J. Soi (19): Quyền tâm lý là cái chi chi ?

Mặc kệ sương gió, nắng mưa vô tình...
Mặc kệ sương gió, nắng mưa vô tình…

Khi các nhà bất đồng chính kiến trên thế giới vẫn còn bị chính quyền lợi dụng việc gán nhãn tâm thần để bỏ tù họ, cơ chừng tất cả chúng ta còn chưa thực sự nhớ ra rằng mọi người đều có các quyền tâm lý cần thiết, chí ít lúc mình ở tuổi trưởng thành rồi.

Nói chung, quyền con người thực sự chỉ mới được đánh dấu với cái mốc 900 năm thôi. Quyền dân sự, nữ quyền, quyền của người đồng tính thậm chí còn ra đời trẻ hơn. Và có vẻ chúng ta có quyền sống trong bất kỳ trạng thái tâm trí nào, lưu giữ bất kỳ ý kiến nào, và chọc ngoáy theo cách thức nội tại nào chúng ta thích, ngoại trừ việc sống trong trạng thái nguy hiểm cho chính bản thân mình và cho những người khác.

Ngoại trừ hai lý do xã hội quan tâm nhằm ngăn ngừa tự tử và sát nhân, các quyền tâm lý của chúng ta không quá vi phạm gì tồi tệ hay ghê gớm lắm. Xem xét kỹ càng thêm chút, tình hình càng đáng báo động.

Chẳng hạn, một đứa trẻ không có quyền tâm lý để được cảm thấy buồn chán trong lớp học ư? Nếu tâm trí nó lang thang do buồn chán và không thể trả lời câu hỏi được đặt ra, liệu các kết quả do chuyên viên tham vấn học đường chẩn đoán với một “rối loạn tâm thần’, hay nếu bố mẹ cháu lo lắng nên đưa con tới một bác sĩ tâm thần để rồi rời phòng khám với một đơn thuốc cho “rối loạn tâm thần” nào đó (chẳng còn bất thường gì nữa, ngày nay trẻ nào chẳng phải uống dăm ba loại thuốc cho các “rối loạn tâm thần” phức tạp này khác)? Liệu chúng ta có cảm thấy tàn bạo ít nhiều trong việc nói rằng quyền tâm lý của đứa trẻ buồn chán bởi một lớp học tẻ ngắt đã được bảo vệ hẳn hoi?

Hoặc người ta có thể cân nhắc điều sau đây. Những gì là quyền tâm lý cho bản thân nếu chính mình là đồng tính, lớn lên trong một hộ gia đình và cộng đồng tôn giáo chính thống, và bị đánh vào đầu vì đồng tính là một điều ghê tởm? Liệu không phải việc tẩy não cảm xúc đầy bạo lực đã cắt cụt đi quyền lợi, ở đây là quyền tâm lý của việc tự định đoạt? Liệu chúng ta thực sự tin rằng những đứa trẻ đồng tính bị thúc đẩy bởi tính cấp thiết sinh học và sự tán đồng văn hóa sống trong các ngôi nhà theo tôn giáo chính thống đang được bảo vệ quyền tâm lý của chúng?

Hay thử xem xét câu chuyện này. Chúng ta liệu có quyền tâm lý để cảm thấy buồn bã nếu nền văn hóa mình đang sống và đại diện là các “chuyên gia hành nghề sức khỏe tâm thần” có bằng cấp chuyển nỗi buồn bã của mình thành “rối loạn tâm thần trầm cảm”, điều chỉ điều trị được bằng “thuốc chống trầm cảm”? Liệu không phải là sự hạn chế, giảm bớt quyền tâm lý, ở đây là quyền cảm nhận theo cách mình đang cảm nhận hay sao? (Ở một góc độ nhất định, bệnh tâm thần được nhìn nhận như một cấu trúc xã hội.)

Chúng ta không gặp nhiều rắc rối trong việc định danh những gì chúng ta tin tưởng là quyền con người, quyền dân sự, nữ quyền hoặc quyền người đồng tính. Chúng ta có vô số cách để hình thành và mô tả những gì mình cho là không công bằng và thiên vị cũng như tạo ra các cách thức chữa trị, điều chỉnh chúng.

