Bác sĩ ơi, giá mà…: chút liên tưởng đến việc thực hành dựa trên bằng chứng

Gạo nếp lứt rang vị café

Đang nghĩ tới nó ít nhiều thì bắt gặp đúng ngay bài báo cung cấp dưỡng chất cho suy tư cất cánh thêm chút.

Theo 2 lãnh đạo khoa Nội tim mạch, sáng 26.6, khi bệnh nhân Trang khó thở, bác sĩ đã tiêm cho bệnh nhân này liều thuốc lợi tiểu và đến gần trưa thì bệnh nhân này tử vong. “Tiêm thuốc lợi tiểu nhằm giúp bệnh nhân đi tiểu được để làm cho gan nhỏ lại. Nguyên nhân dẫn đến cái chết của bệnh nhân là do phù phổi cấp, chứ không phải do sốc thuốc như phản ánh của người nhà” – bà Yến nói.

Cũng theo bà Yến và ông Đông, sở dĩ trước đó bác sĩ Thị nói với người nhà bệnh nhân Trang rằng bệnh nhân này sắp được xuất viện là vì “nhiều khi không nói thật với người nhà được”. Bà Yến và ông Đông nói đây là “nghệ thuật của bác sĩ”, nhằm để “bệnh nhân có mất thì mất ở nhà chứ không mất ở bệnh viện”.

Lãnh đạo của khoa Nội tim mạch cũng cho biết, người nhà của bệnh nhân Trang trước đó đã đề nghị bác sĩ mổ thay van tim cho bệnh nhân này. Bệnh viện cũng đã xét mổ cho bệnh nhân nhưng chưa thực hiện được do bệnh nhân phải được điều trị đến khi hết suy tim rồi mới mổ được.

Cụm từ tôi quan tâm là “nhiều khi không nói thật với người nhà được“, chuyện ấy thuộc “nghệ thuật của bác sĩ“.

Bên dưới mỗi nỗi niềm sinh tử đều luôn ẩn chứa nguyên do xa gần đi kèm câu chuyện cụ thể. Dẫu thực hư ra sao chưa rõ, song có vẻ lương năng dễ mách bảo người hành nghề trợ giúp cứu người về lời thề tác nghiệp, rằng họ không nên hứa hẹn điều không thể hoặc sẽ khó giữ lời trọn vẹn được. Điều này thậm chí có thể áp vào mọi bác sĩ, rằng chỉ nói về sự kiện đúng như nó là; bác sĩ cần cảm thông, sẻ chia song bác sĩ cũng cần sự thật và thông tin để tạo nên các lựa chọn đúng đắn. Đánh giá cao tinh thần lạc quan lẫn phẩm chất thân thiện bằng hữu, song chung cuộc, nó cho chúng ta hy vọng giả tạo dễ dẫn mình vượt quá xa niềm đau nỗi khổ cả về mặt thể lý và tâm thần cho chính bệnh nhân cũng như người thân, gia đình.

Tôi thoáng nhớ lại vài ba lễ hội Macchabée tri ân những người hiến xác mình từng được tham dự từ thập niên trước, gắn với kỷ niệm tìm hiểu nhà xác thuộc đại học Y Huế.

Một điều cũng liên quan sát sườn là việc nhận bản cam kết, tán đồng với cách điều trị và cho phép tiến hành phẫu thuật. Bao nhiêu bác sĩ dành thời gian giải thích thấu đáo cách điều trị có thể tác động cụ thể tới đời sống bệnh nhân bằng một thứ ngôn ngữ dễ hiểu; dành thời gian cho suy tư, trù tính và sẵn sàng trả lời các câu hỏi một cách nghiêm cẩn và tuyệt không định kiến.

Bác sĩ ơi, giá mà… Ngay cả quan niệm hiện tồn rằng y khoa là nghệ thuật hơn là khoa học thì nếu bác sĩ muốn bệnh nhân giữ một vai trò chủ động hơn trong công tác chăm sóc y tế, cách có thể làm là giải thích tại sao mình đang tiến hành những điều này. Bác sĩ khá dễ giả định tính chuyên môn sâu hiếm hoi vì mình biết hơn ai hết. Song không phải ta luôn biết nhiều hơn. Tỉnh giác, dõi theo mỗi ngày mình là ai và những gì mình thuộc về, đi kèm với thái độ cảm thông giữ chức năng phương tiện và cứu cánh của nghề nghiệp.

… Các góp ý và mong đợi như thế tất chạm tới nền y khoa dựa vào bằng chứng (evidence- based medicine). EBM dùng các thống kê; đại khái, các thống kê này là những tỷ lệ thành công cũng như mức tin cậy có thể đặt vào các tỷ lệ thành công này, nhiều lợi lạc so với giả dược (placebo), v.v… Đối lập với chuyện dựa vào ký ức của bác sĩ “mình từng làm điều này trước đây và dường như nó ổn”, hoặc tồi hơn, “người ta nói điều này được việc”.

EBM khá tường minh, song nhìn lại, không dễ dàng để thực hiện. Cơ thể con người, các lối hỏng hóc của nó, và những mối tương tác của nó với y khoa hiển nhiên là quá chừng phức tạp. Tiêu chuẩn vàng của bằng chứng có thể sẽ là kiểu “Chúng ta thấy thật chính xác các triệu chứng này, và chỉ các triệu chứng này, nhiều lần, và khả năng kiểm soát cực kỳ nghiêm ngặt người nhận điều trị, bao khắp vượt khỏi các khả năng riêng biệt khác”. Điều này khó khăn thực hành hơn so với nắm bắt lý thuyết; có nhiều khó khăn khác nảy sinh nữa. Một bác sĩ giàu kinh nghiệm sẽ gặp vô số tình huống mà không tìm thấy bằng chứng sát hợp, và bằng chứng tương tự gần sát nhất lại có thể dẫn dắt khác biệt rất sai lầm.

EBM thật tuyệt khi nó tỏ ra hiệu quả, tác động lớn lao làm giảm thiểu các kiểu dạng định kiến mà bác sĩ thể hiện trong công việc: trí nhớ chọn lọc, niềm tin sai lạc, đào tạo không sát đúng, v.v… Các bác sĩ tốt ngày nay hay dùng EBM và thải loại ra các bước tiến hành chỉ dựa mỗi trên giai thoại; khi bất khả, họ vẫn còn có sự tự đánh giá tốt nhất bởi vì trong trường hợp người ta đang đau đớn thì đòi hỏi mọi giá bác sĩ cần hành động.

… Lời cuối. Chút liên tưởng đến việc giới thiệu sơ khởi khái niệm áp dụng thực hành dựa trên bằng chứng trong lĩnh vực tham vấn/ tâm lý trị liệu.

Khởi từ y khoa, việc thực hành dựa trên bằng chứng (evidence- based practice) lan sang các ngành nghề trợ giúp khác như tâm lý học và công tác xã hội.

Các lý do để lựa chọn EBP bao gồm đạo đức, luật pháp, lâm sàng, giáo dục, và kinh tế đi kèm với ba triết lý khoa học là thực chứng (positivism, niềm tin thuộc một thực tế tâm trí- độc lập), cấu trúc luận (constructivism, niềm tin trong nhiều cách thức thấu biết khác biệt mà giá trị ở cả nghiên cứu định tính và định lượng) và chủ nghĩa hiện thực phê phán (critical realism, phù hợp hơn cho tiến trình mang tính tiến hóa của EBP).

Thế nào là một người thực hành EBP? Đặt để lợi lạc của thân chủ lên trên hết, người làm EBP chấp nhận một tiến trình học hỏi suốt đời bao gồm việc nêu không ngừng các câu hỏi chuyên biệt liên quan đến tầm quan trọng thực tiễn trực tiếp hướng tới thân chủ, kiếm tìm một cách khách quan và thật hiệu quả cho bằng chứng hiện tại tốt nhất liên quan với từng vấn đề, và hành động phù hợp dưới sự dẫn dắt của bằng chứng.

Theo cấu tạo, có 5 giai đoạn căn bản trên tiến trình thực hiện EBP.

  1. Tạo ra các vấn đề có thể trả lời được
  2. Truy tìm bằng chứng
  3. Xác định bằng chứng
  4. Thích ứng và áp dụng bằng chứng
  5. Lượng giá các kết quả.

