Một thoáng ngó nghiêng về sản phẩm clip Thanh Niên Chuẩn

Số lượt vào xem clip chắc chắn là một trong các chỉ báo đáng quan tâm, song trong xu hướng đương đại thì mỗi việc ấy thôi chưa đủ để đánh giá xác đáng hiện tượng.

Đại diện Trung ương Đoàn cho biết MV “Thanh niên chuẩn” được xây dựng nhằm chuyển tải các thông điệp Sống đẹp – Sống có ích, các giá trị chuẩn về văn hóa, đạo đức đến thanh niên một cách nhẹ nhàng, trẻ trung, sâu sắc. Những hành động, nghĩa cử đẹp của thanh niên được đưa vào MV nhằm phê phán thói hư tật xấu mà giới trẻ ngày nay đang mắc phải, để họ tham gia những hoạt động tích cực, cùng phấn đấu hướng đến tiêu chí Thanh niên chuẩn.

Việc tiêu thụ đủ tác động để tạo nên một ảnh hưởng tới cuộc sống chúng ta đến độ nó trở thành căn tính bản thân. Chúng ta không chỉ dùng việc tiêu thụ đặng cấu trúc các căn tính riêng có mà còn sử dụng nó để quy nạp các căn tính của những kẻ khác. Các sản phẩm diễn bày các căn tính của chính ta thông qua ý nghĩa gắn kết với chúng. Nói khác, ta dùng các sản phẩm biểu tượng hóa một vài phẩm chất nhằm gửi đi thông điệp tới tha nhân mà đồng thời chúng ta cũng sở hữu các phẩm chất ấy. Đôi khi, việc tiêu thụ có thể gây ra ảnh hưởng hết sức độc hại tới các căn tính chúng ta, do bởi khiến mình cảm thấy mặc cảm tự ti hoặc không tương xứng.

Nhìn dưới góc độ sản phẩm truyền thông như thế, rõ ràng câu chuyện đòi hỏi phải tìm hiểu cả các tiêu chí lượng giá tác động đến căn tính của người tiêu thụ.

Điều ai cũng thừa biết là hành vi, ứng xử của con người là hàm số của nhân cách và môi trường, ít nhiều gợi liên tưởng quay về mối liên hệ chặt chẽ giữa việc tiêu thụ với căn tính của ai đó vậy; tức khi tiến hành đánh giá căn tính kẻ khác, các đánh giá dựa vào có thể bị ảnh hưởng bởi những gì người đó tiêu thụ, nghĩa là sản phẩm mang chứa ý nghĩa khó chối bỏ nổi. Clip ‘Thanh niên chuẩn’ cho ví dụ miễn phí về cách thiên hạ học hỏi thông qua tiếp thị và quảng cáo biểu tượng nào mang lại giá trị cho thanh niên thời đại mới và thứ gì thì không đạt được thế.

Ngoài ra, cái sự chuẩn mực chắc chắc phản ánh nền tảng phát triển, yếu tố cá nhân và mối quan hệ của người ta trên tiến trình tương tác liên nhân cách. Bởi vậy, trong một nền văn hóa xoắn bện sâu xa với sự tiêu thụ thì hiển nhiên mọi thứ chúng ta sở hữu dẫn tới việc diễn bày chúng ta như con người; thực hành này có thể chẳng hề độc hại chi song nó vẫn dễ dàng khiến chúng ta thể hiện sự khó chịu và bất mãn với các căn tính của bản thân. Tự hỏi bao nhiêu người trẻ mà clip Thanh niên chuẩn nhắm vào khi xem nó để thay đổi bản thân nhớ biết rằng điều quan trọng họ đang đề nghị phải thay đổi điều gì và tại sao. Nếu tuyệt không có điều gì sai trái hoàn toàn với những gì chúng ta đang thay đổi thì tại sao cần làm thế?

Vấn đề vừa nhắc chính là một ý nghĩa mà chúng ta học hỏi khi trẻ tuổi: những gì là căn tính cho một con người ‘đẹp’; bi hài thay, điều học hỏi này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự tiêu thụ các chân dung truyền thông về các thân hình và tính cách đẹp; câu chuyện dài kỳ như dạng phim truyền hình nhiều tập ấy đa phần là phi thực tế và khó đạt đến được, chí ít dẫn người ta đến chỗ kiến tạo các căn tính bao gồm cả các cảm nhận, quan điểm tiêu cực về độ hấp dẫn riêng có của chính bản thân mình…

