Một cách tiếp cận đáng quan tâm trong các mối quan hệ thân tình

Giữa bao la trời đất, lòng người thừa ngục thất
Giữa bao la đất trời, lòng người thừa ngục thất

Đó là chu kỳ xà quần lại gần – lảng tránh (AAC); cũng có thể được biết đến như kiểu động năng kẻ theo đuổi – người giữ khoảng cách, quan hệ đẩy – kéo, sự phủ tràn đối lập với sự hờ hững.

Nói chung, đấy là một dạng kiểu mẫu hình hợp trội trong những mối quan hệ mà một người thì muốn nhiều hơn điều gì đó (hoặc muốn kẻ kia thay đổi ít nhiều này nọ): người theo đuổi, và cá nhân khác kháng cự hoặc thu mình: kẻ giữ khoảng cách.

Dạng thức nêu trên còn dễ được mô tả ví von rằng hai người “gắn bó với nhau bằng một khoảng cách bất di bất dịch”. Khi người theo đuổi tiến tới trước thì người giữ kẻ lại lùi ra sau; khi người giữ kẻ thu mình, người theo đuổi bị thôi thúc dấn bước lên.

Trong khi mọi người cần một sự cân bằng uyển chuyển và sống động giữa gắn bó và tự trị ở đời, công thức lý tưởng không khó thấy là sẽ có khác biệt từ người này đến người khác. Khi một người trong mối quan hệ muốn gắn bó nhiều hơn và người kia muốn tự trị thêm lên thì đây thường là cơn bão hoàn hảo cho một hiện tượng AAC phát triển, bùng vỡ. Với các cực đoan của nó, AAC thừa khả năng phá hủy một mối quan hệ bởi vì nó trở thành cuộc “chiến tranh” không ngừng nghỉ, xảy ra liên miên đủ khiến người trong cuộc cảm thấy kiệt sức, mệt mỏi và theo thời gian, tạo dựng nỗi niềm oán giận ở cả hai bên.

Dạng thức AAC có thể là mẫu hình uốn thành vòm toàn bộ mối quan hệ hoặc nó chỉ xảy ra sâu xa với vài vấn đề gây tranh cãi rất nóng sốt.

Trong hôn nhân, các vấn đề hay gặp bao gồm tình dục, tiền bạc hoặc cách làm cha mẹ; chẳng hạn, một người cơ chừng muốn tần suất ân ái tăng lên hoặc muốn dành thời gian chủ yếu cho con cái, học cách quản lý tài chính giỏi giang, tập trung cho việc nội trợ, nhà cửa hoặc muốn hẹn hò bên ngoài, đi chơi nhiều hơn…

Trong các gia đình hoặc tình bằng hữu thì nó có thể dính tới mức độ tiếp xúc cá nhân hoặc tầng bậc dấn vào đời riêng người khác; chẳng hạn, tần suất một người con đã trưởng thành đến thăm viếng bố mẹ hoặc mức độ bạn bè tin tưởng thể hiện dành cho nhau.

Đấy là sự lôi kéo, quyến rũ mỗi người nghĩ rằng họ đúng và kẻ kia sai, song đích thực nó thường là vấn đề của khung tham chiếu riêng và cả hai phải chịu trách nhiệm về phần mình với chuyện kéo dài dây dưa ấy.

Trong AAC, người theo đuổi muốn nhiều tiêu điểm cho “chúng ta” và kẻ giữ khoảng cách thì muốn nhiều tiêu điểm tập trungcho “tôi”. Người theo đuổi dường như đặc biệt tỏ ra chức năng khống chế mối quan hệ, còn kẻ giữ khoảng cách lại không nhiệt tình đảm trách, lơ là chức năng.

