Nhắn (59): Cho một ngày sinh

Như đứa trẻ nằm ngửa

cựa quậy lung tung cùng những ý tưởng lớn lao

tình yêu chúng ta ra đời trên thảm cỏ.

Có quá nhiều vị mặn mòi trong gió

tiếng vỗ tay của sóng thủy triều một ngày lên xuống hai lần đều đặn

trơ nỗi buồn trên cát phẳng mênh mông.

Khanh khách em cười giữa biển khi ánh sáng từ ngọn hải đăng đã tắt

hoa lông chông lăn hoài nơi triền dốc

sáng tạo đào cái hang cô độc trong lòng.

Ôi

em

tâm trí

mơ màng…

Sự kiện bi thảm, tìm kiếm hiểu biết và cảm xúc hài hước: chia sẻ tinh thần đối thoại

Những vụ thảm nạn khủng khiếp như kiểu đi đưa tang qua cầu lại chết vừa mới xảy ra sáng nay ở tỉnh miền núi Lai Châu luôn khiến người ta hình thành ngay lập tức liền phản ứng tại sao.

Đó là cái hình ảnh cuộc đời giơ tay lên trời chới với, khi giữa thiên nhiên khắc nghiệt và sống trong một đất nước mà tai nạn giao thông cướp đi sinh mạng mỗi ngày dễ khiến dân chúng ít nhiều chai lì với thương vong và chết chóc.

Như tất cả, bản thân dõi theo tin tức đặng tìm hiểu nguyên nhân xem điều gì đang xảy ra đồng thời cũng ngạc nhiên tự hỏi tại sao thiên hạ lại phấn khích đến vậy với chuyện biết tại sao.

Câu trả lời hiển nhiên chưa chắc là câu trả lời đúng đắn; câu trả lời rõ ràng là nếu chúng ta hiểu biết, chúng ta có thể thay đổi. Nếu ta biết tại sao các thảm nạn, tai họa và bi kịch xảy đến thì mình có thể ngăn ngừa chúng trong tương lai. Và nảy sinh nhu cầu thử lý giải…

Một nghiên cứu cho thấy, chúng ta tìm kiếm lời giải thích nhằm tạo khoảng cách với các sự kiện bi thảm. Khoảng cách là điều quan trọng trong ký ức, trí nhớ.  Mọi thứ chúng ta nghĩ gần gũi, chúng ta nghĩ chúng trọng yếu với quan niệm bản thân; mọi thứ cách xa, chúng ta không kết nối với bản ngã hiện tại. Và sự gần gũi quyết định các đáp ứng mang tính cảm xúc của chúng ta.

Khoảng cách quan trọng với trí nhớ bởi chúng ta giữ gìn niềm tin rằng mình thay đổi theo thời gian: tạo khoảng cách khỏi ký ức và khỏi các bản ngã trước đây. Tuy thế, cách thức tạo khoảng cách ngoài thời gian còn có quan điểm: nhìn ký ức thông qua đôi mắt mình, hay từ viễn tượng bên ngoài; mô tả thành lời ký ức ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba; hoặc đơn giản nghĩ sự kiện rốt ráo xa xôi hoặc gần gũi hơn với mình. Tất cả các kỹ thuật ấy khiến ký ức rời xa, ít gắn bó với cái tôi đương thời, giảm bớt cảm xúc; tức làm ký ức bị cất bỏ cả khía cạnh cảm xúc tích cực lẫn tiêu cực.

Dĩ nhiên, ngay chính sự giải thích cũng làm tăng thêm khoảng cách. Chẳng hạn, nghĩ tới chuyện khi nào thì các sự kiện bi thảm trở thành điều buồn cười?

Cách tiếp cận khác này cố phơi mở lý do để cho các hiện tượng cơ chừng vô cùng nghịch hợp lại xảy ra; bằng một loạt thực nghiệm, nhóm tác giả nghiên cứu xem xét các điều kiện khiến việc bi thảm có thể trở thành trò cười.

Lý thuyết làm nền tảng là thời gian trôi qua khi bi kịch không chỉ được xem xét không thôi mà còn cả cách thức nó chạm sát nhất tới người ta, cũng như phương thức diễn ra; nói khác, khoảng cách có thể được đo cả với thời gian và không gian. Ý tưởng cơ bản: các bi kịch nhỏ, hoặc điều xui rủi, bất hạnh (các tác giả gọi là “các lỗi lầm lành tính”) càng nhiều thì càng dễ nảy sinh hài hước nếu chúng xảy đến với mình hoặc với một người bạn thân; nói khác, các bất hạnh, xui rủi đa phần sẽ buồn cười hơn khi chúng lừa gạt, tống đấm vào kẻ khác.