Về nhà dễ đổ lệ quá độ

… Cách đây khoảng 1 năm cháu cũng đã gửi lá thư đến chú với bao nỗi lo lắng về tương lai về nghề nghiệp về tình yêu… Cứ ngỡ rằng nỗi phiền muộn ấy sẽ dần sẽ ổn nhưng càng thời gian gần đây cháu lại càng thêm lo sợ. Cháu biết rằng Thất nghiệp luôn là nỗi ám ảnh với tất cả các bạn sinh viên mới ra trường nhưng với cháu thì đúng là cháu cảm thấy hết sức nặng nề. Bốn năm dưới giảng đường đại học cháu cảm thấy bản thân mình quá thụ động quá vô nghĩa và khi nhận ra được điều đó hình như đã muộn màng ạ. Cháu vừa tốt nghiệp 31/5 vừa rồi nhưng cháu chưa thể xác định được cho mình 1cv muốn làm, và bây giờ cháu rơi vào tình trạng làm công việc gì cũng đc miễn là nuôi nổi bản thân và dĩ nhiên là không được phép vi phạm pháp luật. Thế nhưng những công việc như vậy cũng thật khó tìm ạ. Cháu rơi vào trạng thái căng thẳng vô cùng, cháu rất sợ ra trường rồi mà vẫn không có việc làm để nuôi nổi mình, cháu cứ sống ngày ngày dưới cái mảnh đất Thủ đô bon chen này để tìm việc càng tìm càng khó về nhà thì cháu không muốn mà nói đúng ra là cháu không dám ạ. Bố mẹ cháu cũng có khuyên về nhưng cháu sợ hàng xóm nói đi học Đại học mà lại không có việc (vì miền quê nghèo nhà cháu ít bạn đi học a). Cháu thực sự cảm thấy vừa mệt mỏi vừa sợ vừa lo lắng. Còn về chuyện tình cảm yêu đương thì càng thê thảm ạ. Trước cũng có vài bạn con trai có ý nhưng hình như bản thân cháu cũng k biết là mình nghĩ gì và cũng k biết cái tình yêu là gì nữa, bằng tuổi cháu có bạn đã lấy chồng, có bạn sắp lấy, và đa phần là đã có người yêu nhưng cháu thì chưa có gì nhiều người nghĩ rằng có thể do cháu nói dối hoặc có vấn đề gì đó. Nhưng cháu cảm thấy bản thân mình k sao. Chú ơi liệu con người có duyên số không hả chú? Hay mình phải đấu tranh giành cái số đó ạ? Cháu thực sự rất hoang mang về cái số của cháu ạ… Từ rất sớm ngay từ khi năm 2 khi các bạn của cháu vẫn vô tư hồn nhiên không nghĩ tới, tuy nhiên hơn nửa cuộc đời sinh viên của mình cháu lại sống quá thu mình, cháu chỉ biết đến giảng đường nghe thầy cô giảng, gần như cháu không tiếp xúc va chạm với bên ngoài mấy, cũng không theo học thêm bất kỳ một thứ gì khác, chỉ đến cuối năm 3 cháu mới nhận ra điều này cháu cố gắng để hòa mình nhiều hơn (mặc dù nỗi lo tương lai sẽ đi đâu về đâu vẫn tăng). Cháu cảm nhận được niềm vui nhiều hơn, có nhiều kỉ niệm hơn với bạn bè với thầy cô thì thời gian lại không còn nhiều. Cháu dần thấy nuối tiếc nhiều hơn… Nhất là trong những ngày cuối cùng của cuộc đời sinh viên, hôm nay chính thức chia tay cháu thấy rất buồn và hẫng hụt nhiều quá chú ạ. Cháu biết là chắc chắn phải chia tay bạn bè, thầy cô giáo nhưng mà cháu vẫn cứ muốn được có thêm nhiều thời gian hơn nữa, mấy ngày gần đây cứ những lúc một mình nước mắt cháu lại rơi ra. Cháu cứ muốn sống trong hoài niệm xưa. Có đôi lúc cháu có ý nghĩ thật điên rồ là thi lại đại học nhưng mà nghĩ lại thi lại bạn bè mình cũng có còn đó đâu. Cháu không biết làm sao và cảm xúc đó có dần biến mất không và rồi cháu sẽ phải đối diện với cuộc sống mới với những con người xa lạ như thế nào ạ. Chú cho cháu lời chia sẻ với ạ.

Khoảnh khắc chia tay thầy cô, bạn bè, trường lớp dẫu thật ngậm ngùi song sẽ không kéo dài lâu, cả nỗi sợ hãi tương lai cùng với niềm tiếc nuối dĩ vãng êm đềm quá dễ khiến mình rơi lệ, lo âu bâng quơ rồi cũng đi qua…

Trước tiên, tôi muốn chỉ ra rằng ngay việc cô gửi lá thư này đã là minh chứng cho một dạng thức của tính quyết đoán: nhận ra mình cần cải thiện điều gì đó và tiến hành bước đi đúng để sửa chữa, điều chỉnh nó. Nếu cô rà soát lại cả ngày, chắc chắn cô đã tỏ ra quyết đoán không ít lần… song đó không phải là kiểu quyết đoán đang gây cho cô phiền muộn.

Hầu hết các tình huống xã hội đòi hỏi tính quyết đoán thường trực. “Đây là bài kiểm tra tiếng Anh của tôi” hoặc “Tôi sẽ không la cà phố xá với đám bạn vào tối thứ Sáu”. Người ta gặp khó khăn ghê gớm với các tình huống quyết đoán mang chứa theo kèm các cảm xúc mãnh liệt. Như cô đã mô tả rất chính xác, khi một tình huống cảm xúc khởi lên, cơ thể mình phóng thích adrenaline và các hóa chất khác tạo nên một cảm nhận đầy cảm xúc “chiến hay biến”. Phóng thích các hóa chất này thường chuyển một tình huống quyết đoán vào một tình huống xung hấn như cô trải nghiệm. Nó cũng có thể gây cảm giác ngập tràn và tạo nên một hàm lượng cảm xúc quá tải, làm mình bật khóc, ứa nước mắt, bàn tay run nhẹ, lạnh cóng, căng cơ, và chân rung…

Khi chúng ta tê mỏi về mặt cảm xúc, bị bao vây bởi các tác nhân gây căng thẳng tinh thần (bố mẹ, công việc, tiền bạc, yêu đương, v.v…) và cơ chừng không thể chạm tới được mục tiêu ao ước (sự độc lập) thì trạng thái bi ai đó thường chứng tỏ một hạn mức stress cao độ.

Các mức độ cao về stress gây khó khăn trong việc ra quyết định những gì cần làm đầu tiên, tiếp theo, và những gì ngay lúc này đây không nên lo lắng. Điều đầu tiên cô sẽ cần tiến hành là giảm thiểu stress và nỗi niềm bi ai trong đời. Xác định các điều nào tạo nên stress và nhắm vào nhẹ bớt đi mức độ gây căng thẳng tinh thần. Nếu chúng ta có một người bạn hoặc thành viên trong gia đình hết sức căng thẳng, tỷ dụ thế, hãy đưa họ ra một khoảng cách an toàn hơn về mặt cảm xúc. Nói với họ sẽ gỡ khỏi sự dính mắc của mình trong nỗi niềm bi ai của chính họ chẳng hạn. Kiểm tra tình huống riêng của bản thân ta. Mình có đang làm việc chi hoặc mang thái độ khiến sự vụ tồi tệ đi? Nếu chúng ta đang có các quyết định không tốt, có thể chia sẻ với bố mẹ nếu điều ấy không gây cảm giác ngột ngạt.

Hạnh phúc, vui sướng thường là mức độ thể hiện cho việc các hành vi đưa chúng ta tiến tới với mục tiêu mong đợi. Nếu cô muốn độc lập, liệu cô có đang thực hiện hướng về chiều đó, hay hơi tệ chút, mình đang ứng xử hoặc suy tư theo cách khiến mọi người nghĩ mình khó mà trở thành người độc lập được? Cũng thử cố gắng tiến hành các kỹ thuật cá nhân quen thuộc làm giảm thiểu stress. Nếu thuận tiện, một nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu có thể giúp cô sắp xếp, phân loại các tác nhân gây stress cũng như xem xét ưu tiên cho các nỗ lực của bản thân cô.

Nguyên nhân lớn nhất cho các vấn đề nêu trên có thể lý giải như sau.

  • Thiếu hụt kinh nghiệm xã hội. Điều này thường gặp ở người mới lớn, chưa va chạm bao nhiêu với đời. Tuổi này có các phản ứng cảm xúc mạnh mẽ, kéo dài những rắc rối của giai đoạn thay đổi cuộc sống và biến chuyển nội tiết tố. Các bạn trong độ tuổi này cũng có thể ít kinh nghiệm xử lý các tình huống phức tạp đòi hỏi một số tính quyết đoán rất lớn song cảm xúc lại được kiểm soát. Qua nhiều năm, người trưởng thành phát triển các kỹ năng xã hội tạo nên tính quyết đoán, thậm chí trong các tình huống đầy cảm xúc thì họ vẫn đủ sức kiểm soát. Nói cho công bằng, thực tế, không phải người trưởng thành nào cũng thiện xảo, điệu nghệ trong việc quyết đoán kiểm soát cảm xúc, và các cơn thịnh nộ cũng không hiếm thấy trong những nơi chốn công cộng, địa điểm giao dịch, làm ăn. Trong tình huống mới tốt nghiệp này, cô có thể từ từ thực tập nâng cao hơn tính quyết đoán mỗi ngày. Định rõ dạng ý kiến, quan điểm quyết đoán mà cô có thể luyện tập.
  • Ký ức chan chứa cảm xúc thường tạo nên tình huống như cô đang trải nghiệm. Bộ não chúng ta ghi nhớ các tình huống cảm xúc và lưu lại cả tình huống và các cảm xúc mình cảm nhận lúc đó. Nếu chúng ta bị một con chó cắn, lần sau nhìn thấy một con chó chúng ta cảm thấy ghê sợ, kinh hãi (cảm xúc) và nhớ lại lần bị cắn trước đây (tình huống). Nếu bố mẹ hoặc những người khác có thái độ xung hấn khi cô biểu đạt ý kiến trong quá khứ thì cô có thể tạo thương đau hóa với những gì chính mình đang trải nghiệm. Việc cô khóc và cảm thấy phiền muộn về mặt cảm xúc đích thị là sự lưu giữ nỗi sợ hãi về những hậu quả cô từng nghĩ tới và gặp phải trước đây… Tôi từng có cơ hội làm việc với một cô gái trẻ mang bộ mặt nhăn nhó khi cô í biểu đạt bản thân rất cảm xúc. Chúng tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng mẹ cô gái trẻ này từng có thói quen tát vào mặt cô gái mỗi khi bà ta không hài lòng với lời giải thích của con gái. Những cái nhăn nhó ấy là “ký ức cảm xúc” của việc bị tát không ít lần và não bộ của cô gái trẻ sẵn sàng cho một cái tát khác mỗi khi cô í biểu đạt bản thân, thậm chí với người khác không phải mẹ mình.
  • Sự tự tin thấp cũng có thể tạo nên phản ứng như của cô. Có thể cảm thấy ý kiến của mình không đáng giá hoặc chẳng thích hợp. Nếu cô từng bị chỉ trích vì quan điểm, ý kiến hoặc phát biểu trong quá khứ (nhắc lại ‘ký ức cảm xúc’), cô có thể rất ngần ngại biểu đạt bản thân. Cô có thể tìm kiếm trên mạng hoặc mua, mượn sách đọc viết về sự tự tin và lòng tôn trọng chính con người mình. Cô cũng có thể bắt đầu bằng việc biểu đạt bản thân trong những tình huống không mang tính đe dọa gì lắm, tuần tự tăng dần lên độ căng cảm xúc của các biểu đạt. Tỷ dụ như kiểu đi từ ý “Tôi không quan tâm khoa học về nền điện ảnh tài liệu” tiến tới việc nói với người lớn “Cháu nghĩ chú đã không đối xử công bằng với cháu” hoặc với một cậu bạn trai nào đó “Mình không đáng bị đối xử với sự thiếu tôn trọng như vậy! Nếu nó xảy đến lần nữa, quan hệ giữa bọn mình sẽ chấm hết!” Ở tuổi của cô, có nhiều thời gian dành cho việc cải thiện các kỹ năng nêu trên.
  • Một mức độ stress cao độ trong đời cô có thể cũng dễ làm cho việc biểu đạt cảm xúc khó khăn. Thử tìm đọc sách báo về stress. Nếu các mức độ stress cao quá, tìm cách giảm thiểu nó và cùng lúc tăng cường sự tự tin. Nếu có điều kiện, nên cân nhắc việc tìm tới một nhà tham vấn tâm lý.

