Categories
Liên kết xã hội

Câu chuyện bị xâm hại thời thơ ấu: niềm đau chôn giấu, bí mật mang theo, và sự trợ giúp chuyên môn (2)

Không có gì kỳ cục với các nạn nhân bị xâm hại tình dục lúc thơ bé khi họ trải qua bất kỳ trải nghiệm đầy sợ hãi và khó chịu nào liên quan đến chuyện tiết lộ. Tự thân việc bị lạm dụng đã là chuyện xâm phạm ranh giới, và tiết lộ, với nạn nhân, cơ chừng giống như sự xâm phạm rốt ráo trở lại vậy. Bố mẹ đúng khi muốn bày tỏ sự nâng đỡ và khuyến khích con em mình xử lý mọi chuyện phù hợp với nhịp điệu phát triển riêng.

Mỗi cộng đồng, quốc gia có các luật tục và quy trình pháp luật khác biệt, với sự lưu ý rõ ràng tiến trình giải quyết thủ phạm cũng như nâng đỡ các nạn nhân. Việc định vị cục bộ cũng khác biệt với niềm coi trọng các quy điều giới hạn và các kiểu dạng hay chi tiết phải được nắm rõ để tạo thành một sự nghi ngờ hữu lý rằng việc lạm dụng thực sự đã xảy ra… Trên hết mọi điều, bố mẹ rất muốn tỏ ra hữu ích cho con cái và nhu cầu của trẻ cảm thấy bản thân an toàn và trong sự kiểm soát của các ranh giới.

Categories
Tương quan toàn cầu

Thiền tập tỉnh thức: câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành

Thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation) giờ không còn quá xa lạ với quảng đại quần chúng Đông Tây.

Thiền tập tỉnh thức là câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành chứ nó không liên quan chi với việc thay đổi thế giới bất công. Nói khác đi, ngay cả tiềm năng to lớn và tác dụng lâm sàng sáng giá thì cần làm rõ một điều rằng tỉnh thức không phải là giải pháp hoàn hảo cho toàn bộ vấn đề của thế giới; nó là một lĩnh vực nghiên cứu đầy hứa hẹn, đi kèm với vài ba chỉ trích rất cần nắm biết.

Ví von, làm tóc thì rốt ráo chỉ liên quan đến tóc, không liên quan chi  đến việc thay đổi thế giới bất công. Chữa lành ung thu chủ yếu thuộc về thuốc men, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công. Bay lên sao Hỏa là chuyện du lịch không gian, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công.

Một mẫu hình dần nổi trội lên ở đây: một điều thì chung quy liên quan điều ấy, không phải là thứ mà nó không thuộc về. Hoàn hảo, đó là sự tiến bộ đích thực.

Có rất nhiều lời giảng dạy, minh họa và nguyên tắc trong đạo Phật thực sự hữu ích để tạo nên sự thay đổi tích cực về mặt xã hội. Đó tuyền chuyện dân chủ; quyết định chịu trách nhiệm tạo nên nhiều tiến trình; lòng từ bi thực tế; sự thịnh vượng vượt qua sự bất bình đẳng; không hoặc chỉ dùng gọi là sự trừng phạt; nhấn mạnh vào giáo dục và trao quyền cá nhân lẫn trung gian; thoát khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử; ý tưởng thậm chí quyền năng nhất là đối tượng hướng tới pháp trị, và v.v…

Tỉnh thức không phải là một trong những điều vừa nêu; nó là sự dạy dỗ cách thức trở nên yên an và chấp nhận.

Tỉnh thức có thể thao tác trong một dãy phức tạp các mối quan hệ với cộng đồng rộng lớn hơn cùng các vấn đề xã hội nảy sinh. Từ toàn bộ tính khả thể, như tác giả bài báo chỉ ra, nó có thể trở thành trừu tượng tách khỏi bất kỳ bối cảnh ý nghĩa nào và được dùng theo các lối kiểu gây hại. Song đó không phải là vấn đề của tỉnh thức, nó là vấn đề của sự thiếu vắng các điều tốt lành khác, đặc biệt là các giá trị đạo đức. Điều ấy lý giải tại sao Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh rằng tỉnh thức, và các thực hành thiền nâng cao khác, diễn ra trên sự đặt để của một nền tảng đạo đức rất tinh tuyền.

