J. Soi (38): Không có tương lai trong quá khứ

Vài ba khoảnh khắc nhìn vào nhau, thế là Mr. X đã biểu tỏ ngay sự không hài lòng. Thầy ấy là người dạy môn Toán thời phổ thông trung học cho nhóm học trò chúng tôi. Chắc chắn phải có một lý do logic và khoa học hết sức hoàn hảo cho điều nhận định đó. Sống sót của kẻ khỏe mạnh nhất hoặc nhờ cơ chừng dựa vào tiến hóa. Ngay cả khi điều ấy có thể giải thích thì cũng chẳng mang ý nghĩa gì sất, nhất là từ khía cạnh tốt đẹp.

Tuy thế, tôi không rõ mình có ham muốn tìm hiểu sinh lý học không. Nó tựa như một làn sóng thực sự của đại dương vậy; rốt ráo chỉ phụ thuộc rằng mình đang đương đầu hoặc cóc thèm nhìn ngó chi cả. Có những khoảnh khắc trong đời đích thị gây bàng hoàng, sửng sốt. Không từ ngữ, không suy tư, và cũng không thở dài nhẹ như hơi thở nữa. Đó là một ví dụ cho giờ cao điểm bung nở trạng thái kiêu hãnh vô lối, tình yêu thương cắc cớ hoặc thứ cảm xúc thô nhám rất khó lý giải thấu đáo cội nguồn nảy nòi. Khoảnh khắc ấy đúng lúc để cho ta cảm thấy quyền năng, sống động và tràn đầy. Ngờ đấy như dịp adrenaline được tiếp thêm ngoài kế hoạch. Song cô cậu nào mà chưa từng trải qua cơn rung chấn tương tự và nó tuyệt không lúc nào giông giống.

Cách nhanh nhất để biết rõ một cái gì nóng bỏng là chạm vào nó. Mình khó mà nhận thức thấu suốt tầm quan trọng của các cảm giác cho đến khi đánh mất… Đánh mất cảm giác tức thời ngay trong tầm tay với không tựa huyền diệu như sắp bị điếc, dù nó ít nhiều là dấu nhắc cách chúng ta dựa vào các cảm quan để giao tiếp với thế giới bên ngoài. Thở dài chắc chắn là thứ quan yếu nhất theo sau khi đã nghe thấy. Sờ chạm đến kế tiếp nhờ vị giác và khứu giác… Mùi café chợt gây sốt ngây ngấy, đốt lây lan cái lưỡi. Thế giới không hề tuyệt diệt khi mình không gõ lách cách, và cảnh giới cá nhân sẽ ít lắp khít khi mình thôi không biểu đạt bản thân.

Khi nghĩ về sự sờ chạm, tâm trí mở rộng ra đặng ghi nhớ các cảm quan thể lý. Lụa, giấy nhám, và nhiều loại vải vóc trên đời phủ lụt đời sống. Khó khăn để tưởng tượng xem mình không có khả năng cảm nhận cái làn da mịn màng nơi cái má trẻ thơ phinh phính hoặc độ ấm nóng mờ hơi dưới vòi hoa sen… Những nhận thức về cảm xúc lại càng phức tạp hơn bức tranh Picasso hoặc một bản giao hưởng thính phòng; không thể tưởng tượng mình không cảm nhận tình yêu, ghét bỏ hoặc vô cảm. Khi tôi có mặt với niềm vui, sang chấn và nỗi đớn đau dây dưa của mọi người mỗi ngày, cơ thể tôi uất quặn trong thấu cảm với các câu chuyện từ thân chủ; uyển chuyển và sinh khởi như bất kỳ thứ gì tìm thấy ở điện Louver ở Pháp quốc. Và chúng ta càng tiếp chạm nhiều, chúng ta càng có thể tiếp chạm dễ dàng hơn. Khó tưởng tượng mình thiếu khả năng biểu đạt tình yêu thương chỉ bằng một sự sờ chạm nhẹ nhàng hoặc một cái hôn.

Mỗi ngày chúng ta tiếp chạm thế giới và mọi người chung đụng xung quanh. Dù các cảm quan khác uy lực, song thông qua phương thức này mà chúng ta kết nối cả thể lý lẫn xúc cảm với tha nhân. Các phần còn lại của cảm quan cơ chừng đóng vai trò đầu vào.

… Ah, còn đây điều kỳ diệu của công nghệ hiện đại. Chúng ta có các thiết bị giả định chạm mó đủ thứ giúp chúng ta. Bao nhiêu kẻ từng ngồi nghiêng ngó trên ghế phổ thông nhớ về cái cảm giác chơi mê mải với cái máy tính (calculator) cầm tay; giời, sự thật ấy lặp lại ở thời đại video game hiện nay?

Để có câu trả lời, không nhất thiết điều gì đó phải được thêm vào. Mình cẩn thận nắm bắt lấy mọi sự kiện rồi đặt chúng vào một phương trình đơn giản. Đảm bảo mọi thứ đúng hàng cột, nhóm loại và rồi làm phép tính thôi. Dĩ nhiên, nếu bấm công thức quá khó khăn thì e chừng kết cục không cho ra kết quả đúng được. Quá nhiều các sự kiện phải ghé mắt trông chừng.

Bất chấp nỗi sợ hãi và e ngại môn toán, có những câu trả lời đúng đối với một số vấn đề. Và càng đơn giản câu hỏi, càng dễ nhận được đáp số chính xác. Chúng ta luôn luôn cố phủ trùm mọi chuyện rồi chung cuộc lại tìm cách đẩy đuổi chúng đi, các cách thức càng ngày càng tinh tế. Cố gắng dùng đại số hoặc cosings để tính điểm xuất phát đường tuyến tính, xong rồi lại kết thúc bằng góc cạnh sai lè.

Nên chi, tôi đoán Mr. X không dạy chúng tôi điều gì đó về cuộc đời, ngay cả khi cái thước kẻ có thể vụt xuống tay học trò vì mắc lỗi ngây ngô không đáng… Luôn luôn đơn giản trước khi tiến hành công việc. Nhìn vào vấn đề từ bức tranh lớn; câu trả lời buộc phải hoàn hảo hay mình có thể vừa ước tính vừa lập luận? Đôi khi tính vừa đủ thôi, khi nó không diễn ra được thế thì dành thời gian để giảm thiểu vấn đề xuống thấp nhất loại hạng cơ bản trước khi khởi sự vẽ hình. Và đừng nhờ vả kẻ khác, đấy là vấn đề mình phải tự giải quyết lấy. Tất cả lời khuyên trên trần gian này sẽ không giúp xử lý được điều gì mình chẳng muốn làm bằng nhiệt tình của con tim tuổi trẻ.

Vấn đề cơ bản là gì? Liệu nó sẽ giúp ta cảm thấy tốt lành hơn hẳn? Để yêu thương nhiều hơn? Và nguy cơ gặp phải các câu trả lời sai toét cũng cao lên hoặc mình chỉ việc cố gắng hết sức xử lý, cho dẫu càng làm càng mắc kẹt? Nếu mình trước tiên đơn giản đã, đôi khi câu trả lời rõ ràng. Có thể không đạt được như ý song mình sẽ cảm thấy nhiều tốt lành về cái sai trái; về việc bộc lộ, thể hiện công việc bản thân. Vào cuối ngày, nhất thiết mình khó mà không cảm thấy vui sướng trong lòng. Tôi nghĩ có thể gọi nó là môn toán của tâm hồn.

Sự bộc lộ trong tham vấn tâm lý

Việc bộc lộ (disclosure) là vấn đề gây tranh cãi khi xem xét các ranh giới của nhà tham vấn tâm lý.

Ranh giới (boundaries) là khía cạnh thiết yếu của bất kỳ quan hệ hiệu quả nào giữa thân chủ (client) và nhà tham vấn (counselor). Chúng đặt để cấu trúc mối quan hệ và cung cấp một khung làm việc nhất quán trong tiến trình tham vấn. Một số đường kẻ, lối bậc của ranh giới là rõ ràng. Hầu hết các nhà tham vấn tất rồi sẽ biết rằng điều ấy thuộc vấn đề đạo đức hành nghề, tỷ dụ, khi tham vấn cho nguồi yêu cũ vì mối quan hệ từng quen biết dễ làm hạn chế tính khách quan và khó phục vụ đủ đầy cho yêu cầu của mối quan hệ nghề nghiệp. Nếu các tình huống tương tự vừa nêu đích thị có vấn đề thì vượt ra ngoài các giới hạn cơ bản như thế lại hiện diện vô số tình huống chẳng rõ ràng ngay liền khi phác thảo các rannh giới. Các tình huống ấy rơi ngoài mặc định quy chuẩn của đạo đức song lại nằm đâu đó ở vùng xám mù mờ. Những gì thiết lập nên ranh giới, tại sao chúng ta cần đến chúng; các nguyên tắc của ranh giới mang tính đạo đức hành nghề (Từ tâm, không ác ý, tự trị, công bằng và trung thực); tôn trọng thân chủ; trách nhiệm của nhà tham vấn, v.v… tuy quan trọng, đáng tìm hiểu song không bàn ở đây.

Có hai vấn đề khi xem xét sự bộc lộ. Thứ nhất, sự bộc lộ của nhà tham vấn và mức độ tin cậy. Thứ hai, sự bộc lộ của nhà tham vấn (chẳng hạn, một nhà tham vấn bộc lộ đến đâu cuộc sống riêng với thân chủ của mình?). Một số nhà tham vấn tán đồng tắp lự bất kể thích hợp hay không (dù khá mơ hồ), một số khác thì nhìn nhận chuyện ấy theo kiểu không nên bộc lộ gì cả; tuy thế, thực tế có một sự cân bằng.

Trước hết cần biết, khi thân chủ nhất trí bước vào tiến trình tham vấn, họ thường cầm chắc, yên trí rằng những gì riêng tư đời mình (bên trong các giới hạn) sẽ được bảo mật với sự tôn trọng. Điều này khuyến khích sự thành thật từ thân chủ và cung cấp hiểu biết về tính an toàn rằng các thông tin hết sức riêng tư của họ sẽ không được tiết lộ cho những cá nhân chẳng dính dáng và thích hợp.

Thân chủ cũng phải được biết rõ là nhà tham vấn của mình có thể bị buộc ra hầu tòa để cung cấp bằng chứng cho việc xét xử, và nếu nhà tham vấn lựa chọn việc giữ kín thông tin nghe được, hậu quả có thể là nhà tham vấn bị đánh giá là miệt thị luật pháp tại tòa.

Với những ai đang hy vọng tìm thấy một số hướng dẫn cho mức độ bộc lộ của bản thân mình, giới học giả nghiên cứu chuyên sâu khuyên rằng kỹ năng là thấu biết gì nên bộc lộ, khi nào thì thích hợp và bộc lộ đến như nào. Các nhà tham vấn chưa từng trải, thiếu kinh nghiệm hay ước ao phải làm điều đúng hướng về thân chủ và vì vậy, hành xử rất cứng nhắc theo quy định hành nghề, thường đánh mất kiểu thể hiện bản thân trong nỗ lực nhằm gìn giữ tính chuyên nghiệp. Ở đây, Corey giải thích rằng các các nhà tham vấn còn chưa già dặn do ước muốn đạt hiệu quả đã thường trở nên thụ động, lắng nghe và phản hồi không khớp sát với hiểu biết và trực giác của chính họ; từ đấy, các nhà tham vấn này cũng bỏ lỡ, đánh mất nhiều cơ hội xây dựng mối quan hệ hòa hợp, tốt đẹp rồi thậm chí, dễ gây cho thân chủ cảm nhận rằng mình không thể thấu cảm với thân chủ được.

Giải thích cho thái cực kia của phổ bộc lộ, nhiều nhà tham vấn có thể quá háo hức chứng tỏ tinh thần nhân văn của họ đối với thân chủ, họ kể quá nhiều với thân chủ về chính mình, thay vì để trị liệu nhắm vào thân chủ thì lại chuyển sang nói về bản thân. Điểm căn cốt cần ghi nhớ là việc bộc lộ nên làm sao khuyến khích thân chủ đào sâu hơn mức độ họ tự khám phá bản thân hoặc củng cố thêm mối quan hệ trị liệu.

Nhà tham vấn bộc lộ quá mức dễ tạo cảm nhận đang thỏa mãn các nhu cầu cá nhân, chứ không phải nhu cầu của thân chủ. Tác động của việc bộc lộ thái quá của nhà tham vấn có thể gây hại thân chủ. Những thân chủ có thể cảm thấy thấu cảm với nhà tham vấn, khốn khổ vì hứng chịu sự chuyển di hoặc đơn giản bị sốc bởi điều ấy lại có thể xảy đến với nhà tham vấn của mình. Mặt khác, thân chủ có thể cảm thấy rằng những mối quan tâm ủa họ đang bị tầm thường hóa nếu các trải nghiệm của nhà tham vấn cũng tương tự, và thậm chí còn dung tục hơn họ nữa.

Mãi còn ám ảnh trải nghiệm đau thương và những trập trùng ký ức tuổi thơ

Bài gốc Em có bị Trời phạt không? đã được một tờ báo mạng nổi tiếng hơn hẳn giật tiêu đề ra thành “Ký ức dày vò của người vợ đã ngoại tình với đồng nghiệp có vợ”.

Xin chị cho em lời khuyên: Em là con gái 28 tuổi. Em đã kết  hôn được 9 tháng rồi. Cuộc sống vợ chồng em tốt, chồng em thương em và em cũng chung thủy với chồng. Nhưng em hay bị ám ảnh chuyện hồi xưa. Lúc em 7 tuổi thì em bị xâm hại tình dục, cả nhà em không ai biết, chỉ khi em đi học thì mới tự hiểu. Đến lúc em tốt nghiệp ĐH vừa đi làm thì bị vướng vào mấy chuyện tình ái tào lao. Có lúc em vào khách sạn với thầy giáo rất già, nhưng lúc đó thầy đó chỉ hôn và sờ soạng chứ không có làm gì hết. Lần thứ hai cũng tương tự như vậy với anh cùng cơ quan, đã có vợ. Sau đó em nhận ra mình không đàng hoàng. Em đã tự dứt bỏ và không có gặp gỡ với những người đó. Mấy năm sau thì em chững chạc hơn và có gia đình. Em rất yêu chồng em, không có ý nghĩ gì không đàng hoàng. Nhưng trong thâm tâm em luôn đau khổ và xấu hổ vì chuyện xấu em đã làm. Em luôn nghĩ mình bị bệnh vì trời phạt rồi. Em là người học rất giỏi, công việc cũng rất thành công. Xin chị hãy cho giúp em lời khuyên. Em biết quá khứ của em không ra gì, nhưng trời có cho con người ta một con đường sống không hả chị? Có lúc em buồn đến mức muốn chết, muốn buông xuôi hết chị à. Em ân hận vì tuổi trẻ bồng bột quá.