Ghi nhớ trong tâm trí mình rằng có một phản ứng cảm xúc khi mình biểu đạt bản thân là điều bình thường. Khi nhận diện, kiểm soát và sử dụng đúng đắn, nó tạo nên ‘chất lửa’ trong phát ngôn, tính kịch của hành động thể hiện, ‘độ mãnh liệt’ trong sự biểu tỏ đậm tính nghệ thuật, và sự chắc thật trong một lời hứa.

Hãy đơm hoa kết trái cho tương lai đầy hứa hẹn vẫn không ngừng mời gọi còn mở rộng trước mặt.

Kết thúc một cuộc hôn nhân bị hành hạ kinh khủng và lạm dụng thê thảm

Câu chuyện tình cờ đọc thấy này khiến tôi quan tâm chủ yếu từ khía cạnh mà hình như chưa thấy cánh báo chí hoặc độc giả bàn luận thấu đáo: làm thế nào chuẩn bị cho sự kết thúc tốt đẹp một cuộc hôn nhân trải qua chịu đựng đau đớn kinh khủng và lạm dụng kéo dài thê thảm đến vậy.

Những gã giống như chồng của người phụ nữ mang đặc trưng của dạng được gọi là các rối loạn nhân cách (personality disorders). Trong khi họ thảy đều có các lịch sử cuộc đời và nền tảng xuất thân khác biệt, hành vi của họ lại khá tương tự nhau. Các cá nhân này lạm dụng, hăm dọa, hạ mình, kiểm soát và đòi hỏi như một nhân cách ghê gớm. Quan trọng nhất, hành vi cá nhân của người phụ nữ ít bộc lộ ra nhiều với cách thức mình được đối xử trong hôn nhân. Người phụ nữ có thể là người bạn đời tốt nhất, và sự đối xử của họ vẫn như thế thôi.

Như một nạn nhân, quan hệ với kẻ lạm dụng chứa sự kiệt sức khủng khiếp về mặt cảm xúc. Họ cố tình nỗ lực tối đa để hủy hoại sự tự tôn của người vợ. Tình yêu và hội chứng Stockholm quen thuộc miêu tả tại sao người bình thường lại hay duy trì các mối quan hệ bị lạm dụng.

Khi bỏ qua một lịch sử hôn nhân bị lạm dụng, chúng ta muốn nhắm tới tình tiết sự vụ giải quyết của chuyện ly dị/ tách ra chứ không phải mối quan hệ. Một kẻ hăm dọa muốn tập trung khai thác các chủ đề anh ta từng quen dùng trong quá khứ: chỉ trích cá nhân, đe dọa, lăng nhục, v.v… Cũng lão luyện rành nghề trong chuyện diễn xuất, các kẻ này dùng hàng loạt hăm dọa vốn phi thực tế và khi không khả thi, họ thường dùng mặc cảm tội lỗi hoặc lời hứa hẹn thay đổi, hay “anh muốn được giúp đỡ”. Người phụ nữ nên nhắm vào tiến trình giải quyết. Một trò giải trí kinh điển của đối tượng là gọi cho đứa con, hỏi năm đầu ba sợi rồi tìm cơ hội để tấn công lòng tự tôn của bà vợ. Khi điều ấy xảy đến, họ sẽ nói đại khái kiểu như “Cuộc gọi này vì con, chứ không phải cho anh”, rồi gác máy. Người phụ nữ không nên tán đồng nói về thời xưa cũ hồi nào. Lưu ý người thân trong nhà và cảnh báo về chuyện diễn xuất hoặc đe dọa. Người phụ nữ đừng quên rằng lý do để gã này thù địch vì bà vợ thụ hưởng lợi thế hợp pháp vào thời điểm hiện tại. Các kẻ kiểm soát rất cáu gắt và tức giận khi sự kiểm soát một tình huống (giống như một cuộc hôn nhân vậy) bị đẩy tới đầy thách thức hoặc bị thay đổi theo bất kỳ cách nào. Hồ sợ ly hôn cho người phụ nữ quyền đặt mình vào sự kiểm soát, điều khiến đối tượng dễ thấy rất rối ren.

Khuyến cáo làm tham vấn tâm lý khi người phụ nữ trải qua giai đoạn khó khăn này. Nếu đang thấy các dấu hiệu trầm cảm, người phụ nữ nên xin ý kiến bác sĩ gia đình hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần. Sự vụ đòi hỏi hỗ trợ từ người thân, bà con và giới chuyên môn để giúp người phụ nữ quay về với đời sống bình thường mà cô xứng đáng được như thế.

… Cho dẫu dự tính ly thân, cơ chừng vấn đề của người phụ nữ thường không phải là đang muốn bỏ đi…; đó là chuyện sức chịu đựng và độ bền bỉ cho việc tách biệt. Lần nữa, cần định hình kẻ thất bại trong quan hệ và hội chứng Stockholm khi yêu thương. Gã chồng minh họa việc sử dụng các kỹ thuật thể hiện một kẻ lạm dụng, kiểm soát và “gây độc hại”. Cần có các khuyến cáo người phụ nữ tạo ra một kế hoạch thoát ra và cách thức không dính mắc chi với các vấn đề nhỏ nhặt; hội chứng Stockholm mô tả các kết nối chúng ta thường có với bạn đời lạm dụng và phương thức thay đổi lối sống để chung đụng, sống được với kẻ lạm dụng.

Thiển nghĩ, để thoát ra yên an nhất, người phụ nữ cần một kế hoạch ra đi đã; có thể phải tốn nhiều tháng trời để xây dựng lại sự tự tôn, chuẩn bị cho đoạn kết của quan hệ vợ chồng, và rà soát, xem xét các trạng thái tài chính, pháp lý và xã hội. Thật hữu ích nếu diễn tập các kịch bản cho chuyện ly hôn; với mỗi thứ, trạng thái độc hại của quan hệ và sự bất mãn của người phụ nữ sẽ thu hút sự chú ý của gã chồng. Trong khi anh ta không hề thay đổi đáng ghi nhận hành vi lạm dụng, các ý nghĩ về một cuộc ly dị hoặc kết thúc hôn nhân sẽ không phải là toàn bộ cú sốc đối với anh ta.

Người phụ nữ đừng gửi đi các thông điệp mập mờ và đan xen kiểu “Tôi muốn ly dị dù vẫn còn yêu anh ấy” hoặc dạng muốn ly thân song không tố cáo gã chồng. Khi người vợ tách ra, anh ta sẽ làm cho cô ấy lưu tâm tới chuyến hành trình cảm xúc đầy khổ sở, dằn vặt song người phụ nữ có thể báo cho anh ta biết rõ ràng rằng bất chấp mọi nỗ lực, những sự xa cách, v.v… không có điều chi cải thiện được tình hình. Cô ấy có thể đưa ra một hy vọng cho kết thúc êm thấm mối quan hệ theo cách làm tổn hại thấp nhất đôi bên và những ai liên quan. Nhấn mạnh khía cạnh cảm xúc của cuộc hôn nhân đã không còn và các quyết định đưa ra về cách thức kết thúc chỉ là chuyện sự vụ, thủ tục mà thôi. Nếu được, người phụ nữ muốn làm việc với một nhà tham vấn tâm lý như một phần kế hoạch vượt thoát; hữu ích trong việc định dạng các thái độ, hành vi về phần người phụ nữ quen biểu lộ, suy tư để chịu đựng cuộc hôn nhân đã bị ngộ độc theo thời gian với người chồng “nghiện rượu và vũ phu” (dĩ nhiên, không nhất thiết tiến hành lúc này hoặc là nguyên nhân gây rắc rối cho tương lai).

