Quay về cuộc đời bình thường, hay đương đầu với nghịch cảnh ?

Đọc thư một nữ học sinh trường phổ thông để càng ngậm ngùi thông cảm.

Con và cô ấy vẫn hạnh phúc. Trừ việc cả hai đang học 12; phải chọn giữa tương lai bình thường hay rẽ trái để đương đầu. Cô ấy là chị cả trong nhà, phải chăm sóc, báo hiếu đầy đủ. Đã chọn tương lai bình thường, chọn bố mẹ, chọn gia đình có người chồng và những đứa con trọn vẹn. Và chọn rời xa con.

Lời hứa về hạnh phúc sau này. Viễn cảnh 1 gia đình chỉ có con và cô ấy. Lịch trình đi làm rồi dành thời gian cho nhau. Danh sách nơi con và cô ấy cùng đi. Khoản tiền nhỏ cả 2 cùng dành dụm. Lời hứa. Hy vọng. Sức mạnh. Niềm tin. Hạnh phúc.

Vỡ nát hết rồi thầy ah. Biết làm sao được khi cả con và cô ấy không thể công khai chống lại định kiến xã hội hả thầy ?

Với cá nhân tôi, cái gọi là ‘chiến tranh văn hóa’ không bao giờ thuần là trò tuyền lý thuyết hoặc cấu trúc trừu tượng; kỳ thực, những cuộc đấu khẩu đầy xung đột ấy dễ khiến ta bị tổn thương và cảm thấy vô cùng đau đớn.

Tiếp tục là thành viên của một tổ chức, công ty tăng cường sự phân biệt đối xử kiểu với người đồng tính (hoặc với một tầng lớp người là phụ nữ, hoặc khác biệt sắc tộc) thì thực tế chính mình dễ bỏ qua, tha thứ cho một chính sách như thế. Sự thật rằng một số tổ chức, cơ quan và doanh nghiệp tồi tệ có thể chỉ bị chuyển hóa hoặc đổi thay nhờ vào sự vận động nội tại.

Tuy vậy, để điều ấy xảy đến thì những người bên trong phải làm việc hết sức tích cực nhằm tạo nên sự thay đổi ấy. Họ không thể chỉ ngồi đó rồi phát biểu, “Tôi phản đối, tôi không đồng tình” trong lúc chẳng làm gì chi đặng biến chuyển điều sai trái thành đúng đắn. Như ai đó tuyên ngôn chí lý, điều duy nhất cần thiết để tội ác chiến thắng là những người tốt chẳng làm gì cả.

Có lẽ đây là thời điểm chúng ta dừng lo lắng về những tâm trí không thể biến cải, thay đổi và thay vào đó, chúng ta nên tập trung năng lượng lẫn thời gian vào các đối tượng mình có thể tiếp chạm. Chúng ta phải làm việc đặng thay đổi các thái độ của những kẻ chỉ thờ ơ đứng nhìn; cần thuyết phục họ rằng, chức năng của tự do là tự do của ai đó khác. Nếu chúng ta có thể làm tất thảy điều vừa nêu ra, nếu thay đổi thái độ và làm việc theo một chiều kích tích cực thì rồi chúng ta có thể thay đổi bộ mặt của các cuộc chiến tranh văn hóa. Hoàn toàn đáng mong đợi ngày đó, bởi vì phải đương đầu nó, cuộc chiến là phi đạo đức. Chúng ta có thể dùng mọi thứ đặng làm nên sự thay đổi.

… Thật đáng ngưỡng mộ cô gái trẻ trong nhiều nỗ lực thầm lặng nhằm tự chấp nhận bản thân. Trong khi tất cả chúng ta đương đầu đặng chấp nhận và yêu thương bản thân, lớn lên trong một môi trường tri nhận về các cảm xúc tiêu cực về giới tính của mình có thể làm cho tiến trình kiếm tìm hạnh phúc của cô gái trẻ thêm phần kéo dài và khó khăn hơn.

Nghiên cứu từ 2008 cho thấy, các chàng gay càng ‘lộ diện’ và cảm thấy thoải mái với bản thân thì càng tốt cho sức khỏe tinh thần và cảm xúc của họ. Một nghiên cứu trước đó nữa từng phát hiện điều xảy đến tương tự với các đồng tính nữ và chị em lưỡng giới.

Còn quá sớm song cô gái trên đang dò dẫm tiến hành các bước đi tích cực theo chiều kích này, và  mong là cô ấy muốn tiếp tục cuộc hành trình gian nan đó. Tự ý thức và nỗ lực sống một đời chân thành và cởi mở. Dẫu vậy, cô gái trẻ đã kịp dựng lên các ‘bức tường cảm xúc’; đấy như là cách bảo vệ cô gái trẻ khỏi các xúc cảm đau đớn đến từ việc nghe thấy các thông điệp tiêu cực mình là ai, và thoát khỏi sự căng thẳng của trạng thái sống đời đồng tính.

Khi ta rơi vào tình huống không an toàn biểu đạt mình là ai, không nhất thiết tỏ bày thiếu lành mạnh nhằm bảo vệ bản thân từ khía cạnh cảm xúc theo lối này; cần tìm các phương thức mới nhằm biểu đạt bản thân và tương tác với kẻ khác. Tiến trình ấy không hề nhanh chóng, nó cần thời gian, và cô gái trẻ có thể tiến hai bước rồi lùi một bước; cho dẫu có thể thế đi nữa thì điều đó hoàn toàn bình thường.

