý nghĩa phức tạp, thường không được nhận diện.

Việc tìm kiếm ý nghĩa có thể đẩy đi xa mọi thứ. Đôi khi, vấn đề của ý nghĩa được nhìn nhận như cách thức phát hiện sang chấn trong quá khứ của người ta. Cơ chừng sẽ không hữu ích bao nhiêu khi giả định rằng có một trải nghiệm bị bỏ rơi hoặc lạm dụng từ thời thơ ấu nằm ẩn kín bên dưới những khó khăn hiện tại của một người trưởng thành. Những gì quan trọng hơn là hiểu biết một vấn đề trong bối cảnh hiện tại, và tuần tự đặt cạnh nhau các trải nghiệm, cả trong hiện tại lẫn dĩ vãng, rằng có thể được quy vào trong những mối quan tâm đương đại.

Chúng ta thực sự hay nghĩ về ý nghĩa, dù chúng ta không luôn nhận ra mình đang làm điều đấy. Đây là ví dụ đơn giản: khi đói khát một cái gì ngọt ngào, chúng ta hoặc khởi sự nỗ lực nhận ra những gì mình có thể ăn nhằm thỏa mãn nỗi khát khao, hoặc chúng ta làm việc chăm chỉ đặng lờ đi hoặc làm chệch hướng chú ý của bản thân sang chỗ khác (khi chúng ta đang ăn kiêng, chẳng hạn).

Cả hai đáp ứng này bao gồm sự diễn dịch hàm ẩn của ý nghĩa: hoặc chúng ta nghĩ cơ thể mình đang truyền thông điều gì đó thú vị, một nhu cầu muốn được thỏa mãn, hoặc chúng ta nghĩ nó đang đáp ứng với những vặt vãnh, không cơ bản không thực sự thuộc về nhu cầu thể lý.

Đó có thể là dấu hiệu cơ thể mình không xử lý thức ăn một cách đúng đắn hoặc nó đang tạo ra quá nhiều hoặc quá ít insulin. Nó cũng có thể là một phản ứng sinh lý hoặc tâm lý đối với một loạt yếu tố, bao gồm trạng thái mệt mỏi, thiếu ngủ, đói, trầm uất, cô đơn, buồn bã hoặc lo lắng. Thú vị thay, nỗi khát khao một thứ gì đó ngọt ngào cũng có thể là biểu hiện tâm trí mình đọc sai các triệu chứng thể lý của sự đói khát. Và trái ngược với các rối loạn ăn uống, thì người nghiện rượu đang trong giai đoạn hồi phục thường được dạy rằng một sự khao khát rượu bia có thể được làm dịu đi nhờ uống một thức ngọt.

Tất cả những trải nghiệm khác biệt này có thể được nhìn nhận như những “ý nghĩa” ẩn bên dưới hoặc những sự diễn dịch của một ham muốn thể lý hết sức thẳng thắn. Hiểu biết ý nghĩa sẽ ảnh hưởng tới hành động một cá nhân tiến hành nhằm giải quyết cơn đói khát của bản thân.

Rõ ràng, tìm kiếm ý nghĩa mà không cảm thấy buồn cười về điều đó có thể giúp đỡ chúng ta trong nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống.

Bi kịch hoặc phiền phức đều tự khởi lên từ mình

Nếu có cái nhìn sát sườn vào sự căng thẳng tinh thần (stress), mình sẽ phát hiện ra việc không hề chú ý đến và chẳng chịu soát xét chút chi chính là thủ phạm, và do vậy, tỉnh thức (mindfulness) chính là giải pháp.

Mấy chục năm nay, thiên hạ nghiên cứu tỉnh thức đa phần đều không thiền định (meditation). Bất luận tỉnh thức đạt được thế nào, cái kết cục rốt ráo đều căn bản giống như nhau.

Với viễn tượng phương Đông, tỉnh thức sinh thành trái quả là từ thiền định, một thực hành quan trọng. Tỉnh thức như người ta nghiên cứu nó, tuy thế, chỉ đạt được mà không cần thiền định.

