Thiền tập Tỉnh thức và thân – tâm an lạc giữa đời thường

Cơ chừng theo thông lệ lâu nay, tâm trí chúng ta dễ quen với trạng thái đầy ắp, tràn lấp mọi sự thay vì lưu ý và tập trung trước những gì đang xảy đến. Dĩ nhiên, vẫn còn may mắn là thành tựu tiến hóa nhân loại có thể giúp chúng ta nâng cao ý thức nhắm vào hiện tại rồi dần trở nên tỉnh thức hơn.

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng các ý nghĩ, suy tư chỉ là sản phẩm của tâm trí; tuy thuộc về mình thật song chúng không định hình ta; quả đúng các suy tư ảnh hưởng tới hành vi song lại chẳng kiểm soát nó nổi. Đây là ý tưởng chủ chốt đối với việc tỉnh thức (mindfulness).

Mặt khác, chúng ta cũng hay tin các suy tư này thể hiện đích thị thực tế trong khi sự thật thì các ý nghĩ của chúng ta vốn hay sai lỗi, lầm lạc: các định kiến nhận thức (cognitive bias) làm cho chúng ta không tư duy một cách lý tính như mong đợi. Khi giả định các ý nghĩ là sự kiện, mình để chúng ảnh hưởng tới bản thân cả theo hai hướng tích cực và tiêu cực; cơ bản đừng quên điểm mấu chốt ở đây là chúng ta để mặc cho các suy tư tác động ghê gớm, ảnh hưởng khủng khiếp tới chính mình.

Do không tập trung có ý thức vào khoảnh khắc hiện tại, các suy tư cứ thoải mái dẫn ta lùi về quá khứ hoặc phóng tới tương lai; chúng ta nghĩ về những gì đã xuất hiện và có thể từng xảy đến; thậm chí, ước đoán cho thấy chúng ta có thể dành đến tận 50% thời gian tỉnh táo hàng ngày để chìm đắm, chạy theo dòng chảy khi tâm trí lêu bêu…

Và cùng tâm trí lêu bêu, chúng ta vắng mặt về khía cạnh tinh thần trong khoảnh khắc hiện tại; não chúng ta ưa thích tạo ra đủ kiểu loại suy tư đến độ nếu không điều hướng lại một cách chủ động sự lưu ý của chúng ta vào khoảnh khắc đang là, chúng ta dễ biến mình thành vắng mặt. Vấn đề: khoảnh khắc hiện tại là tất cả những gì chúng ta có. Với các suy tư diễn biến hết sức hồn nhiên và vô thức thế, chúng ta thuận theo tâm trí lêu bêu bằng mô thức lái xe tự động; để mặc tâm trí lang thang nên bất khả chuyện để mình sống “ở đây và ngay bây giò”, chính bản thân không nhìn thấy hoặc trải nghiệm cuộc sống một cách hoàn toàn, bỏ lỡ nhiều cơ hội trong đời. Chúng ta cần kiểm soát sự chú tâm một cách chủ động và có ý thức nhằm làm tăng thêm trạng thái ý thức nhắm vào hiện tại.

Chúng ta nào muốn sống một cuộc đời vô vàn lo âu. Hầu hết mọi người hưởng lợi từ việc dùng thời gian vào việc ‘ở đây và ngay bây giờ’. Chúng ta ước tính quá mức tác động của cảm xúc tới các kiện tương lai, chẳng hạn, chúng ta lo lắng hơn hẳn về tương lai. Và thực tế, việc luyện tập tỉnh thức chú tâm vào khoảnh khắc hiện tại đem lại nhiều lợi lạc cho chính chúng ta.

Tỉnh thức là phương thức hướng bản ngã chúng ta vào khoảnh khắc hiện tại; nó duy trì thái độ ‘không đánh giá’, giữ ý thức vào các trải nghiệm ngay lập tức lúc này, thay vì bị quấy nhiễu bởi các suy tư quay về dĩ vãng hoặc phóng tới vị lai hoặc tránh né trải nghiệm.

Tạo sao chú ý vào hiện tại lại cải thiện trạng thái thân- tâm an lạc của mỗi người? Nghiên cứu cho thấy thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation) mang lại lợi lạc trước vô vàn triệu chứng tâm thần, thực thể và stress; thậm chí còn có thể tạo nên những thay đổi thường trực trong các vùng não bộ; khẳng định chí ít tác động tới bốn thành phần cơ bản, từng cái xoắn bện, tổng hợp và hỗ trợ qua lại làm tăng thêm công dụng chung của thiền tập tỉnh thức.

1. Kiểm soát sự chú ý

Đây là năng lực căn cốt nhằm lựa chọn những gì mình muốn chú ý và cái chi thích lờ đi; nó là năng lực duy trì mối quan tâm vào một đối tượng đã được lựa chọn. Bất kể mình bị quấy nhiễu thế nào, chúng ta có khả năng đưa sự chú ý quay về với đối tượng đã lựa chọn ấy.

Kiểm soát sự chú ý rất cần cho thiền tập. Khi mình hoàn toàn hoặc kiểm soát một phần sự chú ý, mình tự bộc lộ các cảm xúc thay cho chuyện bị dẫn dắt bởi tâm trí lêu bêu. Nhờ luyện tập đều đặn, năng lực tập trung chú ý sẽ được cải thiện và không ngừng tăng lên đáng kể. Ví dụ khá cổ điển như này: “Tập trung hoàn toàn sự chú ý của bạn vào hơi thở đang đi vào và đang đi ra. Cố gắng duy trì sự chú ý ở đó, khi nhận thấy bị xao nhãng thì từ tốn đưa sự chú ý quay về với hơi thở và bắt đầu lại”.

2. Kiểm soát cảm xúc

Đây là cách đối xử với các phản ứng đậm màu sắc cảm xúc không ngừng diễn tiến theo một lối tiếp cận mới mẻ, nhiều tỉnh thức hơn hẳn; nghĩa là, mình tiếp cận các cảm xúc bản thân bằng thái độ chấp nhận mà không hề đánh giá. Thay vì để mặc cho bản thân bị tác động bởi các cảm xúc, mình dừng phản ứng với chúng từ bên trong nội tâm mình. Nếu kiểm soát cảm xúc ở mức độ cao, mình có khả năng điều chỉnh và làm bản thân thư thái, bình hòa trở lại ngay khi đang cảm thấy stress hoặc buồn bã, v.v…

3. Ý thức về cơ thể

Thiền tập tỉnh thức giúp mình chú tâm vào các trải nghiệm bên trong và càng ý thức hơn đối với các trải nghiệm tinh tế, vốn khó nắm bắt rõ ràng. Các trải nghiệm nội tại gồm các trải nghiệm cảm quan thuộc hơi thở, cảm xúc và tri nhận cơ thể mình.

Khi mình ngày càng ý thức hơn về các cảm quan cơ thể, mình khởi sự hiểu biết bằng cách nào mà các tình huống hoặc suy tư nọ kia lại đánh thức trong mình nhiều trải nghiệm cảm xúc khác biệt đến thế. Ý thức về cảm quan cơ thể, kết hợp với việc nhận diện một viễn tượng mới về bản ngã, dễ giúp mình giải quyết các cảm quan ngày càng hiệu quả và đúng đắn hơn hẳn.

4. Nhận diện viễn tượng mới về bản ngã

Thiền tập tỉnh thức làm giảm cảm nhận về một cái tôi tĩnh tại, cố định; nó giúp mình ‘tách khỏi, không còn dính mắc’ với ý tưởng thâm căn cố đố mình có về chính con người mình, do các tiến trình tâm trí vốn quen dẫn dắt chúng ta tin rằng bản ngã là một thực thể thường hằng, bất biến.

Thiền tập tỉnh thức còn củng cố thêm lên trạng thái cận ý thức (meta- awareness), đem lại cho người thực hành nó hạnh phúc nhờ giúp người ta ít để ý vào trải nghiệm đau buồn và khổ sở, thoát khỏi việc cứ trải nghiệm mãi về một cái tôi không thật, và tự do hướng tới trải nghiệm một lối sống chân thực.

Nhân tiện, ai quan tâm thì mời tham khảo vài nghiên cứu cập nhật về tác dụng của thiền tập tỉnh thức đối với trạng thái thân- tâm an lạc giữa đời thường (1, 2, 3).

J. Soi (37): Quen bạn trai nào cũng đòi hỏi ‘chuyện ấy’: vấn đề lần đầu tiên gần gũi thể lý và tiếp cận sex

Những vụ việc, tình tiết và tâm trạng như này khá quen thuộc với không ít bạn trẻ mới bước vào ngưỡng cửa yêu đương, hoặc cả những ai khuyết thiếu trải nghiệm tình dục trong quan hệ lứa đôi, thân mật.

Điều đáng học hỏi chẳng kém cạnh ở đây lại thuộc về cách trả lời, bởi nó vô hình trung, chỉ ra giá trị của nền tảng bài bản, chuyên nghiệp, và hiệu quả trợ giúp khi thân chủ cố vượt thoát nỗi niềm bất an liên quan đến chuyện trai gái làm quen và hẹn hò, bắt cặp.

Em chưa nói cụ thể mức độ đòi hỏi của bạn trai là gì nên tôi chưa thể đưa ra câu trả lời cụ thể. Nếu sự gần gũi ở mức độ như quan hệ tình dục vào thời gian mới quen nhau là rất mạo hiểm. Nhưng nếu đã quen biết nhau một thời gian và đi đến quan hệ yêu đương thì cũng cần một cái nắm tay, một nụ hôn, sự ôm ấp, vuốt ve nhau cũng sẽ giúp cho tình cảm thêm gắn bó.

Qua những gì em chia sẻ, tôi nhận thấy em là một cô gái khả ái, chuẩn mực, biết giữ mình nên chắc hẳn là giành được nhiều tình cảm của người khác phái. Em đang muốn tìm kiếm một người yêu nghiêm túc, nhưng chưa nói rõ nghiêm túc theo tiêu chuẩn nào.