Chuyện gì xảy ra nếu đời mình khác đi…

Lần đầu tiên đi tham vấn tâm lý có thể cảm thấy nản lòng. Càng mê xem phim càng dễ tưởng tượng hình ảnh bệnh nhân nằm dài trước cái ghế với đôi mắt nhắm nghiền rồi nói liên hồi kỳ trận về những ký ức tuổi thơ trong khi nhà tâm thần học nghiêm trang ngồi cạnh, thi thoảng ghi xuống vài từ gì đấy.

Cũng không giống với hình ảnh một tiến trình lâm sàng, tham vấn là một tiến trình rất người và thuộc mối quan hệ liên nhân cách. Đó là cuộc trò chuyện giữa hai người hoặc nhiều hơn, ở đó mình được nhà tham vấn mời gọi kể câu chuyện cuộc đời.

Vâng, tham vấn là tiến trình kể chuyện. Khởi sự, các câu chuyện khiến mọi người đến tham vấn nói tới cảm giác mắc kẹt, hiểu nhầm, tức giận, buồn bã, bị lừa dối, và vô số dấu hiệu khác nữa. Mình kể câu chuyện đời mình như ta trải nghiệm nó thế, theo các giá trị, niềm tin và cảm xúc nhận ra. Nó là một câu chuyện phức tạp và lắm tầng lớp, quá khứ và hiện tại, một trạng thái phong phú thuộc cảm xúc khiến kể lại cuộc đời. Liệu mình có biết việc thiết lập lối mô tả với bối cảnh cảm xúc rối rắm thế là chức năng của não trái? Các câu hỏi nhà tham vấn mời gọi mình phản ánh và hồi đáp với các thách thức do mắc kẹt, tắc tị thuộc sự trần thuật của não trái. ‘Chuyện gì xảy ra nếu đời bạn khác đi? Nó sẽ như nào? Các cách thức thay đổi trải nghiệm ra sao để điều gì đó trở nên lành lặn và phục hồi tốt đẹp?’

Bạn có thể trải nghiệm không ít các cơ hội mất mát, thất vọng và nuối tiếc khi thời gian trôi qua, thấy mình bị thuyết phục rõ ràng bởi người- kể- chuyện não trái mà có thể để lại hậu quả đáng sợ và nghiêm trọng.

Tuy thế, càng hiểu biết cách thức mình nhìn nhận và trải nghiệm thế giới đa phần là tiến trình dựa trên não trái chứa thông tin cực kỳ hạn chế thì mình càng học hỏi những thách thức về các câu chuyện, cái nhìn và trải nghiệm cuộc đời hoàn toàn khác biệt, từ một viễn tượng tích cực, lạc quan rất nhiều.

Như kiểu tuyên ngôn: “Ta không thấy mọi sự như chúng là. Ta nhìn mọi sự như chúng ta là.”

Nhờ kể lại câu chuyện đời mình với nhà tham vấn, mình bắt đầu nhìn thấy mọi sự như chúng là, chứ không như mình mong đợi thế. Một câu chuyện đưa cho ta năng lực chữa lành, hy vọng và một tương lai khác biệt.

Ta muốn câu chuyện đời mình khác biệt?

Nhắn (60): Khi lương tâm được tái phát hiện…

Theo tin tức trên báo nước ngoài dường như đã có lời kết cho vụ chuyến bay MH 370 của Malaysia. Câu chuyện tang thương và đau buồn với mấy trăm người chết mất tích như thế khó nói nên lời.

Và trong nước, giới truyền thông cũng ì xèo về một trường hợp đau buồn của một người nghệ sĩ nổi tiếng về già đang bệnh tật liên quan đến tiền bạc, vỡ nợ và lòng tốt giúp đỡ của tình đồng bào.

Điểm chung là câu hỏi liệu số đông người có đưa ra quyết định thông minh hơn một nhóm nhỏ các chuyên gia/ thiện nguyện?

Lý thuyết ‘sự khôn ngoan của đám đông’ của F. Galton, vốn là người ủng hộ lý thuyết tiến hóa của S. Darwin, về sau được ứng dụng rất nhiều trong đời sống hiện đại.

Khi một vấn đề quá phức tạp, chưa đủ một lượng lớn thông tin để giải quyết nó, thì sự khôn ngoan của đám đông tỏ ra hữu dụng.

Và mọi sự lại quay về điểm cơ bản. Trong tranh biện đạo đức, vinh quang đích thực là khi ta chiến thắng sự khám phá trở lại lương tâm; thất bại thực sự là khi ta phòng thủ trước sự tái phát hiện lương tâm mình.

Nàng Bạch Tuyết: đẹp, xấu, và quãng đời sống thực ở giữa

Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?
Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?

Câu chuyện cổ tích Grim về nàng Bạch Tuyết từ thời thơ ấu xa lơ xa lắc giờ lại sống dậy bàng hoàng, với một chiều kích và ánh sáng khác, khi dịp cuối tuần gần một tháng trước ghé sang Viện Goethe xem phim.

Nghĩ về một trường hợp muốn ly hôn song cũng chưa thôi mong đợi làm sao có thể níu kéo và nữ thân chủ hy vọng, với việc kiếm ra tiền nhiều hơn thì dễ khiến ông chồng thôi còn lăng nhăng mà sẽ ghi nhận nỗ lực phấn đấu của vợ để rồi thủy chung quay lại.

Gợi khái niệm ‘hệ thống sống còn’ mà việc hiểu biết đầy kịch tính về nó có thể sử dụng câu chuyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết (Snow White), không phải với phiên bản Disney mà câu chuyện tìm thấy trong Truyện Cổ Grim sau lần xuất bản lần đầu tiên vào 1812.