Nỗ lực của người theo đuổi muốn làm cho kẻ lảng tránh “lên tàu, xuất phát” tạo cảm nhận như sự trình diễn, gây áp lực, kiểm soát, hoặc phủ trùm đối với người giữ khoảng cách. Sự kháng cự của người giữ khoảng cách tạo cảm giác giống việc chối từ, ruồng rẫy hoặc thiếu vắng niềm yêu thương/ quan tâm chăm sóc đối với người theo đuổi. Mỗi người dần trở nên ngày càng cố đào hào, dựng tường lũy thủ thế riêng và họ tạo thêm nhiều giả định lẫn đánh giá về các động cơ, dự tính của người kia. Mỗi một người lại gắng sức để giành “phần thắng”, do đó làm ra một trận chiến đầy tiềm năng cho các tai nạn, thương tích nghiêm trọng kèm theo. Không bị ngăn cản hoặc kiềm hãm, sự phá hủy có thể thành chuyện tất yếu, không thể đảo ngược.

Tin tốt lành là nếu một trong hai bên chí ít nhận ra và đập gãy mẫu hình ấy từ khá sớm ban đầu, mối quan hệ dễ được cứu chữa vừa kịp thời và hiệu quả. Chắn đứt mẫu hình nghĩa là người theo đuổi chấm dứt việc rượt đuổi hoặc kẻ lảng tránh thôi giữ khoảng cách nữa.

Nói khác, người theo đuổi giảm thiểu tiêu điểm “chúng ta” và tăng thêm sự tập trung cho “tôi”. Họ dừng chuyện mong đợi nhau thay đổi và tập trung nhiều hơn những gì thực sự đang diễn tiến với sự kiểm soát, điều chỉnh (suy tư, cảm nhận và hành vi mỗi người). Hoặc người giữ kẻ kia kết thúc vụ thu mình, chống kháng rồi khởi sự trải lòng ra với người theo đuổi hay tạo nên vài nỗ lực thấy được của ước muốn thay đổi. Cả hai cá thể gắn bó bằng một khoảng cách bất di bất dịch như thế, khi một người dừng đẩy hoặc kéo thì thường kẻ kia sẽ hưởng ứng phù hợp theo cùng.

Không hề đơn giản để làm tình hình chuyển biến chút nào khi hành vi đã thâm căn cố đế vậy rồi. Cũng rất khó khăn để từ bỏ những hành vi ấy khi tồn tại một nỗi sợ mạnh mẽ của việc bị ruồng rẫy, bỏ rơi hoặc giữ kẻ. Trong những tình huống tương tự, một nhà tâm lý có kinh nghiệm trong trị liệu gia đình hoặc hôn nhân có thể trợ giúp một bên hoặc cả hai vượt thoát tiến trình. Dĩ nhiên, thậm chí cũng có một nguy cơ là khi mẫu hình bị bẻ gãy, một hoặc hai người có thể còn duy trì tiếp tục sự bất mãn với mối quan hệ khiến khó hòa giải các nhu cầu, mong muốn và giá trị khác biệt nhau.

Nhắn (50): “Nhìn thấy vẻ đẹp đẽ trong mọi thứ”

Nâng niu không phải vì đáng yêu mà do thương cái yếu
Nâng niu không phải vì đáng yêu mà do thương cái yếu

Mở bửu bối trong túi ra để đọc lại khi gặp sự cố buộc phải xử lý gấp gáp hay chỉ cần ngắm nhìn mưa rơi trong êm ái mùi cơm gạo lứt tỏa hơi rạo rực… Lựa chọn chẳng nhất nhất diệt trừ nhau.

Song chắc chắn thật khó để xác định chính xác vấn đề thẩm mỹ và thái độ sống khi bạn không chú tâm hiểu biết thực tại; đó là nhu cầu thiết yếu, hết sức nền tảng chứ đâu chăm chắm quy mỗi về các nhu cầu căn bản đảm bảo sự tồn còn của nhân loại.