Với hằng hà sa số các clip, đa phần các sản phẩm này đưa tới các câu chuyện khó bắt mắt và lưu giữ tâm trí thiên hạ kéo dài quá ba ngày; chúng thu hút sức chú ý vì truyền thông đại chúng muốn thế, chính quyền và các nhóm lợi ích cũng như mạng lưới xã hội bảo chúng nên thế. Do vậy, chúng dần nghiêng sang chiều hướng giải trí và đùa tếu so với các đối thủ cạnh tranh, bởi nếu không như vậy thì mình sẽ hoặc tri nhận chúng như là điều khẩn cấp hay thích ứng, hoặc mối quan tâm hồi đầu của mình sẽ chóng tàn tạ, tiêu tan. Clip Thanh niên chuẩn, bất chấp chức năng và lời khẩn cầu, kêu gọi của nó đã không thoát ra khỏi sự thật trần trụi của truyền thông hiện đại: chú ý tới các câu chuyện trong mỗi một phương tiện biểu đạt là thứ phù du, chốc lát mà thôi.

Clip Thanh niên chuẩn còn có thể dạy cho những ai làm truyền thông bài học cay đắng về các lỗi lầm tư duy quen phạm phải mà người trong cuộc lắm lúc khó ngờ. Tỷ dụ, việc gán nhãn mang tính định kiến: cách thức người ta gán nhãn một vị thế có thể tạo nên sự đánh giá đối tượng thành kiến về vị thế; kiểu gọi một vị thế, chức vụ “dựa trên khoa học” thì không nhất thiết việc ấy tạo nên sự thật, hoặc đối ngược lại, gọi một vị thế “thô tục” không nhất thiết làm mất được hiệu lực của nó đâu.

Lời cuối, đa dạng không thuộc trạng thái của sự khác biệt, bởi tự bản chất, nó nằm nơi tính chất động năng kìa. Song, đó là một câu chuyện khác rất dài chưa thật thuận tiện trình bày lắm ở đây…

‘Vô tính’ (asexuality) như một thiên hướng tình dục

Thi thoảng, vẫn nghe thấy các bạn trẻ hứng chí hò nhau tụ bạ, rủ đi ăn uống thay cho việc yêu đương ba lăng nhăng, chán mớ phèo; ngỡ như bánh trái, thực phẩm cơ chừng ngon hơn hẳn cái món dục tình, luyến ái giao hoan.

Vui thì vui thật, đùa cứ gọi là làm thiệt luôn. Hóng tin biết thế, sự thật ra sao khó đoán định tỏ tường; chỉ càng giúp mình hiểu thêm đôi chút tưng tửng và khiến bản thân sực liên tưởng ngay khái niệm thiên hướng tình dục khá mới mẻ với ngay cả không ít thanh niên ở nước Việt là ‘vô tính‘ hoặc không tình dục (asexuality).

[Dĩ nhiên, ở đây tuyệt không ai ám chỉ xa gần hay cố nhắc đến sản phẩm vô tính của các loài động vật không xương sống và động vật xương sống bậc thấp, nhỉ].

Nghiên cứu cho thấy, khoảng 1% dân số Anh quốc tự nhận mình là vô tính.

Vài định nghĩa đưa ra về khái niệm này: vắng bóng thiên hướng tình dục; theo tác giả Bogaeert thì cơ bản không cảm thấy hấp dẫn hướng tới người khác; hoặc được chấp nhận bởi cộng đồng trực tuyến các cá nhân vô tính lớn nhất thế giới (AVEN) là vắng bóng sự hấp dẫn tình dục, dù ngay trên trang mạng này cũng chứng tỏ nét khác biệt quan niệm giữa các cá nhân này.

Một số tự hỏi liệu vô tính là do thiếu cân bằng các tuyến nội tiết hay nó thuộc dạng rối loạn mà khiến người ta chẳng hề thấy hấp dẫn về mặt tình dục?

Đôi ba nghiên cứu khởi thủy chỉ ra rằng vô tính không liên quan chi với các tỷ lệ cao hơn hẳn của tâm bệnh; tuy vậy, có thể nó khá khít hợp tiêu chí chẩn đoán rối loạn nhân cách phân liệt (Schizoid Personality Disorder). Dường như vô tính trở nên thường gặp ở những người trưởng thành mắc rối loạn phổ tự kỷ (ASD).

công trình thách thức quan điểm cho rằng vô tính nên được xem là một trục trặc tình dục; nhóm tác giả này tiến hành so sánh biên độ giãn nở âm đạo (VPA) và trạng thái phấn khích tình dục chủ quan ở phụ nữ vô tính và phụ nữ không vô tính.