Tỉnh thức theo đó, là tiến trình đơn giản của sự chú tâm tới những điều mới mẻ. Khi chúng ta chú tâm tới những điều mới mẻ về con người hoặc ý tưởng mà chúng ta nghĩ mình biết, chúng ta dần nhận ra rằng chúng ta không thực sự biết chúng như mình tưởng vậy, và chúng trở nên thú vị lần nữa trong hiện tại.

Mọi thứ luôn luôn thay đổi và trông khác biệt từ những viễn tượng không giống nhau. Khi sự bất định là nguyên lý, khi chúng ta nghĩ mình biết, sự thiếu để tâm là gánh nặng buộc phải trả giá. Hành động thuần túy chú tâm đang dấn tới và làm tỏ lộ rằng các sự kiện không phải là nguyên nhân gây nên stress.

Chính quan điểm thiếu chú tâm, hờ hững về sự kiện mới dẫn tới stress. Trạng thái căng thẳng tinh thần này bao gồm hai suy tư: đầu tiên, một sự kiện sẽ xảy đến, và thứ hai, khi nó diễn ra thì thật đáng kinh sợ.

Nếu chúng ta xem xét các lý do nó cơ chừng không xuất hiện và nó cũng có thể ẩn chứa cả lợi lạc đi kèm nữa thì stress sẽ bị thu nhỏ, giảm đi. Có rất nhiều lợi lạc với đa phần mọi thứ mà lúc đầu chúng ta nghĩ là tiêu cực.

Thực nghiệm chứng tỏ, nếu nhận thức như vậy, người ta sẽ ít bị stress, hạn chế dùng thuốc giảm đau và rời bệnh viện sớm hơn những ai trong nhóm đối chứng không được dạy tỉnh thức.

Việc dạy kiểu dạng tỉnh thức tương tự làm tăng hạnh phúc, tính hiệu quả trong các quan hệ cá nhân, liên nhân cách và nghề nghiệp, người ta bớt hẳn thói quen đánh giá, trí nhớ và chú ý được cải thiện, sự kiệt sức hiếm xảy ra, và nâng cao tuổi thọ.

Mỗi một những điều vừa nêu dính dáng với stress. Khi bị stress, từng hệ thống trong cơ thể ta dần thỏa hiệp, và chúng ta dễ bị tổn thương và đau ốm hơn. Khi cảm thấy công việc ở sở làm hoặc vụ việc tiến hành ở nhà kém hiệu quả, chúng ta càng dễ bị stress. Khi bị stress, chúng ta thường cảm thấy thật khó khăn vô cùng để tập trung chú ý và ghi nhớ rõ ràng mọi thứ. Khi cảm thấy kiệt sức, công việc chẳng triển khai tốt đẹp được và chúng ta stress, và cứ thế…

Tỉnh thức khiến đổi chiều những điều vừa nêu. (Dĩ nhiên, tỉnh thức còn giúp chúng ta trở nên hấp dẫn và tạo nên uy tín, và do đó là nhà quản lý và lãnh đạo hiệu quả hơn, song đó là chủ đề cần được chia sẻ vào lúc khác).

Có rất nhiều sự kiện chính yếu dễ tạo nên stress, như mất một người mà mình yêu thương, bị hiếp dâm hoặc sống trong vùng đất xảy ra chiến sự, thiên tai khủng khiếp. Song với hầu hết mọi người, stress hình thành từ những điều rắc rối trong đời sống hàng ngày. Không hề có bất kỳ sự phát tán lớn lao nào thuộc bản thân sự vụ để tự nó mang tính stress. Nhờ vượt thắng những rắc rối, phiền muộn đời thường mỗi ngày mà chúng ta có thể kiểm soát hết thảy.

Lần nữa, sự kiện không tạo nên stress. Một cái nhìn tiêu cực về sự kiện gây ra stress. Mở rộng tâm trí mình hướng tới một quan điểm thay thế khác trước, chúng ta có thể phát hiện thấy rằng nhiều nhiều những “bi kịch” kiểu vậy chỉ là những phiền phức, khó chịu mà thôi.

Bi kịch hoặc phiền phức đều tự khởi lên từ mình nên cần nhận diện và quản lý tâm trí để chúng tự tiêu diệt ngay trong lòng mình.