Cách trả lời của người giữ mục Tư vấn cơ chừng phản ánh thói quen khuyên nhủ đơn thuần và lối tiếp cận từ khía cạnh đạo đức truyền thống đi kèm kiểu tư duy dân dã đời thường. Vậy liệu ở đây, dước góc độ người làm tham vấn/ trị liệu tâm lý, đâu là các điểm mấu chốt chúng ta muốn nhấn mạnh và tập trung phân tích?

Dĩ nhiên, một cuộc hôn nhân khởi sự mới 9 tháng thì còn đầy tràn hy vọng cho tương lai rộng dài mở ra phía trước. Ngay cả nếu như xảy đến vấn đề chi sau 9 tháng ấy, điều gì đó khác vẫn đang tiếp diễn. Nhiều cuộc hôn nhân cùng tháng năm chất chồng thường cũng chứa đựng cả tập hợp nào ít ký ức buồn bã, những trải nghiệm tồi tệ, các cuộc tranh cãi bất tận, bao lần quyết đoán sáng suốt, và vô vàn ngọt ngào đã qua. Trong khi các sự kiện này khó bị lãng quên hoàn toàn, những trải nghiệm thường tự nhiên nối nhau lặn xuống và hiếm hoi trồi lên bề mặt trừ lúc sự cố khơi bày…

Thùng rác cũ càng dữ liệu nọ kia của quá khứ như cách người phụ nữ mới làm vợ tâm sự e chừng dễ nổi lại trong một số tình huống. Lối cách hay gặp nhất cho kiểu dĩ vãng sống dậy như này là khi chúng ta mắc trầm cảm; lúc ấy, bộ não kiếm tìm các ký ức chỉ cho mỗi sự kiện ấy mà thôi: một sự tổn thương xa xưa, một trải nghiệm sang chấn, hoặc công việc gì đấy chưa hoàn tất. Đó là một trong lắm phương thức bộ não dày vò người đang kinh qua u uất, nó chơi một băng hình tâm trí về thời cũ rồi nhặt lấy hết các sự kiện lẫn trải nghiệm tồi tệ. Nếu cô ấy trầm uất, cô ấy sẽ được đề nghị cho biết lý do tại sao cô lại có những hành xử nọ kia hoặc những chuyện chi đích thị từng xảy đến với năm tháng thơ bé đó, kỷ niệm về “mấy chuyện tình ái tào lao”, hoặc tai sao cô còn vào đâu đó với người này kẻ nọ? Nên lối xử lý cho tình huống này là xử lý với trạng thái trầm uất và ám ảnh, chứ không phải với ký ức, kỷ niệm.

Một lối nghĩ khác cho tình huống này thuộc về cái gọi là ký ức cảm xúc. Thời trung học đã thành dĩ vãng mịt mù, song nếu mình nhận được lời mời hội trường thì lập tức tâm trí ngập tràn bao kỷ niệm. Chúng ta bắt đầu tua lại sổ lưu bút, nghe bài hát từng nghêu ngao, nhớ mặt bạn ngồi cùng bàn, v.v… Nếu bạn bè hoặc ai đó gần gũi, thân quen thúc đẩy trí nhớ của người phụ nữ mới lập gia đình  ‘đào sâu’ một vài sự kiện nào đó, cô ấy sẽ sống trong cả mớ dữ liệu ngập tràn của một thời khủng khiếp. Các ký ức xưa cũ hơn 20 năm có lẻ chợt trỗi dậy bởi vô vàn cò lẩy khác nhau như âm nhạc, phim ảnh, các hoàn cảnh tương tự, bình luận của ai đó, và dĩ nhiên, không loại trừ ngay cả chính vì cảm xúc sung sướng, lâng lâng của người phụ nữ đang thụ hưởng tháng ngày lứa đôi hạnh phúc; nghĩa là bởi bất kỳ điều gì… Và như mô tả, nhớ lại các trải nghiệm đã qua tạo nên nhiều cảm xúc tương tự của một thời: tội lỗi, bối rối, tủi nhục,  hoang mang, v.v…

Thật vui mừng vì người phụ nữ này đã lưu ý đến sự kiện bị xâm hại tình dục lúc lên 7. Những câu chuyện như thế vốn ít khi bày tỏ, tự bộc lộ và thường tác động mạnh mẽ hơn là ta có thể tưởng tượng; có quá nhiều lý do khiến người trong cuộc hay chọn thái độ im lặng lờ đi… Và dù cô ấy có thể nghĩ mình vượt qua được tình huống rồi, khả năng là một số cảm xúc còn giấu kín, khuất che cứ hiện diện rồi dễ khiến cô ấy phản ứng kém cỏi với stress. Thậm chí ngay cả trường hợp đúng là cô đã vượt qua ám ảnh, việc thiết lập các phiên tham vấn với một nhà trị liệu từng trải có thể hữu ích vì một số hành vi cô nêu lên trong thư đòi hỏi cần được thấu tỏ để rồi không còn quấy nhiễu tâm trí cô nữa.

Các ký ức tồi tệ nhất cũng có thể được mang lên bề mặt lần nữa theo thời gian do trầm cảm. Khi chúng ta trầm cảm, bộ não lục soát trong mớ ký ứ các trải nghiệm tồi tệ nhất nhằm hành hạ và gây đau đớn về mặt tinh thần. Người phụ nữ này có thể từng trầm uất nhiều năm tháng, nguyên nhân khiến não bộ của cô mang trải nghiệm xa xưa lên bề mặt. Vì những nỗi ám ảnh cũng hay thấy trong trầm cảm, bởi nó khả năng cao chứng tỏ trạng thái trầm cảm được duy trì ở mức độ chừng mực tại thời điểm này. Khi chú mục vào các ký ức chứa đựng các cảm xúc khốn khổ, chúng ta duy trì sự khốn khổ về mặt cảm xúc, như chính người phụ nữ đang sống đời hôn nhân thú nhận: “Em luôn nghĩ mình bị bệnh vì trời phạt rồi… Có lúc em buồn đến mức muốn chết, muốn buông xuôi hết… Em ân hận vì tuổi trẻ bồng bột quá”.

Những trải nghiệm của người phụ nữ khá thường gặp, và cuộc dằn vặt nội tâm của cô ấy nhấn mạnh các điểm khác biệt quan trọng giữa ký ức tuổi thơ và hiểu biết lúc đã trưởng thành rồi về chúng. Khi nhìn lại các ký ức hồi thơ bé mà bây giờ chúng ta biết rằng không thích đáng và phù hợp, chúng ta thấy những trải nghiệm sống động ấy như một tập hợp các khái niệm, đánh giá và cảm nhận mà chúng ta đã không hiện diện đúng đắn vì hồi ấy mình còn bé tí. Đích thị, “bị xâm hại tình dục” chuyên chở nặng nề sự đánh giá, hình ảnh hiển thị và cảm xúc, và trạng thái “nạn nhân” của việc bị lạm dụng đó tự thân đã chứa đầy vấn đề kèm theo.

Điều thiết yếu, phải tách biệt các sự kiện như người phụ nữ từng trải nghiệm chúng khi còn là cô bé thoát khỏi những ý nghĩa và liên kết giờ đây trong vai một người phụ nữ đã yên bề gia thất nhìn lại thông qua hiểu biết trưởng thành. Sự tách biệt đó điều chỉnh những bất đồng, chênh vênh liên quan đến cảm nhận thể lý, vui sướng ít nhiều cô ấy từng trải qua cùng nỗi niềm chán ghét, kinh tởm hiện tại cô cảm thấy như cô nhận ra bối cảnh, các động cơ và sự lạm dụng quyền lực của một người phụ nữ trưởng thành. Phân biệt viễn tượng đứa trẻ và vễn tượng người lớn cho phép người phụ nữ ý thức được rằng, chỉ bởi vì cô đã không cảm thấy thật tồi tệ và đủ sức vứt bỏ lúc đó, cô đã không tha thứ cho việc lạm dụng quyền lực của người trưởng thành hoặc phản ứng theo một cách thức bất thường. Không có điều gì sai trái với cô ấy bởi cách phản ứng như từng thể hiện trước đây. Thông qua hiểu biết tuổi thơ và dĩ vãng dần xa, không hề có lý do nào để ngờ vực rằng trải nghiệm một thời là tủi hổ hoặc bệnh hoạn.

Trong thư còn có thể đọc thấy ước muốn định dạng, xác lập rõ ràng mọi thứ từng xảy ra. Thay vì cố gắng gọi tên, hay hơn là xử lý trải nghiệm như đã mô tả: nhận ra rằng các viễn tượng cô ấy cầm nắm bấy lâu rồi so sánh chúng với hiện tại đang gánh lấy trách nhiệm là hoàn toàn khác biệt, và điều đó là bình thường. Bởi vì một định nghĩa về “lạm dụng/ xâm hại” là chấn thương thể lý, chúng ta có thể đôi khi giả định lạm dụng/ xâm hại tình dục phải là trải nghiệm như sự khó chịu, bất ưng về mặt thể lý ở đứa trẻ. Tuy thế, “xâm hại” trong lạm dụng tình dục thường nghiêng về sự kiện là người lớn dùng quyền lực và hiểu biết trưởng thành cho sự thỏa mãn khoái lạc tình dục của bản thân (lợi dụng sự ngây thơ của trẻ nhỏ). Gán nhãn cho trải nghiệm cách nào đi nữa không thay đổi được con người cô ấy đã từng và hiện là, và chỉ đến khi “đi học thì mới tự hiểu” cho thấy, các trải nghiệm ấy dường như không mang nhiều ý nghĩa cho chính bản thân cô.

Xử lý về mặt tinh thần và cảm xúc những vấn đề thuộc về dĩ vãng trước khi lập gia đình như vậy đúng là dạng công việc mà các nhà tham vấn tâm lý được đào tạo để đảm nhận, và không khó thấy rằng giải quyết những trải nghiệm tình dục thời thơ ấu cũng như các vấn đề rắc rối nảy sinh khi hẹn hò, bắt cặp sau này là điều gì đó mà các nhà trị liệu từng trải thừa sức trợ giúp. Mỗi cá nhân với những trải nghiệm là duy nhất và chỉ nên được hiểu đúng trong bối cảnh; không có cách thức phải, trái cần đạt tới, trước đây hoặc ngay bây giờ.

Một vài khuyến cáo cuối cùng.

  • Nếu người phụ nữ đã kết hôn rồi này quyết định không có hành động gì thêm về các sự kiện đã xảy đến thì cô ấy cũng phải quyết định phóng thích quá khứ để khỏi canh cánh bên lòng nữa. Chúng ta chẳng nhất thiết giả vờ như không có chuyện gì xảy ra song chúng ta nhận thấy rằng các ý nghĩ ám ảnh về tình huống nêu trong thư là gây hại cho chính mình. Cần dùng các chiến lược liên quan đến vấn đề ký ức cảm xúc để xử lý các căng thẳng, bực bộ về mặt cảm xúc còn lưu giữ trong trí nhớ.
  • Người vợ trong câu chuyện đang bàn không lẻ loi với một bí mật khủng khiếp. Các thành viên thân thiết, ruột thịt hoặc chí ít bố mẹ sẽ không cảm thấy thoải mái, ổn thỏa với những sự kiện xảy đến trong gia đình, tuổi thơ và quá khứ của ta khi họ không biết cách thức mình hiểu về thông tin cũng như những gì mình đã thực hiện, tiến hành… Thử cân nhắc, nếu quyết định tiến tới hướng về phía trước cùng với cuộc hôn nhân ưng ý, người phụ nữ có thể tâm tình với mẹ hoặc chị em gái và dùng dạng thức trao đổi kiểu “thông cáo báo chí”…
  • Lựa chọn tham vấn/ trị liệu tâm lý có thể sẽ rất hữu ích vô cùng. Cô ấy có thể bị trầm cảm, nhất là nếu ám ảnh này gây than khóc dầm dề, đau đớn, khiến mất ngủ kéo dài. v.v…
  • Như chính động cơ thúc đẩy người phụ nữ giờ đã có nơi có chốn khởi thảo lá thư, thời gian có vẻ chỉ đang dần làm lành lặn các vết cắt, sẹo nhức buốt trong thân xác song nó khó chữa trị rốt ráo các tổn thương cảm xúc sâu thẳm. Thực tế, việc nghĩ lại và sắp xếp thái độ của bản thân lần nữa thật đúng đắn sẽ giữ vai trò chữa lành ký ức đớn đau. Người sống sót sau những trải nghiệm kinh hoàng đã hồi phục hoàn toàn được bởi vì họ tái xác lập tư duy về trải nghiệm rồi tiếp tục sống với một cuộc đời khác trước. Không ngừng ghi nhớ dĩ vãng mà cứ nghĩ như cũ về nó dễ là nguyên nhân khiến chúng ta sống lại sự kiện đau thương mỗi ngày, lôi kéo chúng ta quay về quá khứ muốn hòa giải thứ tha, và dần làm tuột rơi những gì đáng giá đang diễn ra trong khoảnh khắc hiện tại.

Lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích (2)

Việc điều trị trầm cảm ở trẻ em và tuổi mới lớn là việc dễ tiếp tục gây tranh cãi, đặc biệt với việc sử dụng thuốc (chẳng hạn) và cách tiếp cận đa phần dựa trên mô hình y khoa.

Thực hành lâm sàng thường khác biệt so với bằng chứng nghiên cứu; lý do cho điều này có thể là vì thực hành lâm sàng luôn đi trước các phát hiện trong nghiên cứu hoặc, có thể vì chẳng dễ dàng để thiết lập được tính hiệu quả của một số cách can thiệp tâm lý trị liệu. Một yếu tố liên quan cũng cần tham khảo là các nhu cầu phức tạp ở trẻ em và tuổi mới lớn khi có nhu cầu thăm khám, tham vấn/ trị liệu không khít khớp với các chẩn đoán hoặc phân loại nghiên cứu đặc thù. Người mới lớn gặp khó khăn trong học tập cũng thấy nảy sinh vấn đề khi tiếp cận các dịch vụ sức khỏe tâm thần sao cho thật thích đáng và thường là các nhu cầu sức khỏe tâm thần đã không được đáp ứng phù hợp, tương xứng.