Rời bỏ điều đó và áp dụng sai trái, nó trở thành Tỉnh thức Lầm lạc. Vì vậy, có lẽ chúng ta nên dừng đổ lỗi cho tỉnh thức về hiện trạng không thuộc về nó.

Categories
Liên kết xã hội

Câu chuyện bị xâm hại thời thơ ấu: niềm đau chôn giấu, bí mật mang theo, và sự trợ giúp chuyên môn

Những vụ việc cưỡng hiếp cũng như tội ác xâm hại tình dục nói chung thường luôn diễn ra phức tạp và chứa nhiều sắc thái.lắm khi khó tóm bắt đủ đầy, chính xác.

Dạng trả lời phỏng vấn kiểu này khá dễ khiến thiên hạ thêm phần định kiến về chuyên môn tham vấn/ trị liệu tâm lý cũng như quá chừng thứ sinh động liên quan đến câu chuyện đang bàn không ngừng xuất hiện trong thực tế lại bị đơn giản hóa do thiếu vắng nền tảng tiếp cận bài bản.

Việc điều trị tâm lý phải hướng đến chuyện giúp các em coi chuyện bị cưỡng hiếp ấy chỉ là một kỷ niệm buồn, chứ không phải là sự kiện làm thay đổi đời em. Kỷ niệm buồn ấy có thể quên đi. Các em có thể lớn lên, lấy chồng lấy vợ bình thường, nhưng nếu cha mẹ làm không khéo thì vết thương ấy bị khoét rộng ra, làm tổn thương các em nhiều hơn. Câu chuyện sẽ được truyền từ nhà này sang nhà khác, từ người này sang người khác, cứ lan rộng ra thì các em khó có khả năng hàn gắn được vết thương.

Trước hết, có một câu hỏi cần nghiêm túc đặt ra ngay: liệu tôi có thể thoát ra khỏi các ký ức đau buồn và tồi tệ, nói khác đi, lám sao tôi có thể khít khớp bản thân trở lại mà không cần phải đi tham vấn/ trị liệu tâm lý không? Và bằng cách nào tôi phơi mở các ký ức, niềm đau chôn giấu bấy lâu rồi phát hiện thấy điều đích thực từng xảy đến với tôi?

Thực tế, nhiều kỹ thuật được chứng thực đảm bảo độ tin cậy trong việc giải quyết với những nỗi niềm khủng khiếp liên quan đến sang chấn thể lý và cảm xúc. Một trong những phương pháp hiệu quả là tiến hành những gì thôi thúc mãnh liệt phải thực hiện nó bất kể thế nào, tức là, nói ra với ai đó. Khi người ta “kể câu chuyện đời họ” bằng những câu chữ riêng tư, với nhịp điệu đặc thù và chấp nhận lắng nghe thì việc ấy không những cho họ cơ hội thoát ra mà còn là phương tiện giải mẫn cảm chính bản thân họ trước vô vàn nỗi niềm khốn khổ gắn dính với các ký ức đau thương. Tên gọi cho kỹ thuật này là “xử lý nhờ kể ra” và nó dễ biểu tỏ đàng hoàng dưới dạng ai đó ước mượn được một đôi tai không định kiến hoặc làm việc với chuyên gia. Đôi khi, mình phải kể đi kể lại câu chuyện vô số lần, tốt nhất với ai đó mình tin tưởng, nhằm giải quyết thật hữu hiệu tất cả mọi cảm xúc đeo bám để rồi cảm thấy thuyên giảm, buông bỏ được nỗi đớn đau.

Cũng nên khuyến khích người ta bước từng bước phù hợp để duy trì sự tự tin rằng mình có thể vượt qua nỗi đau chấn động. Kỹ thuật này hữu kiệu ngay cả khi không có ai mình tin tưởng hoặc người muốn nghe mình tâm sự. Điều quan trọng là kể câu chuyện và ước muốn thôi thúc nói về cái tên xấu xí cứ cứ nghẹn nơi cổ họng mình bấy lâu. Càng kể câu chuyện và cho phép bản thân thoát ra khỏi cảm xúc kết nối với nó thì mình càng tuần tự giải mẫn cảm với nỗi đau gắn chặt luôn theo cùng.