“Bà Tưng”, nữ Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và cô Nhã Thuyên: khi nhà quản lý chưa khởi sự chịu trách nhiệm…

Tội nợ là chợ đời thôi, mai này xóa trắng cuối trời mây bay...
Tội nợ là thị phi đời, mai này xóa trắng cuối trời mây bay…

‘Sự sinh, sinh sự’ nên chi chuyện nọ xọ chuyện kia và những cái gì vốn nóng bỏng rất hay được sử dụng làm đồ ăn nhanh, tạo nên chủ đề đàm tiếu và/ hoặc khiến thiên hạ cảm giác như thể mọi thứ cứ quẩn quanh mỗi chừng đó, hàm ý thôi thúc người ta có mới nới cũ, lần lượt thay thế khẩu vị chú mục và chẳng thèm nghĩ mình vô can luôn– cả khi bình phẩm trên mặt báo lẫn trong đời thường.

Lần nữa, “bà Tưng” trở thành tâm điểm, song đợt này lọt vào tầm ngắm giám sát tận Hà Nội; hành vi công vụ ấy sao quá sốt sắng, và phải, khá lạ lùng.

Ở địa hạt sách vở, trạng thái thuần túy cũng khó bảo vệ vẹn toàn. “Luận văn Nhã Thuyên” do một cô giáo trẻ thế hệ Y chấp bút rồi được thông qua ba năm trước với điểm số tuyệt đối tại Hội đồng bảo vệ Cao học Ngữ văn ở trường Sư phạm Hà Nội giờ đây đang phải đối mặt với một Hội đồng đầy tên tuổi tót vời khác nhằm riết róng thẩm định lại giá trị.

Và trong so sánh chưa đến nỗi khập khiễng lắm, bản thân ứng xử của chính nhà quản lý hiện còn tiếp tục thu hút công luận dè bỉu ghê gớm, thậm chí, bức xúc đến độ đòi buộc đối tượng từ chức vào lúc đời sống dân chúng đầy rẫy tệ nạn, nguy cơ nhãn tiền chết dần chết mòn.

… Dù khác biệt trong biểu hiện song những hành vi trợ giúp cuộc đấu tranh khốn khó để người gặp nạn giành lấy quyền sống cuộc đời mình luôn sở hữu ý tưởng tương tự và rất căn bản: chỉ bày cho họ từ việc nhìn nhận bản thân như nạn nhân của các hoàn cảnh sống chuyển sang làm kẻ khởi sự, đề xuất các diễn biến xảy đến ở đời.  Nói khác, trợ giúp thân chủ phát hiện năng lực, chạm sâu thẳm sức mạnh nội tâm riêng có đặng chuyển biến thân phận.

Như đã trình bày, có hai kiểu tâm điểm kiểm soát: bên trong và bên ngoài. Tâm điểm kiểm soát nội tại là niềm tin “mình đang nắm lấy, đảm trách các sự kiện xảy đến trong đời”, trong khi niềm tin của tâm điểm kiểm soát ngoại giới thì “cơ hội, định mệnh, hoặc các lực lượng ngoài kia quyết định các sự kiện cuộc đời”.

Các cá nhân dùng tâm điểm kiểm soát nội tại tin rằng các hành vi, ứng xử của họ được dẫn dắt bởi các nỗ lực và quyết định cá nhân mình đưa ra cũng như họ quản lý những gì họ có thể thay đổi. Kiểu tâm điểm kiểm soát nội tại gắn với lòng tự tôn (self-esteem) là niềm tin mình có khả năng làm điều gì đó hết sức thành công.

Người có tâm điểm kiểm soát ngoại giới nhìn nhận cuộc đời và các ứng xử của họ như đang bị điều khiển bởi vận mệnh, may rủi. Các cá nhân này xem chính bản thân mình (đời sống, hoàn cảnh bản thân) như nạn nhân của cuộc đời và sự tai bay vạ gió, do số đen đủi.

Dưới góc độ lãnh đạo và quản lý, khái niệm tâm điểm kiểm soát cũng được áp dụng không khác bao nhiêu.