Khả năng ở đây là khi chúng ta ngập tràn trước các sự kiện bi thảm, khi chúng ta chạm tới đáy tủi buồn, và sự thống khổ của chúng ta quá chừng khốc liệt, chúng ta cảm thấy hoàn toàn tuyệt vọng, không còn khả năng thay đổi thực tế xung quanh mình. Trong những tình huống ấy, hài hước là công cụ hữu hiệu đóng vai trò như một cơ chế phòng vệ. Chúng ta quá bị thống trị bởi nỗi niềm đau đớn, không đủ sức chịu đựng hoặc giải quyết nó bây giờ nên chúng ta tìm kiếm phóng thích, khuây khỏa. Tỷ dụ, khi không có khả năng kiểm soát thực tế thể lý bao quanh thì thay vì cảm thấy tuyệt vọng, người ta gắng thay đổi các cảm xúc nội tại. Hài hước giữ vai trò lớn lao trong sự thay đổi đó và cho họ quãng trú nghỉ thoát khỏi hiện thực khủng khiếp xung quanh. Góc cạnh nọ kia, bi kịch và hài hước chắc hẳn sẽ tay trong tay gắn bó với nhiều người chúng ta.

Mặt khác, đâu có thể là các yếu tố ngớ ngẩn gây nên tai họa thể lý? Cơ chừng, đó có thể là những chi tiết thuộc tình huống, nhận thức, nhân cách và tình cảm/ tâm trạng. Bởi sống trong thế giới này, tất cả chúng ta dễ dàng phơi nhiễm với mức độ nhất định nguy cơ thể lý, và một số hoạt động rõ ràng nguy hiểm hơn.

… Song gì gì, tất cả chúng ta đều chia sẻ chung bi kịch xảy đến vì chúng ta là thành phần của cộng đồng nhân loại. Mọi người giải quyết đau buồn và bi kịch bằng nhiều cách khác nhau, đa phần chúng ta là viết xuống hoặc nói ra. Trước thảm nạn, các cuộc đối thoại không ngừng diễn tiến; song thay vì đánh giá và tấn công các ý kiến, hành động của người khác mà ta không đồng ý, sao không thực sự dừng lại rồi lắng nghe đích thị những gì được nói?

Tất yếu là chúng ta cần thiết biểu lộ các quan điểm, và rõ ràng, các ý kiến sẽ khác biệt. Đó là điều tuyệt vời, đó là lý do tại sao chúng ta có những bộ não ngày càng tăng thêm sự phức tạp. Nhưng để thực sự thay đổi diễn ra được, chúng ta cần kiến tạo một không gian an toàn để chia sẻ các câu chuyện của mình. Và sự thật, không ai trong chúng ta có toàn bộ câu trả lời; có nhiều khía cạnh và mỗi chúng ta có một mẩu giá trị về câu đố nếu chúng ta có thể được phép chia sẻ nó trong tinh thần đối thoại.

Bởi vì chúng ta có chung một điều ước muốn: thảm nạn đã xảy ra sẽ không bao giờ, không bao giờ tái diễn hay xảy ra lần nữa.

J. Soi (33): Chịu đựng và cảm hứng giải quyết vấn đề gây tức giận

Lãnh đạo một nhóm mà thành viên bất tuân, hay thích thể hiện chống đối bằng cách chối từ nhiệm vụ được giao thì quả là chuyện đáng lo thật, thậm chí, thấy mình có thể khởi lên cảm xúc ít nhiều cay cú nữa; song gì gì, không nhất thiết phải cáu gắt, mất bình tĩnh đến độ khiến mình ra quyết định xử lý thiếu sáng suốt.

Làm thế nào mình tránh tức giận hướng tới cậu ta?

Có một giải pháp đơn giản; nó cơ chừng gây mệt mỏi lúc đầu nhưng sẽ tác dụng tích cực sau này… Mỗi lúc chàng ấy tỏ ra không hợp tác thì hãy đề nghị gặp riêng ngắn rồi nhã nhặn xin được trao đổi và biểu quyết, cho ý kiến hướng nên theo. Nếu định hướng của bạn giá trị thì sự khôn ngoan của đa số sẽ ủng hộ bạn; nếu không, có các giải pháp thay thế khác nên được nêu ra. Đây là cái kiểu ‘win- win’ nghe có lý nhỉ, hai bên cùng hoan hỉ.