Liên quan với sự vụ này, cần biết rằng không có lĩnh vực nào của tâm lý bị trở thành đối tượng soi mói cho bằng chủ đề tiết lộ, khởi động lại ký ức kiềm nén bấy lâu.

Ký ức giấu che không phải là trạng thái mất trí nhớ (amnesia): ký ức bị thất lạc do một số hư hỏng các trung tâm ký ức ở não bộ; hơn thế, giấu che ký ức được nhìn nhận như là một dạng chiến lược phân ly nhằm tách rời, không tạo nên kết nối giữa tâm trí ý thức của người ta với điều gì đó quá khủng khiếp hoặc đớn đau nếu lưu giữ, ghi nhớ nó trong đầu.

Một số nghiên cứu cho thấy, các ký ức được “vén màn” không đáng tin cậy thường là loại được diễn ra trong tiến trình trị liệu thông qua khả năng “ám thị, gợi ý” của nhà trị liệu. Vì thế, mình không nhất thiết cần đến trị liệu để chỉ mà phơi tỏ các thứ bị kiềm nén, giấu che. Những gì cần thiết là ở trong bầu không khí cho mình cảm thấy an toàn và tin cậy đủ để kết nối với các cảm xúc và ký ức của bản thân. Mình cũng không nhất thiết cần đi trị liệu để chữa lành hoặc giải quyết với sự sút giảm bất thường tình dục sau này (nếu có). Điều mình cần tính đến là sự thành thật với chính bản thân về bản chất của các mối quan hệ và những gì mình tin tưởng phải tạo ra sự khác biệt đặng làm cho các khía cạnh về mặt tình dục, cảm xúc và thân mật lành mạnh hẳn lên.

Thực tế, nếu thời gian càng lùi xa thì khá khó khăn để phân biệt một ký ức đích thực từng bị giấu che với cái giờ đây có thể được phục hồi từ ký ức giả tạo… Rốt ráo ra, tuy thế, tham vấn/ trị liệu tâm lý vẫn có thể là ý tưởng tốt, đặc biệt khi làm việc với một chuyên gia trong lĩnh vực mình vướng mắc cần giải quyết; một nhà trị liệu được đào tạo bài bản có thể giúp mình xử lý để thoát ra khỏi những ám ảnh theo cùng năm tháng.

Những người sống sót sau khi bị cưỡng hiếp, nhất là trẻ em, không ngừng tìm cách để đối phó với cơ thể họ, và chuyện tình dục sau đó thường là khoảng trống mù mờ về thông tin và dịch vụ hỗ trợ. Xét về mặt giới thì hầu như tất cả nữ giới từng bị cưỡng hiếp đều thổ lộ về ảnh hưởng họ phải chịu đựng liên quan đến cơ thể họ và chuyện quan hệ tình dục sau đó. Những từ như “cô đơn”, “lạc lõng”, “xa lánh”, “bối rối” và “cách biệt” cứ lặp đi lặp lại sau các cuộc trao đổi chứng tỏ điều ấy.

Đây cũng là lúc cần hiểu biết về những sự khác biệt giữa bị cưỡng hiếp hồi thơ ấu và thời đã lớn.

Thường người ta có xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nguyên do khiến đối tượng bị cưỡng hiếp (trẻ trung, hấp dẫn, ăn mặc hở hang, trông khêu gợi, uống bia rượu ngà ngà, ở một nơi kín đáo, không tuyên bố rõ ràng hoặc bày tỏ sự tán đồng, v.v…) Tuy thế, rất khó khăn để đổ tội cho một đứa trẻ, nhất là khi cháu còn bé tí, về chuyện cưỡng hiếp vì chúng ta thường hay nhìn nhận trẻ em không phải là đối tượng quan hệ tình dục, hoặc không có đủ khả năng kiểm soát trước một số tình huống, điều kiện nhất định. Có vẻ loạt bài báo trên tờ Thanh Niên tiếp tục minh họa cho cảm giác giận dữ của người đời trước chuyện một đứa bé bị xâm hại, lạm dụng. Kẻ lạm dụng trẻ em dù dưới bất kỳ hình thức và kiểu dạng ra sao thì thảy đều bị đối xử tồi tệ ngay cả trong trại giam vì các phạm nhân trong tù cũng không ưa thích hoặc chấp nhận họ.