Trước hết ý tưởng cơ bản liên quan khái niệm này là trẻ em cần người lớn để đảm bảo sống còn và trong một số trường hợp trẻ em đặt qua bên nhu cầu riêng tư và thích nghi với nhu cầu bất thường, thiếu ổn định, mang tính mệnh lệnh của bố mẹ hoặc một thành viên gia đình khác. Những sự thích ứng này, như các hệ thống sống còn, trình bày các mẫu hình đầy quyền năng về hành vi, thái độ và niềm tin chức năng nguyên ủy vốn nhằm duy trì cảm giác an toàn cũng như tiếp tục gắn bó với người lớn trong thế giới của trẻ nhỏ. Hình thành từ thời thơ ấu và nền tảng dựa trên suy tư cụ thể và phàm tục của một đứa trẻ, dần về sau chúng cho ra các hành vi thất sách của kẻ vị thành niên và người trưởng thành.

Giờ quay lại phiên bản đầu tiên của truyện cổ tích Grim. Phiên bản Tiểu Bạch Tuyết ấy tuân thủ truyền thống mà động năng và cốt truyện của loại văn chương truyền khẩu vốn chú trọng mô tả ‘con người bình thường’. Theo đó, cô bé mới 7 tuổi khi thấy dung nhan mình trong chiếc gương thần như là ‘người đẹp nhất giữa thế gian’. Mẹ Bạch Tuyết không chết khi sinh ra cô, bà sống thọ và là chủ nhân thực sự của chiếc gương thần. Việc bà mẹ ruột bị chuyển thành bà mẹ kế độc ác bắt đầu từ bản in 1819 trở về sau; sự chuyển dịch thế được tìm thấy trong các chuyện cổ tích khác, biểu tỏ nhu cầu của anh em nhà Grim muốn lý tưởng hóa Bà Mẹ như biểu tượng quan trọng của các giá trị Đức quốc.

Cụ thể hơn, theo truyện, sau khi dung nhan Bạch Tuyết xuất hiện trong chiếc gương thần, cô bé trải qua các cuộc tấn công của bà mẹ sôi máu điên cuồng vì ganh tỵ: bảo người tiều phu đưa cô vào rừng thủ tiêu, và ba lần hãm hại khác do chính bà mẹ hóa thân thành bà lão tiến hành ở nơi mà gương thần mách bảo chỗ trú ngụ của Bạch Tuyết (dải lụa thắt chặt đủ để mất ý thức, cái lược tẩm độc cũng làm nạn nhân mê man, và cuối cùng là quả táo thêm độc dược); tiếp đó, phần còn lại là Bạch Tuyết nằm mãi trong quan tài cho đến ngày được chàng hoàng tử giải cứu, rồi họ sống ‘hạnh phúc bên nhau mãi mãi’.

Đổi đoạn kết của chuyện cổ tích vào việc người ta giải quyết thực tế và anh thư có thể là một phụ nữ trẻ trung bị tàn hoại khủng khiếp bởi các trải nghiệm trong đời. Cô có thể đau đớn bởi rối loạn stress sau sang chấn, ám sợ dây ren, dải buộc, lược, táo, và các quý bà rồi đau đớn do mắc rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng cũng như dạng phản ứng lo âu lan tỏa. Đây rõ ràng không phải là cá nhân sống ‘hạnh phúc mãi mãi về sau’.

Khi hỏi một đứa trẻ rằng nàng Bạch Tuyết cần làm gì, với tư duy cụ thể, nó trả lời rằng: ‘Chị í cần rời khỏi cái gương’. Vậy rồi sau đó cô í cần làm thế nào nữa?  ‘Chị í cần phải xấu xí’; càng xấu xí thì cô í càng không phải bị bà mẹ ái kỷ quá độ hành hạ. Chuyển thể Nàng Bạch Tuyết nhằm tránh rơi vào vòng cạnh tranh, đối đầu thảm khốc đầy tai ương với bà mẹ, dạng thức cốt lõi của hệ thống sống còn của nàng, là ‘phải nhất thiết xấu xí’. ‘Nhu cầu’ ấy có thể tự thân biểu hiện trên nhiều cách thức, tỷ dụ, trở nên thừa cân và béo phì. Cô gái trẻ, người sống sót và thoát khỏi nỗi ghen ghét, tị nạnh của bà mẹ nhờ mập ú, là một sự đánh mất để hiểu ra tại sao khi lớn lên cô không thể giảm cân, bất luận dù có cố gắng đến thế nào. Cô không hiểu rằng các hệ thống sống còn nảy sinh từ thời thơ ấu vẫn không dễ dàng thả bỏ quyền năng tác oai tác quái của chúng.

Các hệ thống sống còn này có thể diễn biến dưới nhiều dạng kiểu. Nếu bà mẹ hỏi: “Ai là người thông minh nhất trong chúng ta?”, nàng Bạch Tuyết e sẽ là kẻ đần độn. Nếu một người cha ướm lời: “Ai là người cần thiết nhất trong chúng ta?”, cậu con trai e sẽ là đứa phụ thuộc kém cỏi. Nếu anh cả được ưu ái nói: “Ai là người thành công nhất trong nhà mình?”, cậu út ít e sẽ đóng vai kẻ thất bại. Nếu đứa trẻ tin thật nguy hiểm khi vén lộ các bí mật gia đình, nó sẽ trở thành “đứa trẻ lặng câm”. Trong khi tất cả các chiến lược thành công giúp một đứa trẻ giải quyết với môi trường rối rắm và tiềm tàng hiểm nguy thì chúng lại không có được các đáp ứng lành mạnh hoặc đúng đắn khi trở thành người lớn trưởng thành.