Đáng lưu ý, ngoài biểu hiện tượng cẳng chân hạ cẳng tay dễ thấy, người lạm dụng kẻ khác về mặt ngôn từ không chỉ thấy hành vi của họ đích đáng (“Cô ta đáng bị như vậy”) mà họ còn đổ tội sang lỗi cho những người khác về các cơn tức giận bùng phát và cảm nhận về quyền được làm thế nữa. Vì lý do ghê gớm vậy, sẽ không hiệu quả để thảo luận tới lui về chuyện lạm dụng nói năng. Người phụ nữ không cần thiết lên danh sách các giai đoạn nhằm chứng thực việc ra đi là đúng đắn; cùng lúc, chẳng cần gã kia thấu hiểu tại sao mối quan hệ giữa họ đang đầu độc người vợ. Một số kẻ lạm dụng đáp ứng kiểu “Anh không hiểu tại sao vợ chồng mình lại không tiến hành việc này” khi đương đầu với một cuộc ly dị hoặc ly thân. Đó thực sự là sự trì hoãn có ý đồ chiến lược, cho phép họ có thêm thời gian lại cãi cọ và ngược đãi về sự tự tôn của người phụ nữ trong khi gã ta tìm kiếm thêm các chiến thuật và chiêu trò mới.

Cầu chúc người phụ nữ mọi điều tốt lành khi cô ấy quyết tâm muốn thay đổi và sống một cuộc đời khác.

Một câu hỏi quen thuộc: làm thế nào tôi biết mình đang cảm nhận điều gì đây?

Những câu hỏi ấy, vào một lúc nào đó trong đời, sẽ bất chợt xuất hiện hết sức mãnh liệt: “Làm thế nào tôi biết những gì mình đang suy nghĩ và cảm nhận là đúng đắn đây? Có thể ai đó khác mới đúng thì sao? Tôi nghĩ mình biết những gì mình đang suy nghĩ rồi ai đó đến và bảo điều khác biệt cơ, và tôi lập tức tin họ! Tại sao tôi làm thế? Chẳng mấy chốc tôi quên béng điều mình từng nghĩ chắc là sai lầm.”

Khá dễ dàng bị vướng mắc dính cả chùm vào trạng thái tương tự bên trên; mọi người đều ít nhiều biểu lộ thế, cả thân chủ lẫn nhà trị liệu hay với những ai chưa từng đặt chân vào phòng tham vấn tâm lý. Câu hỏi: tại sao tôi làm thế? cơ chừng là câu hỏi đầy lợi lạc, hoặc chẳng tạo mấy vang vọng lắm, song chí ít mình có thể gạt câu hỏi đó sang bên.

Mục tiêu của nhiều người, cả trong tham vấn lẫn bên ngoài phòng trị liệu, là chắc thực với chính bản thân mình; họ chuyển tải hết sức chính xác một cách hiểu biết điều mình suy nghĩ và cảm nhận. Thực tế phũ phàng và trêu ngươi là điều này chưa chắc có hiệu lực như mong đợi đâu. Chúng ta hết thảy có thể thổi bùng ra ngoài, hoặc quên phắt những thứ từng chắc thực, kỳ thực các suy tư lẫn cảm xúc của chúng ta đều đặn bị bẻ gãy rồi thay đổi trong tiến trình tương tác với tha nhân và các tình huống nọ kia xảy đến trong đời, và thực tế mọi sự diễn ra như thế. Những gì đích thị sau đó là cảm nhận bền chắc bên dưới chúng ta hoặc trong lòng chúng ta.

Chiêu lừa mẹo xảo khéo không chỉ cố gắng bám vào nền tảng vững vàng qua mọi thời gian mà còn biết cách làm sao để tiếp chạm nó khi mình muốn. Thường khá dễ dàng hơn chúng ta nghĩ nhiều. Đấy chính là lộ trình nhắm tập trung vào. Song mình không nhất thiết nghĩ về nó như lộ trình hoặc kỹ thuật, chúng chỉ đích thị là các cách thức nói về thực tế.

Đôi khi tất cả điều chúng ta cần thiết tiến hành là thư giãn, tạo ra một không gian nội tại trong lòng rồi tự vấn bản thân bằng lối thân thương: “Hiện tôi đang cảm thấy như thế nào đây?” Điều gì đó bên trong thân xác mình đáp ứng; trong trạng thái thế, nó không mở ngỏ cho chuyện tranh cãi, từ bản thân mình hoặc so với ai đó khác. Rất đơn giản cách thức mình cảm nhận, suy tư, và đang là với tình huống bản thân, từng khoảnh khắc. Nó luôn tương thích, và khi tiếp chạm, nó luôn luôn đưa mình thêm một bước tiến về phía trước.

Lại nhớ tới lý thuyết bất hòa về mặt nhận thức…

Lý thuyết bất hòa về mặt nhận thức (cognitive dissonance) của Leon Festinger (1957) cho thấy suy nghĩ của chúng ta có thể biểu lộ dưới ba mối quan hệ căn bản:

  • Thuận hòa (consonance): “Tôi là một sinh viên tốt”, và “Tôi luôn luôn chuẩn bị bài trước khi đến trường”
  • Nghịch hợp (dissonance): “Tôi hút thuốc lá”, và “Hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”
  • Không tương thích (irrelevance): “Tôi là sinh viên tốt”, và “Hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”

Theo lý thuyết bất hòa, nghịch hợp về mặt nhận thức thì chúng ta có động cơ nội tại để thành tựu hoặc lưu giữ sự bất hòa về mặt nhận thức, do nó củng cố một cảm nhận khoái sướng cho bản thân; khi chúng ta có những suy tư thuận hòa thì mình càng đúng đắn, phù hợp hơn với chính bản thân mình.

Cũng thế, khi kinh qua sự bất hòa, chúng ta thường có xu hướng trải nghiệm độ căng thẳng hoặc các cảm xúc tiêu cực, khó chịu ủ thêm vào thái độ và sự thay đổi hành vi đủ để mình đạt được hoặc lưu giữ sự thuận hòa về mặt nhận thức.

Một ví dụ kinh điển cho lý thuyết này được hai tác giả Festinger và Carlsmith (1959) thực hiện; theo đó, những người tham gia thực nghiệm được đề nghị đánh giá về một công việc buồn tẻ. Những người tham gia được trả 1 Mỹ kim đánh giá công việc như vui vẻ hơn và thú vị hơn những người tham gia được trả 20 Mỹ kim.

Những người tham gia nhận giá 1 Mỹ kim đã tự lừa dối chính mình vì tại sao họ sẽ làm một công việc buồn tẻ chỉ có 1 Mỹ kim nếu nó không được vui vẻ và thú vị? Những người tham gia được trả 20 Mỹ kim không buộc phải phải làm thế khi họ được trả mức giá tương đối tốt.

Có thể hình dung các cách cụ thể giúp ta tránh trạng thái bất hòa về mặt nhận thức.

  1. Thay đổi hành vi đến độ nó xứng hợp với suy tư, thái độ hoặc niềm tin của chúng ta
  2. Thay đổi suy nghĩ khiến cho nó xứng hợp với hành vi của chúng ta
  3. Tìm thấy và tin tưởng vào thông tin xứng hợp với hành vi của chúng ta
  4. Tránh thông tin trái ngược với các niềm tin của bản thân
  5. Tránh các tình huống khiến mình gặp nguy cơ hành động theo các cách gây trái ngược, mâu thuẫn với suy tư, thái độ hoặc hành vi của chúng ta

Nếu muốn thay đổi thái độ của ai đó, mình nên cố gắng tạo ra sự hòa thuận nhận thức trong suy tư của người đó.

Tỷ dụ, ai đó tin rằng hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe song vẫn cứ hút thuốc lá như thường thì khả năng là họ dễ trải nghiệm sự bất hòa về mặt nhận thức. Mình có thể gắng nhấn mạnh sự bất hòa này đến độ anh ta khởi sự nhận ra rằng các suy nghĩ của anh ta là bất hòa, nghịch hợp.

Lưu ý, nhiều người dường như đối phó thật ổn thỏa với sự bất hòa. Tại sao thế? Mức độ người ấy trải nghiệm về sự bất hòa về mặt nhận thức phụ thuộc chí ít vào hai yếu tố:

  1. Sự cân đối giữa các ý nghĩ bất hòa và các ý nghĩ nghịch hợp
  2. Tầm quan trọng của các ý nghĩ

Thứ nhất, nếu tôi tin rằng mình có lối sống lành mạnh, sự cân đối của các ý nghĩ hòa thuận hỗ trợ cho niềm tin này càng lớn thêm lên so với sự phù hợp của các ý nghĩ bất hòa bác bỏ nó. Tiếp đến, ai đó nghĩ rằng các suy tư bất hòa của anh ta không có ý nghĩa hoặc tầm quan trọng nhất định với bản thân thì sẽ ít khả năng muốn thay đổi chúng; ví dụ, “Tôi hút thuốc lá”, “hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”, song “Tôi không thể bị thương tổn được”.

Wow, vậy đó, lắm lúc, bất luận mọi giá người ta phải tìm cách bảo bọc (suy nghĩ của) bản thân thôi.

“Ly hôn sau 40 năm chung sống, nên chăng?”: gợi ý các đề mục suy tư về tác nghiệp, hành nghề tham vấn tâm lý

Người phụ nữ ấy chắc nỗ lực rất nhiều sau chừng ấy thời gian, và rốt ráo chung cuộc đã không thành tựu mỹ mãn như mong đợi nên giờ đây, bà nghĩ tới giải pháp ly hôn, muốn tách biệt đời mình khỏi cuộc sống của chồng vì “không thể chịu đựng được tính gia trưởng của ông ấy”.

Cách tiếp cận của tư vấn viên Ban Mai phụ trách chuyên mục trên tờ VietNamNet gợi cho ta bài học làm nghề thú vị, đáng bàn thảo:

 … Ở quãng thời gian đi hết gần nửa đời người, cái tuổi hôn nhân chín muồi như chị, chắc hẳn càng cần cân nhắc được mất nhiều hơn, phải lẽ, thời gian còn lại trên thế gian khá ngắn ngủi và nó rằng buộc trong mối quan hệ phức tạp hơn thời trẻ.