Dần dần, chàng trai trẻ sẽ nhận ra sự ngớ ngẩn khi gây phiền hà và làm mất thời gian của mọi người, rồi chàng cũng sẽ tự kết thúc sự nổi loạn vô duyên. Lối giải quyết thế xem như cách cả nhóm làm việc cùng nhau, dưới sự dẫn dắt của bạn; nó cũng có thể dùng để quét sạch các tiềm năng gây vấn đề rắc rối khác. Thể hiện sự giận dữ thì chỉ càng làm trầm trọng thêm trạng thái căng thẳng.

… Đôi khi, câu hỏi ‘tại sao’ thật hay; kiểu Tại sao chúng ta không thể sống trong một thế giới yên an hơn? hoặc tại sao tôi không ăn hết số bánh ngọt ấy? hoặc tại sao chúng ta không được gọi một người có bộ râu xồm là tên dê cụ?

Nhiều lúc khác, nhất là vào dịp khủng hoảng thì ‘tại sao’ không phải là lời giải tốt nhất cho câu đố.

Khi bị một cảm xúc chi phối, một nhiệm vụ khó khăn đặt ra hoặc thử thách thể lý khắc nghiệt thì đặt để “cái gì” có thể hiệu quả hơn hẳn.

Tỷ dụ. Tích cực: Định hướng gì đây? Tiêu cực: tại sao cậu lại cứ bị mắc kẹt trong kiểu suy nghĩ luẩn quẩn, vòng vo. Tích cực: các giải pháp là gì. Tiêu cực: tại sao không có giải pháp nào đưa ra cho kế hoạch làm game.

Hãy tự hỏi mình: “tôi có thể tự làm gì để mọi sự tốt hơn lên?”, thay cho ca cẩm: “tại sao điều ấy lại xảy đến với tôi lúc này?”

Dĩ nhiên, khi khủng hoảng qua đi rồi thì mình có thể kiếm tìm lời giải đáp thấu đáo hơn cho câu hỏi “tại sao”.

Chết kiểu Vietnam: chính trị, tâm lý, và quyết định kết liễu bản thân

Cái chết của một ông tướng công an vốn mang trọng bệnh sẵn trong người rồi tiếp tục làm dấy lên làn sóng dư luận bàn tán theo điệu dè bỉu sâu cay, phản ánh hơi hướng lý thuyết âm mưu và lần nữa, chứng tỏ sự bất mãn xã hội vượt trên cả kết quả xử lý về một vụ án cụ thể. Dĩ nhiên, cái chết đau đớn ấy còn mang cả tính tôn giáo của chính trị về việc kết- thúc- cuộc- đời.

Riêng tôi lại thấy lòng mình nhói lên cảm giác khó chịu khi có một cái chết khác bị bỏ lơ không ai thèm tham gia trao đổi cả: bị cáo tự tử vì xấu hổ.

Nhìn chung, chúng sinh cảm thấy chẳng dễ dàng tẹo nào để nói về cái chết và các hình thức quyên sinh nọ kia; nhiều người vẫn thừa độ tự tin để phán quyết tắp lự ngay rằng họ sẵn sàng trả một giá lành mạnh để kéo dài đời mình lâu hơn, tốt đẹp hơn; đoạn cuối đời thường là giai đoạn kéo dài ra vốn mang theo một cái giá nặng nề thuộc cảm xúc, thể lý, đạo đức, và tài chính khiến cho cái chết trở thành điều cấm kỵ lớn lao nhất. Khái niệm một ngày bỗng biến mất (dù đẹp giời hay không) đích thị đối lập  với nhiều giá trị văn hóa được xác lập quen thuộc bấy lâu; sự khởi lên ghê gớm của cái tôi càng làm tăng cao nỗi niềm phiền nhiễu đặng thức nhận trắng phớ ra rằng các bản ngã cá nhân của chúng ta sẽ không tồn tại lâu thêm được.

Đương đầu với nỗi sợ hãi muôn phần về cái chết đòi hỏi phải hiểu biết rồi thực tập nghiêm cẩn. Và khoảng thời gian đầu đời định hình thái độ chính trị của chúng ta, dựa trên môi trường bố mẹ dạy dỗ.

Vậy nên tự sát– tất thảy các dạng thức tự kết liễu đời mình–  là hành động chính trị, nó hàm ý chỉ trích xã hội? Ở đây biểu tỏ hai hệ thống giá trị kiến tạo hai con đường khác biệt nhằm giải quyết các cảm xúc nảy sinh: xấu hổ và tội lỗi. Theo đó, luân lý xấu hổ là hệ thống giá trị đạo đức mà trong ấy điều ác nhất là ô danh và nhục nhã và điều thiện lành nhất thì ngược lại, chẳng hạn, kiêu hãnh và vinh dự. Còn luân lý phạm tội là hệ thống giá trị đạo đức mà điều ác nhất là tội lỗi và điều thiện lành thì ngược lại, chẳng hạn, sự trong trắng.