Đọc thư, cảm thấy các diễn biến lo lắng, xáo trộn ấy là bình thường, có thể hiểu được; cũng không quá khó lý giải cơn cớ cô gái đang cảm thấy hụt hẫng và bối rối về những nguyên nhân khả thể cho chuyện tình cảm tan hợp, lâu chóng; tuy thế, những điều cô gái nhấn mạnh khẳng định rõ ràng rằng đấy không chỉ là trường hợp lần đầu tiên tiếp cận sex mà còn bộc lộ các giả định về niềm tin, quan điểm khởi đi từ truyền thống văn hóa, gia đình, giáo dục, và trải nghiệm bản thân.

Cho dù chuyện giữ gìn trinh tiết có liên quan đến nỗi hoang mang “quen bạn trai nào cũng đòi hỏi” song đó dễ chừng là hai điều khác hẳn nhau. Đa phần, không thành vấn đề bất kể nguyên do thuần túy tâm lý hay thể lý; bởi trong hầu hết các trường hợp, những băn khoăn đều có thể thuộc về cả hai yếu tố thể lý và tâm lý. Do vậy, khá thiết thực nếu lượng giá từ người có chuyên môn để có một bức tranh chính xác.

Một vòng lặp của thất vọng, e sợ, và lảng tránh thường dễ cùng nhau dẫn tới việc đổ vỡ hết sức đau đớn; để bẻ gãy được nó, cô gái phải đoan chắc không tiếp tục dấn sâu vào các suy tư tiêu cực và kiên trì theo đuổi việc cải thiện các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách. Điều cũng quan trọng không kém là đừng vội nản lòng bởi việc thiếu vắng các câu trả lời ngay lập tức và lối thoát ra khỏi vấn đề vướng mắc; đôi khi cần dành thời gian lẫn sự kiên nhẫn đặng lắng nghe, học hỏi cho thiệt thấu đáo.

Lần nữa, làm ơn biết cho ràng những gì cô gái đang trải qua là rất bình thường và tự nhiên. Nghĩ đến việc sex lần đầu tiên có thể mang lại quá chừng các cảm xúc nặng nề, trái ngược; trải từ phấn khích, bối rối cho tới sợ hãi (thường thì tất thảy trong cùng khoảnh khắc). Với sự vụ vi tế này, lứa tuổi mới lớn còn tri nhận nhiều thông điệp xung đột không ngừng về sex từ nền văn hóa đại chúng, internet, bạn bè, bố mẹ, thầy cô giáo, các vị dẫn đạo và chỉ bày tâm linh, cũng như các yếu nhân khác trong đời người trẻ. Với vô vàn giọng điệu tranh giành đó, và với mỗi một ham muốn hòa cùng xung năng tự nhiên ấy, có thể thật khó khăn để quyết định thời điểm nào là ‘thích hợp’ để khởi sự sex.

Ham muốn tình dục không phải là chuyện bẻ lái, bật công tắc có thể chuyển đổi dễ dàng sau khi vị trí ‘khóa, tắt’ nhiều năm tháng dài vị thành niên. Thuận theo lời dạy bảo của bố mẹ và các yếu nhân khác không nên quan hệ có thể gây khó khăn cho việc tiếp cận sex khi chúng ta (và người yêu của mình) cảm thấy rằng chúng mình đã sẵn sàng. Dẫu thế, mặt khác thì đôi khi sự miễn cưỡng của cơ thể khi có sex dễ là một chỉ dấu cho thấy nên lùi lại và đặt các câu hỏi thiết yếu, quan trọng cho mình và người yêu cho đến lúc cần trao đổi, thảo luận đàng hoàng.

  • Các giá trị cá nhân của mình khít khớp ra sao với chuyện sex vào lúc này (các niềm tin tôn giáo, quan điểm của gia đình, các ý tưởng về lần đầu tiên)?
  • Những nguy cơ thể lý nào mình sẽ phải gánh chịu (sử dụng biện pháp tránh thai, mang bầu ngoài ý muốn, xử lý các bệnh lây truyền qua đường tình dục)?
  • Mình muốn gì từ mối quan hệ tình cảm với người yêu đây (chuyện sex sẽ làm thay đổi như nào quan hệ hiện tại, nó mang nghĩa ra sao với mối quan hệ của hai đứa)?
  • Áp lực mình cảm thấy (nếu có) từ nhóm bạn bè thân thiết (mình quan hệ vì là đứa duy nhất chưa bao giờ, muốn làm thế để gắn bó với nhau hơn, v.v…)?

Nếu cô gái và bạn trai chưa từng thảo luận các câu hỏi nêu trên, có thể hữu ích khi họ dành chút thời gian để thử nói về chúng. Còn đã trao đổi các câu hỏi liên quan với sự thoải mái của cô/ cậu rồi lại quyết định thích đưa quan hệ hai đứa lên tầm cao mới nữa thì e khả năng cao là tâm trí đôi lứa sẽ trở ngại, quấy nhiễu với áp lực có sex; nếu sự vụ xảy ra đúng thế thì khuyến cáo không nên quan hệ với nhau. Thay vào đó, dấn thân vào các hoạt động nào tạo cảm giác tốt lành cho cả hai song không vì mục tiêu là quan hệ tình dục. Cũng thế, xin hãy tự cho phép bản thân mình quyền thay đổi tâm trí; nếu khởi sự muốn tiến tới quan hệ tình dục và nó không tạo cảm giác ổn, có dấu hiệu hay câu chữ nào đó để biết rằng ‘lúc này nên dừng’…

Dành thời gian để chính mình nói nhiều hơn về ý nghĩa của sex với bạn và cách nó khít khớp với các giá trị cũng như ao ước cá nhân, riêng tư. Dành thời gian thưởng thức cùng nhau, chuẩn bị sẵn sàng cho những gì có thể xảy đến song đừng tạo áp lực bản thân để bắt buộc nó diễn ra.

Như thế, vấn đề ham muốn thật quan trọng, nhất là khi người ta yêu đương. Thực tế, có một cộng đồng tự thổ lộ là họ hiếm hoi, hoặc không bao giờ cảm giác hoặc bị thôi thúc về tình dục (vô tính ?);  thường những người này này không cảm thấy họ đánh mất điều gì vì họ luôn cảm thấy theo lối đó, vấn đề chỉ khởi lên khi người yêu của họ bất mãn do sự thiếu vắng trạng thái thân mật tình dục.

Có vẻ cô gái viết thư không phải thuộc trường hợp vắng bóng ham muốn mà cơ chừng thiếu hụt trải nghiệm hoặc độ tự tin. Dĩ nhiên, chưa từng kinh qua gì trước đây bao giờ thì sẽ dễ cảm thấy bất định và nảy sinh cảm giác lo lắng ít nhiều. Đáp ứng an toàn với một tình huống bất định hoặc lo lắng là không tiến hành làm gì cả. Không ai thích rơi vào trường hợp bị từ chối, hoặc là nguồn cơn của sự khó xử, lúng túng hoặc gây hiểu nhầm về mặt xã hội. Vì thế, dính dáng với chuyện khởi sự các dạng thức nọ kia của sự gần gũi thân xác thì lựa chọn ‘an toàn nhất’ đơn giản là không khởi sự. Rồi theo thời gian trôi qua, các cách thức liên hệ không gần gũi thân xác, thể lý có thể trở thành chuẩn tắc, hoặc mặc định hành vi; nguy cơ là bị mắc kẹt trong một mối quan hệ kiểu chỉ- là- bạn- bè- thôi.

Cách thức để xây dựng sự tự tin về mặt hành vi là thông qua trải nghiệm, học hỏi trực tiếp rằng việc khởi xướng trạng thái thân mật thể lý ban đầu rồi cho phép người yêu mình nhìn thấy cơ thể thì không giống với chuyện bị từ chối hoặc gây khó xử quá tồi tệ như mình có thể hình dung chúng trong tâm trí, khi hai người đã thiết lập quan hệ với nhau rồi. Ở một mức độ nhất định, sự tự tin này theo sau trong các mối quan hệ yêu đương, bồ bịch. Nhiều người bắt đầu tiến trình xây dựng dạng thức tự tin này xuyên suốt thời vị thành niên nên lúc lớn rồi, dường như chuyện ấy với họ trở nên dễ dàng hoặc tự nhiên hơn hẳn.

Vậy, làm thế nào để khởi sự đây? Thường khá ngạc nhiên về chuyện chúng ta hiếm hoi nghĩ về việc tạo nên một cuộc trao đổi chân tình như là giải pháp cốt lõi khi mối quan hệ gặp trục trặc. Ở trường hợp cô gái, dường như logic là nên giải thích với (các) bạn trai khi nào và ra sao mình thấy bất định để khởi sự sự gần gũi thể lý, rằng đơn giản mình chưa từng có trải nghiệm quan hệ kiểu thế… Một cuộc trao đổi chân thành nhất có thể tái đảm bảo người yêu mình rằng cái dấu hiệu dường như vô cảm của mình í không phải là do sự thiếu hụt ham muốn hoặc độ quyến rũ, hấp dẫn đâu.

Cần hiểu thấu đáo rằng những bức tường rào ngăn cách ghê gớm nhất chính là việc tiến hành trò chuyện, và khởi sự sự gần gũi thân thể hơn cho vài lần đầu tiên. Khi người yêu càng cởi mở đủ lâu để trợ giúp và các khởi sự được lĩnh hội, nắm bắt đúng đắn thì mình sẽ ngạc nhiên ngay về cách thức quá chừng nhanh chóng cho việc đạt được sự thoải mái và tự tin. Đấy sẽ là điều làm khuây khỏa, giảm nhẹ nhờ đơn giản biểu đạt tình cảm bằng cơ thể và độ quyến rũ tính dục khi nó khởi lên, hơn là mắc kẹt mãi với vô vàn phân tích trong đầu rằng nên hay không nên nhặng xị..

Trạng thái thân mật lứa đôi luyến ái thường tự chăm lo cho chính nó ổn thỏa, và khi mình chạm tới giai đoạn đó trong quan hệ thì thường các vấn đề gay cấn nhất cũng sẽ được gỡ rối, giải quyết. Khuyến cáo cô gái tập trung vào việc thiết lập quan hệ, cải thiện giao tiếp, và nâng cao các kỹ năng xã hội mình sẽ sử dụng trong một mối quan hệ yêu đương. Nếu gặp các sự cố, vấn đề quá chừng chuyên biệt, tham vấn tâm lý có thể thiết thực trợ giúp hiệu quả với các chiến lược xử lý nhắm đến các vấn đề này. Nếu cô gái đã từng tìm hiểu, hẹn hò trước đây, giờ cô cứ tiếp tục hẹn hò, tìm hiểu…

Tái xác định các vai trò trong gia đình

Trong các gia đình trục trặc, mình thường thấy trẻ em chấp nhận nhiều vai trò khác biệt để gia đình thể hiện đúng chức năng của một hệ thống ổn thỏa. Song các vai trò này lại gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho tương lai của đứa trẻ.