Chẳng sợ hãi cũng chẳng đeo bám theo sự thất bại

Có một câu nói khá hữu ích dành cho người thực hành: “Đặt xuống ngay, đừng mải duy trì vô vàn các ý nghĩ. Hãy áp dụng đi”.

Hàng đống ý tưởng là những sự làm phân tán, tạo nên sự quan tâm ngẫu hứng và chẳng liên quan đến vấn đề đang bàn tới.

Việc thực hành thuộc phương pháp vun bồi.

Khi tâm trí mình lang thang sang với đủ thứ bận tâm lung tung thì hãy đặt chúng xuống lập tức lúc nhận ra chúng vừa xuất hiện.

Song liệu mình nên đối xử phương pháp tương tự cách như một suy tư đang lang thang– đặt nó xuống khi thấy sự xuất hiện của nó? Không. Từ khoảnh khắc này tới khoảnh khắc khác, hãy đặt xuống các suy tư không dính dáng rồi quay trở lại tâm trí mình với phương pháp thực hành.

Khi một học viên được hỏi “Cậu có bao nhiêu ý nghĩ ngoại lai?”, chàng ta trả lời rằng, “Không quá nhiều đâu ạ.” Vị thầy nói, “Tôi cá là mình biết rõ một điều nằm trong số đó. Cậu không ngừng nghĩ về bạn gái suốt ngày, đúng không?”  Người học trò cãi liền, “Dựa vào đâu mà thầy lại nói thế?”. Sau đợt tu tập, cậu ta đáp, “Kỳ thực, lúc đầu con không hề nghĩ tới bạn gái. Song khi thầy nhắc tới, con đã chẳng ngừng được việc nghĩ tới cô ấy.” Nghe vậy, vị thầy bảo rằng cậu ta không thấy thấu suốt vấn đề của chính mình. Cậu ta có thể cho rằng tâm trí mình không vương vấn gì về cô bạn gái, song cậu ta vẫn còn bận tâm.

Khả năng là mình cố gắng đặt xuống các mối bận tâm xa lạ, ngoại lai song lại chẳng thể làm được. Mỗi lần mình đặt xuống, nó lại quay trở về. Điều ấy khiến mình ức chế, bực bội. Mình tự bảo mình rằng, “Đặt nó xuống. Đặt nó xuống.” Đúng hơn, chẳng đáng bận tâm lắm nếu mình không đặt nó xuống được.

Nếu cuối cùng mình đạt đến việc thuyết phục cho chính bản thân rằng “Chẳng sao cả nếu mình không thể đặt nó xuống” thì rồi mình sẽ đặt nó xuống được.

Mình không nên sợ hãi sự thất bại. Cũng không nhất thiết phải ôm choàng nó. Mình có thể rút ra nhận xét rằng việc tu tập thì đang không tốt đẹp lắm– thân xác mình khó chịu, tâm trí mình xáo động. Mình không đủ khả năng kiểm soát bản thân. Mình đã không có những sự chuẩn bị thích hợp…

Vậy tại sao mình không quên điều ấy đi và để ngày mai rồi tính? Có thể mình sẽ thử lại vào lần tới. Gì gì, đừng thua cuộc với thái độ đầu hàng này. “Một trăm con chim trên cây không đáng giá bằng một con chim trong lòng bàn tay.” Nếu bỏ mặc con chim ấy để chăm nom, chú tâm tới một trăm con chim thì rốt cục, mình chẳng có con chim nào cả.

Ngay cả khi mình cảm thấy thiếu sự chuẩn bị chu đáo và phải hứng chịu thất bại, hiện diện ngay ở đây vẫn còn ban tặng cho mình một cơ hội quý giá để thực hành.

Ác cảm với sự thất bại, người ta sẽ không cố gắng; đeo bám theo sự thất bại, người ta cũng sẽ không thử lại.

Thêm một chút thông tin về giới và tính dục

Đời nghiệt ngã khi ta nghiệt ngã với đời.

Khi nhìn thấy cô bạn đồng nghiệp tân trang hình thể, vóc dáng khác hẳn trước nay, trông xinh đẹp và hấp dẫn hơn mọi lần quen biết thì tôi bắt đầu nhận ra rõ ràng thêm những thứ vốn lờ mờ bấy lâu.