Cái chết do đó, chứa đựng thành phần chính trị nhằm buộc tội xã hội thiếu lòng trắc ẩn và không đủ khả năng đáp ứng đủ đầy các nhu cầu của công dân. Mỗi trường hợp tự tử vì vậy, là một hành động chính trị đang ủy thác với lời tuyên bố tuyệt đối rằng xã hội đang khiến cho một số kẻ trở thành vô dụng còn một số người khác thì đáng được vinh danh.

Khi việc dạy trở thành công tác thúc ép, cố gán vào người học

Những vụ việc tương tự thầy trò đánh nhau trên bục giảng đã và sẽ tiếp tục xuất hiện trên mạng.

Theo cô Quách Nguyễn Huyền Trân, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Huệ, sự việc này xảy ra vào cận ngày Tết Nguyên đán 2014. Thầy giáo trong clip tên T.A.T, dạy hóa lớp 11. Lớp học trong clip là lớp 11A1.

Clip mở đầu bằng hình ảnh thầy T. gọi em N. lên bục giảng rồi tát vào mặt N. Mỗi lần đánh, thầy đều nói kèm câu: “Mày cương hé, mày cương hé”. Sau cái tát thứ tư bên má trái, N. giơ tay lên đỡ thì lập tức bị thầy tát mạnh bên má phải.

Lúc này, phía dưới lớp, L. lên tiếng: “Sao quýnh dữ thầy” thì bị thầy T. gọi lên bảng chỉ mặt: “Mày muốn sao? Học không được thì nghỉ nghen”. Thầy T. tát vào mặt L. Ngay sau đó, L. lên gối đánh lại thầy, N. cùng với bạn xông vô đánh thầy. Lúc này, nhiều học sinh trong lớp ùa lên can.

Và giông giống với vô vàn ý kiến của các vị chức sắc lãnh đạo các cấp của ngành lẫn đủ quý ông bà học hàm, học vị nghiêm trang phát biểu với tư cách chuyên gia tâm lý – giáo dục và xã hội học, lối chia sẻ êm trôi kiểu này cơ chừng góp phần cho thấy còn khuya chúng ta mới tư duy giáo dục khác trước.

Cũng là một thầy giáo hơn nữa lại là thầy giáo tâm lý, nên theo thầy Khắc Hiếu nếu học trò có lỗi, trước việc đánh học trò thầy giáo phải nghĩ việc đánh có cảm hóa được học trò của mình hay không.

Tuy nhiên, trên thực tế, người thầy nào cũng biết việc đánh học trò không cảm hóa được học trò mà phản tác dụng. Rõ ràng hành động tát liên tục của thầy là vì cái tôi hoặc để thoã mãn cơn giận chứ không phải để giáo dục và cảm hoá.

Nếu hiểu giảng dạy là hành vi do một cá nhân này (thầy, cô giáo) thực hiện nhằm mục đích giúp đỡ một cá nhân khác (học sinh) học hỏi điều gì đó thì cơ chừng chúng ta đang chứng kiến một sự thúc ép, cố gán (ít nhiều không chính thức nữa) vào người học: giảng dạy chẳng  đáp ứng với khát khao riêng của người học; nó làm cùn mòn sự tò mò, tăng thêm tình trạng không tự mình lo liệu được, và trong một số trường hợp thậm chí còn gây thù oán và lảng tránh môn học rồi ngay cả giáo viên đứng lớp nữa. Cơ mà việc giảng dạy nhẽ ra phải được người học tán dương, ham muốn rất nhiều mới phải; như với bất kỳ hành vi nào thành công trong chuyện trợ giúp kẻ khác đạt được các mục tiêu của chính họ.

Cả lịch sử nhân loại lẫn nền giáo dục nước nhà vẫn chưa rời xa quá lâu ý tưởng rằng dạy dỗ trẻ em thì đồng nghĩa với việc khuyên răn, roi vọt chúng; bằng chứng cho điều tưởng chừng phi lý ấy có thể dễ dàng tìm thấy trong ca dao tục ngữ và/ hoặc các cách ngôn, Kinh thánh, v.v…

Ngày nay, ngoan ngoãn tiếp tục là bài học chính của nhà trường, và trừng phạt còn là bánh xe căn cơ cho việc dạy điều ấy. Dĩ nhiên, đã có thay đổi uyển chuyển đặng phù hợp với thời buổi hiện đại, nên chi điểm chác trở nên tiêu chí đánh giá; cả toàn xã hội, giáo viên lẫn phụ huynh cố nhồi vào đầu trẻ nhỏ rằng điểm cao là yếu tính để thành đạt ở đời. Các phương pháp trừng phạt trong học đường hiện đại bây giờ tạo nên nhiều lo lắng, trầm uất, giận dữ, ngờ vực và lừa dối hơn việc đánh đập so với hồi xưa.