Trong một xã hội bị ám ảnh bởi tình dục thì ý tưởng các cá nhân không hề trải nghiệm sự hấp dẫn tình dục nghe chừng thật tha hóa. Tuy vậy, bằng chứng từ nghiên cứu xa xưa của Kinsey (1948) phát lộ một tỷ lệ nhỏ dân số thể hiện hành vi tương ứng với những định nghĩa hiện đại về vô tính. Và công bố nổi tiếng lần đầu tiên chú mục vào vấn đề vô tính do Johnson triển khai năm 1977. Rõ ràng, nhờ mạng lưới điểm toàn cầu mà các cá nhân vô tính tận dụng cơ hội gặp gỡ những ai giống họ khắp nơi trên thế giới.

Một số lý thuyết còn bảo vô tính là sản phẩm của xã hội hiện đại:

cả sản phẩm và phản ứng ấy đều nhằm phản lại đời sống tình dục hóa xã hội, rối loạn định hướng hậu hiện đại ở đây và ngay bây giờ của chúng ta. Bài báo này cũng nhấn mạnh dù chuyện gì hay vấn đề ra sao chăng nữa, vô tính có thể được xem như một sự chống kháng xã hội tái diễn tình dục không đúng đắn (sexusociety).

Tăng động và bị điếc: hiệu ứng đáng suy tư của những sự thiếu thích nghi ở trẻ

Tiếp xúc với một trẻ bị điếc chưa đến tuổi đi học tại nhà, cùng với bố mẹ của cậu bé; thấy chị gái cháu, sinh cách 10 năm, lấp ló đứng trên gác hỏi vọng xuống…

Người bố béo tròn, cố bám níu hy vọng da diết vào vài ba chi tiết để cố tin rằng rồi vào một hôm đẹp trời con trai sẽ bật lên thành tiếng hẳn hoi, cho dẫu họ đã thăm khám chuyên khoa đàng hoàng và có kết luận chính thức; người mẹ thì nhẫn nhịn, khuôn mặt không ẩn giấu hay che hết nỗi đau bên trong được, chia sẻ chắc chắn bên chồng về một nỗi niềm lo lắng tràn bờ ở tư thế ngồi bồn chồn, vọng động.

Có lẽ, toàn thể gia đình gồm cả bà ngoại là người trông cháu từ sáng đến tối khi bố mẹ đi làm, sẽ học ngôn ngữ ký hiệu để giao tiếp qua lại với cậu út.

Và cho dẫu (các) cô giáo tình nguyện đến dạy ngôn ngữ ký hiệu cho bé sẽ tiếp tục chịu đựng một quãng thời gian nữa, chứng kiến nọ kia ngoài ý muốn dấu hiệu, biểu hiện lăng xăng, chẳng ngồi yên đủ lâu và khó tập trung vào bài nếu cháu không được cầm lấy điện thoại, v.v…  thì cũng chưa đủ chứng cớ xác thực chẩn đoán với cái nhãn ‘tăng động’ (bài báo cập nhật lên tiếng về sự lạm dụng thang đo chẩn đoán và điều trị bằng thuốc rối loạn ADHD) mà một trung tâm nghiên cứu giáo dục đặc biệt đánh giá. Điều cơ chừng cần ưu tiên tìm hiểu và trợ giúp cải thiện tình hình hơn là trạng thái giao tiếp, quan hệ của môi trường bao quanh trẻ. Một sự chú tâm quá mức duy mỗi đứa bé cho việc học ngôn ngữ cử chỉ hay khởi đầu tiến trình ‘viết chữ, làm toán’ quen thuộc lâu nay e chưa thiết thực, khẩn thiết cho bằng công việc luyện tập giao tiếp không lời, tương tác sao cho trẻ dần nắm bắt được cảm xúc người khác và tự tin biểu đạt cảm xúc bản thân, nhất là khám phá chuyển biến khuôn mặt và khẩu hình người phát ngôn.

… Khả năng đọc khẩu hình khi đang chuyện trò là một sự tiến triển quá siêu tuyệt, song có dự án muốn đặt câu hỏi người bị điếc liệu có giỏi giang hơn hẳn cả trong việc giám sát an ninh nói chung.