Bất luận chức vụ đỉnh cao đến đâu hay thuộc bộ phận cấp thấp thế nào thì ý tưởng chính yếu vẫn là: dừng ngay việc đổ lỗi, buộc tội con người, sự kiện hay điều việc khác (ví dụ, tâm điểm kiểm soát ngoại giới) và thay vào đó khởi sự nắm lấy trách nhiệm (tỷ như, tâm điểm kiểm soát nội tại) vì chính vai vế, bản thân họ.

Nếu đích thực lắng nghe, mình sẽ hay nghe thấy mọi người mô tả cuộc đời hoặc công việc của họ như guồng xe nằm ngoài người điều khiển mà họ cảm thấy bản thân rất ít khả năng hoặc thậm chí, không kiểm soát được đời mình nữa. Tuy thế, khi mọi chuyện được cải thiện, mình sẽ nghe thấy họ nói rằng họ bắt đầu cảm thấy nhiều kiểm soát hơn hoặc giành lại quyền kiểm soát đời mình. “Khi tâm điểm kiểm soát chuyển dịch khung từ ngoại giới sang nội tại, các thân chủ phát hiện thấy mình nhiều năng lượng, động lực, và tự tin hơn để thay đổi rất nhiều”.

Nghiên cứu chỉ ra, trong kinh doanh và lãnh đạo, lợi lạc của việc sở hữu tâm điểm kiểm soát nội tại tỏ ra thích hợp với mọi cá nhân thuộc mọi cấp độ tổ chức:

  1. Tâm điểm kiểm soát nội tâm là một trong các nét tính cách căn bản của người lãnh đạo hiệu quả.
  2. Tâm điểm kiểm soát nội tâm là tiêu chí tách biệt những nhà quản lý tốt với người quản lý tồi.
  3. Kiểu tâm điểm kiểm soát của nhân viên ảnh hưởng tới hành vi ra quyết định của lãnh đạo.

Giờ quay lại trường hợp đang bàn mà ai cũng biết là ý nói tới ai đấy. Có ý kiến phân tích chi tiết, đặt vấn đề là nữ bộ trưởng bộ Y tế bỏ lỡ cơ hội trở thành chính khách.

Quan điểm chính trị là nghề nghiệp vốn được nhà xã hội học Đức lừng danh Max Weber nêu lên từ hồi 1919.  Đại ý ông Weber cho rằng làm chính trị không phải là chỗ dành cho những ai trong trắng, thanh cảnh; một chính khách nên biết khéo gắn kết giữa cứu cánh đạo đức tuyệt đối với tinh thần trách nhiệm công vụ.

Nhìn nhận thế, bỗng dưng cảm thấy con đường học hỏi để tự quản lý đời mình của người dân nước Việt chắc chắn sẽ phải lãnh ấn tiên phong ngõ hầu tạo điều kiện cho ứng xử của giới lãnh đạo, chính khách nước nhà theo đó trở nên chuyên nghiệp và hiệu quả hơn, góp phần đắc lực cho sự nghiệp chấn hưng dân tộc.

Cảm tác ta bà

Thương binh, liệt sĩ anh linh; dân tình đau đớn, vô hình nơi đây...
Thương binh, liệt sĩ anh linh; dân tình đau đớn, vô hình nơi đây…

Thể xác tan rồi, niềng ý chí

Đất trời lửng dạ mó ba hồn

Mây bạc trôi mòn mồ tử sĩ

Gió luồn hờ hững cỏ Côn Lôn.

Cồn đắp dồn dần theo năm tháng

Biển dâng sóng thở níu hoàng hôn

Cát nóng phơi đầy bao nứt rạn

Bãi dài dương liễu đứng bồn chồn…

Nhiều hơn sự hiện diện lúc này…

Hà Nội như nỗi buồn em, ngọn cỏ lau đem rải xuống sông Hồng mặt trời cuối bãi...
Hà Nội như nỗi buồn em, ngọn cỏ lau đem rải xuống sông Hồng mặt trời cuối bãi…

Hồn cốt của một vùng đất không như sấm chớp, nắng mưa để lóe lên, rực rỡ hay dầm dề, rồi tạnh.