1. Trị liệu nhận thức – hành vi (CBT) phát triển như cách can thiệp hàng đầu khi xử lý trầm cảm, với ngày càng nhiều bằng chứng rằng đây là một cách điều trị hiệu quả cả cá nhân hoặc nhóm (Wood et al. 1996, Lewinsohn & Clarke 1999, Pfeffer et al. 2002, Nelson et al. 2003, Duldey et al. 2005, David-Ferdon & Kaslow 2008).

Các niềm tin căn cốt, giả định và suy tư tự động tiêu cực chúng ta nắm giữ trong mình được kiểm tra trong tiến trình CBT nhằm giúp trẻ em và tuổi mới lớn thách thức rồi đi đến định hình các suy tư của chúng đặng giúp bản thân chúng suy tư khác hẳn đi và cảm thấy tốt hơn về chính bản thân mình.

Tuổi một đứa trẻ có thể tham gia CBT gây tranh cãi, dù Stallard (2002) khẳng định điều này nên tùy thuộc vào thời gian một đứa trẻ đạt tới thời điểm thao tác cụ thể của sự phát triển nhận thức (khoảng trong tầm 7- 12 tuổi). CBT nên được thích ứng khi dùng với trẻ em, thực hiện việc sử dụng các kích thích thị giác nư các quả bóng tư duy, từ điển cảm xúc, bảng theo dõi cảm xúc, cũng như các cách tiếp cận sáng tạo như tự thầm nhắc tích cực, các trò chơi, búp bê và kể chuyện. Trẻ còn bé dễ gặp khó khăn trong phân biệt giữa các cảm xúc khởi từ sự kiện bên ngoài với các suy tư nội tại, và nhu cầu đơn giản và các hướng dẫn sáng rõ nếu chúng tham gia CBT.

Khá ít bằng chứng về những can thiệp tâm lý trị liệu với trẻ em và tuổi mới lớn mắc trầm cảm đồng thời gặp khó khăn trong học tập, tuy dẫu có một số cho thấy mức độ hiệu quả nhất định ỏ nguwoif trưởng thành (Lindsay et al. 1993, Dagnan & Chadwick 1997, Lindsay 1999). Để CBT tỏ ra hiệu quả, trẻ cần bày tỏ nhu cầu sẵn sàng và bố mẹ thường nên tham gia vào (Stallard 2005). CBT có thể được tiến hành bởi một nhà trị liệu được đào tạo hoặc thông qua các loại hướng dẫn tự mình giúp mình. Curry & Reiecke (2003) dùng cách tiếp ận trị liệu theo module với người trẻ; Dummett & Williams (2008) phác thảo một cách tiếp cận vào 5 lĩnh vực đời sống (đáp ứng thể lý; các suy nghĩ; các cảm xúc; hành vi; và các vấn đề thuộc môi trường) nhằm vượt qua trầm cảm tuổi mới lớn,

2. Tâm lý trị liệu liên nhân cách (IPT) được thích ứng với việc sử dụng trên trẻ em (Weissman et al. 1979); đây là cách can thiệp ngắn gọn, có cấu trúc chặt chẽ, hạn chế thời gian. Có ràng buộc điều trị ở đây là người trẻ chấp nhận mình đang đau ốm và cần trợ giúp tựa như khi chúng mắc một bệnh thực thể vậy.

Xuyên suốt giai đoạn tiếp xúc rồi khởi sự ban đầu, người trẻ được tạo một tổng thuật về các mối quan hệ và chức năng xã hội hiện tại (bảng kiểm liên nhân cách). Nhà trị liệu phát triển một công thức liên nhân cách, nối kết trầm cảm với một trong bốn lĩnh vực liên nhân cách đang gặp trục trặc: nỗi tiếc thương, tranh cãi vai trò liên nhân cách, những quá độ khi chuyển đổi vai trò và những thiếu hụt liên nhân cách. IPT nhấn mạnh ở đây và ngay bây giờ; các vấn đề xảy đến trong hiện tại. IPA là một nỗ lực đặng hợp nhất các mục tiêu trị liệu đạt được nhờ người trẻ tạo ra (Frombone 1998, Weissman et al. 2000, Mufson et al. 2004, Coleman 2006).

3. Việc dùng thuốc cho trẻ quả là rất đáng nhìn nhận thấu đáo. Các cách tếp cận trong điều trị y khoa đối với trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn là các loại thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs), nhóm thuốc ức chế tái hấp thụ có chọn lọc serotonin (SSRIs) hoặc ức chế tái hấp thụ serotonin (SRIs). Nói chung, TCAs không nên được chỉ định khi chúng chẳng tỏ ra hiệu quả bao nhiêu so với giả dược (placebo) trong điều trị trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn (Hazell et al. 1995, 2002, Kutcher 1997, Geller et al. 1999). Không chỉ vì vô tích sự, chúng còn có thể gây ra một số phản ứng phụ không hay ho như khô miệng, đổ mồ hôi và táo bón cũng như tạo tác tiềm năng tim mạch nguy hiểm (Birmaher el al. 1998). Tương tự, các loại thuốc ức chế MAOIs không được chứng thực tính hiệu quả ở trẻ em và tuổi mới lớn, và ít bằng chứng hỗ trợ cho việc sử dụng (Heyman & Santosh 2005).

Việc dùng các loại thuốc chống trầm cảm cho trẻ em và tuổi mới lớn đang tăng lên (Zito et al. 2003, Mitchell et al. 2008). Năm 2007, ước tính khoảng 50.000 trẻ em Anh quốc được chỉ định thuốc chống trầm cảm và việc chỉ định càng tăng (Hansard 2007). Bằng chứng về tính hiệu quả của SSRIs là hạn chế, tuy vậy, chúng vẫn thứ thông dụng chỉ định; điều này gây lo ngại về các nguy cơ lớn hơn cho hành vi tự sát ở trẻ và tuổi mới lớn hơn là so với người trưởng thành dùng SSRIs (Stone et al. 2009). Shearer & Bermingham (2008) khẳng định rằng có các vấn đề đạo đức khi chỉ định SSRIs cho trẻ và tuổi mới lớn, bất kể thuốc chống trầm ảm hiệu quả hơn giả dược như nào, và các hiệu ứng ngắn hạn lẫn dài hạn lên sự phát triển tâm lý và thể lý của những ai được chỉ định thuốc. Jureidini (2009) đề nghị cách tiếp cận gồm “đợi theo dõi sát sao” và chú ý tới các nhu cầu thể lý và cảm xúc của trẻ có thể là giải pháp thay thế thuốc. Rất nhiều tuyên bố về tính hiệu quả của việc sử dụng thuốc chống trầm cảm, song có vẻ cẩn trọng và giám sát nghiêm ngặt kèm với các can thiệp tâm lý nên được cố gắng trước tiên.

4. Các cách trị liệu dựa trên nền tảng tâm động (psychodynamics) từng bị bỏ rơi trước sự tràn ngập của CBT và các cách trị liệu dựa trên sổ tay hướng dẫn, chí ít bởi vì chúng được cho là quá đắt đỏ, đòi hỏi lao động cực nhọc và tốn nhiều thời gian.

Tuy thế, điều quan trọng là nhận ra rằng người mới lớn được chẩn đoán trầm cảm có thể gặp nhiều vấn đề phức tạp mà chỉ có thể lưu ý sâu xa với trị liệu dài hạn.Các cách tiếp cận nhận thức có thể phù hợp với một số vấn đề nhẹ và trung bình, song các tác động dài hạn của trầm cảm tự chúng đòi hỏi một giải pháp dài hạn. Trong một phân tích meta-analysis theo cách tiếp cận nhận thức và không nhận thức (cả điều trị theo tâm động), Weisz và cs. (2006) không phát hiện thấy sự khác biệt giữa các dạng tâm lý trị liệu này, thể hiện ở việc cả hai cách đều tạo ra các hiệu ứng khiêm tốn trong điều trị trầm cảm. Trowell và cs. (2007) nhận ra rằng tâm lý trị liệu tâm động hiệu quả trong điều trị trẻ mắc trầm cảm và tính khí bất ổn (dysthymia) với 74,3% người mới lớn hồi phục, và tuổi mới lớn này tiếp tục cải thiện với 100% cho thấy không còn triệu chứng trầm cảm về sau.

Làm việc trong bối cảnh của mối quan hệ trị liệu dài hạn có thể đem lại lợi lạc cho trẻ em và tuổi mới lớn, nhất là trẻ khổ sở bởi các sang chấn. Các cách tiếp cận tâm động theo nhóm cũng được dùng với tuổi mới lớn và bối cảnh của một chương trình ban ngày định hướng tâm động có thể đem lại lợi lạc cho tuổi này. Có rất ít nghiên cứu về tâm lý trị liệu theo tâm động, chẳng hạn Watanabe và cs. (2007) chỉ thấy trong 27 nghiên cứu chỉ có duy nhất một nghiên cứu dùng cách tiếp cận tâm động.

5. Các cách tiếp cận khác có thể kể đến là các can thiệp kỹ năng xã hội, trợ giúp trẻ hoặc tuổi mới lớn ở trường học. Nhắm vào các mối quan hệ bạn bè cùng trang lứa có thể hữu ích. Điều trị nội trú có thể hữu ích đặc biệt với người có dự tính tự sát, trong khi điều trị ban ngày lại hỗ trợ cho người trẻ giải quyết các vướng mắc về sự tách biệt xã hội. Các can thiệp nhóm có thể giúp người trẻ nhận ra các ý nghĩa trong trục trặc gặp phải, giảm thiểu cảm nhận về sự cô độc và năng cao các mạng lưới xã hội trợ giúp hiệu quả.

Các trị liệu trần thuật cũng đem lại lợi lạc cho trẻ em và tuổi mới lớn mắc trầm cảm, các dạng trị liệu gây tò mò so với các các trị liệu truyền thống vốn được nhìn nhận như dạng trị liệu chắc chắn (Amundson et al. 1993). Các trị liệu trần thuật sử dụng cách kể chuyện, và thường gồm các kỹ thuật tâm kịch. Trị liệu nhắm vào giải pháp đang tang lên và được người thực hành nìn nhận như cách tiếp cận hữu ích, dù bằng chứng cho tính hiệu quả với trẻ em và tuổi mới lớn chưa được thiết lập. Trị liệu âm nhạc cũng được dùng điều trị trầm cảm cho trẻ mới lớn (Hendricks & Bradeley 2005). Các lĩnh vực khác cũng được xem xét như là chế độ ăn uống, luyện tập thể dục và chế độ sinh hoạt hàng ngày tất thảy đều đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp người trẻ hồi phục từ cơn trầm cảm.

6. Có một đứa con mắc trầm cảm có thể là nỗi lo lắng khôn nguôn của các thành viên trong gia đình.

Thường người ta đổ lỗi cho chính họ và tìm cách giải thích hành vi cũng như chức năng của mình. Để giúp các gia đình, họ cần hiểu biết thấu đáo về rối loạn và ý nghĩa của trầm cảm. Giáo dục về các dấu hiệu, triệu chứng có thể giúp gia đình hiểu trầm cảm trong mối liên hệ với đứa trẻ nhà họ, điều này sẽ gồm cả việc thảo luận và nhận ra ý nghĩa trong hành vi của đứa trẻ hoặc người mới lớn, ví dụ nằm lỳ trên giường đến 2 giờ chiều là dấu hiệu của trầm cảm hay đó chỉ là hành vi bình thường của tuổi mới lớn? Liệu một đứa trẻ không ngừng lo lắng về thành tích học tập ở trường có mắc trầm cảm? Thảo luận những việc này và các vấn đề khác nữa với bố mẹ có thể làm tình hình sáng tỏ hơn và giúp bố mẹ có các mong đợi bình thường cho đứa con của mình. Một số gia đình hưởng lợi từ giáo dụ, một số từ sự trợ giúp gia đình và một số khác thì từ trị liệu gia đình. Trị liệu gia đình hệ thống cá nhân được khuyến cáo khi các dạng kết hợp bên trên chứng tỏ không hiệu quả.

Trong khi đa phần các gia đình hỗ trợ cho con em mình, một số có thể gây bất lợi cho sự phát triển của một đứa trẻ, nên việc hỗ trợ cho bố mẹ/ người chăm sóc nằm trong kế hoạch tổng thể nên được xem xét trước tiên. Lượng giá các quan điểm của gia đình về việc điều trị như thảo luận về chuyện dùng thuốc hoặc vai trò của tâm lý trị liệu có thể giữ vai trò quan trọng. Trả lời các câu hỏi từ giai đoạn khởi sự trị liệu và bước vào một cuộc đối thoại mang tinh thần hợp tác với bố mẹ trẻ có thể giúp công việc trị liệu tiến triển rất khả quan.

7. Tóm lại, trầm cảm là một vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng có thể để lại nhiều tác hại tiêu cực dài hạn đối với sự phát triển của trẻ em và tuổi mới lớn.

Nhận thức sớm về trầm cảm nên được chú trọng trong các chiến dịch phòng ngừa và nâng cao sức khỏe, đi kèm với việc hiểu biết sâu xa hơn về chuyện dùng thuốc quá mức cho trẻ và tuổi mới lớn có ảnh hưởng ra sao tới sức khỏe tâm trí của chúng, nhất là việc chỉ định thuốc chống trầm cảm cho trẻ ở độ tuổi còn nhỏ.

Hiểu biết trẻ mắc trầm cảm là khó khăn, bởi vì như đã thấy, có hàng loạt các ‘triệu chứng’ trầm cảm quá dễ gây nhầm lẫn với các hành vi khác ở trẻ và người mới lớn. Phát triển các cách can thiệp thích hợp sao cho hiệu quả và khuyến khích chúng phát hiện các giải pháp can thiệp riêng đối với những vấn đề thuộc cảm xúc sẽ giúp chúng thật hữu hiệu sau này khi lớn lên. Dùng một cách tiếp cận có cân nhắc thấu đáo, bình tĩnh trông chừng và giám sát chặt chẽ đồng thời hiểu biết toàn thể bối cảnh liên quan đến cuộc sống của trẻ và tuổi mới lớn có thể là điểm khởi đầu tốt lành. Đừng quên, thực tế thì một số giải pháp với chuyện chúng mắc trầm cảm có thể tạo nên các đáp ứng mang hơi hướng xã hội và chính trị chứ không chỉ định vị riêng trong tính cá nhân.

Luyện từng chuyện vặt nhỏ nhặt để không dính chặt với bất kỳ điều gì

Tôi không rành thế giới văn nghệ sĩ qua những nhìn ngó bất chợt trước vô vàn hoạt động tươi tắn sắc màu của họ; đoán chừng, ấy chắc phải là một cái gì mạnh khỏe, trường vốn, náo nhiệt và lung linh lắm lắm.