Bản thân chị, đã vượt qua nhiều sóng gió của cuộc hôn nhân, nhưng vết sẹo mà người chồng để lại trong lòng chị vẫn chưa nguôi ngoai, nó lúc nào cũng có thể phát tác. Điều này đưa chị tới với quyết định có nên ly hôn hay không.

Về kinh nghiệm sống, kinh nghiệm trong hôn nhân lẫn tuổi đời, hẳn chưa bằng chị, nhưng cũng xin mạo muội đưa cho chị một lời khuyên để tham khảo: thay vì chọn giải pháp ly hôn, chị hãy thử giải pháp kiên quyết ly thân để thay đổi cuộc sống, điều kiện sống. Có thể là thuê một căn nhà nhỏ để có một cuộc sống hoàn toàn độc lập… Biết đâu, khi không có chị một thời gian, ông chồng sẽ giật mình nhận ra có nhiều thứ mất. Lúc này, chị cũng cần nói chuyện với các con, để các con hiểu và ủng hộ chị…

Do quan niệm rằng mình “kinh nghiệm sống, kinh nghiệm trong hôn nhân lẫn tuổi đời, hẳn chưa bằng chị” nên mục tiêu làm việc của tư vấn viên có vẻ chỉ xoay quanh việc an ủi và đưa lời khuyên thử ly thân như giải pháp khả thi mà thôi… Chúng ta đọc thấy sự cảm thông với thân chủ do quãng thời gian kéo dài dằng dặc mấy chục năm kết hôn và chia sẻ nỗi niềm chịu đựng vì “…gia trưởng chính là một trong số những điều kìm hãm sự phát triển của xã hội, kéo lùi sự phấn đấu, vươn lên của phụ nữ. Tuy nhiên, trên thực tế, ở Việt Nam ta khi không may lấy phải một người chồng gia trưởng, dù phải trả giá đắt nhưng nhiều chị em phụ nữ vẫn chấp nhận sống chung để cho con cái có chỗ dựa êm ấm của gia đình.”

Bên trong các cách tiếp cận sẵn có, nghiên cứu cho thấy biến thể rất ý nghĩa giữa các cá nhân nhà tham vấn. Kỳ thực, bằng chứng khẳng định rằng các năng lực của cá nhân các nhà tham vấn có thể là yếu tố quan yếu trong việc xác quyết thành tựu hơn là định hướng trị liệu! Vì thế, có thể chẳng hề rõ ràng câu trả lời cho vấn đề có các định hướng trị liệu tốt hay tồi, song chắc chắn là có các nhà trị liệu tốt và nhà trị liệu tồi. Mối liên kết chốt ở đây là chính xác tại sao điều này lại vậy, chỉ ra chính xác những yếu tố kiểu gì giải thích cho biến thể trong các kết quả cá nhân là hết sức khó khăn. Bằng chứng nghiên cứu không thể khiến thân chủ hiểu biết một cách đúng đắn tại sao một nhà trị liệu có thể là tốt hoặc tồi cho họ, so với các nhà trị liệu khác. Buồn thay, chẳng có bằng chứng rằng bất kỳ các dạng bằng cấp, chứng chỉ hành nghề, số năm tháng trải nghiệm tác nghiệp của nhà tham vấn hoặc thời gian được huấn luyện, đào tạo có liên quan sâu sắc với thành tựu trị liệu.

Trong khi phẩm chất quan hệ mà một thân chủ thiết lập với một nhà tham vấn cụ thể nào đó chắc chắn đứng đầu danh sách các yếu tố đáng xem xét khi bước vào tham vấn, sự xứng hợp giữa các khung tham chiếu của cá nhân thân chủ và một kiểu dạng tham vấn đặc thù cũng vẫn rất quan trọng. Sự xứng hợp (hay không) này có thể ảnh hưởng ghê gớm tới cách thức thân chủ cảm thấy về tiến trình và quan hệ, hậu quả liên quan tới cách thức khiến thân chủ dễ dàng tiến bộ. Gần như các nghiên cứu thực nghiệm tán đồng rằng các thân chủ hưởng lợi nhiều hơn khi họ cam kết dấn thân hợp tác bên trong cách tiếp cận  trị liệu được đưa ra trong môi trường tham vấn đặc thù của họ, và một số nghiên cứu còn khẳng định các biến thuộc thân chủ chiếm hàm lượng tầm 40% sự thay đổi mang tính trị liệu, hơn bất kỳ các yếu tố nào khác. Một thân chủ nghi hoặc không rõ mô hình nhận thức có biểu đạt đúng đắn trải nghiệm của họ sẽ ít tìm thấy lợi lạc từ trị liệu nhận thức hoặc nhận thức- hành vi, trong khi một thân chủ thích nhà tham vấn đưa cho họ thật nhiều lời khuyên và hướng dẫn e chừng chẳng mấy thích hợp từ cách tiếp cận tham vấn con người- trọng tâm. Nôm na ví von, dù có khả năng việc mang giày đi bộ 5 cây số gây ra ít nhiều đau đớn lớn nhỏ hoặc bất tiện ra sao thì quyền lựa chọn giày có thể làm dễ dàng hơn để đi bộ thoải mái, thưởng thức cảnh vật dọc đường, và còn năng lượng khi kết thúc hành trình. Tương tự, nhiều kiểu giày sẽ dùng cho một cuộc đi bộ, song một số giày sẽ dễ gây tạo nên một sự cản trở thực sự. Dành thời gian xem xét các kiểu dạng tham vấn và tâm lý trị liệu trước khi khởi động cuộc hành trình trị liệu sẽ là quãng thời gian đáng giá.

Lần nữa, cần nhấn mạnh rằng về vấn đề tính hiệu quả của cá nhân nhà tham vấn thì có lẽ bài học quan trọng nhất rút ra từ nghiên cứu là các thân chủ sẽ thiết lập trong tâm trí họ dựa trên trải nghiệm họ có với nhà tham vấn, hơn là phụ thuộc hoàn toàn vào chứng thực như bằng cấp, năm tháng hành nghề, hoặc hiểu biết về kế hoạch thực hiện chuyên sâu của nhà tham vấn. Nhớ rằng phẩm chất quan hệ thân chủ có thể thiết lập với nhà tham vấn chắc chắn đứng đầu danh sách các yếu tố ảnh hưởng tới thành tựu trị liệu…

Đáp ứng mà các nhà tham vấn tỏ ra đích thị thực dụng, tiến hành làm những gì được việc, rõ ràng hết sức đáng tin cậy. Song ngay ở đây, điều khó khăn là nhìn nhận bằng cách nào một nhà tham vấn liệu có thể thực sự tiến hành làm những gì được việc mà không gặp một số khoảng cách về các trụ chống căn bản thuộc lý thuyết trong bất kỳ cách tiếp cận nào nói chung hoặc kỹ thuật thực hiện vốn ưa thích với một thân chủ cụ thể. Chắc thích hợp hơn cho thân chủ nếu bất kỳ đề nghị từ nhà tham vấn rằng mỗi cách tiếp cận cụ thể nào đó sẽ hữu ích dựa trên nền tảng của một vài quan điểm am hiểu tại sao nó được việc: đề nghị của nhà tham vấn về một cách thức làm việc đặc thù không nên được mặc định, nó nên là sự cân nhắc cẩn thận và thể hiện sự am hiểu sâu xa. Nói khác, sự thật có thể là người ta nên “tiến hành làm điều được việc” song thực hiện nó đòi hỏi một số nỗ lực hiểu biết và đánh giá cơ sở lý thuyết nằm bên dưới.

… Cách tiếp cận Con người- trọng tâm (person-centred) nhìn thân chủ là người có uy quyền xứng đáng nhất về trải nghiệm của riêng họ, và rằng thân chủ là sinh thể đủ đầy năng lực hoàn mãn tiềm năng phát triển của bản thân. Nó tuy thế, ý thức rằng thành tựu được tiềm năng đòi hỏi một số thuộc tính đặc biệt và dưới một số điều kiện khắc nghiệt, các cá nhân không hề trưởng thành ổn thỏa và phát triển theo các cách thức mà lẽ ra họ có thể là. Đáng lưu tâm, khi các cá nhân bị chối từ sự chấp nhận và tưởng thưởng tích cực từ những người khác, hoặc khi sự tôn trọng tích cực là có điều kiện đòi hỏi cá nhân hành xử theo những phương thức này kia, thân chủ có thể bắt đầu đánh mất việc tiếp chạm vào những gì là trải nghiệm riêng tư mang ý nghĩa như nào đối với họ, và xu hướng nguyên khởi hướng tới trưởng thành theo một chiều kích nhất quán với ý nghĩa đó có thể bị đàn áp, kiềm chế.

Một lý do cho điều này xảy đến là các cá nhân thường đối phó với việc chấp nhận có điều kiện đưa ra cho họ thông qua việc dần tích hợp các điều kiện này vào các quan điểm họ tự nhìn nhận về chính bản thân mình. Họ có thể thiết lập một quan điểm về bản thân gồm những lối nhìn nhận chính mình như là, “Tôi thuộc loại người không bao giờ đi muộn”, hoặc “Tôi thuộc loại người luôn luôn tôn trọng người khác”, hoặc “Tôi thuộc loại người luôn luôn giữ gìn nhà cửa sạch sẽ”. Bởi vì nhu cầu căn bản để được tôn trọng tích cực từ những người khác, dễ dàng hơn nên ‘là’ loại người này, rồi ra tất nhận được sự tôn trọng tích cực, thay vì ‘là’ gì khác và gặp nguy cơ mất đi sự tôn trọng tích cực. Theo thời gian, cảm nhận nội tâm về bản dạng riêng có cũng như các lượng giá về trải nghiệm và thuộc tính giá trị của bản thân có thể bị đặt để lại bởi các tiêu chí đa phần, thậm chí hoàn toàn, do áp lực từ người khác tạo ra. Tức là, thân chủ dịch chuyển các ý nghĩa và đánh giá của bản thân theo với các ý nghĩa và đánh giá của những người khác.