Khi tuổi thơ của chúng ta trải qua cảm giác bị tước đoạt, mất mát về mặt cảm xúc thì dạng thức thiếu vắng không nghĩ mình là người quan trọng hoặc đáng yêu đủ kéo dài trong khi trưởng thành như một kiểu ‘não trạng mất mát”. Chúng ta có thể ước gì mình có thể có đủ đầy những thứ mình cần; cảm giác bất an này dễ làm băng hoại, tàn phá các quan hệ thân mật. Chúng ta thậm chí mong đợi những người yêu thương mình bỏ rơi, hắt hủi mình, không bao giờ biểu tỏ các nhu cầu bản thân một cách trực tiếp hoặc lựa chọn tình nhân cặp đôi là những người lảng tránh, ngại cam kết gắn bó, không thích thân mật, gần gũi. Cảm xúc thiếu vắng, mất mát các nguồn lực quan trọng như tình yêu, thực phẩm, tiền bạc, hoặc thời gian có thể dẫn ta tới nỗi sợ hãi hoặc tức giận. Chúng ta có thể ám ảnh bởi những thứ mình thiếu thốn, hoặc có thể cảm thấy nhu cầu thao tác, vận hành trong mô thức khẩn cấp: bủn xỉn, hà tiện hoặc lên gấp gáp kế hoạch từng giây phút một trong đời.

Ngoài lầm lạc liên quan đến việc quản lý và nhận biết về thời gian, não trạng mất mát và thiếu vắng trên còn dễ khiến ta đưa ra các quyết định vội vàng, ngắn hạn để rồi sẽ làm tăng thêm khó khăn, rắc rối cho những khoảng thời gian dài hơi hơn; chưa hết, não trạng ấy còn quấy nhiễu ta về mặt động cơ, làm mình dấn vào những sự quyến rũ, cám dỗ và thử thách mà khả năng cao là bị tổn thương… Điều nên làm để thay đổi là hình thành thái độ biết ơn; không so sánh bản thân với người khác; ngừng hẳn ám ảnh; sử  dụng các công cụ đo lường ưu tiên (lên danh sách những việc cần làm, lập kế hoạch, v.v…); đừng tham lam, thèm khát quá…

Thực tế, hầu hết bố mẹ không giống với bà mẹ độc ác trong truyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết. Nhiều người có thể trải qua môi trường hồi tuổi thơ đầy rối rắm, trục trặc hoặc khốn khó và có khả năng đã phát triển các hệ thống sống còn phù hợp với thân phận của riêng họ. Điều quan trọng là người cha có thể nhìn vào nền tảng gia đình sinh học đặng thấy ra mình có mắc mứu với một môi trường cạnh tranh cực độ thế không; khả năng khác là ông hãy còn vướng vào nhu cầu sống còn xưa cũ để cảm thấy mình nhất thiết tồn tại, hay ông muốn làm ‘người cha hoàn hảo’ bởi vì mình dính dáng với một hệ thống sống còn đòi hỏi phải làm người hoàn hảo.

Càng thấu hiểu lịch sử chính mình và đạt được một khoảng cách tốt nhất với quyền lực của các hệ thống sống còn đặc thù, chúng ta càng tìm thấy nhiều khả năng để cống hiến, đưa lại và tạo lập cho con cái mình một môi trường cho phép chúng phát triển nhân cách, tài năng và những tiềm tàng riêng có.

“Thơ không làm ra bánh mì…”

Câu thơ dịch từ tiếng nước ngoài đọc trên tờ báo giấy cũ xì đã tròm trèm 30 năm giờ vẫn còn thuộc: “nhưng thơ làm cho bánh mì ngon hơn một tí”.

Hôm nay Ngày Thơ Quốc tế thường niên, thử thả vội đôi dòng tái xác nhận lần nữa về giá trị của thi ca, khi người ta được cứu vớt bằng một bài thơ, và nhấn mạnh đúng tầm phương cách của thứ nghệ thuật trị liệu, chữa lành đầy quyền năng và huyền bí.

Tổ chức UNESCO cho rằng, thi ca khẳng định tiếp tục tính con người thân quen thông qua việc vén lộ với chúng ta rằng các cá nhân ở khắp mọi nơi trên toàn cầu này đều chia sẻ cùng cảm xúc và vấn đề tương tự nhau. Thi ca là dòng chủ lưu của văn chương truyền khẩu, và vượt qua bao thế kỷ, thi ca có thể truyền thông các giá trị hầu như đáng giá nhất trong các nền văn hóa đa dạng.

Như một biểu đạt sâu thẳm của tâm trí con người đồng thời thuộc thứ nghệ thuật phổ quát, thi ca là công cụ đối thoại và sự thiết lập bang giao trở lại. Việc phổ biến thi ca góp phần nâng cao cuộc trao đổi giữa các nền văn hóa và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, bởi vì thi ca tạo điều kiện tiếp cận với lối diễn bày xác thực, đúng đắn của ngôn ngữ.

Bởi vì ngôn ngữ khởi thủy của đứa trẻ là ngôn ngữ thi ca. Âm điệu của một bài thơ phản ánh nguyên ủy nhịp đập của trái tim chúng ta nghe thấy khi nằm trong bụng mẹ.

‘Hạnh phúc’, nghe chúc mãi thành quen tai và nhàm tẻ

Thế là Việt Nam lại có thêm một hoạt động màu mè, theo nghĩa lập lòe át vía để  ít nhiều cố tình che đi những nhiễu nhương và bất mãn trong sâu thẳm lòng người. Xin cứ tự nhiên tham gia lần thứ hai phong trào thế giới do Liên Hiệp Quốc phát động mang sắc thái tâm lý học tích cực để tạo nên cam kết cá nhân nhằm vinh danh rồi tái khám phá trở lại, một cơ hội học hỏi nhiều hơn đồng thời tăng cường sức mạnh riêng có nhằm làm cho chính bản thân mình hiểu biết hạnh phúc thêm nữa vào hôm nay.