Chúng ta hưởng lợi trạng thái yên an vào thời điểm eo sèo và chắt bóp nhờ cơ hội tái xác nhận thái độ tích cực và cách đo lường niềm tin. Khám phá đầy tinh tế và từ bi những địa hạt nào khiến mình tắc tị, bức bối và khổ sở nhất có thể vén lộ, phơi tỏ lô lốc thứ mình đang ôm nắm, giữ chặt đang rất cần thiết phóng thích: các cảm xúc còn dây dưa, những quá độ chưa giải quyết, hoặc cách thức tiêu cực trong lối mình nhìn vào mình hoặc nhìn vào thực tế đời sống. Nhờ bắt chụp trách nhiệm trước những gì có thể thay đổi, mình càng dễ quy thuận trước điều bất khả do thừa khôn ngoan luôn ghi nhớ rằng sẽ có một giai đoạn khác phù hợp hơn.

Tựa như điều hành sự vụ kinh doanh vậy, chúng ta có thể vận trù đời mình theo kiểu ủy nhiệm một số thứ… Chân thực từ ngữ trong các mối quan hệ là điều phải xác quyết. Có lẽ bởi vì mức độ cam kết với ai đó khác quá mạnh mẽ nên mình có thể cảm thấy cần hiện diện với trạng thái cởi mở và trung thực. Thay vì lươn lẹo hoặc vòng vèo, mình có thể tái khẳng định ước muốn kiên định và chân thành với tha nhân. Mình có thể phát hiện, nhờ trông chừng những gì phát ngôn và cách nói năng mà chúng ta có khả năng để chạm tới, thậm chí đạt được các cấp độ tin tưởng sâu sắc hơn của những người mà mình quan tâm, săn sóc.

Thực tập nói năng đúng đắn giúp ta tương tác với tha nhân thiệt thật thà. Dần trở nên ý thức về tác động của từ ngữ mình sử dụng với người khác, chúng ta sẽ nhận ra rằng một khi dự tính mình tốt lành thì cách thức biểu đạt bản thân cũng quan trọng không kém hành động thể hiện. Từ ngữ do có ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến ta nên điều quyền năng này còn giúp mình tẩy đi bất kỳ ngờ vực hoặc sợ hãi nào bất chợt trỗi lên trong các mối quan hệ. Lưu ý từ ngữ phát ngôn, mình sẽ củng cố thêm cam kết với mọi người trong đời và lát đặt con lộ đời sống ngày một chân tình thêm lên.

Khi tôi bất chợt được giới thiệu một chương trình trên truyền hình vừa diễn ra hồi hôm, quả thật tôi không thể không nghĩ tới độ căng giữa lòng từ bi và sự không dính mắc.

Liệu từ bi, vốn làm yên dịu niềm đau nỗi khổ của những người khác, có mâu thuẫn với khái niệm không dính mắc, tách biệt (tương phản với trạng thái gắn bó) vốn nó ngăn ngừa niềm đau nỗi khổ rất riêng?

Bởi vì lòng từ bi đích thực là sự trợ giúp vô điều kiện; nó là vô điều kiện và một dạng thức của sự tách biệt, không dính mắc từ bất kỳ điều kiện nào khi trợ giúp kẻ khác, ở trạng thái trợ giúp hết sức chân thành. Sự không dính mắc đậm Phật tính ở đây biện luận khởi lên từ năng lực khôn ngoan của trạng thái không dính mắc với các hiện tượng, gồm cả con người, vốn không ngừng thay đổi và biến chuyển. Sự khôn ngoan này cũng đi kèm với lòng từ bi, bởi vì nó nhận ra sự thay đổi không ngừng nghỉ của hiện tượng; nhiều người không nhận ra được sự thật vô thường này và đeo bám, dính chặt với ảo ảnh những cái tôi của họ và trải nghiệm về sự không hề chút đổi thay nào để rồi dẫn đết kết cục hứng chịu đau khổ.

Đấy là lý do tại sao một sự bừng tỉnh toàn triệt ở người thức nhận sự khôn ngoan của bản chất vô ngã thì cũng có một lòng từ bi tuyệt diệu luôn, đặng trợ giúp những ai thiếu vắng khôn ngoan và lòng từ bi đặng thức nhận về sự bừng tỉnh trong chính bản thân họ và ở những người khác. Điều ấy chính xác bởi vì sự bừng tỉnh, giác ngộ hoàn toàn thì không hề có bất kỳ ảo tưởng nào về cái tôi nữa, rằng chúng là vị kỷ (đối lập với ích kỷ) trong nỗ lực trợ giúp người khác của họ. Do đó, khôn ngoan đích thực là từ bi đích thực, từ bi đích thực là khôn ngoan đích thực.

Vậy nên, không nhất thiết cảm thấy vì những người khác (nhờ có lòng từ bi) và không cảm thấy vì họ (nhờ trạng thái tách biệt) cùng một lúc luôn. Chúng ta chỉ cần nhận ra cách niềm đau nỗi khổ về những người khác là đối với họ và tiến tới muốn trợ giúp họ. Chẳng hạn, khi một đứa bé khổ sở khóc thét do nửa đêm gặp ác mộng thì chúng ta thật tự nhiên cố gắng vỗ về thật dịu dàng để bé thoát khỏi ảo tưởng phi thực tế. Nếu rốt ráo không chăm sóc cháu, mặc kệ các cơn ác mộng hành hạ bé thì chúng ta đã hành xử sai trái, như thể chúng ta vốn không có Phật tính luôn đầy ắp lòng từ bi. Do đó, chúng ta cần tiến hành và nên thực sự chăm sóc bé. Đơn giản là làm tốt nhất điều mình có thể mà không dính mắc với các kết quả. Đây là cách vun bồi sự không dính mắc đúng đắn, vốn đối lập với các tình huống trong đó hiện diện nỗi sợ hãi của việc trở nên quá gắn bó với những ai mình quan tâm, săn sóc. Nỗi sợ hãi này thậm chí còn có thể kiến tạo một sự chần chừ dấn thân vào bất kỳ dạng thức của mối quan hệ với bất cứ ai, ở một chừng mực nhất định là không thuộc trạng thái từ bi rồi.

Chúng ta cần nhớ rằng không ở trong bất kỳ quan hệ nào không tất yếu dẫn tới việc tách biệt một cách tự động được. Lấy ông Phật làm ví dụ hoàn hảo. Khi một đệ tử qua đời trước mặt mình, Ngài không hề đớn đau sầu khổ vì gắn bó, yêu thương. Ngài chỉ đoan chắc rằng mình đã làm mọi điều tốt nhất có thể khi các đệ tử còn sống. Thực tế, dài lâu biết bao việc sự bừng tỉnh đã không hề được nhận diện, lảng tránh các mối quan hệ có thể là dạng dồn nén, đàn áp của sự gắn bó, yêu thương tức là, không muốn yêu thương, gắn bó.

Bất kỳ dạng thức gắn bó nào thì thảy đều rồi sẽ chỉ khiến ai đó không được giải phóng. Đó là bản chất với sự gắn bó ngay bây giờ, lúc này trong khi chúng ta có thể làm tốt nhất sức lực mình nhờ tỉnh thức trước thực tế vô thường, nhằm dần giảm thiểu đúng lúc sự gắn bó; điều này hết sức xác thực bởi vì người ta rồi sẽ băng qua, mất đi đến độ mình nên trân quý họ và trợ giúp họ ngay bây giờ, với lòng từ bi, thay vì tránh né họ- điều không thực sự đem lại lợi lạc cho bất kỳ ai, dĩ nhiên, ngay cả cho chính chúng ta.

Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD): cập nhật thông tin mới nhất, thực trạng siêu phức tạp, và vài ba cách thức hỗ trợ hiệu quả

Kể từ những bài xa xưa từng giới thiệu khá chi tiết quen lệ rồi, đến nay rối loạn phổ Tự kỷ (ASD) vẫn tiếp tục được blog Tâm Ngã chọn là chủ đề ưu tiên lên trang.

Ba hôm trước, đại học Carnegie Mellon công bố đã làm rõ vai trò của tính di truyền, đột biến, và các yếu tố môi trường; theo đó, nguy cơ di truyền của ASD chủ yếu khởi phát từ các genes thông thường hơn là các biến thể hiếm gặp hoặc đột biến tự phát.

Từ nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy rằng di truyền đóng vai trò chính trong sự phát triển rối loạn tự kỷ so với các yếu tố môi trường, góp phần quyết định gây nên tự kỷ hơn chúng ta tưởng; mỗi một trong nhiều yếu tố nguy cơ nhỏ khác thêm vào đẩy người mắc vươn ra rìa của phổ tự kỷ…  Không có các công cụ thống kê mới, không phát hiện được kết quả, và bây giờ chúng ta phải dựa trên những gì học hỏi được kèm sử dụng các cách tiếp cận thống kê để sắp đặt các nguồn lực tương lai, và quyết định hướng nghiên cứu nào hữu ích nhất đáng tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân gây ra tự kỷ.

Như thế chứng tỏ, tự thân yếu tố môi trường không quyết định hết thảy nguyên nhân gây ra ASD; và con số 55% có thể di truyền cho thấy genes chịu trách nhiệm hơn một nửa việc một đứa trẻ có khả năng mắc tự kỷ (80% di truyền liên quan đến chiều cao).

Lần nữa, qua thượng dẫn sơ bộ, điều ngạc nhiên ở nghiên cứu là các nguy cơ di truyền gây tự kỷ đa phần nằm ở các biến thể genes thông thường chứ không phải các đột biến dị biệt. Một đột biến nhỏ trong một gene đơn lẻ có thể gây một căn bệnh chẳng hạn như Huntington, và đột biến gene BRCA1 làm tăng lên khả năng phụ nữ phát triển ung thư vú. Các đột biến như thế chỉ chiếm 2,6% nguy cơ gây tự kỷ, so với 52% biến thể genes thông thường; với phần lớn trường hợp gây mắc tự kỷ, không có một gene sai lạc nào mã hóa rối loạn này mà chính sự kết hợp các biến thể thông thường với nhau mới dự đoán nguy cơ tự kỷ. Và dù chỉ ra các yếu tố môi trường không phải là nguyên nhân chính, song nhóm tác giả không chắc cụ thể những yếu tố môi trường nào quy cho việc mắc tự kỷ.

Liên quan đến thực trạng phức tạp gây tranh cãi, bất chấp mấy thập niên nghiên cứu khẳng định điều ngược lại thì niềm tin tự kỷ có thể là do nguyên nhân trục trặc trong quan hệ gắn bó mẹ- con vẫn thịnh hành. Trước thông tin nghiên cứu rằng có mối liên quan giữa độ tuổi cao của bố mẹ với việc mắc tự kỷ khiến một số bố mẹ còn chưa thôi lo lắng quyết định có nên sinh con sau độ tuổi 30 thì công việc của nhóm nghiên cứu quốc tế do nữ khoa học gia thuộc đại học Carnegie Mellon đứng đầu giải thích chủ yếu do genes.

Sự trộn lẫn các yếu tố nguy cơ không dễ cảm nhận thấu đáo và việc chẳng rõ ràng nguyên nhân gây ASD có thể khiến một số bố mẹ lựa chọn các giải pháp liều lĩnh và cảm tính. Một ví dụ sống động kéo dài là chuyện bố mẹ quy cho hóa chất thimerosal (đã bị gỡ bỏ hơn 10 năm nay) vốn có mặt trong vacine trẻ em gây tự kỷ, tạo điều kiện cho phong trào chống tiêm phòng thành công và gây ra nguy cơ cho con cái họ mắc một số bệnh mà chúng ta đã biết cách tránh…

Với tỷ lệ 1/ 68 trẻ em Hoa Kỳ mắc ASD, trong độ tuổi 6-17 thì chẩn đoán mắc tự kỷ tăng khoảng 1% từ 2007 đến 2012. Các triệu chứng tự kỷ đa phần không hợp trội, nổi bật cho đến khi trẻ lên 2 hoặc 3 tuổi, và không phải luôn luôn dễ chẩn đoán. Nguyên nhân hiện chưa sáng tỏ hoàn toàn, sau nhiều năm nghiên cứu có thể nghĩ tới chừng mực: các biến chứng khi sinh, thuốc trừ sâu, không phải do thiếu thốn tình yêu thương, không phải vì nhiều giun sán.

Nhân tiện, xin nêu một vài nghiên cứu liên quan: trẻ có bố mẹ làm các nghề kỹ thuật mang tỷ lệ tự kỷ cao hơn; thiếu hụt kỹ năng vận động càng làm mức độ tự kỷ nghiêm trọng; suy yếu khả năng chú ý không phải là thành phần tự thân của tự kỷ; cảm giác thứ phát hay thường thấy ở người mắc tự kỷ; chết đuối là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ ASD; chụp quét não bộ có thể hỗ trợ công tác chẩn đoán; có việc làm giúp cải thiện các triệu chứng tự kỷ ở người trưởng thành; nghiên cứu DSM-5 chỉ ra tác động của việc chẩn đoán và sự phổ biến ASD, v.v…

Chẳng nhất thiết phải nghi ngờ một điều rằng, tự kỷ thực sự khó hiểu đối với những ai không trải nghiệm trực tiếp. Với hầu hết mọi người, tự kỷ cơ chừng là ai đó lạ kỳ, cách biệt và khuyết tật tinh thần; các tường rào ngăn cách trong đời sống người mắc tự kỷ có vẻ là khó hiểu thấu; những trở ngại và thách thức họ phải đương đầu là thực tế lạnh lùng, một thực tế của ai đó khác. Con số 1/68 trẻ em mắc ASD cho thấy hầu hết mọi người dễ bắt gặp, nghe thấy hoặc tiếp xúc khá gần gũi với ai đó mắc tự kỷ; tiếc thay, phải chờ cho đến khi tự mình trải nghiệm cá nhân trực tiếp những con người ấy độc đáo và đặc biệt như thế nào thì mới phần nào nắm bắt câu chuyện.

So với ASD, ngu dốt mới đích thị là căn bệnh lớn nhất trong xã hội. Bố mẹ các trẻ mắc tự kỷ chắc chắn trải nghiệm sống động khía cạnh với người xung quanh họ; một khía cạnh tồn tại ở nhiều người song nó chỉ bộc lộ ra khi bị thách thức bởi điều gì đó khác thường, như kiểu giao tiếp với người mắc tự kỷ. Đó không phải là tội ác, chỉ là ngu dốt mà thôi.