Bất kỳ việc giảng dạy mang tính ép buộc nào đều là hành động mang tính xâm kích, xung hấn. Bất kỳ việc giảng dạy nào mà không phải là điều học sinh mong muốn, thúc ép họ, là hành động xâm kích và gây xung hấn. Bất kỳ cách giáo dục nào dùng phần thưởng hoặc trừng phạt đặng làm cho học sinh phải học là một hành động của xâm kích, xung hấn.

Sử dụng trừng phạt trong giảng dạy có thể làm giáo viên cảm thấy sự tức giận hướng tới học sinh, cũng như học sinh cảm thấy nỗi tức giận hướng về thầy, cô giáo.

Tôi tin, đây chính là một trong những lý do quan trọng lý giải tại sao chưa bao giờ như bây giờ chúng ta dễ chứng kiến sự cáu gắt, căng thẳng tinh thần và quá kiệt sức ở người giáo viên, là nguyên nhân cơ bản tạo nên mối quan hệ thù địch giữa người dạy và người học.

Trong nỗi niềm hoan lạc, phiền muộn và ẩn ức

Ngay cả những rối rắm cũng nở hoa…

35 năm sau một cuộc chiến tranh biên giới. Thời gian qua đi mà không trôi mất, thậm chí, còn để lại bộn bề phản ứng. Khoảnh khắc của mất mát, hy sinh và máu xương thấm đất trở thành thứ cân đong đo đếm cho chủ nghĩa quốc gia, lòng tự hào dân tộc, cơ chế phòng vệ, khát khao tự do, giàu có, hưởng thụ siêu vượt và vô vàn ước ao cá nhân, riêng tư đối nghịch, mâu thuẫn với tinh thần cộng đồng và tham vọng xiền dương ý thức hệ.

Bất định, lo lắng, do dự và lần lữa; tất thảy trộn lẫn đã phản ánh tính phức tạp của thời cuộc cùng đời sống đương đại. Chung đụng xa hoa, những bụi xương rồng rào giậu vẫn ẩn hiện đó đây, dù nơi chúng ta sống chẳng hề kề cận sa mạc xa xôi hay bãi biển mù khơi. Những đồn đoán thật cay đắng, bởi tương lai của láng giềng e chừng cũng là tương lai của chính chúng ta, như một đất nước có chủ quyền– một cảm nhận chẳng hề dễ chịu chút nào.

Đầy nghịch lý, giới làm chính sách quốc nội hình như cóc thèm lưu tâm chi tới những bài học đơn giản cho các hệ thống phức tạp. Cộng đồng người thu nhập thấp và nghèo đói phải chịu đựng rất không tương xứng khi các chuyên gia làm luật kèm nhóm hành pháp quan liêu đã thất bại thảm hại trong việc thu hẹp khoảng cách trên tiến trình giải quyết vấn đề an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe đủ để kiến tạo thêm nhiều thách thức nan giải.

Bài học thể hiện sự nhún nhường cần tỏ rõ rằng chúng ta nên hạn chế những hành vi ngăn cấm trừ khi thừa bằng chứng việc hạn chế thì tốt hơn khả năng bị xâm hại. Với thực trạng thiếu vắng thông tin, nên để người ta tự do bộc lộ sự khôn ngoan, sáng tạo, năng lực doanh thương đặng tự giải quyết vấn đề. Dĩ nhiên, bài học rút ra còn là tránh kiểm soát và điều hành với mệnh lệnh từ trên đỉnh xuống; ví dụ rành rẽ cho sự vi phạm nguyên tắc này là USSR: chóp bu Liên bang Soviet nghĩ rằng họ thấu hiểu toàn bộ nền kinh tế để quản lý tất cả từ một mệnh lệnh trên đỉnh xuống, và ngày nay nước Nga đã khẳng định họ sai. Thứ đến, các hệ thống phức tạp không thể nhai lại hay bắt chước y chang; cách tiếp cận này chắc bị sai lầm ngay trước khi khởi sự, v.v…

Hiểu biết phương thức các tổn thương, đổ vỡ lan truyền qua các thế hệ đòi hỏi nắm bắt các bí mật lịch sử của cha ông, tiên tổ. Việc truyền dẫn tổn thương dựa trên ý tưởng rằng những gì làm nên con người không chỉ chứa đựng riêng mỗi các trải nghiệm của bản thân họ– quá chừng đớn đau tràn lấp, không thể chịu đựng hay nghĩ bàn thấu đáo được– rơi ra thành các diễn ngôn xã hội, mà rất thường khi thì cứ tiếp diễn rồi nhập vào thế hệ kế tiếp như một sự bén nhạy cảm xúc hoặc cơn thôi thúc thật hỗn độn.