Hạnh phúc tuyệt không hời hợt cũng chẳng hề xa xỉ. Đó là nỗi niềm ước ao thẳm sâu đặt để trong mọi thành viên của gia đình nhân loại. Hạnh phúc không nên loại trừ ai và cần tương thích với hết thảy. Khát vọng ấy được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc cam kết như cách thức nâng cao hòa bình, công bằng, quyền con người, tiến bộ xã hội và cải thiện các chuẩn mực đời sống.

Có thể bạn không khớp khít hoặc chẳng đủ điểm trắc nghiệm về chủ đề liên quan; mặt khác, hạnh phúc thì nào giống với việc theo đuổi, truy tầm hạnh phúc. Sức khỏe, sự khôn ngoan, trí tuệ, giàu sang và tài năng; một đời sống hạnh phúc không đồng nghĩa một đời sống có ý nghĩa.

Làm thế nào để nhìn nhận về tính vô thường của cuộc đời đang sống một cách thật tích cực?

Làm thế nào để biết thưởng thức đời sống tràn đầy hơn?

Những gì là hạnh phúc vững bền và rốt ráo?

Tại sao chúng ta ở đây?

Tự do vượt thoát khỏi tâm trí và vật chất. Tập luyện tỉnh thức chân chính để giảm thiểu khổ đau, từng khoảnh khắc một, từ giây phút này sang giây phút khác; thường xuyên và liên tục. Trạng thái an lạc, không bị xáo trộn bởi bất kỳ điều kiện nội tại hoặc ngoại giới nào, hạnh phúc hoàn hảo được khởi sự bởi khôn ngoan (nhìn thấy cách thức mọi thứ đích thực đúng vậy) và từ bi (tử tế với những ai thiếu vắng sự khôn ngoan ấy) là mang hạnh phúc đến với tha nhân.

Lắng nghe càng dễ khiến chúng ta chia sẻ và lại gần bên nhau

Lễ hội vía Đức Quán Thế Âm hôm nay vốn là điểm nhấn du lịch của thành phố quê hương, cơ hội quý báu giúp học hỏi thêm hạnh Lắng nghe của bậc Bồ tát.

Là người làm tham vấn và trị liệu tâm lý thì không nhất thiết phải thuộc dạng quyền năng đặc biệt gì đấy, cơ bản tôi tin rằng chỉ cần mình đặt sang bên nhu cầu bản thân để dành không gian cho thân chủ: không gian để lắng nghe và tri nhận tổng thể mọi điều theo cách thức mà thân chủ chia sẻ bằng chính giọng điệu lẫn từ ngữ sử dụng cùng cử chỉ, điệu bộ riêng có của họ; không gian dành lắng nghe con người là trước nhất và duy mỗi một trên thế giới này, và họ sẽ đưa cho mình các thông tin hết sức thiết yếu qua lối cách ý nghĩa rất khác biệt.

Thân chủ đều từ mọi phương trời và đủ chiều kích phát triển; họ nhắc nhở tầm quan trọng của lắng nghe. Rồi mình sẽ thấy rằng, không chỉ thân chủ có không gian đặng được là mình và lắng nghe chính họ mà bản thân nhà trị liệu tâm lý cũng có không gian để lắng nghe họ. Lắng nghe chắc chắn không hề dễ dàng tẹo nào khi tâm trí ta đầy gắng sức nỗ lực, khi mình chăm chắm ghê gớm với bất kỳ mức độ lớn bé cho việc chẩn đoán thân chủ, làm việc với các vấn đề nảy sinh, xác định các mẫu hình, và tìm cách gắn khít chúng.

Ở nét nghĩa nhất định thì các suy tư kể trên hoàn toàn tự động, và thích hợp với một nhà trị liệu, cũng như tất thảy suy tư, trải nghiệm và ý tưởng này nên nằm trong vòng kiểm soát, song không gian thiết yếu và cốt lõi nên dành để lắng nghe.

Tri nhận tuyệt hảo điều này, ngay lập tức, trong không gian nội tại cá nhân của nhà trị liệu là điểm chính của việc trị liệu, và vì thế, không khó nhận ra rằng sẽ càng là thách thức lớn lao khi nền văn hóa quá tải thông tin, nghiên cứu, mẹo mực, chiêu trò, kỹ thuật và truyền thông liên tục chẳng chịu ngừng nghỉ giữa các ngành nghề chuyên môn khắp cả địa cầu.

Nên tìm thấy các bí quyết và thiết lập kỹ năng thiện xảo cho việc nắm bắt thông tin rồi đặt chúng vào đâu đó an toàn đặng ưu tiên hóa việc lắng nghe thân chủ.

Trị liệu có thể là thứ đắt đỏ. Những gì khiến một phiên làm việc một tiếng đồng hồ đáng giá như thế. Là do bằng cấp chuyên sâu của nhà trị liệu? Năng lực trí tuệ? Các hệ thống và lý thuyết mang tính học thuật quá phức tạp sử dụng? Dù các khía cạnh này ít nhiều quan trọng thật, song cần đặt chúng với điều gì khác còn quan trọng hơn. Các cuộc trao đổi mang tính trị liệu chứa một phẩm chất đặc thù rất khó để mô tả thấu đáo.