Có một số điều khác biệt có thể chỉ ra giữa trẻ em và người lớn. Thứ nhất, cơ thể trẻ em nhỏ bé hơn nên thường dễ bị tàn hại lớn hơn về mặt thể lý. Thứ hai, trẻ ít có trải nghiệm về thế giới và cuộc đời nên khả năng chống đỡ của chúng thấp hơn hẳn người trưởng thành. Ví dụ, nếu mình biết đa phần đàn ông là những gã tử tế và lịch sự thì mình sẽ khó mà kết luận đấy là tất cả đàn ông đều thô lỗ và bạo lực. Thứ ba, các xã hội nói chung thường tin rằng người lớn có nhiệm vụ bảo vệ trẻ em, không được làm hại chúng; do đó, cảm giác bị phản bội khi biết trẻ em bị cưỡng hiếp hiển nhiên là lớn lên rất nhiều. Cuối cùng, trẻ em không có đủ cơ hội để phát triển các kỹ năng đối phó, do đó, năng lực giải quyết các cảm xúc bản thân của chúng thấp hơn so với người lớn. Tuy thế, dẫu các khác biệt và sự kiện mọi người muốn bảo vệ trẻ em, không nhất thiết rút ra kết luận logic rằng người lớn sẽ tự vượt qua được hoặc nên biết cách để bảo vệ chính bản thân mình.

(còn tiếp, tiệp dịp viết sau)

Categories
Tương quan toàn cầu

Ngu ngơ đi tìm bằng chứng cho Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner

Cùng với phong trào nhà nhà, người người hướng về Tây phương đặng mong cầu chỉ bày và vươn tới chuẩn mực, quá nhiều các phương pháp lẫn cách tiếp cận trên đủ các mặt trận, lĩnh vực được giới thiệu, quảng bá, chào bán,… Giờ các bậc phụ huynh hết lòng hết sức vì tương lai con em chắc hiếm ai chưa từng một lần nghe nói tới nhiều kiểu dạng trí thông minh ở bé.

Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner (Multiple intelligences, MI) khuyến cáo thiên hạ cải thiện không ngừng việc học hỏi: chúng ta biết một số người học hỏi thông qua tiến hành công việc, số khác lại nhờ chuyện đọc sách. v.v… Do vậy, tin rằng người đời có nhiều kiểu thông minh khác nhau, rằng những thông minh của họ như thế thật độc sáng, và rất nên đồng thuận cùng hiện tượng có nhiều phương cách học tập ở trên giảng đường và lớp học.

Nếu giờ tiếp cận vấn đề từ việc tìm kiếm bằng chứng xác thực, liệu có chăng các dạng kiểu thông minh khác nhau như MI mà Gardner xiển dương?

Lý thuyết MI lần đầu tiên được Gardner trình bày năm 1983 trong cuốn sách Frames of Mind, dù về sau thì MI trải qua nhiều chỉnh sửa, thay đổi. Ngay từ 1983, Gardner đưa ra sự tồn tại của 7 loại trí thông minh:

1. Ngôn ngữ (linguistic). 2. Âm nhạc (musical). 3. Logic- toán (logical-mathematical). 4. Không gian (spatial). 5. Cơ thể- vận động (bodily-kinesthetic). 6. Cảm nhận nội tâm (intrapersonal sense of self). 7. Lên nhân cách (interpersonal)

Trong cuốn Intelligence Reframed xuất bản sau đó 16 năm, tác giả Garner thêm một dạng khác là ‘trí thông minh tự nhiên’ (naturalistic intelligence) nhằm trỏ sự thấu cảm đối với các ngoại vật tự nhiên, và ông còn gợi ý một dạng khác: ‘trí thông minh hiện sinh’ (existential intelligence), được xem là khả năng ngập chìm tính tâm linh trong tác phẩm nghệ thuật.