Tại sao các vai trò gia đình lại quan trọng và cơn cớ nào khiến chúng ta nhất thiết phải hiểu biết về chúng cơ chứ?

Vai trò mình đóng trong gia đình gốc (hệ thống gia đình mình được nuôi dưỡng, lớn lên) có thể giữ vị trí quan trọng trong cách thức chúng ta liên hệ với kẻ khác khi trưởng thành. Vai trò gia đình có thể xác định mình là ai, làm sao liên hệ với mọi người, phương thức họ liên hệ với mình và ảnh hưởng đến mỗi một khía cạnh trong đời.

Người nào có khả năng xác định vai trò họ đóng trong gia đình nắm giữ một công cụ quyền năng cho việc thay đổi đời họ và cải thiện các mối quan hệ.

Dù vai trò trong gia đình khá khác biệt và rất riêng tư, song có thể chỉ ra vài ba vai trò căn bản. Một gia đình có thể có “kẻ ốm đau”, “người gìn giữ hòa khí”, “vận động viên điền kinh”, “người giỏi giang”, “nạn nhân”, “thiên tài”, hoặc bất kỳ vai khác nào đó mình có thể nghĩ ra..

Đặc trưng của các vai trò hay gặp trong gia đình nói chung có thể hình dung gồm:

– Người anh hùng: đứa trẻ tốt

– Kẻ giơ đầu chịu báng: đứa trẻ có vấn đề

– Người đem lại phước lành

– Quản gia (khi chủ vắng nhà)

– Kẻ thứ yếu: đứa bé lạc lõng

Lần nữa, cần nhấn mạnh về tầm quan trọng của vai trò trong gia đình.

Xác định các vai trò trong gia đình của cá nhân mới chỉ là một nửa trận chiến. Hiểu biết các động năng kiến tạo và duy trì chúng cũng quan trọng không kém. Các vai trò gia đình tồn tại liên miên bởi vì chúng phục vụ các chức năng sinh động trong hệ thống gia đình. Chúng làm chệch đi sự đổ lỗi và tiêu tan độ căng thẳng; bảo vệ ‘danh dự’ gia đình không bị lăng mạ. Song chúng cũng đánh lạc hướng các trục trặc và đẩy nó vượt sang thế hệ kế tiếp. Hiểu biết bản chất của các vai trò gia đình rõ ràng quan trọng nếu mình ước muốn thay đổi chúng.

Các vai trò gia đình mang tính liên thế hệ. Nếu gia đình gốc của mình có một mẫu hình các vai trò chấp nhận sẵn, chúng sẽ chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tỷ dụ, mỗi thế hệ có thể có một kẻ giơ đầu chịu báng. Gia đình nhất thiết có một thành viên được định ra là ‘vấn đề’ nên những người khác có thể hay ho hơn hẳn khi so sánh. Mình có thể nhìn vào gia đình mình thật thoải mái và thấy các kiểu dạng vai trò từng được chuyển giao. Điều này dễ thực hiện tốt nhờ làm cây phả hệ (genogram). Dĩ nhiên, mình có thể tự làm cho chính mình.

Vai trò gia đình có thể cứng nhắc. Nếu mình không tin điều đó, thử xem vai trò của ai đó khác hoặc từ chối vai trò của bản thân. Lập tức, các áp lực căng thẳng sẽ khiến mình gánh chịu đè lên hệ thống và đổ xuống vai trò của bản thân. Mỗi vai trò hiện diện bởi một lý do. Nếu kẻ giơ đầu chịu báng thôi đảm nhận nữa hoặc đổi vai, hệ thống sẽ kiếm tìm hết sức ghê gớm ai đó thay thế.

Khi vai trò gia đình là động năng… Lúc đứa trẻ là anh/ chị cả lớn lên và rời khỏi gia đình, vai trò của chúng sẽ được ai đó chấp nhận thế vào. Nếu ai đó chối từ đóng vai của họ lâu hơn, hệ thống sẽ kiếm tìm người điền vô. Ví dụ dễ tưởng tượng nhất là kẻ giơ đầu chịu báng; nếu kẻ ấy lớn lên rồi không chịu nhập vai nữa, gia đình sẽ khởi sự kiếm tìm kẻ khác vậy; điều này gợi lăn tăn lo lắng xuyên hệ thống gia đình khi mỗi thành viên ngẫm nghĩ về khả năng mình có thể trở thành ‘mục tiêu nhắm đến’. Mà kẻ giơ đầu chịu báng thì không hề là công việc dễ thay thế; chỉ đích thực khó khăn cho ai đó rời khỏi vai người anh hùng.

Các vai trò trong gia đình thuộc tiềm thức. Không ai sau một buổi sáng thức dậy rồi quyết định trở thành Anh hùng của giia đình. Cũng chẳng gia đình nào ý thức để một thành viên giữ vai kẻ giơ đầu chịu báng. Các vai trò và mẫu hình chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác và hầu hết các gia đình không ý thức các vai này tồn tại hoặc nghĩ rằng họ đang tạo nên rồi duy trì liên tục chúng. Các mẫu hình quá thâm căn cố đế đến độ người ta thấy quá chừng khó khăn trong việc nhận ra và có ý thức nỗ lực chấm dứt các vai trò ấy.

Các vai trò trong gia đình mang tính hệ thống. Không được hình thành hoặc duy trì mãi từ một cá nhân đơn lẻ, các vai trò trong gia đình mang tính toàn thể hệ thống với sự tham gia của mọi người. Nếu một cá nhân gắng sức rời bỏ vai của mình, gia đình sẽ đặt một áp lực nặng nề ghê gớm để khiến người đó quay trở lại giữ vai. Động năng gia đình có thể thay đổi song mọi người trong gia đình buộc phải làm việc cùng nhau.

Khi các vai trò trong gia đình trục trặc về mặt chức năng… Các vai trò trong gia đình ngăn ngừa chúng ta không phát triển được các căn tính, bản dạng cá nhân riêng có. Các vai trò không được lựa chọn hoặc uyển chuyển thích ứng, chúng được ấn tống và cố định; chúng không quan tâm đến chuyện cá nhân và không cho phép người ta phát triển hoặc thay đổi.

Các vai trò trong gia đình dẫn dắt đời sống chúng ta. Mình sẽ lặp lại vai trò trong gia đình ở mỗi khía cạnh đời sống, công việc, trường học, gia đình và xã hội của bản thân. Nếu mình giữ vai Anh hùng ở gia đình, mình sẽ là Anh hùng tại nơi làm việc, trong trường học, với gia đình riêng và cùng đám bạn bè. Nếu tham gia vào một nhóm xã hội, mình sẽ là Anh hùng ở đó. Đây có lẽ là khái niệm quan trọng nhất và là nơi chốn mà mọi thứ có thể được thực hiện nhiều nhất. Nếu mình có thể xác định hành vi mình dấn thân lặp lại vai này ở bất cứ đâu mình có mặt, mình có thể thay đổi hành vi của bản thân và thay đổi vai trò đang đóng trong những hệ thống khác, bất kể mình có thể thay đổi trong gia đình gốc hay không. Thậm chí nếu mình không đủ khả năng thay đổi chính hệ thống gia đình gốc, nếu dừng đóng phần vai được ấn tống sẵn, nó sẽ rơi vào ai đó khác.

Các vai trò trong gia đình định hướng các mối quan hệ của chúng ta. Mình sẽ lặp đi lặp lại các vai trò trong gia đình ở mỗi một quan hệ: người đi làm, sinh viên, vợ/ chồng, bố mẹ, bạn bè.

Thay đổi các vai trò: với gia đình. Điều này được tiến hành tốt nhất với sự trợ giúp của một nhà trị liệu gia đình hết sức khách quan trong việc xác định mỗi vai và cách nó duy trì miên viễn. Song mình có thể tự tiến hành được. Để ngừng mẫu hình bên trong gia đình, mỗi thành viên phải ước ao thay đổi. Họ buộc phải chấp nhận trách nhiệm với phần mình đang đóng trong việc tạo tác và duy trì các vai của riêng mình. Họ cũng phải chấp nhận trách nhiệm với các hành vi bản thân và mang vâc các vấn đề riêng hơn là tháo xả chúng vào vai kẻ giơ đầu chịu báng hoặc chối bỏ chúng. Mỗi một thành viên cần muốn thể hiện ra, cả thể lý lẫn khía cạnh cảm xúc, và tham gia trong chuyện tạo cho sự thay đổi xảy đến. Trong một gia đình có con nhỏ, bố mẹ nắm giữ động cơ lớn lao đặng chấm dứt tiến trình này mà không trao chuyền sang con cái mình thì khả năng tốt đẹp cho sự thay đổi sẽ diễn ra được. Trong một gia đình, khi con cái lớn rồi và bố mẹ thì chối bỏ tình huống, sự thay đổi sẽ diễn ra khó khăn hơn hẳn và thậm chí, bất khả…

Thay đổi các vai: với chính bản thân mình. Nếu mình là đứa bé lớn lên từ một gia đình trục trặc các vai trò, lợi thế cho sự thay đổi toàn bộ gia đình gốc khi đó khá nhỏ bé. Tuy vậy, mình có thể tự xác định thay đổi chính bản thân và đời sống riêng. Mình có thể không đủ khả năng thay đổi các mong đợi của gia đình muốn mình duy trì tiếp tục vai trò đang đóng; hậu quả, các tương tác của mình với chúng có thể trở nên rất hạn chế. Song rất có thể tái tuyên bố bản dạng riêng có của bản thân trong đời sống của chính mình và trong các mối quan hệ riêng tư khác.