Sự quấy nhiễu tâm lý xuất hiện khi ‘quan niệm bản thân’ (self-concept) của các cá nhân bắt đầu va đập ngay lập tức với trải nghiệm riêng tư; tỷ dụ, khi có bằng chứng về các cảm nhận hoặc đánh giá của riêng bản thân va đập với những gì ‘quan niệm bản thân’ bảo ‘phải, nên, hẳn là như thế’. Đau lòng ở chỗ, quấy nhiễu và phiền não cứ có cơ tiếp tục kéo dài khi cá nhân phụ thuộc vào những sự đánh giá tích cực một cách có điều kiện của người khác để họ cảm nhận về giá trị bản thân, và càng kéo dài khi cá nhân dựa cậy một quan niệm bản thân đã được thiết kế đa phần nhằm đoạt lấy các đánh giá tích cực đó. Các trải nghiệm thách thức quan niệm bản thân dễ nghiêng theo hướng bị bóp méo hoặc thậm chí bị chối bỏ hoàn toàn ngõ hầu mới bảo bọc được nó.

Cách tiếp cận Con người- trọng tâm duy trì ba điều kiện căn cốt cung cấp một bầu khí đảm bảo cho sự trưởng thành và sự thay đổi mang tính trị liệu diễn ra. Chúng trái ngược khá thẳng thắn với các điều kiện được cho là chịu trách nhiệm với sự quấy nhiễu, phiền não tâm lý đã nêu trên. Các điều kiện căn cốt đó là:

  1. Tôn trọng tích cực vô điều kiện (Unconditional positive regard)
  2. Hiểu biết thấu cảm (Empathic understanding)
  3. Thích đáng (Congruence)

Cái đầu tiên- tôn trọng tích cực vô điều kiện- nghĩa là nhà tham vấn chấp nhận thân chủ vô điều kiện và không đánh giá. Thân chủ được tự do khám phá tất cả các suy tư lẫn cảm xúc, tích cực hay tiêu cực, mà không cảm thấy nguy hiểm của sự bị loại bỏ hoặc chỉ trích. Sâu xa, thân chủ tự do khám phá và biểu đạt mà không buộc phải làm điều gì đặc biệt hoặc thỏa mãn bất kỳ các tiêu chuẩn hành vi nhất định nào để ‘đoạt lấy, đạt được’ sự tôn trọng tích cực từ nhà tham vấn. Cái thứ hai- hiểu biết thấu cảm- nghĩa là nhà tham vấn thấu hiểu hết sức chính xác các suy tư và cảm xúc của thân chủ, và các ý nghĩa theo cách riêng của thân chủ. Khi nhà tham vấn tri nhận thế giới giống như quan điểm của thân chủ, nó minh họa không chỉ quan điểm đó có giá trị mà còn chứng tỏ rằng thân chủ được chấp nhận. Cái thứ ba- thích đáng- nghĩa là nhà tham vấn đích thực, đáng tin và chân thành. Nhà tham vấn không biểu lộ như một chuyên viên xa cách mà hiện diện đích thực và trong suốt cùng với thân chủ. Không có bầu khí uy quyền hay giấu kín kiến thức đủ đầy, và thân chủ không buộc phải suy xét xem nhà tham vấn đích thị là như nào.

Kết hợp nhau, ba điều kiện căn cốt vừa nêu được cho là giúp thân chủ phát triển và triển nở theo cách riêng của họ, để vững mạnh lên và mở rộng hơn bản dạng cá nhân rồi trở thành con người họ ‘thực sự’ độc lập hoàn toàn với những áp lực từ những người khác về hành động, suy tư theo các cách riêng biệt.

Thân chủ mang một thôi thúc mãnh liệt hướng tới chiều kích muốn khám phá các cảm xúc và chính bản thân mình, là người đề cao trách nhiệm cá nhân có thể đặc biệt bị hấp dẫn với cách tiếp cận Con người- trọng tâm. Những ai thích nhà tham vấn đưa cho mình lời khuyên bao quát, muốn nhà tham vấn chẩn đoán các vấn đề của họ, hoặc phân tích trạng thái tâm lý mình sẽ dễ cảm thấy cách tiếp cận Con người- trọng tâm kém hữu ích. Thân chủ thích nhấn mạnh các thói quen tâm lý riêng tư hoặc các mẫu hình tư duy đặc thù có thể tìm thấy ở cách tiếp cận Con người- trọng tâm đôi chút lợi lạc, vì các phong cách trị liệu cá nhân của nhà tham vấn theo trường phái Con người- trọng tâm rất đa dạng nên một số thân chủ sẽ cảm thấy phù hợp hơn để dấn thân rất trực tiếp với các kiểu dạng lợi lạc có liên quan này.

… Tất cả những gì trình bày khái lược dễ khiến không ít người trong cuộc cảm thấy tiếp chạm tuyến tính với quan điểm hành nghề, tác nghiệp của riêng họ. Với một số, nghiên cứu khoa học gì gì chẩng liên quan cho lắm, và thậm chí nếu vài ba lợi lạc nào đó từ một cách tiếp cận đã được thực nghiệm chứng nhận thì họ cũng sẽ thích duy trì định hướng trị liệu tinh tuyền lâu nay của riêng mình và cách thức riêng biệt họ xử lý cá nhân với các thân chủ. Một cách đón nhận bất chấp độ căng thẳng ra sao với quan điểm này là câu hỏi đặt ra với bất kỳ nhà tham vấn nào: điều gì chứng tỏ cho anh/ chị biết rằng mình đang tiếp cận với một thân chủ theo cách sai lạc rồi? Do thân chủ nói với anh/ chị? Một nghiên cứu khoa học nào đó? Thân chủ nói với anh/ chị nhiều lần? Có nhiều nghiên cứu khoa học bảo thế? Đặt câu hỏi thay thế khác hẳn: điều gì sẽ thuyết phục anh/ chị rằng thân chủ được nhiều lợi lạc hơn từ cách làm khác so với những gì anh/ chị đang tiến hành?

Các câu hỏi trên chắc chắn sẽ được mỗi một nhà tham vấn/ trị liệu tâm lý trả lời hoàn toàn khác nhau. Nên chi, một phổ các lựa chọn có thể nghĩ tới: chỉ cần an ủi, dựa trên mỗi kinh nghiệm cá nhân hoặc đưa ra lời khuyên bao quát là thử ly thân xem sao, hay dành thời gian tập trung chỉ ra những gì người phụ nữ ấy nên ưu tiên quan tâm trong tình thế hiện tại và điều bà mong đợi trong những năm tháng thu vàng sắp đến, cùng bàn bạc với bà về tiến trình và mọi điều có thể xảy đến khi lựa chọn ly hôn (hoặc không ly hôn), về nhân cách có vấn đề của ông chồng có thể tác động cụ thể ra sao đến suy tư lẫn cảm nhận lâu nay của thân chủ hoặc/ và khả năng gây rắc rối như thế nào cho chính bản thân cùng với các thành viên gia đình khác khi bà lựa chọn ly hôn, v.v…

Rõ ràng, nắm lấy lựa chọn nào không thuần túy chỉ là câu chuyện ngẫu hứng bất chợt, phụ thuộc duy mỗi độ tuổi hay trải nghiệm sống mà còn đòi hỏi ít nhiều am tường chuyên môn đích thực cũng như thấu hiểu sâu sắc nền tảng, lý do tại sao mình lại tiến hành, thực hiện điều mình tin là được việc và hiệu quả như thế.

Đau đầu xe cộ ồn ào sẽ càng cào sâu bất ổn

Đêm về khuya ở ngoài đường sẽ dễ chứng kiến hai điều: khuôn mặt mệt mỏi của đa phần mọi người, và những đống rác tú ụ được các gia đình sống trên phố đổ thải ra.

Trong chớp choáng lập lòe ánh sáng chói mắt và xe cộ lại qua xen kẽ còi bóp inh ỏi vẫn còn tấp nập làm điếc cả tai, xuất hiện ý nghĩ liệu tiếng ồn đối với người này có là âm nhạc của kẻ khác?

Tiếng ồn được xem là một dạng ô nhiễm vì nó là dạng kích thích không mong muốn cứ ấn bừa vào môi trường người ta, dù khá khó xác định một cách khách quan. Tính chủ quan bất biến của nó nằm ở chỗ tiếng ồn là thứ âm thanh người ta chẳng muốn nghe (tham khảo).

Một số nghiên cứu khẳng định trải nghiệm của bản thân người ta về tiếng ồn (ví dụ, sự phiền quấy) không phải do tự thân tiếng ồn, là yếu tố quan trọng đối với sức khỏe. Nhiều nghiên cứu xem xét sự biểu lộ stress kéo dài dây dưa (xác định khách quan qua đo độ decibel) trên các mẫu tương đối lớn.

Tuy nhiên, tác động của tiếng ồn còn do một số nguyên nhân khác như nhân cách và sự có ý nghĩa của tiếng ồn; trạng thái phiền quấy do tiếng ồn gây nên đa phần được xác định do mức độ ồn ào, do vậy cả hai yếu tố là không hề độc lập lẫn nhau.

Vậy liệu chúng ta quen với tiếng ồn?

Các báo cáo vén lộ sự thật là người ta bắt đầu ngủ ngon hơn khi họ quen với tiếng ốn ào do các phương tiện giao thông tạo ra, phản ánh cho cái gọi là tiến trình quen dần. Dẫu thế,  các cuộc kiểm tra nhờ máy ghi tim vật lý (polygraph) cho thấy não của họ không hề có dấu hiệu thay đổi nào khi họ “dần quen với’ tiếng ồn.