Với phiên bản gần nhất năm 2004, Gardner đề nghị thêm hai dạng nữa là ‘trí thông minh rọi sáng tâm trí’ (mental searchlight intelligence) và “trí thông minh laser (laser intelligence). Gardner tuyên bố, mỗi loại trí thông minh chứa đựng nhiều tiểu dạng thông minh, và mỗi loại thông minh được kiểm soát bởi các vùng não bộ khác nhau, và ông cho biết các khoa học gia Thần kinh “đang trên tiến trình hướng đích về bản chất của các thao tác căn bản trong mỗi dạng trí thông minh“.

Lý thuyết MI của Gardner thu hút sự chú ý của giới chuyên môn, và cơ chừng MI thiếu vắng bằng chứng xác thực. Theo tổng thuật được Waterhouse thực hiện năm 2006, không thấy nêu một nghiên cứu nào hỗ trợ cho độ hiệu lực của MI; Gardner đã cố gắng đáp trả các chỉ trích này từ 2004 như sau:

Lý thuyết MI được ít người say mê trong số các nhà đo nghiệm tâm lý hoăc những đối tượng dựa trên nền tảng tâm lý học khác là bởi vì họ yêu cầu: “đo nghiệm tâm lý hoặc bằng chứng thực nghiệm phải cho phép người ta chứng tỏ sự hiện hữu của nhiều trí thông minh khác nhau”.

Ngay từ 2004, tác giả Chen (được Waterhouse dẫn trong tổng thuật nêu trên) lại thử bênh vực cho sự kiện MI thiếu sự hỗ trợ của thực nghiệm thông qua lời tuyên bố:

“Một lý thuyết tất yếu có giá trị bởi vì nó được hỗ trợ bởi các kết quả của các test thực nghiệm” và “trí thông minh không phải thứ hữu hình để mà có thể đo lường được”.

Đi sâu hơn, tác giả Chen đã chỉ ra 5 điểm gây tranh cãi cụ thể với lý thuyết MI:

  1. MI không có đủ các bằng chứng thực nghiệm thiết yếu
  2. Trí thông minh không phải là đối tượng hữu hình, có thể sờ mó được
  3. MI là các cấu trúc mới đòi hỏi các công cụ đo lường mới
  4. Lý thuyết MI xác định độ hiệu lực của nó thông qua các ứng dụng tại lớp học
  5. Lý thuyết MI mô tả sơ lược kỹ năng nhận thức tốt hơn so với các tiểu thang đo IQ.

Nói tóm, theo cách lập luận của Chen thì có vẻ không có điểm nào  làm cho nhu cầu xác nhận lý thuyết MI là ít cần thiết cả. Dường như MI duy trì nó “đích thị là một lý thuyết” không thể công nhận là có giá trị được (validated), trừ khi các thành phần của lý thuyết được định vị, thiết lập rõ ràng. Khi Gardner tuyên bố rằng ông sẽ không định rõ các thành phần đó, lý thuyết MI khó nghiêng theo hướng đạt độ hiệu lực mong muốn.

Tác giả Chen (2004) cho rằng dẫu lý thuyết MI đạt độ hiệu lực thông qua việc ứng dụng nó, tuy thế, điều ấy không đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu với dữ liệu có cơ sở chắc chắn, vì dạng thức ứng dụng kiểu vậy không cung cấp dữ liệu đáng tin cậy. Sau rốt, không có nghiên cứu nào chứng thực rằng năng lực nhận thức được MI mô tả sơ lược tốt hơn khi dùng các tiểu thang đo IQ cả.

Categories
Ngôn ngữ, tư duy và văn hóa nhân loại

Học hỏi từ trải nghiệm: nói lại cho rõ

Cách tốt nhất để học hỏi là từ trải nghiệm, song tự thân trải nghiệm không thôi thì không đảm bảo toàn bộ câu chuyện. Học hỏi không thuần túy chỉ là chuyện giáo dục hoặc trải nghiệm; chúng ta cần cả khuyến khích sự phát triển cá nhân nữa.

Có thể rất khó nhằn để học hỏi từ trải nghiệm. Cơ chừng đe dọa chúng ta, trải nghiệm dễ khiến ta thấy yếu ớt hoặc tự nghi ngờ bản thân, song chính nó lại cũng làm ta mạnh mẽ hơn lên. Thông thường, những gì trải nghiệm đem đến là định dạng con người đang là của chúng ta.