Có thể vượt thoát mãi mãi khỏi các vai trò mình kế thừa. Bằng cách nào? Thứ nhất, mình phải nhận ra vai trò mình đang đóng. Hầu hết mọi người có thể sẵn sàng làm điều này. Nếu mình gặp khó khăn trong phát hiện vai trò của mình hoặc mình bị thu hẹp thành một hai vai nọ kia thôi, hãy hỏi han anh chị em trong nhà. Nếu họ không cởi mở thì hỏi bạn bè, người yêu, đồng nghiệp… Thứ hai, hiểu biết các lợi hại, thuận chống của vai trò. Kiểm tra việc hoàn trả do duy trì vai trò này và ý thức nghiêm túc về chúng. Đây là những gì mình buộc phải từ bỏ khi thôi không còn muốn giữ vai nữa. Lên danh sách những gì mình sẽ mất mát, điều đạt được (hai khía cạnh tốt và xấu) khi từ bỏ vai trò.

Tại sao mình muốn từ bỏ những điều này. Quay lại bản thân, bản dạng đích thực của chính mình. Quan trọng nhất, khi chịu đựng vì con người thật này, mình nhận được sự tôn trọng do mình dành cho bản thân, và từ những người khác.

Bây giờ mình đã xác định vai trò mình đang đóng và dần ý thức những gì mình đánh mất cũng như đạt được khi từ bỏ, câu hỏi sẽ thành là “Làm thế nào mình thực sự thoát khỏi vai trò này?”. Đây là phần khó nhằn nhất và cũng quan trọng nhất; nơi mình khởi sự thay đổi đời mình, lần đầu tiên… Mình buộc phải nhận ra và nắm lấy trách nhiệm cho các hành vi cá nhân nhằm tái lập lại vai trò trong các mối quan hệ hiện tại. Khi mình thay đổi hành vi, mình thay đổi thành tựu. Một điều cũng hữu ích là trông xem người khác làm thế nào. Hỏi ai đó đang giải quyết các vấn đề mình muốn. Họ cảm thấy như thế nào về chuyện ấy? Mình có thể học hỏi rất nhiều về các cách thức khác biệt trong tri nhận, suy tư, vả cảm xúc về những thứ diễn tiến trong đời sống.

Có thể rất khó khăn khi đương đầu với gánh nặng này lúc mình còn là đứa trẻ con, song bây giờ mình đang tiến hành nó cho chính bản thân. Khó khăn trong việc nhận lấy trách nhiệm về các cách thức diễn tiến trong quan hệ, song trách nhiệm dẫn tới quyền lực, và với quyền lực làm cho trách nhiệm lớn thêm lên. Mình không thể thay đổi kẻ khác. Mình là ân nhân của họ vì người duy nhất mình có thể thay đổi là chính bản thân mình. Song thật giá trị nếu mình tri nhận về tình huống, cách thức giải quyết tình huống, cách thức xử lý tình huống có vấn đề. Mình có thể thay đổi bản thân. Và nếu mình có thể thay đổi bản thân, mình có thể thay đổi cuộc đời mình.

Điều đích thực là vấn đề

Kể cũng ngộ, mình có thể cảm thấy cần làm việc chuyên cần hơn đặng hoàn thành mục tiêu; các cảm nhận về tính quả quyết cơ chừng dễ là kết cục nảy sinh do trạng thái mất an toàn, và mình phát hiện bản thân bù trừ quá mức với bất kỳ thiếu hụt nội tâm nào.

Đây sẽ là thời điểm tốt để kiểm tra các mục tiêu cuộc đời nhờ nhìn vào bên trong. Tưởng tượng chính mình trong tương lai, vào giai đoạn cuối. Thử gắng nghĩ xem đâu sẽ đích thực là vấn đề, những gì mình muốn thành tựu. Và thú vị, mình nhận thấy những thứ như tính cách, từ bi, và rộng lượng sẽ ngày càng mang nhiều ý nghĩa với bản thân hơn hẳn, so với những thành tựu trong công việc.

Nghĩ về những điều ấy nhờ hiển thị hóa mình vốn sở hữu và cách thức khiến mình trở thành một con người toàn diện và đủ đầy đúng như mình vốn thế! Tự hỏi chính mình đích thực cần những gì để việc thực hiện hoàn mãn, tự dưng sẽ nhận ra mình đã sẵn có mọi thứ rồi.

Nhắm vào những gì thực sự quan trọng là phương thức tốt để ý thức một đời sống hoàn mãn đích thị ra sao, cũng dễ dàng để bắt chụp thành công trong công việc hàng ngày. Chúng ta sẽ cảm thấy một sự thăng tiến hoặc niềm tự hào to lớn khiến mình cảm thấy hoàn hảo.

Dù sự thỏa mãn sâu xa đến từ bên trong, khi chúng ta nghĩ về chuyện mình là ai và làm thế nào mình làm phong nhiêu hơn đời sống những người xung quanh, sự bất định của chúng ta chợt bị buông xả, rời xa và biến mất tăm dạng. Làm việc nghiêm túc, bài bản và chăm chỉ với điều đích thực là vấn đề, mình sẽ nhận ra một cảm nhận tự tin vững chắc hơn về chính bản thân mình.

Các mẫu hình quan hệ diễn tiến giữa đời thường

Nếu mình nhận ra bản thân cứ lặp lại cùng một lỗi lầm như trước, có lẽ nên nhìn vào các mẫu hình quan hệ lâu nay. Các mẫu hình quan hệ là các thói quen, khuôn kiểu mình thường tái tạo trong quan hệ với người khác. Các vai trò gia đình là kiểu dạng quan hệ mình sao bản. Song các mẫu hình khác cũng dễ được lặp lại nữa.

Nếu mình lớn lên trong một ngôi nhà bạo lục gia đình thì khả năng sẽ tái tạo trong các quan hệ trưởng thành về sau, hoặc mình đánh đồng vai nạn nhân và dính vào các quan hệ với những kẻ lạm dụng lần này tới lần khác. Nếu lớn lên trong một gia đình lạm dụng chất mình có thể trở thành chính kẻ lạm dụng chất đi quyến rũ hoặc mình có thể bị kích hoạt dễ dính vào nghiện ngập ma túy, rượu bia. Nếu lớn lên từ đối tượng bị gạ gẫm tình dục thì về sau có thể thành kẻ hoang đàng hoặc bị hút theo kẻ lạm dụng tình dục tương tự cách mình từng bị khi còn là đứa bé.

Có một ví von xưa cũ rằng đàn ông thường cưới người tương tự mẹ mình còn phụ nữ thích lấy người giống các ông bố. E chừng điều này khá xác đáng, dù chỉ là luật bất thành văn. Một phụ nữ muốn lập gia đình với người đàn ông ‘hoàn hảo’; cô ấy lập trình để rồi lại tìm thấy một người đàn ông mang cả các vấn đề hành vi của cả bố lẫn mẹ mình; tất cả trong một!

Chúng ta thường bị quyến rũ, hấp dẫn với người thể hiện tính cách bố mẹ mà mình từng gặp các vấn đề và sự vụ rắc rối nhất. Nếu là một phụ nữ và có nhiều chuyện phiền toái với mẹ thì mình dễ lựa chọn bạn bè có tính cách giống với mẹ; trường hợp đàn ông cũng thế. Nếu là một người đồng tính nữ, mình dễ bị quyến rũ bởi các phụ nữ rất giống mẹ mình, đặc biệt nếu cô ấy vốn bị lạm dụng; các đồng tính nam thường hút vào đàn ông đối xử với họ như ông bố từng thế, đặc biệt nếu họ bị lạm dụng.

Các lý do khiến chúng ta hành xử như thế không hề lành mạnh chút nào.

1.  Chúng ta không ngừng thực hiện sự vụ mình từng gặp phải với bố mẹ để nhận được tình yêu thương từ kẻ bắt cặp, vốn là điều mình không bao giờ có được từ bố mẹ. Tựa như câu đố mình liên tục giải cho bằng được vậy; nghĩ rằng nếu mình có đúng nó, chúng ta sẽ được họ yêu thương. Tiếc thay, sự đời không diễn ra theo cách ấy.

2.  Các vai trò giới chủ yếu chúng ta học hỏi từ bố mẹ mình. Chúng ta cũng lựa chọn các thông điệp nhắn nhủ từ nền văn hóa mình lớn lên, dù các nguồn thông tin chính về cách thức thành một người đàn ông hoặc phụ nữ ra sao thì do chịu ảnh hưởng bởi bố mẹ. Nên chi, nếu bố lạnh lùng và xa cách còn mẹ hay giận điên lên thì một cậu trai trẻ có thể sau này trở thành một ông chồng lạnh lùng và xa cách sống cùng một bà vợ dễ điên tiết.

3. Cũng có một mẫu hình tương tự. Nếu mình là người nữ lớn lên trong gia đình có bố nghiện rượu và mẹ phải phép thì đây là phương thức mình nhìn nhận về một cuộc hôn nhân; mình có thể sẽ cưới một gã nghiện rượu và trở thành người phụ nữ phải phép. Chúng ta làm những gì mình hiểu biết và chúng ta biết rõ các nguyên tắc để chung sống với một người nghiện rượu. Điều này tạo nên cảm giác thoải mái, hài lòng và thấy ‘bình thường’. Chúng ta khởi sự khiêu vũ với điệu nhạc quen thuộc mà thậm chí còn không hề nhận ra diễn tấu đang thể hiện.

Dĩ nhiên, mình không buộc phải câm nín hoặc cam chịu với hoàn cảnh, tình huống như trên. Mọi sự có thể thay đổi, với điều đầu tiên là cần nhận biết những gì mình đang tiến hành, thực hiện.

Nhìn vào các mẫu hình quan hệ của bản thân. Ai mình đang thực sự hiện quan hệ, sống cùng? Phần mình có đang lặp lại mẫu hình này? Bản thân hiện liên tục đóng vai nạn nhân của các kẻ lạm dụng? Mình có thành kẻ bị kích hoạt nghiện ngập? Đang giữ vai trò kẻ chăm nom cho đối tượng đau ốm, yếu đuối?