Thực tế, phơi nhiễm tiếng ồn như thế đôi khi dễ làm tăng độ nhạy cảm với tiếng ồn. Dường như một số cá nhân quen với tiếng ồn, một số khác thì không thể. Cách người ta thích ứng cơ chừng phụ thuộc vào nhân cách và độ nhạy của bản thân họ.

Tính có thể dự đoán trước và triển vọng của việc kiểm soát tiếng ồn không mong muốn được xác minh là làm giảm nhận thức sau các tác động do phơi nhiễm với tiếng ồn; hơn nữa, các thực nghiệm stress cũng khẳng định kiểm soát là yếu tố quan trọng trong điều chỉnh các phản ứng stress dưới khía cạnh sinh lý của người ta.

Nói chung, tiếng ồn ảnh hưởng tới chúng ta theo hai con đường riêng biệt.

Cụ thể, mô hình phản ứng với tiếng ồn cho rằng tiếng ồn kích hoạt cơ thể người ta hoặc trực tiếp hoặc bằng con đường gián tiếp. Con đường trực tiếp được xác định bằng tương tác ngay lập tức của thần kinh thính giác với các cấu trúc thuộc hệ thần kinh trung ương, mà đến lượt nó khiến tăng thêm stress sinh lý.

Tác giả Babisch và cộng sự còn nhìn nhận mô hình gián tiếp hướng tới việc nhận ra sự ý thức tiếng ồn, và nó liên quan với mức tăng stess cảm xúc. Cả hai đường này kích hoạt hệ thần kinh tự chủ và hệ nội tiết, và sự kích hoạt kéo dài quá mức của các hệ thống này có thể gây nên các vấn đề sức khỏe trầm trọng

Ở Hà Nội, Saigon hoặc các thành phố lớn tại Việt Nam khác, chúng ta có vẻ đã quen với tiếng ổn và sống ổn thỏa trong chung đụng này, bất chấp thực tế cách mà phơi nhiễm tiếng ồn thế thực tế ảnh hưởng tới chúng ta cả về mặt tâm lý lẫn thể lý. Các phương thức không hay ấy có thể sẽ được trình bày vào một hôm rỗi rãi và êm đềm khác, ngay cả khi giời đất không rỉ rả mưa rơi như đêm nay.

Chụp ảnh khoe thân: người mãi còn tần ngần, mê mải mình đến bao giờ?

Lại rộ lên việc chụp ảnh khoe thân; bên sen, trong hồ nước, với áo yếm, làn da và cơ thể phụ nữ.

Đã có quá nhiều ý kiến nhặng xị. Những đắng đót, cay chua, tức giận, hả hê và buồn tủi; từ cái nhìn của dân Hà thành chính gốc chê người ngụ cư, nhiếp ảnh gia làm thuê chụp xong, lấy tiền rồi hồn nhiên thổ lộ nỗi niềm khó nói, những lập luận bảo vệ quyền phản biện vòng vo đúng sai, thẩm mỹ mí đạo đức, luân thường, tom góp cả truyền thống vào với ngổn ngang hiện đại, dạy đời làm sao tròn vành đủ chữ cho tới thấu tận tâm can gái trẻ, đàn bà lu loa. lườm nguýt tị nạnh xen lẫn chửi bới, cạnh khóe nhau nghe hay như hát…

Tôi không phản đối, cũng không đồng tình với trào lưu này nhưng chúng ta hãy nhìn sự việc một cách công bằng nhất. Có lẽ ngay từ xa xưa cổ đại, nổi bật nhất là văn hóa thời Phục hưng, vẻ đẹp của phụ nữ đã được tôn vinh bộc lộ, minh chứng là những bức tượng, bức tranh vẫn còn đến ngày nay. Ở Việt Nam điều này cũng rất rõ, có thể nhìn thấy các dấu tích giao hoan trên Thạp đồng Đào Thịnh được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia,…Những gì mà các bạn trẻ đang làm hiện nay chỉ là một chiết xuất, một sự kế thừa ít nhiều phiên bản khác đi.

Việc nhìn ngắm cơ thể phụ nữ cơ chừng trở thành nét văn hóa phổ biến toàn nhân loại, nhất là ở xã hội hiện đại thì hiện tượng bình phẩm dáng vẻ bên ngoài liên quan đến cơ thể phụ nữ xuất hiện ở mọi bối cảnh lẫn tình huống riêng, chung, thậm chí không hiếm thấy ở ngay các cuộc gặp ngoại giao, mang tính chính trị nghiêm túc.

Ngoài biểu hiện của quyền lực khi chỉ trỏ, bình phẩm ngầm ẩn hoặc trực tiếp (bởi vì người nhìn vào kẻ khác là người có quyền lực: chef, bố mẹ, bác sĩ…), câu chuyện đậm chất văn hóa đời thường này còn ít nhiều mặc định ở người nữ như đặc trưng giới, kiểu với chị em thì cả thế giới hóa ra như một cuộc trình diễn lộng lẫy, phô bày cực kỳ hấp dẫn (trang trọng và dễ thấy rõ ràng là các cuộc thi hoa hậu); vì thế, vẻ ngoài là điều quan trọng nhất. Với đàn ông, phụ nữ được mong đợi là phải xinh đẹp. Phụ nữ cũng bị đối xử hết sức khác biệt tùy vào cách chúng ta nhìn ngắm họ.

Để giải thích câu chuyện đời thường này, thiển nghĩ, cần tìm hiểu 3 vấn đề: Văn hóa ca tụng tuổi trẻ và đề cao năm tháng hưởng thụ trường thọ ở đời, nhu cầu thu hút sức chú ý, và sự thiếu hụt về tâm linh. Sự trẻ trung và tuổi thanh xuân của con người có giới hạn nhất định nên ai cũng muốn lưu lại những khoảnh khắc đẹp nhất. Không chỉ có giới trẻ, hãy đặt câu hỏi tại sao những phụ nữ trung niên vẫn hay tới spa hàng tuần và chăm chỉ luyện tập yoga, đến các dịch vụ thẩm mỹ không ngừng? Đấy là minh chứng rõ nhất cho việc tự ý thức về vẻ đẹp của bản thân mình. Dễ thấy ra ngay là do sự khác nhau về gu thẩm mĩ, về môi trường sống, và về phông trải nghiệm.

Bạn sẽ thật sung sướng nếu như một bức hình của mình đăng lên được tới hàng trăm lượt Like, đó chính là động lực thôi thúc bạn đầu tư thời gian lẫn tâm trí để lên kế hoạch, chiến lược chuẩn bị rồi tung ảnh sao cho hiệu quả, nhấp nhả với lắm tư thế để làm mới phong cách của mình. Tần suất này tăng lên sẽ dễ dẫn đến “nghiện”.

Nếu một ngày, lượng Like của bạn giảm đi, bạn sẽ tự thấy mình thiếu hụt trong cuộc sống, tự thấy mình bị bỏ rơi, và điều tất yếu bạn sẽ phải tìm cách thay đổi, không còn gì khác, đó chính là cơ thể bạn, phô ra những gì đẹp nhất của mình.

Việc chụp ảnh khoe thân liên quan chặt chẽ với quan niệm về sự tự tôn (self-esteem).

Thực tiễn hành nghề, tác nghiệm cho tôi cảm nhận khá đau đớn khi chứng kiến không ít bạn gái trẻ hoặc những người phụ nữ thành đạt, giỏi giang, mạnh mẽ, sáng tạo và tài năng đến cần trợ giúp do có xu hướng nhìn nhận họ đang sống một cuộc đời không ra gì (bởi bản thân không xinh đẹp cho lắm hoặc chưa thấy hài lòng, tự thỏa mãn). Tôi được nghe nhiều câu chuyện dài tinh tế xen lẫn phức tạp về mối quan hệ trong công việc, gia đình, yêu đương giúp hiểu thêm sâu sắc cách thức xã hội vận hành và khiến người phụ nữ suy tư, cảm nhận, chịu trách nhiệm và hành động như thế nào.  Khi các nữ thân chủ của tôi nhận ra kiểu lối họ đang chia sẻ thì họ cũng có xu hướng lưu ý đến khía cạnh guốc trượt của khái niệm tự tôn, tin tưởng vào bản thân; như một thứ chén đắng phải ngậm ngùi uống vào để đạt được một cuộc sống tốt đẹp hơn vậy.

Ngày nay, truyền thông với sức mạnh của mình đã khai thác quá mức cơ thể của người phụ nữ. Đến dự một sự kiện (event), người ta chỉ chú ý đến nữ ca sĩ kia hôm nay mặc gì, bộ đồ ấy hở lộ như nào những điểm nhạy cảm, … điều đó vô hình chung đã đánh giá thấp giá trị của người phụ nữ.

Mặt khác truyển thông làm cho những câu chuyện điển hình như bạn nữ sinh ở Bình Dương nhanh chóng và dễ dàng lây lan hơn. Đồng thời tạo nên tâm lí đám đông, tò mò muốn biết về chuyện người khác mà thiếu đi sự khoan dung trong cách nhìn nhận, chấp nhận sự khác biệt, chấp nhận sự đa dạng về cuộc sống, và trên hết, nhìn nhận ai đó đơn giản như một con người. Từ định kiến sẽ rất nhanh chóng dẫn đến phân biệt đối xử.

Không cứ gì trong nước, truyền thông ngoại quốc cũng tranh thủ khai thác hình thể phụ nữ ngay trong các chương trình truyền hình thể thao cuối tuần. Chưa cần nói chuyện không ít các bình luận bên dưới vô số bài viết đăng tải trên mạng thể hiện sự thô lỗ hoặc đầy kích dục thì với bài viết giới thiệu nữ khoa học gia này, bạn sinh viên nọ thì cũng phải chêm nếm, thậm chí, đa phần chú trọng đề cập phần ngoại diện, vẻ đẹp hình thể thay cho việc nhắm vào thành tích, sự nghiệp của nhân vật.