Tôi tin, đa phần chúng ta thấy rằng hầu hết trải nghiệm cho mình một cơ hội để phát triển cá nhân, song để tận dụng lợi thế ấy, chúng ta cần suy nghĩ về cách thức bằng cách nào trải nghiệm có thể tạo điều kiện cho mình học hỏi.

Tỷ dụ, một người đàn ông gặp khó khăn lớn trong công việc. Anh ta bắt đầu nghĩ bản thân là vấn đề. Các đồng nghiệp truyền gửi thông tin ngấm ngầm rằng anh  ta chắc đang phải “rất khổ sở, mất ăn mất ngủ”. Anh ta tin họ để rồi tự mình đổ tội. vơ mọi thứ vào mình. Anh ta không tìm thấy lối thoát và vì thế, rốt cuộc, xin nghỉ việc.

Làm thế nào trải nghiệm làm dễ dàng và thuận lợi hơn cho việc học hỏi? Thay vì nghỉ việc, anh ta có thể suy tư: “Những nguyên nhân nào tạo nên các khó khăn này, và làm cách nào tôi/ chúng ta có thể thay đổi hoặc cải thiện được tình hình đây?”. Cơ chừng, anh ta đã đúng khi ra quyết định nghỉ việc. Cơ chừng, anh ta cho việc bỏ đi là giải pháp dễ hơn nhiều. Quan điểm cá nhân ở đây, chúng ta hay để nhỡ, đánh mất rất nhiều cơ hội để học hỏi, đơn giản chỉ bởi vì chúng ta quên phản tư:

Học hỏi từ trải nghiệm là một trong những phương tiện căn cốt và tự nhiên nhất tương hợp với tất thảy mọi người… Tất cả điều nó đòi hỏi chỉ là phản tư và suy nghĩ, tự mình thôi hoặc với sự cộng tác, hợp sức của người khác.

Theo lý thuyết học hỏi từ trải nghiệm, chúng ta hiểu biết thông qua vòng tròn học hỏi. Trải nghiệm của chúng ta phục vụ nền tảng cho việc phản tư (reflelctions). Từ những trầm mặc suy nghĩ đó, chúng ta phát triển các ý tưởng về thế giới. Rồi chúng ta kiểm tra, trắc nghiệm xem chúng có đích thực là sự thật, và rốt ráo chúng ta có một trải nghiệm mới mẻ. Vòng tròn trải nghiệm không nhất thiết khởi từ trải nghiệm, chẳng hạn, chúng ta có thể nảy sinh ý tưởng mình muốn test thôi:

Suy nghĩ… là nỗ lực được dự tính trước nhằm khám phá những nối kết đặc thù, cụ thể giữa điều gì đó chúng ta thực hiện với các hậu quả tác thành, đến độ cả hai thứ ấy cứ thế tiếp diễn không ngừng (Dewey, 1916).

Có thể ít nhiều tán đồng ngay rằng “học hỏi là phương tiện nhờ thế chúng ta đạt được không chỉ kiến thức và kỹ năng mà còn cả giá trị, thái độ và phản ứng mang tính xúc cảm nữa” (p.4).

Theo đó, học hỏi là sự thay đổi dài hạn trong sự biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí như kết quả của trải nghiệm. Từ định nghĩa, nó gồm ba phần: 1) học hỏi là sự thay đổi dài hạn: nếu nó không phải là việc sử dụng thông tin ngắn ngủi, thoáng qua như kiểu ghi nhớ số điện thoại đủ để gọi cho ai đó rồi quên đi thì rõ ràng nó không cần phải lưu tâm mãi mãi. 2) học hỏi là những biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí vì thế nó cơ chừng đặt để nền tảng ở não bộ. 3) học hỏi là một sự thay đổi như kết quả của trải nghiệm, hơn là tựu thành của sự trưởng thành về mặt sinh lý, trạng thái mỏi mệt, dùng bia rượu ma túy, đang cơn mắc bệnh tâm thần hoặc mất trí nhớ.