Cân nhắc nghiêm túc nhằm tránh xác lập “nhà trị liệu là người lắng nghe giỏi giang” không phải bởi vì điều đó sai mà hơn thế, nếu khu biệt vậy thì nó thất bại trong đảm bảo phản ánh đúng đắn bản chất của trị liệu. Bất kỳ người nào hình thành động cơ hữu lý đều có thể học hỏi một số kỹ năng lắng nghe, vượt qua vài ba lỗi lầm cố tật khi trò chuyện và cải thiện ngoạn mục năng lực lèo lái, điều phối một cuộc trao đổi. Bản thân tôi khuyến khích ai cũng nên làm được thế, song trị liệu tốt thì cần lộ trình dài lâu hơn thế.

Nghe một cách chuyên nghiệp quả uy lực. Một trong các thuộc tính rõ ràng của trị liệu tốt là nhà trị liệu thường lặng yên, đôi khi đầy đau đớn nữa. Lúng túng do lặng im là điều thường xảy đến trong giờ trị liệu và điều này xảy ra do thiết kế. Trạng thái khó chịu ấy mà đa phần mọi người cảm thấy khi im lặng hối thúc, kéo chúng ta vào cuộc trò chuyện; đôi khi, thật ý nghĩa khi chúng ta quyết định nói ‘chỉ để lấp đầy không gian’.

Thành phần thiết thực của truyền thông là lắng nghe. Chỉ mỗi nghe là việc tri nhận sóng âm thanh, không đòi hỏi gì nhiều ở mình; còn lắng nghe thì hơn thế, gồm cả nghe thấy, suy tư và thấu hiểu.

Lắng nghe rõ ràng không thuần túy là chẳng nói năng chi… nó hàm ý nắm lấy một mối quan tâm rất người, đầy nhiệt huyết với những gì mình được nghe kể. Mình có thể lắng nghe giống như một bức tường trống hoặc như một thính phòng tráng lệ, nơi mà mỗi thanh âm dội lại thêm phần ngập tràn và phong phú hơn.

Hầu như lắng nghe luôn là vấn đề khi cần tham vấn nhóm. Vào lúc cảm xúc dâng cao, lắng nghe bị ngừng ngắt. Chúng ta cần thấu cảm với những gì người ta đang kể, và cố gắng bên cạnh lúc họ gặp căng thẳng, bấn loạn; chúng ta cần bên nhau thay cho việc không ngừng chỉ trích qua lại gay gắt.

Song, đó là một câu chuyện dài…

Những cảm xúc hoang tưởng và giận dữ giữa đời thường

Hàng ngày, quá nhiều những vụ việc bạo lực được báo chí quốc nội đẩy lên mạng lưới điểm toàn cầu góp phần khiến thiên hạ bàng hoàng và không thể lý giải thấu tình đạt lý nguồn cơn.

Đứa trẻ, hoặc đứa trẻ trong người lớn, chống chọi để bảo vệ phần thiện lành trước sức tàn phá của các trải nghiệm xấu ác, và lý tưởng hóa là một sự phòng vệ. Thật khó khăn nhằm biết chắc đối lập với lý tưởng hóa có phải là trạng thái ái kỷ quá mức (tự lý tưởng hóa bản thân), hận thù và gièm pha, hoặc hoang tưởng (phóng chiếu hận thù) hay không.

Giống như người lý tưởng, kẻ trải nghiệm các ý nghĩ hoang tưởng cũng dùng cơ chế phòng vệ phân liệt và tách biệt (splitting), dù trong ví dụ này thì anh, chị ta phóng chiếu tất tật các cảm nhận tồi tệ khỏi bản thân, nhìn nhận thế giới, một số cá nhân nào đó, hoặc con người nói chung như lực lượng thù địch và khủng bố, đang đặt để tấn công cái tôi ngây thơ và thiện lành.

Một con người như thế không ngừng gìn giữ cảm xúc tiêu cực của kẻ cùng đường bởi việc chối bỏ sở hữu chủ của chúng rồi đá chúng sang những kẻ khác. Trong những trường hợp cực đoan, thể hiện dưới dạng hoang tưởng paranoid, kẻ ấy tri nhận các kịch bản và cơ chế dù mang tính người hay không, như là ‘thực tế’ đối với thân chủ cho dẫu nhà trị liệu biết rằng chúng chỉ là huyễn tưởng mà thôi.

Dù có thể biểu tỏ trạng thái cực đoan, các cảm xúc hoang tưởng là dấu hiệu trải nghiệm đời thường, tuy không gây ngờ vực hoặc xung hấn kéo dài. Khi đời sống trở nên tồi tệ, chẳng bất thường việc phóng chiếu hụt hẫng và tức giận ra ngoài, và tự hỏi tại sao các kẻ khác hoặc ngay chính cuộc đời, lại đối xử như thế với chúng ta. Đây là cách hay gặp đặng xử lý các cảm xúc tiêu cực, khi những ý nghĩ hoang tưởng là cơ chế phòng vệ chống kháng với sự tức giận hay hận thù của người ta.

Các cảm giác hoang tưởng là phương thức đặc thù giải quyết những cảm xúc tiêu cực. Bản chất tức giận và nguồn gốc gây xung hấn hãy còn tranh cãi, nhất là mức độ xung hấn tự nhiên và cần thiết cho sự phát triển cũng như sống còn, và liệu nó đáp ứng với hụt hẫng hay sợ hãi đến đâu. Xem xét một vài lý thuyết để hiểu thêm về sự phức tạp của các cảm xúc khủng khiếp này.

@ Lý thuyết Bản năng- Sinh học: thường nhìn nhận hành vi xung hấn như là sự diễn bày của thành phần nội tại, hiển nhiên thuộc bản chất con người, là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên (Lorenz, 1966).