Đúng là các cô nếu hiểu biết thì đâu nhất thiết phải ghen tị chi cho muộn phiền rồi làm xấu da, và phải dở hơi lắm lắm, để cứ lao tâm khổ tứ suốt ngày do nghĩ bản thân không tươi xinh như ai đó. Công nghệ thẩm mỹ ngày nay giúp cho nỗi khát khao kinh khủng í hóa dễ dàng thành hiện thực phút chốc. Độ quyến rũ ngoại tại vì thế, nằm sẵn trong tay mỗi người (kèm một ít tiền trả phí nữa).

Tôi nghĩ đến câu chuyện giới và tính dục, đặc biệt về cách các chị các em, các cô các bà cứ hay thích mặc định mình nữ tính đến mức nào và đi kèm liền với danh xưng thật nhạy cảm như “cá rô” hay “phồn thực”,…

Dĩ nhiên, theo thông lệ, có thể hiểu tính dục (sex) thuộc sinh học trong khi giới (gender) thuộc về xã hội; tức, di truyền (genetics) quyết định tính dục của chúng ta còn phương thức tính nam (masculine) hay nữ (feminine) của mình lại được được quyết định bởi những thực hành văn hóa riêng biệt.

Thực tế, vấn đề trở nên ít nhiều phức tạp hơn điều vừa nêu. Người ta từng biết từ rất lâu (dù thường bị lãng quên) rằng các chỉ dấu tính dục đặc trưng giống như hình dạng cơ thể (body shape) và bộ phận sinh dục (genitalia) đích thực cực kỳ đa dạng liên quan trạng thái mơ hồ ở một số người.

Tương tự, trong khi di truyền học giữ vai trò phân xử tuyệt đối về tính dục với XX hàm chỉ người nữ và XY trỏ người nam thì XYY, XXYXXX vẫn đang tiếp tục gây ngạc nhiên ghê gớm với số đông thiên hạ.

Nói cách khác, có bằng chứng một số hành vi liên quan đến giới tính có thể dính líu nền tảng sinh học của sự phát triển mà không thuần túy thuộc về duy các yếu tố văn hóa.

Song, ngay cả các với những thứ biết trước như vậy, những gì giới tính mà chúng ta “cảm nhận’ cũng trỏ tới tính chủ quan mang một biến thể phủ khá rộng với một số người đang nói rằng họ có một giới tính thuộc tính dục khác, hoặc rằng giới tính của họ hay thay đổi, hoặc rằng rốt ráo họ chẳng có giới tính nào.

Dù ngẫu hứng, tình cờ thì thêm một lần nữa, dấn thân khám phá một cách chi tiết sẽ giúp chúng ta có cơ hội chăm chú, cảm thông khi nhìn vào cách chúng ta có thể hiểu biết các ‘rối loạn’ thuộc giới tính trong ngữ cảnh đang bàn, những gì nghĩa là mình chuyển đổi giới tính (transgender), rồi có thể nên chăng đặt câu hỏi nghiêm túc rằng đúng là cần tháo khoán, tung hê toàn bộ cái khái niệm về một thứ giới tính hoàn toàn thế này hoặc thế khác?

Lời cuối. Dành cho ai muốn tìm hiểu cách cắm bó hoa hồng cho thật đẹp.

Không hoàn toàn

Và rồi có những ngày khi mọi sự được tiến hành, nó đã không xảy ra đúng như thế.

Bạn băng qua các ngày, đợi chờ và hy vọng nó sẽ diễn ra đích thực giống vậy.

Sắp đến đận thời điểm tắt đèn nhân Ngày Trái Đất, nhảy xe bus lên Bác Cổ, đứng ngơ ngơ nhìn cái Bảo tàng Lịch sử in hình trong đêm, rồi nhảy đại xe bus số 48 Trần Khánh Dư – Vạn Phúc.