Chúng ta cần phản tư trải nghiệm bản thân để khuyến khích việc học hỏi suốt đời và phát triển cá nhân, do vậy, trải nghiệm tự thân nó không thôi chưa đủ:

Khi chúng ta kinh qua một trải nghiệm, điều ấy không luôn luôn dẫn tới những hiểu biết và học hỏi mới mẻ. Ví dụ, nếu trải nghiệm chỉ phục vụ nhằm xác nhận một vài niềm tin mình vốn quen nắm giữ thì nó sẽ đóng vai trò diễn giải đặng hỗ trợ cho nhận thức nguyên trạng bấy lâu mà thôi (tham khảo lý thuyết nhận thức của Piaget), và nó ít chú ý tới sự đáng giá của trải nghiệm. Nếu chúng ta không chú tâm vào thì cơ hội học hỏi mới mẻ sẽ không hề xảy ra (pp. 15-20).

Categories
Vài lời...

Nghiệp chướng

Mức ngu dốt nhất định không ít song tôi đoán, chắc sẽ đau đớn hơn rất nhiều khi chúng ta cứ nhiệt tình hừng hực, mải mê tìm kiếm bằng sự tự tin ghê gớm trộn lẫn thái độ chăm chỉ vô bờ bến để rồi háo hức khoe khoang thành tựu sau cùng; tất thảy, kỳ cục thay, nảy sinh dựa trên cái giả thuyết chung chung giời ơi, chẳng có mấy ý nghĩa gì cả đi kèm với việc xây dựng tòa nhà hoành tráng mà cóc thèm soát xét công cụ và kiến tạo cấu trúc dữ liệu nghiên cứu một cách đàng hoàng.

Categories
Liên kết xã hội

Liệu pháp với người đang mắc Rối loạn Nhân cách dạng Tâm thần phân liệt

Mục tiêu trị liệu với người đang mắc Rối loạn Nhân cách dạng Tâm thần phân liệt (SPD) sẽ khởi sự bằng việc cân nhắc chuyện thiết lập niềm tin tưởng đặc thù trên tiến trình đạt được lời thỉnh cầu trao đổi, đón nhận và cho phép đưa ra lời thảo luận, bộc lộ và đặt các câu hỏi. Các mục tiêu cảm xúc sẽ góp phần nâng lên sự chịu đựng và dung thứ tình cảm lẫn cảm xúc của thân chủ.

Có thể hiểu, SPD là trạng thái mãn tính và lan tỏa đặc trưng bởi các mẫu hình hay gây gổ trong suy tư, hành vi và chức năng. Kiểu dạng rối loạn nhân cách này được cho là khá hiếm hoi và thường ảnh hưởng ở đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Các cá nhân mắc SPD cũng gặp nguy cơ trầm cảm. Thuật ngữ “chứng loạn tinh thần” (schizoid) dùng mô tả người có khuynh hướng vào trong lòng mình và thoát khỏi thế giới bên ngoài.

Nhân cách dạng tâm thần phân liệt (SPD) thể hiện hướng vào trong quá mức với một khung tham chiếu ghê gớm cho việc nội quan cũng như kiếm tìm sự cô độc. Các cá nhân mắc rối loạn này dễ tách biệt, tạo khoảng cách và vô cảm với các quan hệ xã hội hoặc gắn bó thân mật. Họ là kẻ đơn côi thích hoạt động cô lẻ và ít biểu lộ cảm xúc. Dù tên của rối loạn nghe như dạng tâm thần phân liệt với vài ba triệu chứng tương tự, điều quan trọng cần nhớ rằng rối loạn nhân cách dạng tâm thần phân liệt không giống với tâm thần phân liệt. Nhiều cá nhân mắc rối loạn này hoạt động chức năng tốt và tiếp xúc với thực tế trong khi người mắc tâm thần phân liệt thì phân tách khỏi thực tế. SPD cũng giông giống với rối loạn nhân cách lảng tránh (APD), tuy nhiên điểm khác biệt ở chỗ là người lảng tránh thì có ước ao tham gia xã hội trong khi người dang SPD thì lại ưa thích cô độc và vô cảm đối với sự chấp nhận hoặc chối bỏ của tha nhân.