Muốn nhảy tango phải có hai người. Mình không thể bị hút vào với kẻ lạm dụng trừ khi mình thích chơi trò nạn nhân. Mình không thể bị mủi lòng với kẻ yếu đuối trừ khi mình thích giữ vai người chăm sóc. Các kẻ lạm dụng không dụ dỗ được người độc lập, thông minh và mạnh mẽ; chúng luôn tìm kiếm con mồi làm nạn nhân. Nếu mình chấm dứt làm kẻ phải phép hoặc nạn nhân thì mình sẽ cắt đứt việc bị lôi kéo vào vai trong những mối quan hệ tồi tệ này.

J. Soi (36): Nhắm vào động cơ nội tại; làm chi đánh thó nổi, chỉ sợ đích thị mình có gì không thôi

Được địp đồng nghiệp nhờ hỗ trợ thiết kế bộ mấy chục kỹ năng mềm theo yêu cầu của thủ trưởng đơn vị, tôi nghiêm túc ướm lời về cách xử lý công việc cơ quan. Bạn có vẻ tự hào với khả năng nhanh nhạy, việc khó mấy cũng tìm ra cách xử lý ổn thỏa; bao sân nhiều món và thừa năng lực cá nhân để vừa quán xuyến được từ cái tăm, chiếc ghế và món tráng miệng giữa buổi hội thảo cho đến chuyện kịp đúng hạn nộp bài nghiên cứu khoa học cấp nọ kia.

Cống hiến thời gian và công sức tập trung nhằm thỏa mãn các nhu cầu cả về tinh thần và thể lý đem lại cho chúng ta một sức chịu đựng, độ nhẫn nại phục vụ tha nhân, cộng đồng. Cảm giác mạnh mẽ trong đam mê và mức đồng cảm ấy có thể đẩy chúng ta cho nhiều hơn những gì mình có, kết quả dẫn tới sự mệt lả hoặc kiệt sức.

Không những cần biết cách cân bằng giữa giữa sự đồng cảm vì người với sự chú ý tới việc tự chăm sóc bản thân, bất chấp việc tăng lên thông thường của lương bổng và thu nhập, thực tế không có gì thúc đẩy chúng ta tốt hơn việc có lý do bên trong, hết sức riêng tư để thực hiện điều gì đó.

Nghiên cứu lý do đăng ký vào học của tầm 11.000 học viên trường sĩ quan West Point (Hoa Kỳ) cho thấy chẳng có gì đáng ngạc nhiên “càng mãnh liệt với các lý do nội tại (trở thành một lãnh đạo ra trò) khi vào West Point thì đó là các học viên dễ tốt nghiệp và chóng được cấp bằng sĩ quan”, so với người có động cơ ngoại giới (đạt được viễn tượng nghề nghiệp ngon lành).

Điều các nhà nghiên cứu ngạc nhiên, những học viên có cả động cơ ngoại giới và nội tại thì lại thi hành công việc kém cỏi hơn so với ai chỉ có các động cơ nội tại không thôi; những người ôm đồm cả hai loại động cơ thì ít được thăng tiến và thời gian lưu lại trong quân đội sau thời gian quy định phục vụ năm năm cũng ít hơn. Kết luận rút ra là các hoạt động nên được cấu trúc sao cho các hậu quả ngoại giới, như lương cao hơn, không nên trở thành các động cơ phấn đấu của bản thân. “Giúp đỡ người ta tập trung vào ý nghĩa và ảnh hưởng của công việc họ làm, hơn là chú mục vào chẳng hạn thu nhập tài chính mang lại, có thể là cách tốt nhất để cải thiện không những chất lượng công việc mà còn tạo thành tựu cả về mặt tài chính nữa”.

Thời gian cộng tác ngắn cũng khiến tôi kịp liên tưởng tới việc khởi nghiệp. Rằng khi các người khởi nghiệp tìm kiếm nhà đầu tư, điều căn cốt là công ty nhắm vào các ý tưởng tốt nhất chứ không phải tốn thời gian hoàn thành việc bảo vệ ý tưởng hợp pháp nhằm ngăn ngừa các nhà đầu tư đánh thó ý tưởng của họ đem về. Đáng chú ý, cả nhà đầu tư lẫn các công ty mới khởi sự thường ít thích các ý tưởng điều chỉnh theo ý của thị trường, thay vào đó, tự kiểm soát phù hợp, các công ty mới gia nhập có thể bảo vệ các ý tưởng riêng có và tăng tốc kinh doanh thêm lên… Như lời trích dẫn trong bài báo “nguy cơ tiến chậm thì đáng lo ngại hơn là nguy cơ bị sao nhái ý tưởng”.

Lời cảnh tỉnh từ ngoại quốc thật thiết thực, quá chừng đúng đắn và sống động giữa thời buổi giao thời, nhiễu nhương.

“Bạn trai hay khóc mỗi khi cãi nhau”: chịu đựng, chia tay rời xa, hoặc như thế nào mới phải đây?

Quả là ở đời, như các cụ bảo, ‘sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi tật’.

“Anh ấy hay khóc lúc cãi nhau” tức là người có tính cách hờn dỗi, dễ phẫn uất và đang trong thế yếu. Có lẽ bạn có nhiều điểm lợi thế hơn nên anh ấy chỉ còn biết dùng “vũ khí khóc” vốn có trong tính cách. Khi bạn im lặng tức là không giúp anh ấy giải phóng ức chế, từ đó ức chế gia tăng mà để trong đầu nó không chịu nổi nên “đập đồ”, nếu không đập đồ, họ có thể đánh người đối diện, nhưng do “sợ” không dám đánh người đối diện thì tự đánh mình nhằm thuyết phục người kia. Tính cách này có thể thay đổi khi anh ta “chuyển sang thế mạnh”  khi bạn là vợ anh ta.

Bạn phân tích không có kết quả gì đâu vì tính cách là sự tích lũy từ gene đến quá trình sinh ra đến nay với nhiều sự tác động. Nếu bạn đủ sức thay đổi tính cách anh ta thì bạn cũng đáng bậc thiên tài. Bạn chỉ có thể nương tựa vào tính cách anh ta rồi từ từ can thiệp tế nhị như “dạy em bé”, lúc đó mới hy vọng biến đổi tính cách.

Bạn muốn giúp anh không hành động như vậy thì trước hết phải “sống chung với lũ” rồi qua đó tìm ra dòng chảy của lũ để tránh lũ, đắp đê, đắp bờ… ngăn lũ từng phần thôi, chứ mong “hết lũ” là không tưởng.

Bạn lưu ý khi bình thường chưa bị ức chế mạnh thì người ta dễ ngụy trang tính cách nên khó phát hiện, hoặc lúc bình thường thì người ta thỏa mãn nên không bộc lộ tính gia trưởng.

Chúc sự sáng suốt.

Người ta khóc vì nhiều lý do khác nhau; vả, khóc có thể biểu hiện cảm xúc, phụ thuộc thói quen hoặc/ và lắm khi chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh tác động, chứ nó đâu hoàn toàn chỉ phản ánh thuần tính cách.

Không khó thấy động cơ cô gái viết thư muốn biết tại sao bạn trai mình lại thường biểu hiện thế và những gì có thể làm để người yêu thay đổi.

Cũng chẳng cần thiết cãi nhau mà làm gì, há chẳng phải cả thực tế lẫn lý thuyết đều đang tiếp tục chứng thực vai trò của các chương trình giáo dục và phát triển tính cách đó thôi; để trở thành một người tốt hơn, trẻ con được dạy các giá trị luân lý đạo đức cơ bản và các tiêu chuẩn của hành vi ứng xử.

Cơ chừng sự thật về bản chất con người nằm đâu đó giữa các tán thành hết sức khác biệt của nhà tâm lý học, khoa học gia hành vi, triết gia và các nhà tư tưởng tôn giáo.

Mình có thể tóm tắt nhiều giả định ẩn sâu của các trường phái truyền thống tư duy theo tâm lý học về phương thức người ta trở nên nhiễu loạn và làm thế nào trợ giúp họ lành hiền lại theo cách này: Con người vốn là tốt đẹp và cơ cấu hướng tới lành mạnh. Họ trở nên trục trặc, ốm yếu, bệnh hoạn bởi vì những điều tồi tệ hoặc ‘sang chấn, gây thương đau’ xảy đến… Họ phát triển những nỗi sợ hãi và bất an như kết quả của sang chấn, đau thương trải nghiệm rồi học hỏi đương đầu theo các cách ít nhiều tối ưu nhất có thể. Với thấu cảm, tôn trọng tích cực vô điều kiện và hỗ trợ, nâng đỡ, họ có thể chữa lành các vết thương chỗ đau nhức, vượt qua nỗi niềm sợ hãi, và dần nghiêng tự nhiên lần nữa tới đời sống lành mạnh, thương yêu và từ bi.

Một số trường phái triết học và tôn giáo chấp nhận quan điểm đối lập: Con người cơ bản là tạo vật tội lỗi hoặc ‘sa ngã’, mang nhiều khuyết thiếu rõ ràng. Không có sự dẫn dắt thích hợp từ một quyền năng cao hơn, và cứ để mặc cho anh ta thế, con người sẽ dần tụt dốc, rơi xuống vào các kiểu dạng của suy đồi, khiếm nhã và trụy lạc. Nhu cầu lớn lao nhất của anh ta là được ‘cứu vớt’, đặc biệt tự do khỏi chính bản thân anh ta.

Cũng có tranh luận về nan đề quen thuộc ‘tự nhiên đối lập với nuôi dưỡng’ (nature vs. nurture). Cả thời gian dài, các khoa học gia hành vi khẳng định tất cả chúng ta thảy đều giống nhau ở sự kiện rằng chúng ta bị xử lý, trở thành đối tượng của những tác động môi trường và chuyện ngẫu nhiên rất khác biệt. Song đã có đầy bằng chứng rằng một số khuynh hướng hành vi nào đó chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các yếu tố di truyền và các yếu tố cấu hợp khác.

Và như thế, cơ chừng sự thật về bản chất con người nằm đâu đó giữa các biểu tỏ cực đoan bên trên. Con người hoặc là tính bản thiện hoặc vốn ác độc. Và anh ta hoặc phó mặc cho các genes cùng các chất hóa sinh trong người hoặc chỉ là một robot được đặt định thân phận chỉ có hành xử như môi trường lập trình để anh ta hành động thế. Anh ta cũng không hiển nhiên khuyết thiếu. Và dù được phú cho một nền tảng động vật với một số bản năng nguyên thủy, anh ta có năng lực đáng giá đặng ý thức về chuyện học hỏi và triển nở, điều khả thể giúp anh ta trở thành một cái gì lớn lao hơn thứ chỉ là động vật. Đó thuộc về các tiến trình xã hội hóa (socialization) và phát triển tính cách; và nó là một tiến trình đau đớn, khổ sở, phức tạp và kéo dài suốt đời người ta.