Có rất nhiều vấn đề xoay quanh ASD. Một đứa trẻ mắc tự kỷ ảnh hưởng đến mỗi thành viên trong gia đình theo các cách thức khác nhau. Bố mẹ/ người chăm sóc giờ đây phải đặt để ưu tiên chú tâm trong việc trợ giúp con em họ, xử lý stress nảy sinh ngày càng mãnh liệt trong đời sống hôn nhân, ở các đứa con khác, công việc, tài chính, và các trách nhiệm lẫn quan hệ liên nhân cách khác nữa. Bố mẹ có con mắc tự kỷ phải chuyển khá nhiều nguồn lực thời gian và tiền bạc cho việc cung cấp phương thức điều trị và can thiệp cho đứa trẻ, hạ thấp các ưu tiên cấp bách khác.

Bố mẹ trẻ thường quen đối mặt với các thái độ và dịch vụ bất công trong xã hội. Họ bị thúc ép đương đầu và giải quyết với sự ngu dốt. Vượt trên việc xử lý các vấn đề sự vụ đời thường, hàng ngày liên quan đến tình trạng rối loạn của con em mình, họ cũng buộc phải trở thành người biện hộ và đấu tranh, các chuyên gia y tế cung cấp thông tin chính xác cho cộng đồng họ thường tiếp xúc, bởi vì định hình các chương trình can thiệp sớm thích đáng, độ an toàn và phù hợp trong chẩn đoán cũng như tự thân việc trị liệu và chăm chữa y tế tương xứng dĩ nhiên không phải là điều dễ dàng chút nào ở một đất nước đang phát triển bộn bề như Việt Nam.

Các cơn thịnh nộ, đập phá từ nhẹ tới nặng, khó khăn trong ăn uống, đủ thứ rắc rối với việc ngủ nghỉ, nhiều giới hạn bó buộc của tiến trình xã hội hóa và tương tác với những người khác, đi kèm lắm thiếu hụt xử lý cảm giác và lượng giá môi trường… chỉ là một vài vấn đề mà trẻ em cũng như người lớn mắc ASD phải đối phó thường xuyên.

Điều quan trọng hiểu tự kỷ là trạng thái rối loạn phổ rộng, nghĩa là các cá nhân sẽ thể hiện nhiều triệu chứng khác biệt nhau, một số thì nhẹ và một số thì nặng, số khác vừa vừa… Tương tự, cơ bản là bóc trần huyền thoại người mắc tự kỷ không có khả năng biểu đạt các cảm xúc bản thân hoặc cảm nhận về tình yêu thương, nỗi niềm hạnh phúc, buồn rầu, đau đớn như mọi người khác. Đơn giản vì họ không thể biểu đạt các cảm xúc bản thân theo cách của đa phần mọi người, không có nghĩa họ không có cảm xúc. Đây là sự ngu dốt và thiếu giáo dục chu đáo khiến thiên hạ tiếp tục mang vác huyền thoại vừa nêu.

Nếu nói với bố mẹ của trẻ mắc tự kỷ, mình sẽ thường nghe thấy các câu chuyện dũng cảm không thể ngờ nổi, sự kiên nhẫn vô bờ bến, những nỗ lực khủng khiếp và nỗi buồn bã, tuyệt vọng trong những ngày đen tối luôn ít nhiều phảng phất trên khuôn mặt. Mình cũng có thể nghe thấy các câu chuyện về tình yêu thương vô điều kiện, sự trân trọng đời sống, hành trình khám phá bản ngã mà họ không hề nuối tiếc dấn thân cũng như không lãng quên ước mơ, hy vọng về một tương lai tươi sáng cho con cái.

Người mắc ASD cũng là nhân loại chúng mình. Mỗi người thì khác nhau và ai cũng độc đáo. Điều họ cần chí ít là đừng ai đánh giá, xa lánh, đối xử bất công và thể hiện sự ngu dốt hướng về họ. Những gì họ cần là tình yêu, xử sự công bằng, tôn trọng, thấu hiểu và đủ đầy ý thức để xã hội nâng cao hơn nữa khả năng trợ giúp, nâng đỡ họ cùng với gia đình họ nhiều hơn nữa. Họ cần nhiều phương thức trị liệu đúng đắn và hiệu quả, tiếp cận được, chẩn đoán và can thiệp sớm, và nhiều nghiên cứu cũng như ủng hộ quỹ, vận động chính sách, tài trợ nhiều hơn nữa.

Bố mẹ cũng cần giúp đỡ với nhiều chi phí phải trả, các chương trình phù hợp giúp con em họ có việc làm, nơi học tập, được hỗ trợ cảm xúc và tâm lý, hội thảo và giáo dục đặc biệt đặng giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh với trẻ mắc tự kỷ. Chúng ta cần mở rộng các mạng lưới, cộng đồng khuyết tật phủ khắp và tạo điều kiện để các gia đình có cơ hội tương tác với nhau, trao đổi thông tin, ý kiến, tiếp cận được ngày càng nhiều dịch vụ và nhiều hỗ trợ từ phía nhà trường cũng như xã hội.

Dưới đây là vài bước khuyến cáo cụ thể từ giới chuyên môn mong có thể trợ giúp cho người mắc ASD.

1. Giải thích từng giai đoạn một những gì mình định làm, những gì sẽ xảy đến tiếp theo và tại sao.

2. Cho người mắc ASD đủ thời gian để hiểu thông tin mình đang chia sẻ và đợi đáp ứng chứ đừng vội vàng, mong ngóng.

3. Các câu hỏi nên được đặt ra thật dễ hiểu theo cách sử dụng ngôn ngữ trực tiếp, dùng tranh ảnh khi cần thiết; đừng phụ thuộc vào việc trẻ làm quen, nắm bắt được tình cờ nghĩa của các câu hỏi nêu ra hoặc ngôn ngữ cơ thể.

4. Người mắc tự kỷ dễ nghiêng theo hướng nắm lấy lời mình nói theo nghĩa đen nên cần tránh dùng từ ngữ mang nghĩa nước đôi và thể hiện tính hài hước rất dễ bị hiểu nhầm.

5. Duy trì công việc và thói quen hàng ngày; tương tự là điều quan trọng đối với người mắc tự kỷ.

6. Các khó khăn trong giao tiếp xã hội có thể bao gồm việc tiếp xúc mắt, các ngôn ngữ cơ thể bất thường, nói chuyện vào những lúc bất tiện hoặc nói về các chủ đề không thích hợp lắm.

7. Các hành vi lặp đi lặp lại có thể là cơ chế đối phó, và đo đó nên được tôn trọng.

8. Mội trường rất quan trọng. Một số người mắc tự kỷ đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng, chuyển động, tiếng ồn và sự sờ chạm. Cố gắng thiết lập môi trường yên an, tĩnh lặng để giúp bình hòa nỗi lo lắng, sợ hãi.

9. Luôn luôn thử đặt mình ứng xử, hành động như người mắc tự kỷ dù đó quả là thách thức ghê gớm.

10. Hỏi người mắc tự kỷ, bố mẹ, người chăm sóc hoặc vị giám hộ họ những gì họ cần.

@ Cập nhật, 15h42′ cùng ngày

Phương thức dạy nhận thức về Tự kỷ giúp giáo viên đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều hiểu được rối loạn và giúp đỡ trực tiếp bạn mắc ASD; nâng cao nhận thức về những nhu cầu và khó khăn mà người mắc Tự kỷ gặp phải, giải thích ASD là gì, và tại sao nó ảnh hưởng các kỹ năng truyền thông, xã hội và tư duy.

Hướng dẫn nhấn mạnh không những nhu cầu của cách tiếp cận cá nhân khi làm việc với học sinh mắc ASD mà còn bao gồm một số chiến lược “nắm trọn” như cách bắt đầu bài học với các hoạt động ngắn, vui và thực tế nhằm giúp có được cấu trúc ngay lập tức rồi đề cao các điểm tưởng thưởng để chào đón trẻ. Khẳng định những thay đổi trong môi trường lớp học là giảm tiếng ồn xung quanh, sử dụng ánh sáng tự nhiên và tránh các tranh, ảnh gây ‘bắt mắt’.

Ý tưởng cho ngân hàng chiến lược làm việc với trẻ mắc ASD là đi theo các quy định rất rõ ràng ở lớp học, hỗ trợ việc trình bày miệng với bảng biểu, sơ đồ, tranh ảnh, xác lập nhiệm vụ với các mục tiêu rõ ràng, và hướng dẫn ngắn, đơn giản.

Một vài mẹo thực hành cho giáo viên như khung làm việc SPELL: nhắm vào cấu trúc (structure), hành vi tích cực (positive behavioir), thấu cảm (empathy), ít gây kích thích (low arousal), và liên kết (link) với nhiệm vụ ở nhà. Mục tiêu là giảm bất kỳ trải nghiệm lo lắng nào ở trẻ, để chúng làm việc hiệu quả hơn trong một môi trường khiến chúng cảm thấy an toàn.

Nhằm giúp giáo viên giảm thiểu nguy cơ trẻ bị bắt nạt, hướng dẫn nhắm vào “tính đa dạng thần kinh” giúp học sinh hiểu những khác biệt trong cách người ta suy nghĩ hoặc tri nhận thế giới; được thiết kế để khuyến khích nhận thức nhóm bạn cùng trang lứa, chấp nhận về mặt xã hội, thấu cảm và hòa đồng ở mọi học sinh cho dù một số bạn có thể biểu lộ hành vi khó thấu hiểu hết được…

Lựa chọn để thấy những vị Bồ tát vô hình trong đời sống hàng ngày

Tên phim dựa trên câu chuyện có thật 50/50 chứng tỏ tùy thuộc mỗi người trong lựa chọn cái nhìn về cách tha nhân lẫn cuộc đời đối xử với bản thân ta, và dĩ nhiên, làm sao không tính đến thái độ của chính mình với sự sống nội tại hòa cùng ngoại giới đeo mang bấy lâu.

Tôi đã ứa lệ thầm khi xem bộ phim này vào một mùa hè mới đây thôi ngay lúc nửa đêm về sáng; rồi tôi tiếp tục nghĩ rằng không nên chuyển ngữ thành Hên Xui bởi bản chất đích thực của câu chuyện chính là việc quyết định trước cái gì hoặc thế này hoặc thế khác và may mắn thay, chúng mình còn có thể nhìn vượt lên trên và thoát ra ngoài mớ vướng mắc nhị nguyên ấy nữa.

Chí ít, tự nội dung bộ phim đã chứng tỏ xác đáng rằng chúng ta nên tri ân tha nhân nhiều bao nhiêu cũng chưa đủ, bởi vì làm sao mình biết được những gì họ đã làm cho chúng ta nhiều bao nhiêu cũng chưa đủ.

Nhìn sâu vào dự tính, ý định tạo tác hành động đời thường đố mà khỏi khởi lên cảm xúc đau đớn đi kèm yêu thương, vì sự thật rằng không có người khác chúng ta chẳng thể tự mình sống sót được.

Nàng họa sĩ nghèo ấy đã cố gắng biểu tỏ tình cảm gắn bó bằng bức tranh dành tặng riêng chàng; việc cô vẫn chung giường hằng đêm với nhân vật chính kèm theo nhu cầu quan hệ ngoài luồng, là điều gì đó quá dễ phán xét và khá khó để cảm thông chấp nhận được; vì cô vẫn còn muốn tiếp tục làm mới lại mối quan hệ và thật lòng muốn bên cạnh để chăm sóc, vì ai thấu tỏ mọi nỗi niềm cô phải chịu đựng và gắng gỏi vượt qua chừng ấy thời gian trước khi Adam phát hiện ung thư, và vì thi thoảng phút chốc hoảng sợ đầy tràn cô độc thì chàng trai trẻ thầm nhận ra mình chưa thôi nhớ nhung một không gian ấm áp quen thuộc…

Cả cậu Kyle thích chơi bời (nội cái tên đã ít nhiều gây hoảng sợ vì mơ hồ căn tính) cứ mở miệng là nói chuyện làm tình và chưa từng bỏ dở bất kỳ cơ hội tán tỉnh, ngủ nghê với các em (tận dụng Adam làm bàn đạp) thì xem ra, đó không nhất thiết tạo ấn tượng mặc định chân dung một con người. Vì trong dịp tình cờ ghé qua căn hộ cậu bạn, Adam nhìn thấy tại phòng tắm, cuốn sách “Cùng nhau đương đầu với ung thư” chi chiết dấu gạch dưới… Khi Adam liếc mắt nhìn Kyle ngủ thiếp đi vì say xỉn, chàng trai trẻ thấm thía với những bày vẽ ngô nghê nhằm làm sáng lên tâm trạng u buồn đồng thời cũng bàng hoàng ghi nhận nỗ lực kín đáo trợ giúp mình tốt nhất của cậu bạn.

Và cô gái hấp dẫn từng đổ vỡ đang giữ vai trò nhà trị liệu của Adam (ai dám chắc mối quan hệ rất đỗi lung linh giữa họ sau này ra sao), và bà mẹ suốt ngày bận rộn hay gọi điện thoại hỏi han và để ý đủ thứ nhỏ nhặt vì con trai, và ông bố mắc bệnh mất trí nhớ chợt thể hiện nỗi niềm thấu cảm trước lúc Adam bước vào phẫu thuật với mỗi từ “OK” cụt lủn, và các bệnh nhân có mặt trong phòng hóa trị liệu, v.v…; tất thảy, đã góp phần cho Adam nhận ra thế giới này không thể chỉ là chuyện hên xui, may rủi.

Dẫu các cảm xúc nhộn nhạo chút xíu (bởi vì một số gây tổn thương trong quá khứ đột ngột tái hiện) thì sự thật, khi chúng ta tưởng chừng không thể chịu đựng nổi cách thức mà họ biểu tỏ với mình thì mối quan tâm của họ là đích thị và chân thành. Thường bố mẹ và bạn bè thân thiết dễ bị hiểu nhầm nhất. Có lẽ, chẳng gì buồn hơn các quan hệ đang hồi chơm chớm thì lại mất hẳn đi cơ hội đơm hoa trổ quả đủ đầy chỉ vì những sự nhầm nhọt không đâu.

Bộ phim mang tên khá kỳ cục thế vì các nhân vật xoay quanh việc cứu sống Adam. Trên con đường đi đến giác ngộ, không có gì đáng giá hơn tình bạn tâm linh; ngay cả khi chưa đích thực thỏa mãn bản chất hai chiều thì nó đòi hỏi tâm thế tích cực và phụ thuộc chủ yếu vào phần chúng ta đóng góp thật thiện xảo và có thể khá tinh tế, đặng đánh thức tính tâm linh trong những ai chúng ta quan tâm, chăm sóc.