 Các đường truyền lây lan xuyên thế hệ vốn bộc lộ qua các giấc mơ, trong hành động, thể hiện “bài học cuộc đời” với giai đoạn cụ thể nào đó và dạy chúng ta về gia đình. Khám phá các sự truyền dẫn này chính là đi tới hiểu biết và kể một câu chuyện rộng lớn hơn, khởi từ thế hệ đã qua; đòi hỏi lắng nghe kỹ càng các câu chuyện của ông bà, cha mẹ, với bối cảnh lịch sử- xã hội họ sống, nhất là khía cạnh kinh tế, chính trị và quân sự.

Mối dây cảm xúc gắn kết giữa đứa trẻ với tổ tiên là yếu tính cho sự phát triển các giá trị của chúng ta; quyết định trả lời các câu hỏi huyền bí: “tôi là ai”, “tôi  là ai đối với gia đình mình”, “ai chúng ta có thể tin tưởng và ai là kẻ thù”, “điều gì gắn chặt tôi với gia đình”, và quan trọng hơn hết, “với những mối dây gắn bó ấy, cái gì tôi cần gỡ bỏ và cái gì tôi cần giữ chặt”. Lớn lên từ các tổn thương tồn đọng của tổ tiên mới ngõ hầu chữa lành các thế hệ tương lai.

Vượt trên chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, các tiêu chuẩn kép, và sự phức tạp của tội lỗi lầm lạc lẫn trạng thái ngây thơ. Như vậy, mọi thứ xảy đến chỉ là cái cớ cho tâm trí bám vào. Tình yêu gắn bó, dính mắc và ràng buộc. Tại sao con chim trong lồng thôi hót, câu hỏi ấy lắm khi chẳng được đặt ra và thực tế không dễ trả lời được.

Tổn thất của việc yêu đương và lòng ham muốn

Cái lễ Valentine năm nay khiến  tôi cảm thấy buồn phiền: lướt tin tí chút đã thấy quá nhiều cái chết, những cái chết trẻ lại càng ngậm ngùi và đau xót.

Giải thích cho hiện tượng giết người mình yêu là chuyện không dễ dàng, bởi vì tình yêu thì liên quan những hành động vô cùng nhân ái còn giết người lại tiêu diệt kẻ được quý trọng.

Việc kết liễu, chấm hết cuộc đời bạn gái có thể giải thích thuộc loại cơ chế nhân cách mà phân loại thì thành ‘ghen tuông bệnh lý’ và ‘sự chiếm hữu tình dục’. Điều có thể khẳng định rằng không thể giải thích sự vụ cơ bản bằng nét nhân cách của một cậu trai tân đồng trang lứa, chưa từng yêu ai bao giờ mà đấy phải là sự hòa trộn nhiều yếu tố với nhau đặng tạo nên bạo lực mang tính chết chóc như thế.

Nhìn chung, không khó thấy rằng các niềm tin về tình yêu lãng mạn thì không thuần túy là các ý tưởng trừu tượng; chúng can thiệp và tạo sắc màu cho việc yêu đương, chúng trở thành tiêu chuẩn để người trong cuộc diễn giải trải nghiệm yêu và dẫn dắt hành vi của họ.

Giết người, nhất là giết người mình thương yêu (cha mẹ, con cái, vợ chồng, bồ bịch, v.v…) luôn là hiện tượng gây sốc vì nó chạm phải điều ngăn cấm cả về mặt đạo đức lẫn văn hóa chung. Thứ đến, xen kẽ nhiều lý do hơn một thì nguy cơ để ai đó giết người mình yêu thương sẽ tăng cao nếu hội đủ nguyên nhân nhất định, ở đây rất đáng lưu tâm là lý tưởng về tình yêu (em ấy là tất cả thế giới nên chia ly, em ra đi là mất bản dạng của chính mình luôn; khi đối tượng thiếu vắng các nguồn lực mang ý nghĩa và lý do để sống khác; ý thức truyền thống của con đực: quyền lực, danh dự, kiểm soát; khi hành vi cá nhân là cố chấp và không thương lượng nổi; khi niềm tin chủ chốt về tình yêu dường như tạo công bằng cho việc hy sinh bạn gái và mặt khác lại vẫn duy trì được nó, cung cấp tính chính đáng cho các tội ác ghê rợn, v.v…).