Chuyến xe cuối cùng. Nhớ đã từng đi qua cái đoạn này, song vào ban ngày không có cái thú của bóng đèn vàng ệch, gió từ sông thổi qua đê Hữu Hồng, trước đó băng ngang trước mặt bến xe Lương Yên, leo lên cầu Vĩnh Tuy, rung lắc trên đoạn Yên Sở có nhà máy xử lý nước thải, đi sang tận Ngũ Hiệp- Đông Mỹ… Là vị khách duy nhất sót lại nên tài xế và phụ xe thương tình cho ngồi nhờ vòng ra đường quốc lộ, trên đường họ về bến đỗ tận Xuân Thủy (Cầu Giấy); xuống bắt xe 06 từ Cầu Giẽ xuống, đến Giáp Bát thì chuyển sang 32 lên lại khu vực Bệnh viện St. Paul rồi đi bộ về Văn Miếu…

Tất cả chúng ta ở đó. Những ngày lê thê ngay trước kỳ nghỉ mong mỏi, nỗi lo lắng, cử chỉ bất cẩn trước nụ hôn đầu tiên, niềm phấn khích cho sự ra đời cuốn tiểu thuyết bấy lâu ấp ủ hoặc nôn nao đợi cú điện thoại ấy.

Cái mùi vị không hoàn toàn thật mỏng mảnh, bạn hầu như có thể nếm trải vị lại song nó chẳng vương thật rõ ràng trên lưỡi. Nguồn năng lượng và tinh thần cao độ như khi một mình dạo bộ dọc bờ biển quê người vào đêm hè quạnh vắng.

Đương đầu mỗi ngày sẵn sàng cho chuyến ra đi của chính mình, háo hức với những thách thức đặt để phía trước. Biết ra sao ngày sau và mình chỉ gắng sức làm tốt nhất những gì có thể.

Không có nghịch cảnh và sự xui rủi giăng giăng, chắc chắn chúng ta sẽ không biết tới thành tựu của đôi chân thong dong bước về nơi chốn quen thuộc đầy sung sướng, hỉ hả đâu nhỉ.

Tiếp tục duy trì mối quan hệ không lành mạnh: tại sao lại thế?

Khi nghe thắc mắc rằng tại sao một số người nhận ra mình thật khó khăn để rời xa một mối quan hệ không lành mạnh, rằng tại sao thiên hạ lại làm thế thì cá nhân tôi cũng cảm thấy chẳng dễ dàng gì để có ngay câu trả lời thỏa mãn sâu xa đối tượng đặt vấn đề.

Nói ngay, quả là có vô số lý do khả thể khiến ai đó gìn giữ và thậm chí phòng vệ, cho (các) mối quan hệ dường như rất thiếu thích đáng hoặc rõ ràng đang tụt xuống sự tồi tệ kia.

Có lẽ mối quan hệ ấy khởi sự với nhiều vô cùng điều tích cực và lợi ích song dần dà trở nên tiêu cực hẳn đi. Người ta không thể dừng chuyện lượng định cái giá phí tổn tương đối phải trả và các lợi lạc thu được từ mối quan hệ khi nó tồn tại đến hôm nay, bởi vì họ từng thiết lập quan hệ một thời gian dài rồi.

Hoặc, có thể người ta cảm thấy một số mong đợi, kỳ vọng không biểu tỏ thành lời để trở thành người trong cuộc, do bởi đối tác làm cùng cơ quan hay từng chia sẻ bạn bè quen biết, v.v…

Lý do hiển nhiên khiến một người có thể duy trì mối quan hệ tồi tệ hơn là tích cực nằm ở việc có một lịch sử hay sự đầu tư trong quan hệ. Việc quen biết một người khác, và được quen biết, đòi hỏi thời gian và các nguồn lực cảm xúc.

Người ta thường có khuynh hướng vinh danh cái mà thuật ngữ tâm lý học gọi là “các chi phí chìm ngầm“. Để bước ra khỏi một mối quan hệ khi người ta đã đầu tư bao nhiêu thứ có thể là sự lãng phí, và như thể thời gian và năng lượng tiêu pha, dành vun vén cho nó hóa ra “tất cả hoặc chẳng còn gì” nữa cả.

Một cá nhân có thể còn duy trì một mối quan hệ bất mãn hoặc không lành mạnh bởi vì họ đích thị nhận được các nhu cầu thỏa mãn nhờ quan hệ đó, dù điều ấy có thể tuyệt chẳng hiển nhiên chút nào đối với những ai đứng bên ngoài hoặc thậm chí, ngay cả với chính cá nhân có liên quan.