Thực tế, trong khi dĩ vãng chúng ta cơ chừng không thích bị tổn thương, điều thực sự khó khăn là tưởng tượng con người mình tốt lành hơn ở hiện tại bây giờ cho dẫu quá khứ khổ não, ngay cả phải băng qua lò luyện đan sinh tử.

Vì thế rốt ráo, bộ phim gợi nhắc về những vị Bồ tát vô hình đang hiện diện trong gia đình và giữa cuộc sống xô bồ hàng ngày không ngừng thể hiện tốt nhất khả năng của họ, dưới nhiều hình tướng khác nhau thuận theo ái lực nghiệp dĩ, để trợ giúp chúng ta tiến bộ trên con lộ tâm linh dằng dặc. Và họ, được mình nguyện lòng tiếp nối thêm lên, sẽ còn thực hiện điều ấy cho đến khi mỗi một chúng sinh được dẫn dắt đúng đắn đến với tự do trong ràng buộc.

Lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích

 

Gợi hứng từ cách tiếp cận vấn đề, đặt tên và đoạn kết trong bài viết của nữ bác sĩ Nhi khoa, tôi thử lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích.

Tổ chức WHO lưu tâm đứa bé trầm cảm ấy, bởi đó cũng là dạng vấn đề liên quan đến sức khỏe trẻ em và vị thành niên vốn được giới chuyên môn hành nghề ưu tiên nghiên cứu từ lâu.

Theo thông lệ mô hình y khoa và tâm bệnh học, thuật ngữ “trầm cảm” (depression) có thể được dùng để chỉ một dãy rộng các hành vi, đặc tính và triệu chứng; việc sử dụng thuật ngữ rộng và không chính xác này tạo nên vấn đề trong chuyện tài liệu văn bản, kết quả là nhiều nghiên cứu dùng cùng thuật ngữ căn bản để mô tả nhiều khía cạnh hết sức khác biệt thuộc chức năng hành vi và cảm xúc. Ba cách dùng thông dụng của thuật ngữ ‘trầm cảm’ từng được Cantwell (1990) ghi nhận: trầm cảm như một triệu chứng, như một hội chứng, và bên trong bối cảnh của một rối loạn mang tính chất trầm cảm (Merrell, 2003).

Cụ thể, khi xét như một triệu chứng (symptom) thì trầm cảm thể hiện trạng thái khó chịu: cảm thấy bất hạnh hoặc buồn bã, như thể ‘bị rơi bịch xuống đất’, cảm thấy khốn khổ hoặc âu sầu. Các trạng thái chủ quan này chỉ là một phần bé nhỏ của hội chứng hoặc rối loạn trầm cảm. Các triệu chứng trầm cảm thường hay diễn ra xuyên suốt đời người ta, thoáng qua và không thuộc rối loạn hay vấn đề quá nghiêm trọng. Cũng có khả năng là các triệu chứng trầm cảm tồn tại như thành phần của các rối loạn khác. Chỉ riêng các triệu chứng trầm cảm thường không đủ tiêu chuẩn để lượng giá là mắc trầm cảm.

Thuật ngữ hội chứng (syndrome) dùng mô tả điều gì đó sâu xa hơn là một trạng thái bất mãn, khó chịu. Thuật ngữ này hay được hiểu là nhằm cho thấy sự cùng xuất hiện các triệu chứng cảm xúc và hành vi và không hề mang tính tình cờ, ngẫu nhiên. Cantwell (1990) lưu ý rằng một hội chứng trầm cảm thì thường không chỉ gồm các chuyển đổi tâm trạng mà còn biểu tỏ những biến chuyển góp vào trong chức năng tâm- vận động, thể hiện ý thức, và động cơ. Các thay đổi phụ thêm này thường xảy đến với chiều hướng tiêu cực, làm giảm thiểu năng lực vận hành của người trải nghiệm chúng. Trầm cảm như một hội chứng thì ít thấy hơn trầm cảm như một triệu chứng; nó có thể là do một số stress lối sống, đồng thời xuất hiện với các vấn đề bệnh lý y khoa khác, hoặc xảy đến kết hợp với các rối loạn tâm lý và tâm thần như là các rối loạn hành vi hay gây gổ, tâm thần phân liệt, và các rối loạn lo âu. Trầm cảm như một hội chứng cũng xảy đến như vấn đề căn cốt, không có bệnh kèm sẵn rồi. Các hội chứng trầm cảm cũng dễ là thành phần của các rối loạn trầm cảm.

Sự phân biệt các hội chứng trầm cảm và rối loạn trầm cảm không rõ ràng được như giữa triệu chứng và hội chứng trầm cảm. Dù các hội chứng trầm cảm đặc trưng thuộc rối loạn trầm cảm (depressive disorder), song người ta khi nói một rối loạn trầm cảm là hàm ý sự tồn tại hội chứng trầm cảm rồi, dù cũng nên biết rằng nói hội chứng trầm cảm xảy đến trong một khoảng thời gian có nguyên nhân bởi một mức độ trục trặc chức năng nhất định và có thành tựu đặc thù như quãng thời gian và sự đáp ứng trong điều trị trầm cảm. Cách diễn đạt rối loạn trầm cảm thường hay thấy trong bối cảnh hệ thống phân loại DSM; và ở đây cần nhấn mạnh rằng hệ thống các tiêu chí đánh giá như DSM khi dùng đánh giá các rối loạn trầm cảm có thể tỏ ra không thực sự hiệu quả và hữu dụng ở các độ tuổi khác nhau (Carlson & Garber, 1986).

Tóm tắt nhanh về bệnh nguyên (etiology) trầm cảm ở trẻ em theo Compas (1997), Miller, Bimbaum, & Durbin (1990), và Schwartz và cs. (1998) cho thấy, sự kết nối của một vài biến số tâm lý chủ yếu như ảnh hưởng từ bố mẹ, các biến cố đời sống, và mẫu hình tương tác ở gia đình có liên quan với việc trẻ em mắc trầm cảm. Một quan hệ được phát hiện tồn tại giữa những gì hay được gọi là “mất mát’ và trầm cảm ở trẻ em, nhất là sự mất mát bố mẹ hoặc sự tách biệt khỏi gia đình. Trẻ em có bố mẹ mắc trầm cảm thường cho thấy nguy cơ cao của việc tiến triển trầm cảm và các rối loạn tâm lý khác; các tỷ lệ stress của bố mẹ và xung đột gia đình trầm trọng cũng được phát hiện là có liên quan với việc trẻ em mắc trầm cảm; một số bằng chứng do sự kiện mang tính tiêu cực xảy đến bên ngoài bối cảnh gia đình như trường họ và trục trặc quan hệ với bạn bè cũng được quy cho việc trẻ em mắc trầm cảm.

Trẻ em mắc trầm cảm có thể làm nảy nở thêm các kiểu nhận thức kém cỏi hoặc gây trục trặc chức năng nhận thức và đi kèm thiếu hụt các kỹ năng đối phó. Mô hình học hỏi tuyệt vọng (learned helplessness), được Seligman đề xuất đầu tiên (1974) đặt để một số dạng thức trầm cảm có thể xảy đến dưới các điều kiện học hỏi mà trẻ không nhận thức được mối liên hệ giữa hành động của chúng với hậu quả từ đó. Lewinsohn (1974) đề nghị mô hình ảnh hưởng rất lớn rằng sự đổ gãy của các sự kiện khoái sướng và củng cố có thể báo hiệu trước việc một người bị mắc trầm cảm, một ý tưởng đáng xem xét khi tiến hành lượng giá trẻ em với các đặc trưng môi trường và hành vi. Ngoài ra, tâm- sinh học cũng cho thấy một số dạng thức trầm cảm ở trẻ em có liên quan với các biến số sinh học như các khu vực tương quan của di truyền gia đình và hóa chất trong não bộ (Schwart et al., 1998).

Trầm cảm được ghi nhận rộng rãi là vấn đề thường gặp ở trẻ em và vị thành niên, trái với quan điểm trước đây rằng trẻ không thể bị trầm cảm vì thiếu trưởng thành trong nhân cách (Harrington, 2005). Tuy thế, viễn tượng này không được chia sẻ bởi tất cả các nhà lâm sàng: Timimi (2004) tán đồng không có bằng chứng thuyết phục để phân biệt rõ ràng giữa trầm cảm và buồn rầu ở trẻ. Bởi vì không có các triệu chứng đặc thù thường dùng chẩn đoán trầm cảm ở trẻ, bất định về tần suất thực sự trẻ mắc trầm cảm trước giai đoạn dậy thì.

Lượng giá trầm cảm như một rối loạn ở trẻ em và vị thành niên đòi hỏi sự quan tâm, kỹ năng, và lưu ý rất đặc biệt. Chẩn đoán trầm cảm ỏ trẻ em là phức tạp. Trẻ có thể gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa các cảm xúc như buồn rầu và tức giận (Bamberg 2001) và trong việc nhận ra quãng thời gian diễn tiến vấn đề, vì thế chúng không giỏi mô tả cách chúng trải nghiệm bao lâu các cảm xúc đặc thù ấy. Khi dùng các định nghĩa người lớn áp vào con trẻ, trầm cảm trước đây chẩn đoán mà không có sự hiện diện của các triệu chứng trầm cảm cơ bản ở người trưởng thành. Các triệu chứng trầm cảm khó phát hiện ở trẻ em vì chúng có thể bị khoác dưới các hiện tượng như ám sợ (phobia), hành vi phạm pháp (delinquencies), đái dầm (enuresis) và các triệu chứng thực thể khác (Glaser 1967, Bschor 2002). Cơn đau bụng được xem là triệu chứng tiềm năng hoặc cùng xuất hiện với trầm cảm (Dowrick et al. 2005). Tuy thế, như Goodman & Scott (2005) khẳng định, trầm cảm không nên được chẩn đoán trừ khi có sự xuất hiện các triệu chứng cảm xúc. Quyết định một người trẻ mắc hay không rối loạn trầm cảm hay đơn giản chỉ đang trải nghiệm các triệu chứng trầm cảm là một thách thức.

Một khó khăn của chẩn đoán trầm cảm ở trẻ nhỏ và người mới lớn là các cảm xúc, hành vi và tình cảm hàng ngày có thể được diễn dịch như dấu hiệu của ‘bênh tật hoặc đau ốm’ (disease/ illness). Việc y khoa hóa (medicalisation) hành vi và cảm xúc trẻ em đã được thảo luận rộng rãi đó đây (Blum 2007, Conrad 2007, Timimi 2007); tuy thế, điều căn bản là chí ít, chúng ta nhận ra các quan điểm khác nhau về việc xác định và chẩn đoán trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên.

Trầm cảm trước đây quen được nhìn như vấn đề nội sinh (xảy ra từ bên trong, có nguyên nhân sinh học) hoặc phản ứng (kết nối giữa các sự kiện bên ngoài gây stress với một sự tổn thương dẫn tới trầm cảm). Kể từ DSM- III, trầm cảm được phân loại như một dãy liên tuc từ trầm cảm nhẹ đến trầm cảm điển hình; quan điểm y khoa hóa các cảm xúc hàng ngày này tạo nên cả loạt thách thức cho người trẻ mà các thế hệ trước chưa từng trải nghiệm. Trầm cảm được xem là chưa được nhìn nhận thấu đáo trong chăm sóc sức khỏe ban đầu và các triệu chứng trầm cảm bị bỏ qua (Weller & Weiller 2000).

Tuy thế, nếu trầm cảm bị chẩn đoán quá mức thì sự phát triển của các trẻ và vị thành niên này có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là sự phục hồi của chúng. Horwitz & Wakefield (2007) phân tích sự gia tăng trong chẩn đoán trầm cảm xuyên suốt mọi lứa tuổi và đề nghị rằng sự buồn rầu thông thường có thể bị lẫn lộn với trầm cảm; rằng các trải nghiệm bình thường của mất mát và bất hạnh đã bị diễn dịch lại như là bệnh tật; họ khẳng định ảnh hưởng mạnh mẽ của các tiêu chí chẩn đoán trong DSM- IV về trầm cảm đã trở nên quá mức. Horwitz & Wakefield (2007) nhìn thấy một loạt các yếu tố ảnh hưởng tới quan điểm của chúng ta về trầm cảm từ một loại bệnh khá hiếm hoi 30 năm qua trở thành thứ hết sức thường gặp. Bối cảnh sự buồn bã của người ta thường bị lờ đi khi xem xét ai đó có bị mắc trầm cảm hay không. Bối cảnh là quan trọng bởi vì không có nó, các yếu tố khác gây ảnh hưởng tới tâm trạng người ta như mất mát, không được ngó ngàng tới. Hai tác giả vừa nêu khẳng định các tiêu chí DSM-IV trong khi tỏ ra hữu dụng trong thực hành lâm sàng lại quen được dùng như khung tham chiếu để chẩn đoán trầm cảm trong cộng đồng; điều này dẫn đến việc thừa nhận hoặc ước tính quá mức trầm cảm ở cả trẻ em và tuổi mới lớn. Khẳng định này quan trọng bởi vì trẻ em và tuổi mới lớn rốt ráo nhận lấy điều trị y khoa cho một thứ được xem là bệnh (perceived illness) mà có thể thực tế là một vấn đề hiện sinh, một vấn đề thuộc tồn tại người. Thay vì y khoa hóa các vấn đề như thế, người trẻ cần được tạo cơ hội để vượt qua và quản lý phiền não của chúng (Claveirole & Gaughan, 2011).

Liên quan tới việc biểu đạt một cơn dịch trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn. Costello và cs. (2006) tổng thuật bằng chứng và khẳng định rằng trong khi các nhà lâm sàng đang gia tăng ghi nhận về trầm cảm thì tỷ lệ đích thị vẫn duy trì tương tự 30 năm trước đây. Điều tra sức khỏe tâm thần vị thành niên 1999 ở Anh quốc (Ford et al. 2004) thấy tỷ lệ dịch tễ khoảng 0,9% cho mọi loại trầm cảm và 0,6% cho trầm cảm điển hình ở trẻ em trong độ tuổi 5- 15. Hàng loạt nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dịch tễ dao động 4- 6% ở người trẻ (Kessler et al. 2001), trong khi một nghiên cứu học sinh trung học cơ sở ở Edinburgh có tỷ lệ 8,4% (Moor et al. 2007). Trẻ gặp khó khăn trong học tập có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn (Emerson & Hatton 2007, Tonge & Einfeld 2003, Tonge 2007), dù một số nghiên cứu phát hiện thấy khác biệt nhỏ ở dạng trầm cảm điển hình giữa trẻ gặp khó khăn trong học tập và trẻ không mắc nó (Stevenson & Rommey 1984). Khả năng các tiêu chí của ICD-10 và DSM-IV nhằm định dạng các khó khăn tâm lý ở trẻ em và tuổi mới lớn cần được đặt thành vấn đề về độ tin cậy quá mức vào việc truyền thông bằng lời; điều này đặc biệt khổ sở với trẻ em và tuổi mới lớn gặp khó khăn trong học tập.