Hà Nội trong những năm 1980-3 thật gần gũi, ấm áp và dân dã, dù mãi tôi chẳng hiểu nổi cái cảnh thức cả đêm xách xô chậu xếp hàng hứng nước.

Đâu đó quanh đây, gần mà xa, quen thành lạ. Chúng ta thường hay quên điều thực sự quan trọng dù bất kỳ trò chơi công bằng nào ẩn sẵn bên dưới.

Buồn chán như chính cái sự quên, Hà Nội 30 năm trước đôi khi quá dễ khiến người ta phát điên hồi nhớ những kỷ niệm thời thơ ấu– trong nghèo khó, tự hào và tử tế. Mỗi một lần cố tình lờ đi dĩ vãng, có cái gì chống cưỡng và chứng tỏ trạng thái chẳng hề phù hợp, khít khớp.

Tại sao lo lắng về những gì đang bị lãng quên. Cứ để nó đi vào chốn trắng phớ của thời gian ngưng đọng; và cứ để mặc cái phần mờ tối ấy hoàn thành nhiệm vụ… Bởi nếu nó quan trọng, nó sẽ còn mãi mắc dính, bám chặt vào đâu đó trong lòng.

Nhiều hơn sự hiện diện lúc này, tại đây– Hà Nội.

Chúng ta bị đòi hỏi quá nhiều truyền thống và nghi thức. Lúc trời đang rỉ rả trong đêm, không có gì tốt hơn là đợi xem ai đó sẽ vô cùng ngạc nhiên khi mở ra gói quà hoàn hảo, đầy suy tư.

Dự án Hanoi Spirit of Place giới thiệu tối nay tại Viện Goethe, dù chỉ mới công bố đôi chục bức ảnh đen trắng, đã giữ vai trò khơi gợi trong lòng người biết bao xao xuyến âm thầm như thế.

Như một cơ hội lắng nghe và làm mới quan hệ

Bao nhiêu người qua lại, biết ít nhiều chúng ta?
Bao nhiêu người qua lại, biết ít nhiều chúng ta?

Chuyện xưa kể rằng, thời nhà Minh bên Trung Quốc ở đô thành Dương Châu có một người đàn ông họ Trần, đêm nọ nằm mơ thấy mình gặp đức Phật Quan Âm báo mộng cho rằng “Ngày mai quân nhà Minh sẽ đến đây. Trong số 17 người thuộc gia tộc, 16 người sẽ sống sót. Song ngươi không thể thoát khỏi định mệnh. Ngày mai kẻ họ Vương sẽ giết ngươi, bởi vì trong một kiếp trước, ngươi đã đâm anh ta 26 lần rồi giết chết anh ta.”

Đức Phật Quan Âm (Avalokitesvara) còn thêm, ‘Vẫn còn có một phương pháp thiết thực. Mai chuẩn bị một bữa tiệc thật ngon, và khi anh ta đến, mời anh ta dùng bữa; sau đó, để anh ta tự giết ngươi. Có lẽ mọi chuyện sẽ diễn ra theo hướng đó.”

Giấc mơ thật sống động và khi họ Trần tỉnh thức sáng hôm sau, anh ta đi chợ mua rượu và rau cỏ mang về soạn sẵn bữa tiệc. Vào buổi trưa, có tiếng người gõ cửa. Họ Trần ra mở và nói “Anh chắc là nhà họ Vương?” “Kỳ cục vậy, tôi từ phương Bắc tới, làm sao anh biết tên tôi?”

Họ Trần cất lời: ‘… Mời quá bộ vào nhà; tôi đã chuẩn bị bữa tiệc thết đãi anh. Sao anh không chung vui cùng tôi?’ Rồi nhớ lại giấc mơ hồi đêm. ‘Kiếp trước tôi đã dùng dao đâm anh 26 lần, nên ở kiếp ngày đến lượt anh giết tôi. Ăn tiệc xong, mời anh cứ tự nhiên hạ thủ’.