Vào khoảnh khắc này, khi nói tới, mình không biết quyền tâm lý gồm những gì bởi vì chúng ta không liệt kê, mô tả, hoặc thậm chí thảo luận về chúng. Song chúng ta muốn ý tưởng về các quyền tâm lý được lưu giữ và thể hiện cùng với các quyền dân sự, nữ quyền, quyền của người đồng tính và những sự phòng vệ khác thuộc lẽ công bằng, chính trực và tự do.

Chịu đựng nỗi đớn đau của người mình yêu thương

Dưới đây tôi trích thư trao đổi cá nhân với độc giả khi nhận được chia sẻ về chuyện nên chịu đựng nỗi đớn đau của người mình yêu thương như thế nào.

Hồi đáp: Khá dễ dàng để kết luận rằng sinh ra, già đi, ngã bệnh và dần tiến đến cái chết là những gì luôn xảy đến với tất cả chúng ta. Tôi chấp nhận những sự kiện như thế mà không chút bực bội với chuyện đời sống bất công. Tôi có nhiều lý lẽ để biện hộ cho những điều xui rủi, song tôi không bao giờ khó chịu với chúng, vì tôi nghĩ đau đớn, khổ sở càng củng cố thêm cho mình khả năng phục hồi, tính không nản lòng.

Luận bàn: Liệu có phải khi cứ lặp lại từ “bực bội/ khó chịu”, anh nhằm chối bỏ một vài oán giận ẩn bên dưới trạng thái đau khổ kéo dài, đến độ anh rút ra nhận định rằng “đời vốn bất công”?

Đời sống như nó thế, luôn luôn không bất công cũng chẳng công bằng. Có lẽ, sự ‘phục hồi’ của anh thiếu thích hợp và thỏa đáng, khiến anh còn chưa chấp nhận được thực tế khổ đau? Không khôn ngoan lắm nếu nghĩ đau khổ là do ‘xui rủi’ đối lập với ‘sự chia sẻ công bằng’. Nếu đau khổ dựa trên sự ‘may mắn’, đời sống (bất) công bằng như nhau. Cần nhiều lý tính hơn đặng tin về luật nhân quả. Khi không có ‘cơ hội’ trong các ‘cơ chế’ của mọi sự, cũng không có ‘may mắn’ trong nỗi đau khổ luôn.

Hồi đáp: Song tôi thấy thật khó khăn để chấp nhận nỗi khổ đau của mẹ tôi. Nguyên tắc Phật tử về cảm xúc từ bi mà không dính mắc là khôn ngoan, ngay cả thế, tôi nhận ra đó không phải là thái độ mang bản chất người khả thể đặng chấp nhận khi điều đó xảy đến với mẹ mình. Tôi không thể nhìn mẹ mình vật vã, đớn đau như vậy mà không cảm thấy dính mắc.

Luận bàn: Từ bi với sự tách ra dường như đúng là điều bất khả thi khi chúng ta tiếp tục chối bỏ thực tế khổ đau. Đức Phật từng dạy về diệu đế liên quan tới thực tế khổ đau, trước khi tiến triển đến sự thật giúp chúng ta vượt thoát đau khổ, thức nhận hạnh phúc đích thực. Với sự phản tỉnh đủ đầy, chúng ta có thể học hỏi đặng chấp nhận sự đau khổ, trong khi làm hết sức mình để chuyển hóa nó, và với sự ít dính mắc hơn về các kết quả tạo tác ra. Thật tốt để ghi nhớ rằng, ngoài tình yêu thương, mẹ anh chắc sẽ không ước muốn anh gắn bó với nỗi đau khổ của bà, thay vì thế, mong điều tốt đẹp nhất cho cả hai. Lưu giữ một tâm hồn tan nát có thể làm trái tim mẹ anh bị dằn vặt, khổ đau hơn nữa.

Về lòng từ bi với sự tách ra vừa đề cập bên trên, như anh thừa biết, Đức Phật là ví dụ minh họa hoàn hảo cho việc từ bi vô điều kiện mà không hề có sự gắn bó sai trái, thiếu lành mạnh. Chẳng hạn, khi một đồ đệ qua đời trước mặt, ngài đã không đau khổ bởi sự gắn bó. Đức Phật chỉ đảm bảo chắc chắn rằng ngài làm hết sức có thể đặng trợ giúp các đồ đệ tốt nhất khi họ còn sống.

13-5-2013