Khi lượng giá một người trẻ, điều quan trọng là cần xem xét thông tin từ các nguồn khác nhau, vì trẻ thường hành xử phụ thuộc vào bối cảnh. Bố mẹ chắc chắn là nguồn thông tin đáng giá: họ có thể giải thích tại sao họ tin có vấn đề và tại sao lúc này. Khi phỏng vấn trẻ, hiểu biết về sự phát triển của trẻ em, nhất là về sự phát triển ngôn ngữ, cảm xúc và nhận thức là căn bản vì trẻ có hiểu biết khác nhau và cách khác nhau trong miêu tả mọi thứ phụ thuộc vào tuổi của chúng. Lưu ý các ảnh hưởng hoặc lời giải thích khác, và có cách tiếp cận tổng thể. Khi điều tra được thực hiện trong bối cảnh có những sự kiện môi trường khác nhau, trẻ em có thể khu biệt các cảm xúc cơ bản như buồn rầu hoặc cáu gắt; tuy thế, khi vắng mặt một bối cảnh, trẻ có thể chối bỏ các cảm xúc cơ bản như buồn rầu và tức giận (Bamberg 2001, Martin et al. 2010). Bố mẹ có thể hiểu biết ít ỏi về thế giới nội tâm của con em mình; một nghiên cứu của Puura et al. (1998) cho thấy trong khi bố mẹ và thầy cô giáo sẵn sàng nhìn nhận các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em, họ nói chung không giống nhau trong việc tìm kiếm trợ giúp cho đứa trẻ. Một nghiên cứu ở bốn trường trung học cơ sở ở Edinburgh phát hiện, các thầy cô giáo không ngang nhau trong việc nhận ra trầm cảm ở trẻ nhằm đón nhận đào tạo chuyên biệt việc nhận diện trầm cảm (Moor et al. 2007).

Các cuộc phỏng vấn thường dùng để lượng giá và có thể là có cấu trúc, bán cấu trúc hoặc không; một số phương pháp lượng giá khác bao gồm bảng hỏi, như Beck Depression Inventory (Beck et al. 1961), thang đo Child Assessment Scale (Hodges et al. 1982), v.v… Các bảng hỏi và bảng kiểm tuy hữu ích song không nên là toàn bộ phương pháp lượng giá, đứa trẻ hoặc tuổi mới lớn nên luôn luôn được phỏng vấn hoặc quan sát. Các cách tiếp cận trị liệu trò chơi (play therapy) là kỹ thuật quan trọng khi làm việc với trẻ nhỏ; các cách tiếp cận sáng tạo trong lượng giá sử dụng các kỹ thuật như nội tâm hóa vấn đề hoặc cho trầm cảm một cái tên có thể tỏ ra hữu dụng. Nylund & Ceske (1997) mô tả cách tiếp cận kể chuyện để hiểu trầm cảm ở bé gái mới lớn, một số trẻ và thiếu nữ đáp ứng khá tốt với cách này.

Những lĩnh vực phức tạp trong chức năng của trẻ và tuổi mới lớn cần được cân nhắc. Một số triệu chứng trầm cảm như xuống tinh thần, thu mình hoặc mất khẩu vị rất nên được đánh giá ngay; những thay đổi trong cách nói năng hoặc hành xử cũng nên được lưu tâm. Tuy thế, có nhiều sự kiện và trải nghiệm khiến trẻ cảm thấy buồn rầu. Điều quan trọng là người lớn đừng vội vàng kết luận theo cách giải thích y khoa với các sự kiện đời sống mang tới sự buồn rầu cho trẻ. Lượng giá các vấn đề cảm xúc ở trẻ gặp khó khăn trong học tập là một thách thức thực sự.

Nguy cơ tự sát hoặc nỗ lực tự sát tăng lên ở trẻ khi chúng lớn thêm lên; có một sự liên hệ rõ ràng giữa trầm cảm và tự sát, với một phát hiện tổng thuật là 49% và 64% ở người mới lớn đã có ý định tự sát đồng thời cũng mắc trầm cảm rồi (Gould et al. 2003). Mối quan tâm vấn đề tự sát ở trẻ dưới 12 tuổi đang tăng lên (Tishler et al. 2007). Mặc dù các ý nghĩ tự sát là rất thông thường ở tuổi mới lớn, không nên đánh giá thấp trẻ em vì một số trẻ có các ý nghĩ tự sát và hành động dựa trên các ý nghi này. Không rõ ràng ở độ tuổi nào thì trẻ có thể hiểu được hậu quả các hành động của bản thân, ví dụ các hành động của chúng có thể dẫn đến cái chết và cái chết là gì.

Tiện đây, cùng với các tiêu chí chẩn đoán trong DSM-IV-TR (APA 2000), cũng cần nói thêm về một số cập nhật và thay đổi quan trọng ở DSM- 5 (2013) liên quan rối loạn trầm cảm điển hình (hoặc trầm cảm lâm sàng); với việc xuất hiện hai rối loạn mới là Rối loạn Khó Điều Chỉnh Tâm trạng Gây gổ (Disruptive Mood Dysregulation Disorder, DMDD) và Rối loạn Khó ở Tiền Kinh nguyệt (Premenstrual Dysphoric Disorder, PDD). Loạn tính khí (Dysthymia) đã ra đi, thay vào là cái gọi là “rối loạn trầm cảm trường diễn” (persistent depressive disorder). Điều kiện mới bao gồm cả rối loạn trầm cảm lâm sàng mãn tính và rối loạn loạn tính khí trước đây. Theo đó, rối loạn DMDD chẳng hạn, là điều kiện mới giới thiệu ở DSM-5 nhằm nhấn mạnh các triệu chứng vốn được gán nhãn là “rối loạn lưỡng cực thời thơ ấu” (chilhood bipolar disorder); rối loạn mới này có thể được dùng để chẩn đoán trẻ tới 18 tuổi có biểu hiện cáu gắt kéo dài và tần suất các giai đoạn có biểu hiện hành vi cực đoan, mất kiểm soát.

Về các triệu chứng trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn, có 2 ngoại lệ trong chẩn đoán cần lưu ý: tâm trạng trầm uất có thể là tâm trạng cáu gắt, khó chịu (irritable mood) và việc giảm cân có thể là dấu chỉ thất bại cho việc trẻ muốn đạt được cân nặng mong đợi phù hợp với sự phát triển thể lý của chúng. ICD-10 và DSM- 5 phân loại các rối loạn trầm cảm hết sức khác biệt nên cần xem xét cả hai để bản thân người tác nghiệp quen thuộc với những khác biệt ấy.

Tuổi mới lớn có thể biểu hiện một số hoặc hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm, song cũng cho thấy sự khác biệt với trầm cảm ở người trưởng thành. Với tuổi mới lớn, tính tình cáu gắt và trạng thái thu mình về mặt xã hội rất nổi trội, mát hứng thú trong các hoạt động thì ít gặp hơn, nỗi đau đớn thân xác như một chỉ báo cho trầm cảm thì khá thường thấy như các ý nghĩ tự sát (Dowrick et al. 2005, Weller et al. 2006). Tự làm hại bản thân có thể là cách người trẻ cố quản lý các cảm xúc trầm cảm.

Có khác biệt trong dấu hiệu trầm cảm ỏ trẻ trước và sau giai đoạn dậy thì. Trẻ có thể biểu tỏ nhiều phàn nàn thực thể hơn, tính tình cáu kinh, lo âu bị xa cách, khóc lóc, không muốn đi học và đau bụng (Goodman & Scott 2005, Weller et al. 2006). Người trẻ trải nghiệm nhiều hơn sự bơ vơ và tuyệt vọng, tội lỗi, mất khoái cảm (thiếu vắng niềm vui thích bất cứ điều gì), ngủ quá mức (hypersomnia) và dùng bia rượu, ma túy để kiểm soát các trạng thái trầm cảm (Goodman & Scott 2005, Weller et al. 2006, Wu et al. 2006). Các ảo giác cũng có thể xuất hiện trong trầm cảm nặng (Cepeda 2000).

Giai đoạn mắc trầm cảm điển hình là vấn đề nghiêm trọng với trẻ em và tuổi mới lớn, và nếu tái phát thì có gây nên những ảnh hưởng ghê gớm với sự phát triển của người trẻ; có thể tiếp tục trải nghiệm các giai đoạn trầm cảm suốt tuổi trưởng thành. Trầm cảm liên quan với việc tăng tỷ lệ lạm dụng chất và ảnh hưởng tới các chức năng cá nhân, xã hội, nghề nghiệp và học hành (Fergusson & Woodward 2002). Trầm cảm ở người trẻ thường khởi từ tiền sử mắc rối loạn lo âu hồi nhỏ, hoặc loạn tính khí (Chavira 2004, Weisman et al. 2005). Loạn tính khí như sơ bộ đề cập bên trên, là tâm trạng đặc trưng bởi các cảm xúc trầm uất, mất hứng thú và khoái lạc, kéo dài hơn 2 năm song không đủ tiêu chí chẩn đoán rối loạn trầm cảm điển hình. Các cảm xúc về sự vô giá trị, đồ vứt đi có xuất hiện vào giữa giai đoạn thơ ấu, tội lỗi thì được thấy muộn hơn (Goodman & Scott 2005). Các ý nghĩ và hành vi tự làm hại bản thân thường xảy ra tầm 12- 14 tuổi song có thể phát hiện sớm hơn ở trẻ sống trong môi trường nhìn thấy những người khác tự hành hạ bản thân họ. Ollendick và cs. (2005) cho rằng các triệu chứng trầm cảm là bình thường ở trẻ em bất luận đích thị trầm cảm hay xảy đến ít nhiều mà thôi.

Nguy cơ mắc trầm cảm ở trẻ em nếu được định dạng thì rất có khả năng làm giảm thiểu trầm cảm thông qua việc phòng ngừa. Trách nhiệm của mọi người trong việc nâng cao sức khỏe tâm trí ở trẻ em và tuổi mới lớn, và việc chuyển dịch lĩnh vực của nhà chuyên môn sang công việc của mọi người là điểm then chốt của tiến trình này. Có rất nhiều công việc hàng ngày có thể làm để nâng cao sức khỏe tâm trí. Bố mẹ và trường học có thể đóng vai trò chính trong việc cải thiện chất lượng thực phẩm, dinh dưỡng và chế độ ăn uống lành mạnh. Các chiến lược chống bạo lực học đường và dẫn dắt bởi học sinh chứng tỏ thành tựu đáng khích lệ. Trẻ thể hiện sự sáng tạo và trực giác khi giải quyết vấn đề bên trong môi trường vui chơi và lớp học, vf vậy chúng ta nên xáp vào trí tuệ cảm xúc của chúng và cung cấp các cấu trúc hỗ trợ chúng. Bố mẹ có thể đưa ra các cơ hội khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động sau giờ học ở trường nhằm nâng cao sức khỏe tâm trí. Hansson và cs. (2008) sử dụng khái niệm môi trường chia sẻ và không chia sẻ; làm thế nào để mấy khái niệm này hữu ích trong việc lượng giá trầm cảm đây? Liệu mình có thể định hình các yếu tố môi trường chia sẻ và không chia sẻ làm các yếu tố phục hồi và các yếu tố gây tổn thương?

Rooney và cs. (2006) cho thấy các triệu chứng trầm cảm đã thuyên giảm và tăng lên các kiểu tư duy tích cực một cách trực tiếp sau khi các chương trình can thiệp triển khai; tuy thế, những thuyên giảm này không bền vững theo thời gian. Collins & Dozois (2008) xem lại các chương trình phòng ngừa trầm cảm và phát hiện thấy các yếu tố trong chương trình tạo nên sự khác biệt là việc cải thiện các kỹ năng nhận thức, các cách tiếp cận liên nhân cách, và sự dấn thân hòa nhập của bố mẹ vào các chương trình.

(bài tới sẽ đề cập phần cuối, đi sâu trình bày các biện pháp can thiệp và trị liệu trầm cảm ở trẻ em và tuổi mới lớn)

Hiển thị im lặng trong phiên trị liệu tâm lý

Thường im lặng kéo dài xuất hiện đột ngột giữa một cuộc chuyện trò đang hồi rôm rả chắc không mấy khi khiến người trong cuộc cảm thấy thoải mái; có lẽ vì khó chịu đựng những lúc âm thanh ngưng bặt ấy nên thiên hạ hay chóng tránh né và lấp nhanh nhất khoảng trống bằng việc thích thú buôn dưa bán tám đủ thứ.

Trạng thái im lặng ít nhiều lúng túng kiểu thế cũng thấy xuất hiện trong khi làm việc, trao đổi ở các phiên trị liệu/ tham vấn tâm lý. Thân chủ có thể tự hỏi tại sao nhà trị liệu là chuyên gia quan hệ và vốn thuần thục kỹ năng giao tiếp lại tạo ra một lỗi mặc định như thế. Kỳ thực, ngoài dấu chỉ tê liệt thì im lặng được nhìn nhận dưới nhiều nghĩa khác nhau với nhà trị liệu, và trong phiên làm việc, nhiều ‘quy tắc’ thông dụng về trò chuyện được nhà trị liệu cho khởi lên nhằm đem lại lợi lại cho chính thân chủ.