Tỷ dụ, một số người dường như tăng thêm lòng tự tôn của bản thân do chính mình đang bao bọc bởi những kẻ thấp kém hơn– theo nhiều cách thức mang tính quan trọng– đối với bản dạng riêng có của người đó.

Vì vậy, duy trì một mối quan hệ với người ít nhiều kém lý tưởng có thể khiến đối tác– qua so sánh– cảm thấy bản thân thật tốt đẹp. Ở mức độ tối thiểu nhất, người ta nhận được tuyên xưng cho trạng thái mình là “bạn tốt hơn hẳn’ trong quan hệ.

Bàn đến bản dạng, mệnh giá (identity) và lòng tự tôn (self-esteem), lý thuyết chứng thực vai trò cho thấy rằng, chúng ta được thôi thúc kiếm tìm và duy trì các mối quan hệ phản ánh rồi củng cố những gì chúng ta nghĩ về chính bản thân mình và về người khác.

Thế nên, đôi khi người ta duy trì các mối quan hệ hết sức khách quan là chẳng “tốt đẹp” chút gì, bởi vì cách thức người khác đối xử với cá nhân xác nhận những gì cá nhân ấy nghĩ về họ. Đến lượt mình, là sự xác nhận quan điểm của chính họ về kẻ kia.

Nếu một cá nhân tin tưởng rằng người đời nói chung là ích kỷ, thiếu quan tâm và không chắc chắn thì việc có quan hệ với loại người đó không chỉ dường như thật hợp lý (sau rốt, đấy là cách mọi người đời vẫn vậy) mà còn xác nhận thế giới quan của người đó nữa (và người ta rất thích nghĩ mình đúng).

Ở đây, không dự tính nêu ra danh sách dài dằng dặc các lý do người ta duy trì các mối quan hệ mà cơ chừng tiêu cực hẳn hoi từ cái nhìn của người quan sát bên ngoài. Tuy vậy, các khả thể bên trên nhấn mạnh một số cách thức lý giải những gì người ta “nhận được” từ (các) mối quan hệ chừng mực đủ tốt đẹp vượt lên hẳn cái sự rõ ràng và hữu lý. Ôi, người ơi, đời ơi!

Ăn uống, hút thuốc quá mức và khả năng luôn luôn trong trạng thái kiểm soát

Ham mê ăn uống vô độ có thể là dạng thức nghiện ngập, gây ra nhiều vấn đề như béo phì và khiến sức khỏe sút giảm nghiêm trọng.

Ai đó liệu dễ dàng chấm dứt việc ăn uống quá mức?

Trước hết, người ta phải nhìn thấy thật rõ ràng và đầy tỉnh thức nhiều bất lợi của việc ăn uống vô độ này, đối lập với nhiều thuận tiện nhờ ăn uống hết sức lành mạnh. Những đối lập định hình như thế nên luôn được gìn giữ vững chắc trong tâm trí… cho đến khi thói quen gợi lại chúng khởi lên ngày càng sẵn sàng hơn, trước lúc nảy nòi thói quen không tỉnh thức để vươn chạm tới thức ăn.

Thứ đến, người ta phải nhận ra điều không hề là sự thật chút nào về lối nghĩ “không thể dừng việc ăn được”, bởi vì người ta luôn luôn có năng lực kiểm soát; tức là, rốt ráo thì không ai đang thôi thúc mình ăn uống.

Chúng ta chỉ tưởng tượng mình không thể kiểm soát được. Chúng ta không phải là nô lệ cho những xung năng lồng lộn, đầy tham lam, ham muốn.

Chối từ quyền năng liên tục được lựa chọn mà chúng ta thừa hưởng là không ngừng có niềm tin tệ hại hướng về chính bản thân mình. Chúng ta là những kẻ tự làm mình thành nạn nhân trước khi là những nạn nhân. Luôn luôn có thời gian để hồi phục tỉnh thức và sự kiểm soát!