Việc xây dựng tính cách là tiến trình suốt đời chúng ta thấm nhuần dần nguyên tắc kỷ luật bản thân và nảy sinh các năng lực để sống có trách nhiệm với những người khác, để làm việc năng sản, và trên hết, để yêu thương… Liệu yêu thương đích thị là hành vi, hay nó là một cảm xúc, một nghệ thuật, hoặc một trạng thái tâm trí?

Thậm chí, dù cho một người có thể khởi sự cuộc đời mình như một tù nhân của những gì tự nhiên cho sẵn và lớn lên từ những hoàn cảnh nọ kia, anh ta không thể mãi mãi duy trì là ‘nạn nhân’ của môi trường sống. Rốt cuộc gì gì, mỗi người đều buộc phải tiến tới sát hợp với con người của chính anh ta/ chị ta. Để hiểu biết bản thân, để đánh giá đúng đắn và công bằng các điểm mạnh yếu, ưu khuyết, để đạt được sự khôn ngoan đích thực vượt qua các bản năng và dốc nghiêng cơ bản chắc chắn là những thách thức ghê gớm nhất trong đời. Mà không thể khác được, việc bất kỳ ai vươn tới một đời sống liêm chính, tích hợp và xứng đáng chỉ có thể là kết quả của một sự tự bừng dậy, đánh thức toàn diện, đủ đầy. Một con người rồi ra phải hiểu biết bản thân cũng như hiểu biết người khác mà không lừa lọc, dối trá hoặc chối bỏ, phủ nhận. Anh ta phải chân thành đương đầu và ước định tất cả các khía cạnh của tính cách chính mình. Chỉ khi đó rồi anh ta mới cảm thấy thoải mái gánh lấy trách nhiệm nặng nề tự lực rèn luyện vì bản thân và vì người khác. Cái đó gọi là tình yêu khi tự do lựa chọn chịu đựng gánh nặng hoặc ‘thập tự giá’ này. Và đó là ước ao cùng cam kết của một người để mang vác ‘thập tự giá’ ấy cho đến chết ngõ hầu mở ra các cánh cửa dẫn đến một nơi chốn tồn tại cao cả hoặc tái sinh dưới hình tướng sáng lạng hơn nhiều.

… Giờ với quan điểm chúng ta đang sống đời thường trong một thế giới rất liên quan và tương thuộc nhau, thử quay lại bàn thêm về vụ “bạn trai hay khóc mỗi khi cãi nhau”.

Bạn trai của cô gái  có vẻ thể hiện nhiều đặc tính thuộc nhân cách hơn là biểu hiện sự vụ tâm thần; các vấn đề xung hấn, uy quyền và độ ổn định xã hội như thế thường dễ liên quan với các rối loạn nhân cách (personality disorders). Cơ chừng cô gái đang hẹn hò với một người thuộc dạng thấy mình kém cỏi, thích kiểm soát và lạm dụng cảm xúc.

Từ cái nhìn thực tiễn, cho dù vị thế đích thực của cậu chàng như nào thì tình hình đang tiếp tục gây hại cho cô gái. Các cá nhân mắc rối loạn nhân cách như thế luôn định hướng xoay quanh bản thân mình. Họ thao tác các mối quan tâm theo chương trình riêng. Như cô gái có lưu ý, anh ta không lưu tâm chuyện cô gái đang khó chịu, tự gây hại chính mình, hoặc ngay cả nhen nhóm dự tính chia tay, chần chừ kết hôn vì mỏi mệt, lo sợ cho tương lai bị bạo hành. Anh chàng bộ đội hoàn toàn thừa khả năng làm cô người yêu kiệt sức về mặt cảm xúc thông qua chuyện cậu ta khóc lóc, mè nheo, thể hiện tội lỗi, và vâng, thậm chí hàm ý đe dọa. Khi cô gái bị tràn lấp bởi những thao túng, điều khiển của cậu ta và quay trở lại chịu đựng tiếp tục (“Bình thường thì anh tỏ ra rất tình cảm và yêu thương mình”) thì anh lính lại quay về thói cũ, lề xưa.

Theo mô tả, thái độ kiểm soát của anh lính là điều cần được nhấn mạnh trong mối quan hệ này, và nghe như thể chàng tin vào một tiêu chuẩn kép (kiểu mình được phép còn nàng thì bị hạn chế); mẫu hình như thế là không lành mạnh và dễ trở nên tồi tệ hơn cùng thời gian, nhất là sau khi đã thành chồng vợ của nhau. Hành vi kiểm soát của chàng có thể tăng lên thêm nữa khi nàng tìm ra các biện pháp ứng phó hữu hiệu. Với tuổi trẻ đang là, cô gái cần khám phá sự độc lập mà không để bị bó buộc không chính đáng. Nếu cô gái dần thấu hiểu đúng đắn mọi sự, anh lính kia dễ thấy quá chừng bất an và thiếu chín chắn trưởng thành cho kiểu dạng quan hệ mà cô gái mong đợi trong đời.

Thật tiếc khi nghe thấy cô gái cảm thấy lo lắng và bị xáo trộn với những xúc cảm cùng hành vi như thế, dễ khiến cô gái khó kiểm soát nổi tình hình. Nhất là khi cô nhiều xúc cảm đổ tràn ra, mức độ stress tăng lên bởi vì cô đang cảm thấy giận dữ với chính bản thân, để rồi đổ dầu thêm vào ngọn lửa bất mãn trong quan hệ.

Hãy để cô gái vào vai rằng mình bắt đầu khóc lóc và cảm thấy khó kiểm soát, tôi tự hỏi những gì cô ấy lưu ý nơi mình trước khi cô ấy khóc; có lẽ ấy là cảm giác mạch đập dồn dập, các cơ căng ra, hơi thở thay đổi… Nếu lưu ý những biến chuyển này trước khi rơi lệ cho cô cơ hội thay đổi chiều hướng trò chuyện với người yêu, nói bằng phong thái nhẹ nhàng và xác quyết, hoặc muốn tạm rút lui thật nhũn nhặn khỏi buổi trao đổi cho đến khi bản thân cảm thấy bình tĩnh, thoải mái hơn. Cô gái cũng có thể cân nhắc để xem xem chức năng khóc như một sự “lưu hành bôi trơn” cho quan hệ của họ, bất kể cô có xu hướng đổ lệ nhiều hơn trong các tương tác căng thẳng với ai đó khác (ví dụ, thủ trưởng, bố mẹ, người thân thiết…) so với số còn lại (ví dụ, bạn bè bình thường, đồng đội, người lạ tình cờ gặp gỡ). Cơ chừng việc khóc của cô gái nhằm hướng tới việc khuếch tán sự giận dữ của họ và kết thúc sự xung đột; nó được việc kết thúc thảo luận, trao đổi trong chốc lát song không giải quyết nổi vấn đề ẩn sâu bên dưới đang gây phiền muộn cho người khác (nghĩa là nó sẽ trở đi trở lại thêm mãi).

Kiểu dạng người cảm thấy mình thất bại, thua cuộc và kém cỏi tạo ra nhiều thiệt hại về mặt xã hội, cảm xúc và tâm lý trong một mối quan hệ. Người ấy thường trực các tính cách làm nên sự thiệt hại này. Có những nét tính cách họ chấp nhận đơn giản như nó thể hiện vậy mà không hề nghĩ trở thành một vấn đề hoặc trục trặc về mặt tâm lý. Ở góc độ nào đó, họ luôn sống với nét tính cách và hành vi này, thường thì là điều gì đó họ học hỏi được từ người thân trong gia đình. Các nhà tâm lý hay trị liệu nạn nhân của kiểu dạng người vừa nói trên (cả phụ nữ lẫn đàn ông) là các thân chủ tìm tới với trạng thái trầm uất khủng khiếp liên quan với trạng thái tin tưởng vào giá trị bản thân và lòng tự tôn đã bị phá hủy hoàn toàn.

Trong khi cô gái mang chứa ít nhiều mẫu hình quan hệ dựa theo ký ức cảm xúc, chàng trai lại đang thể hiện các dấu hiệu của trạng thái kiểm soát và sở hữu của một người loay hoay học cách chấp nhận mình. Liệu cô ấy cần phải sớm có quyết định dứt khoát và tách biệt, thoát ra khỏi vị hôn phu trước khi bị mắc bẫy trong một mối quan hệ mà bản thân cảm thấy “mệt mỏi”? Chí ít, cô gái cần giữ trong tâm trí ý nghĩ rằng chàng ta không hề quan tâm nếu cô không muốn nó, chỉ những gì anh ta quan tâm mới thành vấn đề? Chúc cô gái may mắn trên cuộc phiêu lưu tình ái rồi tiến tới dự tính kết hôn này.

Xác định hành vi bất thường và mô hình y khoa điều trị rối loạn tâm thần

Khi xem xét các yếu tố quan trọng nhất liên quan đến sức khỏe tâm thần nói chung, thường một chuyện đích thực căn bản lại rất hay bị lờ đi. Đó không phải là chuyện giảm stress, một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục, các quan hệ tốt đẹp, hoặc tuân thủ thuốc đã chỉ định.

Điều gì ư? Đó là để họ ngủ như với người lính sống sót trong vụ tai nạn chết người do rơi máy bay. Lên cơn hoảng loạn, ngất xỉu, kiệt sức và sợ hãi, nhiều người trải qua sang chấn có thể cảm thấy thân xác rã rời và suy yếu với trạng thái tinh thần bị đánh sụp nghiêm trọng.