Một hành động khủng khiếp như thế phản ánh nỗi thất vọng, hụt hẫng quá chừng và thể hiện tính sẵn sàng phá hủy người khác ngay cả khi điều ấy có nghĩa phá hủy luôn bản ngã của mình…

Còn xét về khía cạnh học hỏi lâm sàng tâm bệnh thì dễ nghĩ tới “Limerence” (Dorothy Tennov, 1979); đây là từ dùng không chính thống, theo đó, quả như sư tổ Phân tâm học S. Freud từng ngao ngán thốt lên rứa “Kẻ nào yêu đương là đã điên khùng lắm rồi” (One is very crazy when in love) thì riêng với những ai dính mắc Limerence tình hình lại ghê gớm và phức tạp hơn rất nhiều; các biểu hiệu của nó có thể trải dài từ bình thường thôi cho đến bệnh lý quá đi (lý tưởng nhất, mình thích dùng ‘rối loạn tâm thần’ thay tất tật cho cụm ‘bệnh tâm thần’). Nôm na, các biểu hiện Limerence có thể kể như dạng ứa tràn khao khát thuộc về người khác, suy tư bị thôi thúc khó cưỡng đầy đam mê nghĩ về, nhu cầu cảm xúc nảy sinh cấp tốc, phụ thuộc tâm trạng khi đánh giá người mình ham muốn, sợ bị chối bỏ và nỗi e thẹn với việc hiện diện của người trong mộng, v.v…

Lần nữa, hầu hết mọi người phải lòng lúc này lúc khác trong đời, thậm chí tới lui vài lần không ít. Với quảng đại chúng sinh, “tình yêu” thật phấn khích và là sự thôi thúc dấm dẳn hết sức tinh tế khó cưỡng lại việc gần gũi, thân mật với kẻ khác, cảm thấy bản thân vô cùng mơ hồ nơi đám rối mặt trời.

Nói về tình yêu, thường thiên hạ nhắm tới chỉ điều gì đó liên quan với tình yêu khoái lạc, lãng mạn (erotic, romantic love); đây là dạng thức yêu khiến thế giới cứ chạy lòng vòng, tạo cảm hứng cho nhiều nền văn minh vĩ đại có các tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc và văn chương diễm tuyệt, là tình yêu mọi người thích trải nghiệm và hy vọng nó sẽ vững bền mãi mãi.

Phải lòng như chúng ta hiểu biết về kinh nghiệm ấy hiện tại thì không hề thông dụng trong các nền văn hóa cổ xưa. Khúc dạo đầu và mục đích của hôn nhân không phải là tình yêu; mọi người cưới nhau nhằm duy trì tài sản và tạo tác nên con cái, dòng dõi, và do vậy, đa phần các cuộc hôn nhân được bố mẹ dàn xếp, sắp đặt. Người trẻ sớm bắt cặp lấy nhau ngay khi trưởng thành về mặt tính dục nên ít có cơ hội phải lòng. Nếu tình yêu lớn dậy, điều ấy chỉ xảy đến sau khi kết hôn. Mặc dù thế, đôi khi người trẻ lỡ phải lòng ai đó khác so với người họ phối ngẫu. Các quan hệ lãng mạn và tình dục không hợp pháp xuất hiện bất chấp sự thiếu vắng các cơ hội dễ dàng và sự phản kháng mạnh mẽ của xã hội…

Ngày nay, hoa trái của tình yêu lãng mạn bừng nở đột ngột, mãnh liệt hơn rất nhiều. Và nó xứng đáng được dành để kể cặn kẽ, đàng hoàng vào một dịp khác, chí ít khi khí xuân vẫn còn dâng tràn và trà dư tửu hậu…

J. Soi (32): Ngốn rất nhiều rồi bất chợt ăn năn…

Khi mình mê thích ăn uống, nhậu nhẹt quá trời luôn rồi, và giờ thì bạn sẽ vừa nhìn mặt vừa tự hỏi thẽ thọt rằng thế tôi nên ngừng ăn uống để không bị dính mắc vào thực phẩm à? Nếu đúng vậy, có họa mà điên khùng!

Vâng, hết sức rõ ràng là ta cần áo quần, thực phẩm, thuốc men và nhà ở; là tạo vật xã hội, chúng mình cần có bà con, bạn bè. Một mối quan hệ lành mạnh- thoát khỏi ràng buộc- với tất cả những thứ ấy thật quan trọng.