Dịp nọ, một học viên xin diện kiến thầy dạy Thiền của mình đặng cầu xin lời khuyên do bởi anh ta không thể ngừng chuyện ăn vặt được. Vị thầy ngay lập tức với tay xuống bàn, lôi ra một số viên kẹo đủ màu sắc rồi bảo, “Đây có một số viên kẹo này.”

Như chúng ta có thể tưởng tượng, chàng học viên hầu như khá choáng váng bởi lời khuyên trực tiếp và cơ chừng trái ngược đến vậy… và đã không chạm vào các viên kẹo…

Lẽ ra, chàng ta nên nhận ra ngay lập tức rằng những gì anh ta thổ lộ là không đúng sự thật chút nào. Anh chàng đích thực có thể ngừng ăn vặt vì anh ta đúng là có thể làm được điều đấy. Tất thảy phụ thuộc vào chuyện anh ta có muốn thực hiện hay không, có nhận thức về quyền lực lựa chọn thật tỉnh thức, có đặt để một giải pháp chắc chắn để ngừng ăn vặt, có tiếp tục tin tưởng rất hoang đường rằng mình không thể ngừng ăn hay không…

Nếu chàng ta đích thị vượt ngoài sự kiểm soát thì khả năng là chàng sẽ mê mải nhặt lấy các viên kẹo… Song đã có sự kháng cự và kiềm chế khi điều lựa chọn được đặt rành rành trước mặt chàng ta. Vị thầy chứng thực cho chàng học viên thấy rằng anh ta có kiểm soát.

Chuyện cửa thiền cũng kể rằng, khi một học viên khác hỏi về chuyện tu tập, vị thầy nói trên nhìn thấy mấy điếu thuốc lá trong túi chàng nên hồi đáp rằng, “Thiền khó lắm. Chí ít thì nó khó như việc bỏ thuốc lá vậy.”

Vị thầy đang chộp lấy cơ hội một cách thiện xảo khi liên hệ cơn nghiện ngập của học trò với chuyện thực hành Pháp theo cách đời thường, mà nó không gì khác hơn là đòi hỏi sự khôn ngoan, để kết thúc đầy lòng bi mẫn cách chúng ta tự làm hại bản thân và làm hại tha nhân; ngõ hầu trợ giúp một người và tất thảy.

Tại sao nói về các lý tưởng thiền tập vô cùng dịu dàng khi chúng ta không thể bẻ gãy một thói quen sờ sờ là tồi tệ? Thực hành Pháp chí ít quả là khó khăn chẳng kém việc bỏ thuốc lá vì đây chính là một phần thực hành Pháp vậy.

Mỗi lần chúng ta lặp lại những sự lựa chọn tệ hại, tiêu cực như ăn vô độ, hút thuốc lá luôn mồm hoặc các điều tương tự, chúng ta đang củng cố lắm thứ nghiện ngập.

Nhằm vượt thoát ngoạn mục các thói quen thâm căn cố đế, cần tạo ra các thói quen tốt lành hết sức ngoan cố hơn thế!

Sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ai đó mang tâm thế phụ thuộc, ngóng trông đến nhờ cậy, xin lời khuyên nên hay trả lời đại khái rằng họ sẽ từ bỏ vì vị thầy là chef, đáng tin cậy. Thực tế, chính người học viên ấy chính là chef, vị thầy đích thực thì luôn luôn ở cùng anh ta.

Thật không quá đáng khi cho rằng, những vị thầy giỏi giang sẽ thúc đẩy mình nhận ra điều ấy, để tự nắm lấy việc kiểm soát đời ta với sự hướng dẫn của Pháp!

J. Soi (15): Như là giấc mơ qua…

Bộ phim tốt nghiệp “Xin lỗi… anh chỉ là thằng bán bánh giò” minh họa cho kiểu tình yêu lãng mạn với đặc trưng trộn lẫn thân mật và đam mê song còn thiếu sự cam kết, vốn hay xảy đến ở lứa tuổi vị thành niên và người mới bước vào giai đoạn đầu đời.

Sự thân mật thể lý, cảm xúc và trí năng đi kèm với các hoạt động mang tính chia sẻ rất dễ kiến tạo nên những mơ hoa tràn bờ cũng như dấu ấn ký ức khó mờ quên.