Họ Vương cân nhắc rồi nói, ‘Nếu kiếp trước anh đã giết tôi, kiếp này tôi giết lại anh; liệu kiếp tới nữa anh lại chẳng giết tôi. Chuyện cứ kéo dài mãi thế. Không, tôi sẽ không giết anh.’ Vương cầm dao làm sây xát lưng họ Trần 26 vết thương nhẹ như thể đánh dấu món nợ đã thanh toán.

Không chỉ Vương chẳng giết chết chủ nhà mà họ trở thành bạn bè tốt. Vương tiết lộ cho họ Trần biết quân Minh sắp ồ ạt kéo đến đây và khuyên nên lánh đi nơi khác cho an toàn. Họ Trần nghe theo…

Câu chuyện này cho ta thấy khả năng làm thay đổi định mệnh con người.

…  Hôm nay, nhân ngày Vía Quán Thế Âm, xin bạn thử áp dụng kỹ thuật truyền thông “Tưới hoa” để lắng nghe nhau, làm mới lại quan hệ, đồng thời tìm cơ hội chứng tỏ sự thù hằn có thể được ngăn chặn nhé.

J. Soi (25): Tiềm năng gây hại cho bản thân khi bàn cãi, chê bai người khác

Buôn dưa ý muốn đẩy đưa quá buồn...
Buôn dưa là muốn đẩy đưa quá buồn…

Luôn dễ dàng cảm thấy bất mãn, phê phán, nổi nóng và tức giận trong những ngày này. Thật quá chừng hữu lý để chỉ ra la liệt cái sai, vô số biểu hiện thiếu trách nhiệm và thái độ mặc kệ ghê gớm đủ kiến tạo nên một cái gì cực kỳ khó chịu, bực bội chứa chất ngay trong cách thức góp ý, trao đổi giữa các thành viên thuộc nội bộ quần chúng nhân dân.

Buôn dưa còn vì quá buồn, hết sức bất an. Do vậy, lắm lúc chẳng thèm lưu tâm tới hậu quả những gì phát ngôn; thường nói ra chỉ vì khí vị quen xả bỏ, tuôn trào thôi.

Cho dù không nhất thiết phải thiệt đoan chính hay bám đầy hằn học, buôn dưa sẽ mang chứa giá trị nội tại tốt hoặc xấu phụ thuộc vào cách thức nó được khởi tạo: suy cho cùng, đích thị thể hiện mối quan tâm cuộc sống (những) người khác.

Về mặt tâm lý học, quan tâm là thứ cảm xúc hợp trội, nổi lên khi chúng ta tình cờ phát hiện điều gì đó là không thích đáng, nằm ngoài sức mong đợi và phức tạp khiến mình tin rằng có thể đương đầu cũng như hiểu biết ở một mức độ nào đó.

Liên quan đến các nhân vật nổi tiếng, khái niệm này cơ chừng cho thấy khi các vị đấy hành xử theo một phương thức bất ngờ, gây ngạc nhiên thì chúng ta nảy sinh câu hỏi: “Tại sao họ lại làm như thế?” rồi tin liền là mình có cơ hội trả lời cho vấn nạn giời ơi đất hỡi ấy.

Song câu chuyện đàm tiếu, bàn cãi, phản biện, tranh luận dù có cả yếu tố tích cực lẫn tệ hại thì mình đâu khó mê mải, dính mắc đến độ đánh mất khả năng kiểm soát cảm xúc bản thân.

Rốt ráo, dưới góc độ cá nhân, tự nhủ thay vì bị tâm trí dẫn dụ phóng túng tùm lum, bao giờ mình nhận chân thấu đáo rằng việc quan trọng nhất là hiểu biết thực tại.