Tại sao ta làm điều ấy trước tiên? Bởi vì ngủ là điều quan trọng nhất để phục hồi sức khỏe tinh thần. Chúng mình có thể đã lâu không ăn, uống gì song không thể không ngủ; vấn đề quan trọng này thường hay bị lờ đi, và chúng ta quen nhắm tới chế độ dinh dưỡng và tập luyện thân thể. Ngủ quan trọng, song người ta thường nỗ lực lập công đến độ quên ngủ đủ vì muốn phá vỡ các kỷ lục thế giới. Sau vài ngày, người ta khởi đầu ảo ảnh, ngôn ngữ trở nên mông lung và các giác quan dần trục trặc. Thiếu ngủ là vấn đề nghiêm trọng gây ra các nguy biến cho sức khỏe nói chung.

Dĩ nhiên, nghệ thuật và trò chơi không chỉ dành riêng cho trẻ con. Các hình vẽ, đường nét cho người ta phương thức biểu đạt những gì xảy ra với bản thân nhiều hơn là dùng thuần túy kể lể. Nền văn hóa chúng ta còn chú trọng đến giá trị của các từ cất thành tiếng cùng lắm suy tư đầy trí tuệ. Song các cảm xúc, thường biểu đạt qua nghệ thuật và trò chơi, có thể đôi khi mang quyền năng gấp hàng ngàn lần; liên quan riêng đến sang chấn, dân gian quả là sáng suốt qua ví von: “một bức tranh giá trị cả ngàn lời nói”.

… Lòng vòng chút để quay về bàn thế nào là hành vi bất thường cũng như vấn đề xác định rối loạn tâm thần.

Khi miêu tả mô hình y khoa áp dụng cho việc chẩn đoán bệnh tâm thần, thường thấy giải thích rằng bệnh tâm thần được nhìn như hành vi bất thường, và điều ấy làm nảy sinh câu hỏi: làm thế nào chúng ta quyết định một hành vi con người nào đó là ‘bất thường’ và ‘bình thường’?

Liệu chúng ta nên gọi hành vi vô đạo đức là ‘bất thường’? Nếu vậy, chúng ta sẽ áp dụng đạo đức loại gì đây? Một số nền văn hóa cho phép có nhiều vợ, một số xem như thế là vô đạo đức; một số cho phép dùng rượu bia, một số xem thế là vô đạo đức; một số ăn thịt bò, một số xem bò là vật thiêng nên việc ăn thịt bò là vô đạo đức. Phiên bản đạo đức nào đảm bảo tính chuẩn tắc đây? Liệu chúng ta nên gọi các hành vi đặc biệt là ‘bất thường’? Tôn giáo của ai đó có thể là ‘bất thường’ với niềm tin của kẻ khác.

Chúng ta nên gọi hành vi đặc biệt là ‘bất thường’? Đặc biệt, khác thường với ai? Một số nhìn việc xăm hình là bất thường, một số không; một số cho là bất thường khi nghe các tiếng nói hoặc nhìn thấy những điều không hiện diện nơi này, những người khác xem xét điều ấy như là trải nghiệm tâm linh. Các nhà tâm lý tin rằng một số tác gia sáng tạo nổi tiếng như Isaac Newton, Albert Einstein, Vincent Van Gohh, Emly Dickinson là các nhân cách có biểu hiện, kiểu dạng tâm thần phân liệt. Chuyện gì xảy ra nếu giả định là họ bị buộc phải làm người bình thường? Làm thế nào điều ấy ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của họ?

Một cách có thể xác định vấn đề các hành vi trở thành “bất thường’ và cần can thiệp tâm lý là khi thân chủ trải nghiệm hành vi đang có vấn đề, hoặc nhận ra hành vi quấy nhiễu việc thực hiện chức năng khiến họ không dấn thân đủ đầy trong đời sống, như họ xác định về chúng. 

Theo thời gian, cơ chừng cách nghĩ này vẫn còn hữu dụng. Điều quan trọng là lưu ý rằng tùy vào thân chủ để quyết định xem hành vi trở thành vấn đề, chứ không phải do ai đó khác. Chúng ta gặp người cứ khăng khăng đòi ai đó cần phải thay đổi hành vi của họ; kiểu như viết thư hỏi làm thế nào để buộc một người bạn nhất thiết dùng thuốc, rõ ràng, người này không thoải mái với hành vi và trải nghiệm của bạn mình, song thật tiếc chúng ta không nhìn thấy anh ta khó chịu với hành vi hoặc trải nghiệm của bản thân.

Có thể xác định ‘chức năng’ như này. Là người đó:

  1. ăn
  2. ngủ
  3. tương tác với người khác theo ý thích
  4. làm việc như mình thiết lập
  5. tiến hành thích đáng việc tự chăm sóc bản thân như cách họ xác định (ví dụ, vệ sinh, chăm chữa y tế)

Vậy áp dụng cách nào trong thực tế? Liệu người dưới đây là ‘bất thường’?

  1. Một người đàn ông mặc bộ đầm dài
  2. Người làm nhà sống trên cây
  3. Ai đó chọn lối sống ‘ẩn dật’

Rốt ráo, tất quay về xem họ tự đánh giá đấy có là vấn đề không; trừ hai ngoại lệ với nguyên tắc chung này là:

  1. Khi ai đó ngừng ngắt hoàn toàn chức năng đến độ đời sống của họ gặp nguy hiểm. Nếu họ không thể ăn uống, ngủ nghỉ, có xu hướng gây thương tích hoặc sức khỏe đe dọa mạng sống hoặc họ thể hiện hành vi khác đe dọa mạng sống trong một vụ can thiệp đảm bảo chất lượng song không được họ đồng thuận.
  2. Khi ai đó gây nguy hiểm cho những người khác, một vụ can thiệp đảm bảo bảo chất lượng song không được họ đồng thuận.

Tuy vậy, nếu họ không hề tự gây nguy hiểm cho bản thân hoặc cho người khác thì tôi tin, thân chủ nên là người quyết định hành vi của họ là ‘bất thường’ hay không và có ước muốn nhờ sự trợ giúp. Bạn đọc nghĩ gì, làm thế nào chúng ta quyết định thế nào ‘bình thường’ và khi nào thì hành vi trở nên ‘bất thường’?

Hệ thống vẫn tận dụng được để chẩn đoán và điều trị các ‘rối loạn’ tâm thần là mô hình y khoa. Thế nào là ‘mô hình y khoa’ và tại sao nó lại quan trọng đối với sự hiểu biết của quảng đại quần chúng?

Mô hình y khoa là một cách để nhìn nhận về các vấn đề sức khỏe tâm thần. Có thể chỉ ra những điểm khác biệt giữa mô hình y khoa và mô hình xã hội trong nhìn nhận các thiếu hụt thể lý, tinh thần hoăc cảm quan chẳng hạn.

Khái niệm ‘bất thường’ được mang khoác vào một ý nghĩa ngụy khoa học rất lớn; vốn nó dựa trên các lượng giá từ quan điểm khuyết thiếu chống kháng với sự bình thường: những gì người ta không thể làm, so với những gì ai đó có thể thực hiện được. Mô hình y khoa, tỷ dụ, nhìn người khuyết tật như kẻ có vấn đề; họ cần được thích ứng với thế giới như nó là vậy.

Nền văn hóa đặt nặng vào mô hình y khoa về sức khỏe tâm thần. Nếu chúng ta trải nghiệm khó chịu về mặt tinh thần hoặc cảm xúc căng thẳng thì rồi ta vội tìm đến bác sĩ để được cho toa uống thuốc. Làm thế nào điều này ảnh hưởng tới việc điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần?

1. Các cảm xúc được xem là ‘bất thường’ và ‘được điều trị’. Tại sao điều này lại là vấn đề? Bởi đa phần các đáp ứng cảm xúc đối với những sự kiện ở đời là bình thường.

2. Bác sĩ ‘chỉ định’ thuốc. Bệnh nhân trải qua các chuyện tác dụng phụ hoặc phàn nàn về cảm xúc của họ đang bị ‘tê đờ’ có liên quan với việc thay đổi thuốc uống. Bệnh nhân gián đoạn việc uống thuốc vì họ cảm thấy chúng không hiệu quả, hoặc gây tác dụng phụ chẳng chịu đựng thêm được nữa so với nhãn mác khuyến cáo.

3. Bệnh nhân được điều trị không như một người cộng sự hoặc đối tác bình đẳng trong mối quan hệ bác sĩ/ bệnh nhân. Bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân và đưa ra các y lệnh, chỉ định. Thường thì các chẩn đoán không được thảo luận với bệnh nhân cũng như không hề mời gọi họ tham gia vào tiến trình chẩn đoán.

4. Một chẩn đoán sai lệch khỏi chuẩn mực hoặc tính bất bình thường thì cần tìm đến việc giải quyết vấn đề sức khỏe tâm thần. Phương pháp giải quyết các vấn đề sức khỏe tâm thần quá phổ biến đến độ nhiều thân chủ tin rằng họ phải được chẩn đoán thì mới giải quyết được vấn đề. Đây đích thực không phải là sự thật. Hệ thống chẩn đoán được tạo ra tuân theo mục đích nghiên cứu; về sau được các hãng dược chấp nhận như một mã hóa các ‘rối loạn’ phục vụ mục đích của họ. Một chẩn đoán không nhất thiết điều trị một vấn đề trục trặc thuộc sức khỏe tâm thần và nhiều nhà thực hành chối từ việc đưa ra chẩn đoán. Nhiều nhà lâm sàng tin là việc chẩn đoán đặt một  nhãn mác không cần thiết để bảo thân chủ rằng họ đang ‘bất thường’ bất chấp việc họ không ngừng nhận ra dù làm bất kỳ gì, thân chủ đang thể hiện một cơ chế phỏng vệ mà họ phát triển nhằm giải quyết với đời. Họ thích nhìn thân chủ như các kẻ sống sót làm bất cứ điều chi để vượt thoát được giai đoạn này. Họ nhìn nhận thân chủ là đối tượng đang đề nghị được giúp đỡ như con người hiện kiếm tìm các cách thức phát triển tốt đẹp hơn theo hướng giải quyết vấn đề, và đây là sự lựa của một con người hết sức lành mạnh.

5. Hành vi ‘bất thường’ được xác định rồi và bất kỳ điều gì khác biệt với nhãn mác này là ‘bất thường’ và đôi điều gì đó vì thế, cần được chỉnh sửa, khớp khít lại. Song ai xác định như nào là ‘bình thường’. Sự chuẩn tắc đến từ ai?