Tiếc thay, chất lượng trao đổi, nhất là việc lắng nghe thật tốt, vẫn tiếp tục là điều khá hiếm hoi trong đời sống hàng ngày. Lắng nghe ai đó chia sẻ trong một nhóm nhỏ thôi đã đủ khiến mình mệt mỏi hoặc kiệt sức khi nảy sinh áp lực do các thành viên tranh nhau bày tỏ và mọi người đều thích quan tâm xem tha nhân đón nhận ý kiến của bản thân ta ra sao hơn là tập trung nghe xem ai đó đang biểu đạt điều gì…

Mong mỗi một thân chủ có cảm giác rõ ràng là họ được nghe đủ đầy và đậm đà phẩm chất tôn trọng khi tham gia tham vấn. Trong lúc một số thân chủ ưa thích nhà trị liệu có tố chất hay giữ im lặng và dừng lâu thì một số khác có thể cảm thấy không chịu nổi, thậm chí mất tự tin và dễ nổi giận… Với chuyện trò ngoài đời, người ta quen được nói vô tư đồng thời lắm lúc còn cảm thấy bị hối thúc bởi cả đống từ ngữ chực muốn tuôn trào nữa… Im lặng tựa các cơn thủy triều rút ra xa, chợt lắng xuống rồi để lại một khoảng vắng mênh mông. Một thân chủ dè dặt có thể chui êm vào sự rỗng không này, kẻ khác lại dễ nảy sinh bất mãn, đối tượng quen kiểu hùng hồn tuyên ngôn lại có thể đánh giá cao sự im lặng của nhà trị liệu.

Nhà trị liệu tâm lý biểu lộ sự im lặng không chỉ nhằm để tạo ấn tượng cho thân chủ rằng họ đang được lắng nghe mà còn đích thực muốn nắm bắt những gì thân chủ đang suy tư, cảm nhận vốn có thể là vấn đề đối với thân chủ. Đa phần nhà trị liệu tâm lý thích để thân chủ dẫn dắt cuộc trao đổi, kể cả tông giọng lẫn nội dung trong hầu hết thời gian làm việc cùng nhau.

Nhờ duy trì sự im lặng và tránh việc định hướng cuộc trao đổi, nhà trị liệu nhận thấy điều này giúp mình phát hiện ra cái gì là quan trọng với thân chủ và các chi tiết nào chẳng mấy liên quan sâu xa. Đôi khi, cuộc trò chuyện có thể hình dung như chuyến xe bus; một lộ trình dừng ở bốn bến chẳng hạn thì khá giống một cuộc trao đổi trong phiên làm việc với thân chủ chợt va đập khiến tạo nên một cú dừng đột ngột vậy. Nếu nhà trị liệu nói gì đó vào thời điểm đó thì e là sẽ bị mất đi cơ hội nìn thấy cách thức người lái xe (thân chủ của mình) đổi hướng, rẽ ngoặt, quay vòng; có thể thân chủ quay trái, quay phải, hoặc đi thẳng, thậm chí có thể thân chủ chỉ ngồi đực ngay đó thôi, chạy vòng vèo hoặc lái lung tung… Trải nghiệm có thể dạy cho nhà trị liệu biết rằng bất kể chiều hướng thân chủ nhắm đến ra sao, thường có điều gì đó đáng giá được phát hiện theo cùng hướng đích ấy.

Cũng không phải là điều gì quá kỳ cục hoặc xa lạ khi nhận ra rằng những gì quan trọng với thân chủ chẳng phải luôn luôn là điều nhà trị liệu nghĩ tương thích nhất; khi nhà trị liệu nắm bắt nó như sự chệch hướng thì đôi điều quả đúng là sự thật thôi… Do vậy, trước tiên nhà trị liệu có thể cần thích ứng mô hình bản thân những gì thân chủ coi trọng và biết các giá trị ấy là yếu tính căn cốt đặng thấu hiểu thân chủ; thứ đến, có thể là thân chủ đích thực bỏ rơi điều gì đó quan trọng mà nhà trị liệu cần giúp thân chủ chú ý tới chuyện ấy.

Đây cũng là dịp trải nghiệm để nhận ra lời khuyên nhủ cứ luôn bày sẵn đó đây. Ví dụ dễ cảm nhận là lắng nghe các chương trình trên sóng phát thanh, khi các chuyên gia biểu tỏ sự quan tâm và khôn ngoan chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn đã có thể đưa ra ngay được lời khuyên nhủ đáp ứng với một câu hỏi cụ thể nào đó. Loại nói chuyện kiểu ấy có thể mang tính giải trí, dù thỏa mãn nhất định nhu cầu của người gọi và bạn nghe đài chứ khó phản ánh đúng đắn bản chất mối liên hệ giữa nhà trị liệu với thân chủ ở trong văn phòng tham vấn.

Lần nữa, đừng quên rằng trước khi gặp nhà trị liệu thì thân chủ đã tích lũy, hỏi han rồi nhận được không ít lời khuyên nhủ, bày vẽ nọ kia từ bạn bè, người nhà, và cả kiếm tìm trên mạng lưới điểm toàn cầu rồi. Nếu điều ấy thích hợp thì chắc chẳng cần đến tham vấn làm gì nữa; ngoài ra, nếu trị liệu hầu như là chuyện cho lời khuyên thì nó không đáng giá đến thế, nhất là khi lời khuyên có thể tìm thấy ở các nguồn rẻ hơn rất nhiều.

Và tựa như mọi chuyện ở đời, nói thì dễ hơn làm. Các giải pháp sẵn có (trong dạng thức vội vàng trao tay ngay) dễ thành vô dụng vì cả loạt lý do; một trong những trở ngại lớn nhất đó là sự khác biệt cá nhân. Một tính cách riêng biệt hoặc nảy sinh bởi hoàn cảnh đặc thù có thể làm cho một kế hoạch tốt đẹp của nhà trị liệu rối tinh rối mù và thậm chí thất bại thảm hại.

Làm việc với một thân chủ tầm một tiếng đồng hồ mỗi tuần trong một năm, vị chi nhà trị liệu có thể gặp gỡ thân chủ của mình 52 giờ tất cả; trong khi đó thân chủ sống đời mình hàng ngàn ngày rất riêng tư. Nhà trị liệu có thể nghĩ về thân chủ của mình như một chuyên gia của chính đời họ, và điều ấy nhắc nhở nhà trị liệu lùi lại rồi nhìn ngắm những gì thân chủ nói về vấn đề của chính họ, cách họ nghĩ về chúng, những gì họ đã cố gắng và rồi bị thất bại trong nỗ lực thành tựu mong ước,… trước khi nhà trị liệu đưa ra các ý tưởng tiếp nạp với vai trò người trợ giúp chuyên nghiệp.

Bằng thực tiễn tác nghiệp hành nghề, nhà trị liệu còn phát hiện thấy quá chừng quan trọng việc ngắt bẻ cái mô hình thân chủ mình nhìn nhận việc tham vấn như ‘talk show’, hoặc thậm chí tồi tệ hơn, nghĩ nhà trị liệu như ‘bậc thầy am tường’ để háo hức tới gặp và xin lời khuyên, giải pháp siêu tuyệt. Cho dẫu nhà trị liệu có sẵn các giải pháp song anh ta nên thoát ra khỏi các mô hình, lý thuyết và tiến trình mang tính gây sốc toàn tập để tạo nên sự thay đổi. Sự phụ thuộc của thân chủ dễ trở thành gánh nặng trong trị liệu bởi vì  tiềm năng làm sao thỏa mãn các nhu cầu của thân chủ cần được quan tâm và vai trò quan trọng của nhà trị liệu. Khi nhà trị liệu càng thích thú làm việc với thân chủ của mình một cách đúng đạo đức hành nghề, anh ta phải giúp đỡ thân chủ mình tiến dần đến sự độc lập nhiều hơn, đó là nơi mà các dịch vụ tham vấn/ trị liệu tâm lý không còn cần thiết kéo dài nữa.

Hấp dẫn và kháng cự cùng những điều ngộ nhận khó ngờ

Những thời khắc, ngày giờ giời đất mưa gió bão lũ não nề như thế này đi kèm tin tức đăng tải tai nạn chết người, sự đời đổi dời bất nhất nên e chừng quá dễ gây cảm giác khiến thiên hạ cầu mong, nghĩ thế này mơ thế nọ, tâm trí cứ mê trôi vu vơ và không khỏi bám vào đẩy ra theo thói quen tưởng nghĩ bấy lâu.

Tỷ dụ nổi bật liên quan đến cái gọi là quy luật hấp dẫn. Hãy thử nhìn vào những gì đối lập với nó, tạm gọi là quy luật kháng cự chẳng hạn. Tin xấu là mình bị ‘hút vào’ những gì làm mình kinh hãi, dưới dạng cách này hay cách khác, lặp đi trở lại cùng thời gian cho đến lúc mình tập hợp đủ lòng từ bi (cho chính mình và/ hoặc cho người) cũng như trí tuệ để đương đầu điều đó.

Những gì mình kháng cự vẫn cứ còn đó thật tự nhiên. Những điều gây kinh hãi, lo sợ không bao giờ đích thị tự nó biến mất bởi vì nỗi niềm kinh hãi, lo sợ nằm trong lòng mình, cho dù mình có mặt ở nơi đâu. Một số người nhìn điều này như phương thức vũ trụ kích thích tăng trưởng, trong khi  mình nên nghĩ đúng đắn rằng đó chỉ là nghiệp và tri nhận của bản thân đang thao tác thôi: trình bày với mình về những gì đang hiện diện trong lòng. Các trải nghiệm dẫn dắt ta hướng tới giác ngộ hoặc thoát khỏi nó hoàn toàn tùy thuộc vào ta.

Tin tốt lành là dù sức mạnh của sự kháng cự sẽ là thành phần tạo nỗi đau đớn khi đương đầu, điều ấy hàm nghĩa các bài học ta tiếp thu được sẽ lớn lao. Việc thiết yếu chẳng những không buộc phải đương đầu quá mức mà còn cần tỉnh thức với những gì kinh hãi, lo sợ. Khi sự kinh hãi, lo sợ được trải nghiệm như nó vốn thế, điều gì đó thú vị xảy đến: sự hãi sợ, kinh hoàng tan rã, tiêu trừ. Khả năng là khi mình học hỏi để nhìn thấy sự kinh hoàng, lo sợ như nó là, mình sẽ nhận ra điều ấy khác biệt với tự thân sự kinh khủng, sợ hãi vốn rồi tất tiêu biến đi. Nỗi đau đớn do sợ hãi, kinh hoảng khá nhẹ nhàng ban đầu, song nó có thể trở nên mãnh liệt khi mình chống kháng nó. Đây không là nỗi đau của chính sự sợ hãi, kinh hoàng mà đến từ sự kháng cự. Với một số người, có mặt ở trong phòng chờ thì e dễ càng đau đớn hơn cả lúc đang gặp gỡ bác sĩ nha khoa.

Khi chúng còn chưa được nhận ra, các sự thật vũ trụ sẽ ‘thao diễn’ trong đời mình dưới các hình tướng bất định bởi vì các sự thật luôn luôn loanh quanh đâu đó. Khác hơn là các lý do thuộc nghiệp, “mọi thứ xảy đến vì một lý do”- (những) thứ mình chọn- vì vậy hãy lựa chọn hết sức cẩn thận. Không có dạng thức sinh thể siêu thông minh đang chơi khăm minh, chỉ là một dạng hoang tưởng ngẫu nhiên người ta rơi vào vì các cái bẫy tự mình tạo nên mà không hề nhận ra. Bất kể mình trải nghiệm đang bị trừng phạt chỉ vì bỏ quên giá trị đạo đức của nó và được tưởng thưởng khi mình học hỏi đích thị. Người ta sẽ không ngừng nắm bắt cơ hội để vượt qua các rào cản tâm linh cho đến khi mình làm sạch chúng toàn bộ: khi mình tự do thoát khỏi mọi niềm đau nỗi khổ.

@Cập nhật, 20.7.2014.

Nghiệp xấu không phải luôn là lực lượng không thể phát hiện, theo dõi được, ví dụ, sức khỏe kém lúc này có thể là do bởi các thói quen sinh hoạt không tốt được tạo ra và duy trì nghiệp xấu là sức khỏe kém; ngoài sự tụng kinh, cầu nguyện thì điều tốt không kém nữa là xem xét nhu cầu thay đổi các thói quen xấu. Người ta cũng có thể làm một số hành động tốt để tạo nghiệp tốt và giảm bớt tác hai của nghiệp xấu như làm từ thiện, phóng sinh, ăn chay,…

Về việc tin rằng các suy nghĩ tích cực thu hút nguồn năng lượng tích cực từ vũ trụ và mình nên giữ trong tâm trí ý nghĩ rằng sức khỏe bản thân sẽ tốt lên thêm mãi nhờ quy luật hấp dẫn. Thực tế, có nhiều phiên bản cho cái gọi là quy luật hấp dẫn và nhiều chỉ trích chuyện nó vận hành hay không. Phiên bản thông dụng nhất rằng mình nghĩ gì sẽ nhận được thế là không đích thị sự thật. Bởi vì suy nghĩ về điều gì đó theo quan điểm dự tính, ý định thì mới chỉ là một hạt giống. Có nhiều điều kiện cần thiết cho hạt giống lớn lên, đơm hoa kết trái. Ví dụ, hàng triệu người nghĩ và thậm chí mơ mình trúng số suốt một đời, song họ không bao giờ trúng số vì họ thiếu các điều kiện nghiệp của sự rộng lượng đã thực hiện trong quá khứ đặng nuôi dưỡng hạt giống giàu có được triển nở và biểu hiện theo cách này. Tương tự, với người đau ốm khao khát sống rốt ráo không hạn định cho đến khi chết khi mà thời gian của nghiệp đã đến hồi kết thúc.

Khi ai đó e ngại rằng anh ta được nhiều diều tốt lành hơn nhờ quy luật hấp dẫn mà anh ta không xứng đáng và các điều tồi tệ sẽ theo sau thì thực tế, bất kể thứ gì người đó trải nghiệm trong lúc này thì họ luôn xứng đáng trong lúc này, bởi vì quy luật nghiệp luôn luôn vận hành hết sức hoàn hảo. Điều ấy không có nghĩa người ta đang đau ốm thì không cần điều trị mà là ở giữa chuyện đang tìm kiếm sự chữa lành, bất kể thứ gì người ta đang trải nghiệm ngay lúc này là mang bản chất nghiệp, chứ không phụ thuộc việc xui rủi, may mắn bất chợt. Không có chuyện cùng lúc phục hồi và không xứng đáng về mặt nghiệp; như thế, nỗi lo lắng của anh ta về trạng thái nghiệp xía vào và tuyên bố “trả thù’ sẽ không bao giờ xảy ra.

Vậy đó, ý tưởng quy luật hấp dẫn đang vận hàng đích thị nhờ bởi không ngừng suy nghĩ về một điều gì đó là một lầm lạc lớn. Nguyên nhân cộng với các điều kiện mới thành tác động, ảnh hưởng. Các điều kiện là chính yếu và điều ấy bao gồm các nỗ lực siêng năng, cần mẫn trong nhiều dạng thức thích hợp khác nhau.