Vận hành phẩm hạnh khiêm cung

Khuôn mặt em khuất lấp, giữa mơ hồ nhớ quên, dòng sông đời vùi dập, khuyết tình gầy một bên...
Khuôn mặt em khuất lấp, giữa mơ hồ nhớ quên, dòng sông đời vùi dập, khuyết tình gầy một bên…

Khiêm cung (humility), như một phẩm hạnh, thường bị buộc tội tồi tệ thật vu vơ. Nó dường như không phải là khái niệm thông dụng cho lắm. Nền văn hóa của chúng ta quá chú mục, nhắm vào việc mình nắm quyền (empowerment), lòng tự tôn (self-esteem) và thói quen yêu mê bản thân (self-love).

Dĩ nhiên, chẳng có gì sai trái khi nghĩ như thế cả song nếu đang lãng quên một nét đặc thù tâm linh thiết yếu thì liệu có thể xúc tiến sự trưởng thành và nhận thức tăng nhanh được chăng?

Chúng ta hay gán ghép phẩm khiêm cung vào mối quan hệ gần gũi cùng trạng thái bị quê độ, bẽ bàng (humiliation).

Theo nghĩa từ điển, khiêm cung là trạng thái nhún nhường, nhũn nhặn, đặt mình ở vị trí thấp, không quan trọng, không phô trương, tinh thần tôn trọng, tương kính hoặc sự phục tùng.

Như thế, khiêm cung là tự đặt bản thân thấp hơn trong con mắt của chính mình hoặc người khác. Trong xã hội phát triển định hướng cạnh tranh, thành đạt của chúng ta, ai muốn điều đó; các phẩm hạnh này nói chung chúng ta cơ chừng không ngưỡng mộ, thán phục.

Thuật ngữ “khiêm cung” theo Anh ngữ thì khởi nguồn của “humilitas” (Latin) còn có thể mang nghĩa là “sự tiếp đất (có cơ sở vững vàng)”, hoặc “thấp” (nghĩ về từ hài hước, đất giàu).

Dưới góc độ tâm linh, trạng thái khiêm cung dẫn dắt chúng ta tới một trạng thái ý thức cao hơn. Nhiều truyền thống nhìn khiêm cung như một phương thức nhất thống với Vũ trụ hoặc Thần thánh.

Trong Công giáo, bản thân khiêm cung là phương thức quy thuận với điều gì vĩ đại hơn, God, và điều thiện lành lớn lao hơn. Do nhìn nhận chính bản thân nguyên ủy nhỏ bé, phụ thuộc lẫn nhau hết sức sâu sắc với toàn thể đời sống, thế giới, và God, thật dễ dàng hơn để làm những vật chứa đựng cho ý chí thần thánh.

Từ “Islam” (Hồi giáo) tự thân nó có thể diễn giải nghĩa đen là khiêm cung, hoặc “quy thuận trước God”.

Với các nhà theo trường phái Lão gia, khiêm cung là quan trọng; người ta tin đó là sản phẩm của cõi Niết bàn.

Trong đạo Phật, khiêm cung là phương cách để không bị lôi kéo, cuốn theo vào cùng các ham muốn ngã mạn và đạt được giác ngộ. Chúng ta có thể nhìn nó như sự tự do thoát khỏi tính kiêu căng, ngu dốt và luôn lấy mình làm trung tâm. Nghịch lý thay, khi chính mình cởi bỏ khỏi các tính chất hạn chế này, chúng ta trải nghiệm sự triển nở, rộng khắp.

Vậy, khiêm cung có thể dẫn tới trạng thái siêu việt của sự tích hợp bản ngã. Một số trải nghiệm trạng thái “vô ngã” của ý thức cho phép họ đắm chìm xuống tận tự thân trạng thái “sinh thể”.

Từ đấy, chúng ta có khả năng nắm giữ các mặt, khía cạnh đối lập ở đời và vượt lên trên tâm trí thông thường. Chúng ta ngày càng dễ ôm choàng đời sống như nó là, trân quý tất thảy, bao gồm cả niềm đau nỗi khổ của bản thân.