6. Lĩnh vực y khoa chịu ảnh hưởng sâu nặng bởi các hãng dược hướng tới thuốc men đầu tiên, và đôi khi, là cách điều trị duy nhất dù có nhiều cách khác tương ứng và lắm lúc tính khoa học còn đáng tin cậy hơn. Một ví dụ, nghiên cứu khẳng định nhất quán rằng tâm lý trị liệu với trầm cảm có thể nên được dùng là liệu pháp trước tiên trừ khi người đó hăng hái tự sát. Các thuốc chống trầm cảm chỉ nên dùng thêm vào khi tự thân tâm lý trị liệu không đáp ứng ổn thỏa toàn bộ hoặc bản thân người đó không chắc với chuyện họ tự sát hoặc không đảm bảo chức năng đủ để tham gia các phiên trị liệu. Tiếc là tâm lý trị liệu hiếm khi được khuyến cáo trước, và đầu tiên thường luôn là thuốc chống trầm cảm.

Điều quan trọng là cần hiểu biết cách thức mô hình y khoa tác động đến việc điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần trong đời sống văn hóa của chúng ta. Quan trọng không kém còn là việc nhận ra có các phương pháp trị liệu thay thế khác nữa. Các thân chủ nên được khuyến khích kiếm tìm các phương thức lành mạnh tác động đến cảm xúc và tâm trạng của họ bất kể đó là việc luyện tập thể lực, thiền tập, thay đổi chế độ dinh dưỡng lành mạnh hơn, ngủ nhiều hơn, giảm thiểu các tác nhân gây stress trong đời sống, chuyển đổi công việc, tham gia trị liệu tâm lý, giải quyết các bất ổn trong hệ thống gia đình, đăng ký học một lớp yoga, dành nhiều thời gian hơn cho gia đình hoặc các sở thích, biểu đạt bản thân thật sáng tạo hoặc phát triển chiều kích tâm linh,… Thân chủ nên được nhìn nhận lại sức khỏe tâm trí và việc trị liệu sức khỏe tâm thần trong chuyện chăm sóc và chữa lành bản thân theo cách riêng.

Chệch

Chiến lược ngừng chết. Không có gì mất đi cả, dù chưa làm xong hoặc mũi tên đã rời khỏi cánh cung bay đi đâu đó hiện vẫn chưa rõ điểm dừng.

Đó có thể là sự buồn chán não nề, nhất là khi nơi đây dường như chẳng có điều chi chính thống và đáng giá đàng hoàng cho đỡ chút buồn phiền nào cả. Mọi thứ nơi đây dường như là sự bày mưu bố trận, cố tỉa tót vẽ vời, trang trí thôi (một lối tư duy của kiểu hoang tưởng bị hại). Nhiều, nhiều thứ nhỏ nhặt với quê hương sẽ đích thị gây cho người nhìn ngắm từ phương xa lại cảm giác ứ mứa và chẳng chút liếc mắt để tâm, như cái cô gái bé nhỏ kia ngồi thờ thẫn vô hồn sau tấm kính quán café mặc cho bên ngoài đường người xe ồn ào chen lấn. Và mỗi lần dạo bộ là mỗi lần thấy đặt chân xô đẩy xuống đất cỏ tùy mức độ nặng nhẹ. Đôi khi tiếng cửa đóng sầm, và khi khác, một cái gì cứ mở ngỏ chẳng thể nào khép chặt được nữa rồi.

Tôi nghĩ mình đã quen sống với bao điều vớ vẩn và tủn mủn mà không thấy lòng nảy nở, lún phún chút chi bực bõ (sức chịu đựng giỏi thiệt). Cứ tựa ngọn đèn biển thì phải nhất thiết bị hiểu lầm kiểu thế, trong bóng đêm nó được phát hiện ra như một lỗi cài đặt phi lý. Chệch.

Quên đi tình cũ: Khi nòng nọc đã đứt đuôi…

*Ngỏ: Theo thông lệ lâu nay, tôi tiếp tục trả lời thư bạn đọc gửi tới; dù mục tiêu chia sẻ tâm tình, muốn được tư vấn, hỏi ý kiến một luận điểm, đề nghị bình phẩm về nhận định của người khác, xin lời khuyên ’em phải làm sao’,… hay gì gì đi nữa thì tôi cũng đều cố gắng hồi đáp tận tình với thời gian sớm nhất có thể, và dĩ nhiên, không phải nội dung, trường hợp nào cũng đăng tải công khai trên blog để mọi người cùng tham khảo, lắng nghe…

Xin cứ thoải mái bày tỏ yêu cầu vào địa chỉ thư điện tử: tamngatangam@gmail.com. Ngày an lạc.

———————————————————————————————

Ứng xử với người yêu cũ thế nào cho đúng” là chủ đề sẽ đưa ra ở đây. Lời chuyên viên tư vấn cho cảm giác rằng cứ khuyên nhủ thật thiết tha đi kèm với chỉ bày rất cụ thể là công việc chuyên môn coi như thành tựu, ổn thỏa. Một cái gì dễ nảy nòi trong lòng người đọc: ơ, nói thế thì là giả định cái cô nhân vật chính không biết thừa mấy điều cơ chừng đúng đắn như thế à.

Cách giải quyết vấn đề của bạn lúc này là hãy quên mối tình đã qua, đừng bận tâm với chuyện cũ làm gì nữa. Đừng mang tâm trạng thù hận, oán trách hoặc cầu cho anh ta gặp phải những điều không may mắn làm gì. Có vẻ như trong mối quan hệ cũ, bạn đã mất mát quá nhiều? Nếu đúng vậy, hãy nhìn nhận lại bản thân bạn ạ, vì những mất mát đó cũng có một phần do bạn đồng ý để xảy ra mà.

Vì vậy, bạn đừng quay lại với chuyện cũ làm gì nữa, ngoài người con trai đó ra, trên thế giới này còn rất nhiều người xứng đáng với bạn hơn. Quên chuyện cũ, sống vui vẻ với cuộc sống hiện tại, làm tốt công việc của mình. Hãy mở cửa trái tim của mình để chờ đón những tình yêu mới xứng đáng hơn sẽ đến với bạn trong tương lai. Đừng tự giày vò làm khổ mình nữa, cuộc sống chúng ta ngắn ngủi lắm, hãy sẵn sàng đón nhận những niềm vui trên đường đời. Đừng cứ vác mãi bên mình cái túi đau khổ nặng nề làm gì.

Chúc bạn nhanh chóng tìm thấy niềm vui trong cuộc sống.

Nhiều người lầm lạc khi tin rằng thù hận, ghét bỏ là mặt trái ngược, đối lập với tình yêu thương, quý mến; kỳ thực, không phải thế. Đối trái với yêu thương đích thị là vô cảm. Nếu người yêu của cô gái thực sự đã quên cô ta, anh chàng sẽ không hề nỗ lực làm gì để kể lể, thông tin hay quá lăn tăn trước phản ứng của người yêu cũ. Tương tự, nếu thực sự đã quên cậu ấy, cô gái sẽ không quan tâm lắm các lý do; nàng chỉ muốn chàng rời khỏi, biến đi khỏi cuộc đời mình mà thôi.

Nếu cô gái đang hy vọng tình cũ nhận ra rằng cậu ấy làm mình thật khổ sở và khó xử, khả năng cô gái sẽ càng chóng mỏi mệt và thất vọng. Nhân tiện, đáng tiếc thay, người có vẻ thích thể hiện, muốn diễn và dấn thân vào một mối quan hệ gây xung đột thường ít thấu hiểu hoặc động lòng từ bi, thương cảm. Họ hiếm chấp nhận trách nhiệm hành vi bản thân, hàm nghĩa họ chẳng có động cơ cho sự phát triển cá nhân. Do vậy, cậu chàng có thể hối lỗi vì đôi chuyện vài việc song chỉ khi chàng ta tin rằng điều ấy sẽ đem lại cho mình được gì đó. Vậy nên, có thể giải thích cho hành vi của cậu ta khi vẫn còn lượn lờ bên người yêu cũ là chàng còn muốn điều gì đó từ nàng, bất luận đó chỉ là thuần túy sự chú ý, chút chọc tức trêu ngươi, hoặc một sự khởi động lại mối quan hệ đã cắt đứt giữa hai người theo một lối cách khác.

Nếu cô gái muốn thoát hẳn khỏi cậu kia, hãy bắt đầu bằng việc giữ khoảng cách- cả thể lý lẫn cảm xúc- giữa hai người càng có thể càng tốt. Đừng nhận lời hoặc có mặt không cần thiết nơi cậu ta hiện diện. Nếu cô gái buộc phải chia sẻ không gian (do làm cùng cơ quan), hãy đối xử với cậu ấy như với một đồng nghiệp bình thường đúng mực và không quá thân thiện. Nếu cô gái tin là người yêu cũ theo dõi mình thì nên tiến hành các bước nhằm đảm bảo bản thân cảm thấy thoải mái và an toàn; đừng ở một mình bên cạnh chàng ta.

Thời gian trôi qua ít nhiều đã giúp cô gái đủ mạnh mẽ để rời bỏ một mối quan hệ cơ chừng rất khó duy trì tiếp tục hoặc chẳng thể bền vững về sau. Mong cô ấy hãy dùng cùng sức mạnh đó để tiếp tục bước tiếp về phía trước. Người ta thường lặp lại các mẫu hình quan hệ tương tự trừ khi họ phát triển các kỹ năng liên nhân cách lành mạnh và tốt đẹp hơn; vì vậy, hy vọng cô gái nên thực hiện như thế. Duy trì, củng cố chuyện học hành, nâng cao thăng tiến nghề nghiệp. Đặt để các ranh giới đủ cảm thấy ổn thỏa mà không nhất thiết phải bắt cặp với ai khác. Phát hiện xem một mối quan hệ tốt lành trông như nào cho bản thân mình rồi tìm kiếm một người yêu ước ao cùng đạt tới mục tiêu ấy cùng mình. Nếu cô gái làm tất cả các điều vừa nêu, sẽ dễ dàng để đặt hẳn cậu người yêu cũ kia đúng vào nơi cậu chàng đích thị thuộc về: dĩ vãng đã qua của cô ấy.