@ Các lý thuyết Phân tâm:

a) Một số nghĩ xung hấn như phần tự nhiên của con người, một bản năng phá hủy; lực lượng chống lại đời sống và bản ngã; một sự ngăn cản việc phát triển cái tôi; bảo vệ cái tôi trước môi trường thể hiện tính ngăn trở;

b) Một số nhà tâm lý cái tôi (ego) nhìn xung hấn như phản ứng đối với các xung đột hiển nhiên trên tiến trình thích nghi, một phản ứng bất mãn và cảm xúc trầm uất;

c) Một số nhìn xung hấn như động cơ nỗ lực vượt qua một trở ngại;

d) Với một số nhà tâm lý bản ngã (self), xung hấn là phản ứng trước mối đe dọa mang tính ái kỷ thái quá, một dấu hiệu gây tổn thương tiềm tàng bản ngã;

e) Balint (1968) đặt nền móng xung hấn trong sự thất bại khi gắn khít nhu cầu của trẻ cho sự phụ thuộc tuyệt đối và đáp ứng của bà mẹ, sự hận thù phục vụ như rào cản dựng lên nhằm bảo vệ cái tôi khỏi ‘người không yêu thương chúng ta’;

f) Hầu hết các nhà Phân tâm độc lập Anh quốc nhìn động năng sống (libido) có yếu tính đổ tràn xung hấn, và do đó, xung hấn trẻ con là phần tranh đấu lành mạnh chống lại các tương tác bệnh lý. Winnicott (1971) duy trì quan điểm rằng xung hấn khởi từ hoạt động trước sinh của đứa trẻ.

@ Lý thuyết Hụt hẫng (frustration): nhìn hành vi xung hấn gồm việc thoát khỏi trở ngại cho các tiến trình và/ hoặc hành vi làm hài lòng. Người ủng hộ thuyết này còn cho rằng đáp ứng với xung hấn là hiện tượng phản ứng và chống kháng được đánh thức ở cá nhân bởi các hoàn cảnh ngoại giới.

@ Lý thuyết Học hỏi Xã hội: hành vi xung hấn là kết quả từ bản chất các hành vi chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ và những thăng trầm của tiến trình xã hội hóa và tích hợp nhóm. Bằng chứng cho quan điểm này được hình thành từ các dữ liệu thu thập bởi các nhà xã hội, nhân học, và tâm lý học theo định hướng lý thuyết học hỏi.

Tức giận, dĩ nhiên, có thể diễn ra dưới nhiều dạng thức; Malan (1979) quan sát một số bệnh nhân hay bộc lộ các hiện tượng:

  • tiền sử thiếu thốn cảm xúc, đôi khi quá mức trầm trọng, thường diễn ra vào giai đoạn cuối thời thơ ấu;
  • các xung năng hung dữ và phá hủy thật khó tin nổi, đi kèm độ căng tương ứng của tình yêu thương;
  • bằng chứng cho sự bị tước đoạt để lại chủ yếu hướng tới bà mẹ;
  • các chủ đề chính yếu liên quan với việc nuôi dưỡng- bú mớm.

Dĩ nhiên, đôi khi khó khăn để tưởng tượng trải nghiệm hụt hẫng của một đứa trẻ. Tuy vậy, chúng ta quan sát cách một đứa trẻ vặn xoắn cả người như dạng bùng nổ, thịnh nộ vậy. Malan cho là xung hấn lâu đời hàng triệu năm so với cảm xúc yêu thương cá nhân, nên quan hệ đầu tiên của đứa trẻ đối với mẹ mình là xung hấn? ( nhận được hơn là cho đi).

Khi nhà trị liệu làm việc với thân chủ biểu lộ sự sợ hãi trước nỗi giận dữ mang tính phá hủy thì dưới đây là một số gợi ý cần nhớ:

  • giúp thân chủ lưu giữ các đặc trưng và thành tựu mang tính tích cực, thiện lành, biểu lộ khía cạnh đó của bức tranh đi kèm với bất kỳ khía cạnh nào khác khiến thân chủ cảm thấy sợ hãi hoặc tội lỗi;
  • khuyến khích thân chủ nói thành lời sự giận dữ trong phiên trị liệu, hơn là hành động mang tính tự tàn phá bản thân hay đối tượng, ai đó ở bên ngoài, có lẽ quan sát cách biểu tỏ nó thành lời trong môi trường an toàn của trị liệu là không gây hại;
  • biểu tỏ, thông qua quan hệ với thân chủ, rằng diễn bày sự giận dữ thành lời (đặc biệt hướng tới nhà trị liệu) hoặc mô tả các huyễn tưởng phá hoại không hề gây hại cho nhà trị liệu hoặc thân chủ, hoặc quan hệ của họ;
  • cần thiết duy trì trạng thái vững vàng để không làm nảy sinh bất kỳ biểu đạt mang tính phá hủy về mặt thể lý trong phiên trị liệu;
  • tạo các kết nối giữa quá khứ và hiện tại để có thể giải thích độ mãnh liệt của sự giận dữ hoặc tội tội khi đang trải nghiệm nó; cùng lúc cho thấy một sự khác biệt giữa một đáp ứng đúng lứa tuổi ở thời thơ ấu và những gì không thích hợp trong hiện tại;
  • hỗ trợ thân chủ biểu đạt thích hợp sự giận dữ ở mức độ về các tình huống đương đại;
  • làm rõ sự khác biệt giữa tội lỗi thực tế là kết quả từ  việc biểu đạt nỗi tức giận gây đau đớn cho người khác, và tội lỗi không đúng đắn làm hư hại cảm nhận thân- tâm an lạc của chính thân chủ;
  • với lý do chính đáng của tội lỗi, khuyến khích và nâng đỡ ước ao của thân chủ tạo ra sự cách biệt trực tiếp hoặc gián tiếp: khả năng vá lành các tình huống và sửa chữa các quan hệ là dấu hiệu rằng nhu cầu phá hủy không nhất thiết kết thúc;
  • nhớ rằng bên dưới sự tức giận chắc chắn là một nỗi buồn đau sâu thẳm, sự trống rỗng hoăc trạng thái tuyệt vọng và yếu đuối khôn cùng là phòng vệ trước nỗi niềm thù hận. Người bị tổn thương có thể thích đáp ứng đầy tức giận hơn là chỉ ra cách thức họ đang thực sự chịu đau đớn hoặc yếu đuối. Càng nhận ra cách thức riêng có phù hợp với họ càng trợ giúp họ hiệu quả hơn;
  • cần thấu hiểu rằng nhà trị liệu và tham vấn cũng ghét bỏ thân chủ, nhất là những ai khiến họ cảm thấy không hội đủ năng lực hoặc ngần ngại (Winnicott, 1975). Chuyển kênh thích hợp nỗi niềm xung hấn ở nhà trị liệu hướng tới các mục tiêu rốt ráo của trị liệu sẽ hạn chế tối thiểu sự ngăn cách giữa thân chủ ‘tồi tệ’ và nhà trị liệu ‘tốt đẹp’;
  • cuối cùng, Malan thêm rằng sự tích hợp tình yêu thương và lòng hận thù dẫn đến các khoảnh khắc thay hình đổi dạng hết sức lớn lao, trong đó thế giới, cả quá khứ lẫn hiện tại, thay đổi từ ‘xấu xa’ thành ‘tốt lành’ (1979).