Hình như chưa có nghiên cứu nào so sánh người nghe được và người bị điếc trong chuyện thực hiện giám sát những việc chuyên biệt, song có bằng chứng khẳng định người bị điếc thừa hưởng nhiều lợi thế từ bình diện chú ý khía cạnh thị giác. Đây không phải như chuyện nhìn thấy phổ quát kiểu năng lực cảm thụ sắc sảo về thị giác, mà có bằng chứng rõ ràng rằng người bị điếc giỏi hơn trong chuyện lưu ý đến những thứ bên rìa ngoài của sự nhìn thấy và cũng giỏi ở việc phát hiện sự chuyển động. Tiềm năng độc đáo này khiến người bị điếc đáp ứng hoàn hảo công việc và có vẻ giỏi hơn các đồng nghiệp có khả năng nghe được. Vậy nên, dự án không chỉ gợi ra cụ thể con đường hướng đích tuyển dụng ‘người khuyết tật’ vào làm việc mà còn phát hiện đối tượng nào có khả năng ‘siêu phàm’ nữa; góp phần làm đảo lộn toàn bộ ý tưởng về sự khiếm khuyết, tàn tật.

Nhân đây, giới thiệu thêm một số nghiên cứu chưng cất các trải nghiệm khác nhau về chuyện “nghe các giọng nói” ở người bị điếc; chẳng hạn, ở đây cho thấy các trường hợp bị điếc trước khi học được ngôn ngữ và bộc lộ việc nghe các giọng nói như dấu hiệu của việc bị mắc bệnh tâm thần.

Dù giả định thường gặp là người bị điếc có thể mang các dấu hiệu mắc ảo giác song nghiên cứu vừa nêu trên lại rất cẩn thận xem xét người bị điếc quan tâm vấn đề ra sao và dường như họ tuyên bố rõ ràng là mình ‘nghe’ các giọng nói.

Các bệnh nhân chỉ được đánh giá là mắc các ảo thanh nếu họ tỏ rõ là mình nghe các giọng hơn là nhận được thông tin bằng con đường khác, và vài cá nhân đưa dấu hiệu nhờ nói, đặt câu hỏi về cách họ có khả năng nghe, trong trạng thái điếc, vốn không am hiểu được. Đa phần bệnh nhân thì chỉ nhún vai hồi đáp kiểu “không rõ’, hoặc biểu thị rằng họ không hiểu câu hỏi.

Những bệnh nhân khác nỗ lực giải thích giả tạo, dễ dãi hoặc nọ kia không thỏa mãn kiểu ‘có thể đang nói trong não bộ’, hoặc ‘đôi khi tôi bị điếc, đôi khi tôi nghe thấy’. Một bệnh nhân khẳng định mình có thể nghe nhạc nếu anh ta vặn nó to lên (khả năng cao là biểu đạt tri giác về sự dao động), và hàm ý tương tự sự thật về chuyện phát ngôn. Những người khác vẫn tuyên bố không thật hoặc hoang tưởng rằng họ có thể nghe hoặc từng có khả năng nghe thấy.

Một nghiên cứu khác cố tránh các cạm bẫy khi nghiên cứu hiện tượng ảo thanh ở người có hạn chế hoặc không nghe được.

Bởi thực tế, một số nghiên cứu trước đó về người bị điếc nghe các giọng nói bị chỉ trích khi giả định rằng một người bị điếc mô tả một ‘giọng nói’ nghĩa tương đương là họ đang có một trải nghiệm tương tự với người nghe được. Tỷ dụ, khi một người bị điếc mô tả trải nghiệm như ‘tiếng ồn’ thì họ chỉ hàm ý nó đặc trưng bị tống bừa vậy thôi, chứ nó không mang các thuộc tính âm thanh riêng biệt.

Nghiên cứu thượng dẫn dùng phương pháp phân loại, gồm tập hợp các tuyên bố về trải nghiệm mà người điếc thể hiện và họ được đề nghị chọn các câu nào mô tả tốt nhất trải nghiệm của bản thân. Dữ liệu được xử lý qua phương pháp phân tích nhân tố (factor analysis) nhóm thành 5 nhóm người/ ‘nhân tố’ trải nghiệm tương tự nhau.

Lời cuối. Bi hài thay, có nhiều chiều kích căn bản khiến chúng ta tức cười. Tất cả mọi người cười vui, và kẻ cười đùa í luôn luôn kèm theo một mẫu hình giông giống nhau của các âm thanh ồn ào vui nhộn. Người bị điếc không bao giờ nghe được một âm thanh vẫn  còn khiến người ta cười phá lên; tiếng ồn ào vỡ òa í tạo tác bởi những con người chia sẻ nhiều thuộc tính thanh âm của ngôn ngữ, hơn là thuần túy bằng chứng cho việc tấn công chớp choáng não bộ và trạng thái cơ thể chúng ta dùng khi hít thở và nói năng.