Cùng với thời gian, đích thị câu chuyện tình chẳng khác chi giấc mộng vội qua…

Mình đã đóng cửa sổ chưa?

Bước chân ra khỏi nhà một đoạn, tôi tự hỏi không chắc mình đã đóng cửa sổ cứ mở ngỏ hầu như suốt bốn mùa chưa nhỉ.

Khi cảm thấy không an toàn, tôi quay về kiểm tra. Và wow, đã đóng.

Khi rời nó lần nữa, tôi lại băn khoăn vì tôi cơ chừng chẳng nhớ nổi… Tôi buộc phải đóng nó, rằng tôi tuyệt đối đảm bảo rằng ở đó không có điều gì khác xảy đến, và nó cứ mở ngỏ thế lâu nay.

Tại sao tôi không chắc chắn khi cửa sổ đã đóng rồi?

Tôi ắt hẳn mơ ngủ lúc đi đóng cửa sổ, tự thân mình đóng nó song lại đóng nó thiếu tỉnh thức, đóng cửa sổ bằng sự vận chuyển tự động theo thói quen.

Không, tôi không trỏ thẳng ý là mình mộng du song ở đây yếu tính cơ chừng mang cái gì tương tự.

Khi chúng ta vượt băng qua các “nghi thức” của đời sống trong một thể cách cơ chế máy móc mà thiếu vắng sự hiện diện của tâm trí, thật là tốt lành như lúc đang mộng du vậy. Nhiều ví dụ quá chừng rõ ràng hơn chuyện kiểm tra cửa ngỏ và bình gas!

Hết sức hiển nhiên, tôi đã ở đó để đóng cửa sổ, hoặc có thể tôi chưa đóng nó, dẫu khi đang đóng cửa sổ thì sự tỉnh thức (mindfulness) của tôi không hiện diện trong khoảnh khắc ấy– đó là lý do giải thích tại sao khoảnh khắc đang đóng cửa sổ đã không được đăng ký vào ký ức ở trạng thái nhận thức muộn màng.

Quay lại kiểm tra cửa số đích thị là vòng tròn vi tế không đáng của sự tái sinh. Chúng ta tái sinh, từ đời này sang đời khác trong Luân hồi (Samsara) cực kỳ rõ ràng, bởi vì chúng ta thiếu vắng tỉnh thức trong việc ý thức và xác nhận các bài học sống, chết ở đời. Nhiều cơ hội đã bị bỏ lỡ, lãng quên. Bởi vậy, chúng ta bị thôi thúc quay trở lại nhằm học lần nữa cách thức để bẻ gãy hoàn toàn khỏi Luân hồi.

Bất kể chúng ta có bị chẩn đoán mắc OCD (Rối loạn Ám ảnh Cưỡng bức: Obsessive Compulsive Disorder) hay không, tái sinh đã là OCD của chúng ta! Tỉnh thức đích thị là sự chữa lành, điều trị cho căn bệnh của thói quen đủ thứ lực lượng thôi thúc lặp lại vô nghĩa.

Chúng ta cần huấn luyện tâm trí mình để nó sắc bén, tinh nhạy hơn, với sự tỉnh thức và trực giác lớn lao hơn– không chỉ bởi để lão luyện Pháp (Dharma) mà còn tinh thông các vấn đề thông thường hàng ngày nữa.

Thực tế, tuyệt nào có sự chia tách hay phân biệt gì, vì Pháp là sự áp dụng hết sức chính xác trong đời sống hàng ngày.

Điều này bao gồm các đồ, mớ vặt vãnh như đóng cửa sổ và khóa cửa phòng!

Tỉnh thức có thể được huấn luyện mang tính hệ thống thông qua các thực hành thiền định (meditation). Thậm chí thực hiện cầu kinh đúng đắn là một dạng thiền định. Lần nữa, ngay tập trung cao độ tâm trí mình ngõ hầu nhìn thấy sâu xa và cảm nhận một cái tay nắm cửa sổ có thể mang tính thiền định.

Không có sự chia tách hoàn toàn giữa Pháp và Luân hồi. Tất cả Pháp chúng ta nhất thiết lão luyện thì nằm trong sự hỗn độn, rối rắm của Luân hồi.

Mình đã đóng cửa sổ chưa?