Thực tế, cũng cần biết rằng, một số thân chủ thấy mình khó khăn để biểu đạt sự thù địch đầy lo lắng rằng nếu họ làm thế, họ cũng sẽ tàn phá bản thân luôn; nên họ bộc lộ các hành vi trầm uất hoặc tự đập phá; cắt đứt các mối quan hệ, chẳng hạn, trước khi họ trở nên giận dữ với người khác; thậm chí, ở nhiều trường hợp phức tạp, gây hại với chính bản thân.

Vào một ngày không phải thứ Năm và chẳng có ấm trà nào cả

Thứ Năm là ngày tôi yêu thích nhất trong tuần, và trà mạn dù không phải thức uống quen thuộc, bản thân mình tuyệt chẳng phải dân sành chi hoặc đâm ghiền gì song tôi thấy nếu tình cờ được nhấp ngụm hương ấm nóng thế vào ngày mưa gió, giá lạnh luôn khiến thân- tâm thêm phần an lạc; ngay cả hôm đó đường sá nhếch nhác và cái gọi là ấm trà đích thị trỏ một cái bình nhựa bé có chữ Trà bằng Hán ngữ thuộc sản phẩm của Lock & Lock mà thôi.

Vào một ngày không phải thứ Năm và chẳng có ấm trà nào cả, nghe nói về thương hiệu (brand) trong định vị với văn hóa (culture), bản dạng (identity) và máu làm ăn (entrepreunership) quả là trò đủ sức khiến tâm trí tỉnh táo, ngồi thẳng lưng và dỏng tai…

Theo guru marketer hàng đầu Godin thì thương hiệu là tập hợp các kỳ vọng, ký ức, câu chuyện và quan hệ mà đi cùng nhau, chúng tạo nên quyết định lựa chọn một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó của khách hàng; và nếu khách hàng (một doanh nghiệp, người mua, kẻ bỏ phiếu, hoặc cung tiến) không trả giá cao hơn mức thường, tạo nên một sự lựa chọn hoăc lan truyền từ ngữ thì giá trị thương hiệu đó không tồn tại với khách hàng ấy.

 Quá nhiều những tuyên ngôn trong một bối cảnh mà xác định giá cả chỉ được nhìn nhận như là sự trao đổi tiền tệ.

Các khái niệm dùng để đi qua cảm xúc, thay đổi, tỉnh thức và chia sẻ.

Kể câu chuyện quyến rũ.

Và nguyên tắc đầu tiên của tiếp thị và thương hiệu (ngay cả chính bản thân mình) là: giữ lời hứa; muốn một thương hiệu lớn, hãy tạo nên một lời hứa lớn lao rồi giữ lấy lời đã tuyên.

Phẩm giá và cái chết

Viết về cái chết trong năm phút còn lại của ngày. Tác giả cuốn sách khá hót một thời How We Die tròn thập niên vừa qua đời mấy ngày trước. Là bác sĩ y khoa, Sherwin Nulan biết rõ rằng ít người trải qua cái chết thật êm đềm và dễ dàng, mà đa phần thì khá giống với cách ông Phật đã mô tả nó: dukkha (khổ), đôi khi thậm khổ luôn.

Ý tưởng cũ càng của sự khôn ngoan biết rõ rằng thời điểm đã tới, chấp nhận nó, và để tiến trình diễn ra như nó vốn thế, tuyệt không đi theo kháng cự thông thường cố đặt dấu hiệu tích cực quay tròn trên mọi thứ. Và Nulan từng chấp bút mấy dòng sau.

Nếu hình ảnh cổ điển của cái chết kèm với phẩm giá phải được biến cải hoặc thậm chí thải loại, những gì cần được cứu độ niềm hy vọng của chúng ta cho các ký ức cuối cùng mình để lại với những người thân yêu? Phẩm giá chúng ta tìm kiếm lúc sắp chết phải được phát hiện thấy trong phẩm giá hồi chúng ta còn sống trên đời.