Gắn bó là thứ bị từ bỏ, bởi vì cảm xúc đấy là dấu chỉ rắc rối. Tuy vậy, lắm khi quá chừng khó khăn để từ bỏ sự đeo bám với những gì mình gắn chặt vô cùng quen thuộc lâu nay rồi, vì tâm trí ta không hề được huấn luyện theo những cách thức khác trong mối quan hệ với những thứ đồ nêu trên.

Từ bỏ những thứ đồ kia vốn làm nảy sinh sự gắn bó nghĩa là dành không gian và tạo khoảng cách với chúng đủ để sự gắn bó, dính mắc í không xòe ra và phủ trùm lên ta. Khi tiến hành, ta nhận ra các đồ vật quá thân thiết, sát sườn khiến mình nghĩ sao mà sống thiếu được, thực tế mình có thể sống ổn thỏa và tốt lành mà cóc cần có chúng. Thực tế, tâm trí chúng ta càng yên bình hơn khi vượt thoát gắn bó, dính mắc và đói khát, cũng như những lo lắng và sợ hãi khởi sinh do gắn bó với các thứ ngoại thân. Thậm chí, khi nhận ra mình dùng các nguồn lực không công bằng, khi cảm thấy mối tương tác qua lại với các sinh thể khác thì những hiểu biết này sẽ tác động tới suy nghĩ của bản thân, tỷ dụ sẽ gắng dùng phương tiện giao thông công cộng để bảo vệ môi trường… hoặc có thể dừng lại tự hỏi bản thân có cần có nó trước thôi thúc sở hữu một món đồ…

Khi hiểu biết rằng càng nuông chiều đói khát càng tăng, chia sẻ nguồn lực chung không công bằng thì càng dễ tạo nên đau khổ cho người khác và kẻ thù cho chính bản thân ta…; tất thảy, tác động mãnh liệt đến đời sống của mình. Ước ao thay đổi lối sống. Dĩ nhiên, không hàm ý phải tạo hiệu ứng thay đổi to lớn ngay tức khắc liền; dễ dàng hơn nếu bắt đầu thừ những thay đổi nhỏ nhặt và tuần tự cải thiện, nâng cao… Nhờ thực hành, luyện tập chúng ta sẽ hiểu biết, thông qua trải nghiệm riêng có, tính đơn giản đem lại nhiều yên an cho tâm trí.

Hic, dĩ nhiên, vẫn còn đó câu hỏi to đùng đầy thách thức: nhẽ nào tôi sinh ra chỉ để suốt đời lo đi giải quyết những vụ việc, vấn đề nảy sinh theo năm tháng?

Mình cần bao nhiêu con ngựa nào?

Không biết gì là đủ thì chẳng bao giờ đủ, ngay cả khi có đủ.

Theo chuyện dân gian Tây Tạng được phiên chế, kể lại thì anh nọ có 1 con ngựa, anh kia 99 con song cả hai vẫn không ai thấy thế là đủ.

Anh đầu thầm ước, “giá mà người anh em kia cho mình một con thì ngựa mình có bạn có bè.” Tay kia lại ngẫm nghĩ, “nếu người anh em kia cho mình một con thì có phải số ngựa mình thành 100 con tròn trịa”.

Cả hai sẽ chỉ hài lòng khi có thêm một con ngựa? Và có lẽ, rồi thì, chẳng mấy chốc, họ lại muốn thêm chút nữa?

Bạn là người anh em nào?

Người đầu tiên hiện tại có ít ỏi, hay người thứ hai cơ chừng tích lũy khá nhiều rồi?

Giàu hay nghèo, không ai đủ đầy hay dư dật nếu kẻ ấy luôn luôn muốn nhiều hơn cần thiết. Bằng lòng do vậy, là sự giàu có lớn lao nhất.

Tuy thế, những giàu có trần tục chẳng thể mua được sự bằng lòng, mãn nguyện; vì những theo đuổi bất tận nhờ tích cóp vật chất thì chẳng khác chi cái trò săn một củ cà rốt đang treo trên cây gậy lơ lửng trước mặt.

‘Loại ngựa’ nào mình muốn đây? Tiền bạc, các khoái lạc cảm giác, danh tiếng, thực phẩm, ngủ nghỉ,…? Tất thảy đều phù du và không ngừng trôi đi, băng qua.

Nếu mình có nhiều hơn các ‘con ngựa’ cần thiết rồi còn muốn hơn thế nữa, tại sao không rộng lượng trợ giúp cho những ai đích thị thực sự đang cần? Hãy cẩn thận kẻo vô tình kích hoạt lòng tham nơi những kẻ khác!

Mình cần bao nhiêu con ngựa nào?

Cá nhân tôi thì không. Nâng đỡ cho sự tự do của đời sống hoang dã ở thế giới hữu sinh và tối đa phương tiện giao thông công cộng.