Khiêm cung cho chúng ta nhận ra cách thức để trở nên từ bi và khôn ngoan. Mỗi một phẩm tính này dẫn tới một sự kết nối sâu sắc hơn và hoàn mãn, tràn đầy với toàn thể cuộc sống, cũng như trong phạm vi Tâm linh hoặc God.

Bất luận niềm tin ra sao, làm thế nào chúng ta có thể thực hành khiêm cung ở tầm mức đời thường hàng ngày và vẫn tiếp tục hoàn thành các mục tiêu đặt để sẵn rồi?

Một vài gợi mở sơ sài:

  1. Thiền định. Khi thiền định, tập trung vào God, Nguồn cội, Tâm linh bên trong chúng ta và mỗi một sinh thể, tạo vật ở đời. Tưởng tượng chính mình hòa làm một với tất cả và lưu ý đến những sự tương đồng.
  2. Làm cho người điều mình muốn họ làm cho ta. Giữ thói quen phục vụ theo một số cách nhỏ nhặt bất kể lúc nào tìm thấy cơ hội. Khi trợ giúp tha nhân, đừng chỉ chăm chắm mỗi bản thân. Chúng ta trải nghiệm sự liên kết với bản chất đích thực, một sự đóng góp với thế giới.
  3. Cho phép bản thân phạm sai lầm. Con người dễ mắc lỗi, và khi chấp nhận bản thân ít nhiều không hoàn hảo, chúng ta ôm choàng nhân tính trong mình; điều này giúp những người khác cũng hành xử giống thế.
  4. Giao tiếp, truyền thông với thiên nhiên. Khiêm cung là sự chắc thật, vững vàng của trạng thái tiếp đất. Dù đang ở đâu, ngay cả giữa chốn ồn ào, náo nhiệt của thành phố đông đúc người chung đụng, thử quan sát vẻ đẹp của trái đất. Dành đôi chút thời gian ngắm nghía bầu trời, thán phục một cái cây, lưu ý đến một cái lá cỏ. Thức nhận đủ đầy đời sống đang bao quanh mình.

Hãy tự hỏi bản thân mình có đang thực hành phẩm hạnh khiêm cung trong đời sống hàng ngày? Liệu mình có tìm thấy tự do đích thực trong trạng thái nhún nhường và luôn muốn phục vụ đời sống, tha nhân như thế?

Nhắn (49): Cẩn thận dấu ấn của tâm

Dấu ấn ẩn hiện trong lòng, đời sống ngoài kia mơ hồ hư thực
Dấu ấn ẩn hiện trong lòng, đời sống ngoài kia mơ hồ hư thực

Các tôn sư bảo chúng ta rằng có một khía cạnh của tâm vốn là nền tảng chủ yếu của nó, một trạng thái gọi là “nền của tâm bình thường”. Nó thực hiện chức năng giống như một nhà kho, trong đó, những dấu hằn của quá khứ gây ra bởi những cảm xúc tiêu cực, tất cả được trữ như những hạt giống. Khi hội đủ điều kiện, chúng nảy mầm và biểu lộ thành những hoàn cảnh và tình huống trong cuộc sống.

Nếu chúng ta có thói quen nghĩ mãi về một mô hình cá biệt, tích cực hoặc tiêu cực, thì những xu thế nêu trên sẽ được khởi sự và được kích động rất dễ dàng, rồi tái diễn và tiếp tục tái diễn. Với sự lặp lại thường xuyên, những khuynh hướng và thói quen của chúng ta được đều đặn đào sâu hơn, tiếp tục tập họp và tăng thêm sức mạnh, ngay cả khi chúng ta ngủ. Đây là cách mà chúng quy định sự sống, cái chết và sự tái sinh của chúng ta.

Sogyal Rinpoche. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, Thế Hùng chuyển ngữ, tr. 124.