Không chỉ là chuyện biến đổi gene

Lựa chọn xem film Hạt Đắng thay cho việc đi nghe nói chuyện về chủ đề Khỏa thân trong Hội họa, cái nhìn đời sống của bản thân cơ chừng đã trở nên đơn giản hơn rất nhiều.

Là câu chuyện người nông dân, đất đai và cuộc sống gắn bó với ruộng đồng.

Quả cây chuyển gene chưa phải là vấn đề ghê gớm ở Việt Nam khi hiện tượng người nông dân từ bỏ ruộng vì sống không nổi xảy đến rồi ở Thái Bình.

Dĩ nhiên, vượt cả tình tiết trong phim về người trồng bông xứ Ấn, những lừa gạt và thất vọng không ngừng xuất hiện trong đời; hậu quả của việc mong đợi với điều ngưỡng vọng… Liệu người ta đã hy vọng quá mãnh liệt với sự khôn ngoan, lòng thành thật và tính nghiêm trang trong thế giới mãi ước ao quy thuận các thuộc tính ấy mà không có bằng chứng?

Bộ phim góp phần cho thấy cách thức thông tin ngập tràn quá mức khi phô diễn một điều, củng cố và làm vững mạnh hơn sự chối bỏ của bằng chứng. “Lỗi lầm và ngu dốt” không được giải quyết với nhiều sự kiện và kiến thức hơn.

Bước ra ngoài vòng thoải mái quen thuộc; đồng thời, đừng quên sự đầu tư cảm xúc và cá nhân vào cách ta kể và nghe một câu chuyện trong đời.

Những cơn sóng chữa lành

Đến hẹn lại lên, Viện Goethe khởi đầu mùa Giáng sinh trong giai điệu hòa tấu quen thuộc và hơi ấm nóng thơm lừng của rượu vang pha hồi quế.

Và giờ thì hôm nay, 11.12.2013, trở thành ngày của trăm năm.

Luôn thế, tồn tại khoảng giữa con số 12 và 14; cái tập tục sâu thẳm mãi còn vương vấn trong tâm trí nhân loại rồi liên kết chặt chẽ với vô vàn điều không thể lý giải rạch ròi tắp lự.

Chẳng đơn thuần gán nhãn ngay liền là mê tín hoặc vội vã phủ nhận tất tật như thói quen của một người nghĩ mình được giáo dục chu đáo, thử quan sát ở góc cạnh sát gần và kỹ càng hơn về cái phần vẫn ẩn hiện mờ tỏ ấy trong mình.

Con số ngày tháng năm gợi nhớ ngọn đèn biển tọa lạc ở mỏm ngoài cùng của bán đảo. Thức nhận của du khách khi nhìn thấy qua mỗi một cuộc thám hiểm, khởi hành nên tựa việc tích lũy vốn hiểu biết sâu xa về con người; một trạng thái thấu tình đạt lý ghi nhận chuyến lên đường mới như cơ hội cải thiện các quan hệ toàn cầu, mở rộng lòng thiện chí, và góp nhặt thêm về nỗi niềm thuộc chính thân phận mình. Thấm đẫm ta vào các nền văn hóa ngoại quốc là dịp khơi lên tâm trí dưới dạng thức tồn còn tươi tắn; bản chất tò mò cố hữu có thể giúp mình điều hướng những tinh tế trong xác lập một nền văn hóa…

Và giống như chúng ta, biển hằng hằng thay đổi. Và tựa ta thế, những đại dương rộng khắp trên trái đất hiện diện ở một khoảng cách mang tính kiên định, vững bền và tương tự. Song bên dưới mặt nạ của sự chắc cứng mà chúng ta và biển cả khoác vào, có nhiều vô kể những điều khó dự đoán, mức độ nhạy cảm tinh tế và quyền lực khôn cùng. Nhiều thứ có thể học hỏi từ biển, nó hiện hữu như những thắng cảnh, biểu tượng đời sống nội tâm của mỗi chúng ta. Âm thanh vang rền của sóng biển là sự làm bằng phẳng hết sức tâm linh, và vị muối mặn kết khối làm tinh tuyền các bản ngã thể lý… Biển cả, tồn tại trong các tâm trí thức nhận được ra, đặt để những hình ảnh chúng ta thấy và mô tả những gì chúng ta đọc. Bất kể thế nào, chúng ta dễ tiếp cận hình ảnh tâm trí đó và dùng nó như điểm khởi đầu đặng trợ giúp việc chữa lành các cảm xúc khi mình trầm ngâm suy tưởng bên bờ biển vắng.

Những con số đẹp đẽ và những cơn sóng trị liệu cứ mãi luôn ở đó bên cạnh và trong cả lòng ta.