Khi một cậu trai trẻ hoặc người đàn ông lịch lãm nhận được lời khen ngợi về hình thể thì thường họ chấp nhận hoặc cười xòa rồi thôi; đó không phải là câu chuyện quá bận tâm. Song với phụ nữ thì không thế. Qua thời gian, vẻ đẹp của một người phụ nữ được xem là tiêu chí nhìn nhận về sự đáng giá của bản thân; đó là lý do tại sao hầu hết phụ nữ dành nhiều thời gian và tiền bạc để chi phí, đầu tư vào tóc tai, trang điểm và ăn mặc. Nếu phụ nữ không xinh đẹp, họ có thể trở thành đối tượng bị châm chọc, phẩm bình và bị xúc phạm phẩm giá.

Nhân tiện, tôi thích ý tưởng đọc được của ai đó hiện không nhớ tên rằng mình có thể không tán đồng với một phụ nữ song chỉ trích, phẩm bình ngoại hình của cô ấy- trái ngược với ý tưởng và hành động của cô ấy- không phải là sự thiện ý, đặc ân của bất kỳ ai. Xúc phạm đến hình thể của phụ nữ thể hiện cho sự thiếu vắng hiểu biết, chứng tỏ không có khả năng suy nghĩ ở mức độ sâu sắc. Mình có thể chê bai cô ấy xấu xí, song người khác lại dễ nghĩ mình là kẻ ngu ngốc… Chúng ta đích thị thấu biết rằng phụ nữ đạt được sự bình đẳng thực sự khi đàn ông thôi nói về cách thức phụ nữ trông như nào và lắng nghe những gì chị em chia sẻ.

Sẽ hồ đồ nếu nói người trẻ thiếu ý thức, họ chỉ coi thường nguy cơ hoặc/ và đánh giá thấp hậu quả sẽ xảy ra mà thôi. Như vụ việc ở Bình Dương xuất phát từ ý nghĩ muốn lưu lại những khoảnh khắc thăng hoa của tình yêu mà các bạn ấy đã quên đi sự phiền nhiễu sẽ đến bất cứ lúc nào.

Vụ việc của nữ sinh ở Bình Dương có thể phản ánh cho niềm tin về một tình yêu lãng mạn, rằng tự thân tình yêu thôi là đủ đầy rồi và cảm xúc lứa đôi thuộc trạng thái bất biến, không thể thay đổi.

Đối với các bạn gái trẻ muốn nâng cao, cải thiện sự tự tôn và tin tưởng vào bản thân, có thể lưu tâm đến đôi điều khá đơn giản như sau. Hãy nhìn vào tất cả sức mạnh, ưu điểm và tài năng mà bạn có. Viết xuống, nói to chúng lên. Đặt bản thân vào trung tâm của câu chuyện đời mình; bạn là nhân vật chính, người mình thực sự yêu thích và tò mò muốn biết về.

Câu chuyện chụp ảnh khoe thân nơi đầm sen hồ Tây lần nữa khẳng định, vẻ đẹp hình thể chỉ là vẻ đẹp thâm trầm của làn da mà thôi. Không có gì sai trái khi người ta tổ chức kỷ niệm, thực hiện điều gì đấy để đánh dấu khoảnh khắc đẹp đẽ, đáng nhớ trong đời. Song chắc chắn đó không phải là toàn bộ bài học kỹ năng lẫn giá trị ưu tiên định dạng ý nghĩa cần nắm bắt nhằm tránh hậu họa đáng tiếc xảy đến.

Khó chối bỏ sự thật, các câu chuyện liên quan đến việc khoe thân gây ồn ào bình phẩm còn là dấu chỉ cho tác động, ảnh hưởng nhiều chiều của việc sử dụng ngôn ngữ cũng như mặc định vai trò mà người phụ nữ đảm nhận (“làm đẹp cho đời”).

Nền tảng vững vàng, ổn thỏa

Cái ngày vinh danh vào Chủ nhật tuần thứ ba trong tháng Sáu theo điệu của Tây thường niên này chắc chắn ba tôi không hề biết tới đâu.

Một biểu tượng nông dân thứ thiệt; dù đã rời xa ruộng vườn, làng quê và từng lái tàu dọc ngang sông nước đủ miền đất lạ… Người đàn ông ấy sửa chữa gì cũng xong, biết lắm món nghề xoay sở trong đòi sống hàng ngày với bàn tay khéo léo, vai lưng dẻo dai và đôi chân bước qua bao dặm đường sỏi đá, lầy lội nắng mưa mà vẫn cứ điềm nhiên, vững chãi như thường.

Giống như mọi thứ trên thế giới, ta hiếm khi để ý đến chúng. Những cái sân phơi, đất nền và đặc biệt ván gỗ ghép chân tường xác định ranh giới với các gian khác nhau trong ngôi nhà bằng bậu cửa đa phần luôn đầy sẹo lồi lõm và trông thô nhám, cũ khô. Trừ khi đánh rơi vật gì hay muốn quét dọn sạch sẽ, hiếm khi mình liếc nhìn hoặc bận tâm chút xíu ngó xuống. Ở vị trí thấp tè làm nhiệm vụ nâng đỡ, tiếp chạm với các hàng cột vươn cao, thẳng thớm đầy bắt mắt; cái chức trách giản đơn vậy chỉ đóng giữ vai trò chịu đựng đặng tránh cho tường, mui rè, mái ngói khỏi va đập, văng sầm ra khỏi biên đáy bên dưới. Theo truyền thống lịch sử cổ xưa, chúng được đẽo cắt từ cốt lõi chắc đặc của cái cây không thể bị mối mọt; và đích thị mãi là phần thẩm mỹ của ngôi nhà. Chúng hiếm hoi gây phấn khích, cứ lặng lẽ như thế cùng tháng năm.

Quay về thời xưa, khi đất đai sạch sẽ và được nâng niu, chăm bẵm thì chúng ta thảy đều tự hào về bản thân lẫn thế giới; ngay cả những điều giản dị nhất cũng được vinh danh. Đó không phải là tiền bạc; là vẻ đẹp và sự trường thọ. Cho hầu hết, chúng ta cũng học hỏi về các giá trị căn bản, niềm tin và viễn tượng cuộc đời. Vững vàng và bền chắc, chúng là nền tảng của tính cách chúng ta.

Dẫu nhanh nhẩu phát ngôn về các niềm tin cơ bản về tình yêu, sự công chính và gia đình thì các hành động không luôn khít khớp với câu chữ. Chúng ta nhìn hướng khác hoặc cố vô hình chẳng nhìn thấy khi mọi thứ không thoải mái. Dĩ nhiên, chúng ta tất thảy cần thiết các nền tảng, nếu không làm sao từ tính cách chuyển thành hành động. Niềm tin có thể ban sơ, song khả năng chúng ta đã không sống trong một thế giới rối rắm, nhiễu nhương. Các suy tư thiếu hành động chẳng khác chi bóng mờ múa may trên tường nhà.

Nhiều việc cơ chừng khó khăn song chuyện ấy giữ nền tảng của mình vững bền. Dành đôi chút thời gian để học hỏi nhìn sâu vào nền tảng của bản thân. Xét từ căn cơ, nền tảng thì chúng ta tương tự nhau hết; và sứ mệnh của chúng ta là thành nhân vật sống phục vụ cho những người khác.

… Nhiều nghi thức thuở ấu thơ giúp chúng ta phát triển các giá trị và tính cách bản thân. Mỗi cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên, tình cờ với thế giới dạy cho ta không chỉ những cảnh vật diệu kỳ mà cả cách thức mình nên khắng khít với nó. Các vai trò mẫu mực khởi sự từ bố mẹ mình; nhờ tranh đua họ mà mình thành người hôm nay. Ba mẹ dạy chúng ta sai đúng, và cách đối xử với nhau thủy chung, tình nghĩa. Các cô gái nhìn vào mẹ, các chàng trai trông theo bố để học cách làm người. Những hình ảnh đầu tiên có thể gắn liền với việc họ là ai, về sau có thể họ không phải là ai; song gì gì, chúng ta luôn nhìn thấy bản thân mình trong những phản ánh của họ. Với đa số, các giá trị và bài học rút ra từ hồi con trẻ là quặng vỉa thương phẩm tốt lành, đúng đắn.

Mỗi người cha là anh hùng với con cái họ; ngay khi không ở cùng, sự hiện diện của người ấy luôn được cảm thấy trong ngôi nhà mỗi ngày. Trưởng thành, đôi khi chúng ta dằn vặt và đấu tranh với chuyện đúng sai, tốt xấu; trải qua căng thẳng triền miên với ai, cái gì và khi nào. Thường, nếu nìn vào tâm can mình, chúng ta tìm thấy câu trả lời đích thực. Là anh hùng của đàn con nhỏ, với gia đình và bè bạn nên nếu đích thực muốn để lại một món thừa kế thì nơi đúng đắn nhất mình có thể chính là ông bố bà mẹ tốt nhất chúng ta biểu tỏ.

Dịp vinh danh các anh hùng trong đời. Quá khứ, hiện tại hay tương lai, luôn nhớ rằng với bố mẹ mình, chúng ta không phải sẽ là mà chỉ duy luôn là mỗi ta thôi. Cám ơn ba đã giúp cho con sở hữu vỉa quặng thành phẩm tốt lành, đúng đắn; ba đã, đang và sẽ mãi là anh hùng thầm lặng thâm sâu như mảnh đất nền tảng vững vàng, ổn thỏa để con đặt chân xuống dò dẫm, chập chững rồi cất bước đi xa…

Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thủy dã; lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiền phụ mẫu, hiếu chi chung dã.” (Hiếu Kinh).