Về mặt hành vi, mục tiêu làm việc với người mắc SPD là dạy các kỹ năng xã hội và tính xác quyết, củng cố thêm các gắn bó với người khác, tăng cường hòa nhập cộng đồng và làm giảm thiểu các ứng xử tách biệt, thu mình. Về mặt nhận thức, mục tiêu thông qua sự phân biệt giữa các suy tư hợp lý và rối loạn, để thân chủ học hỏi cách sống với sự mơ hồ lần lữa. Nhà trị liệu nên nhắm đến chuyện điều chỉnh các suy tư về bản thân và tha nhân, và dạy các cơ chế phòng vệ mà có thể dùng thật ý thức hơn là các cơ chế trục trặc tỷ như cơ chế chối bỏ và phóng chiếu làm duy trì rối loạn.

Kiến tạo một môi trường an toàn

Điều nhà trị liệu cần nhớ là các cá nhân mắc rối loạn này dễ nảy sinh mối quan tâm về năng lực của họ trong việc đối phó với trạng thái gần gũi và thân mật với nhà trị liệu. Hậu quả, nhà trị liệu phải nhìn ra sự tiếp xúc giữa mình với thân chủ là thành tố thiết yếu sống động của trị liệu. Xác lập một mối quan hệ thấu cảm với thân chủ nhằm đảm bảo một môi trường quan hệ an toàn là điều cốt tủy; một môi trường như thế cũng cần chú ý không phô trương bởi sẽ khiến cái tôi dễ bị tổn thương của thân chủ trỗi lên trở lại.

Cũng quan trọng với nhà trị liệu là gắng đạt tới một sự thấu hiểu cách thức và lý do tại sao thân chủ đi vào “ẩn náu, trốn tránh”. Muốn được thế, nhà trị liệu phải cẩn trọng và ý thức rằng các nỗ lực tiếp xúc và truyền thông dính sâu xa với quan hệ có thể được thân chủ trải nghiệm như một sự xâm phạm, lấn vào và khích động họ thu mình, xa cách.

Sự dàn xếp, thỏa hiệp mang đặc trưng tâm thần phân liệt là nỗ lực của cá nhân đặng tạo nên sự an toàn khỏi những người khác thông qua trạng thái cô lập trong khi kiểm soát độ căng giữa sự cô lập và trạng thái bị mắc bẫy hoặc bị nô lệ hóa như hậu quả nảy sinh của sự cô lập như thế. Nhà trị liệu cần biểu tỏ một sự thấu hiểu về nghịch lý mang tính tâm thần phân liệt vốn là kết quả từ sự thỏa hiệp ấy và đưa ra một diễn đạt hòa hợp. Trị liệu rối loạn này thường sẽ chậm chạp với những bước tiến bộ nhỏ nhặt; bởi vì chiều dài thời gian và nhịp bước rề rà đó, thường không khó thấy các nhà trị liệu quá dễ giảm sút mối quan tâm.

Mặt khác, có thể giá trị ở mối quan hệ trị liệu vượt trên cả sự ý thức nhà trị liệu nhân ra sẽ đem lại lợi lạc ở một số chiều cạnh. Tỷ dụ, thân chủ có thể yêu cầu nhà trị liệu cho biết cách thức họ đang làm việc cùng nhau. Trong khi đây vốn là câu hỏi tương tác đơn giản, nó dễ gợi ý rằng thân chủ đang hợp trội trong một mối quan hệ và đang thiết lập một sự gắn bó với nhà trị liệu và nhà tri liệu có thể không hề nhận ra điều ấy. Nhà trị liệu phải chú tâm dõi theo mối quan hệ trị liệu, ghi chú về nó và chịu trách nhiệm một cách có ý thức cũng như thật thích hợp đối với cái tôi dễ bị tổn thương của các thân chủ khi nó khởi lên.

Làm việc với các cơ chế phòng vệ

Khi làm việc với vấn đề phòng vệ thể hiện tính chất tâm thần phân liệt, mục tiêu nhà trị liệu nhắm tới là khám phá chức năng của tiến trinh phòng vệ và tiến bộ thông qua các cơ chể chứa nhiều yếu tố bị đè nén và giấu che của cái tôi dễ bị tổn thương. Các phòng vệ được nhìn nhận như mẫu hình của hành vi hoặc suy tư mà người ta dùng để bảo bọc bản thân khỏi nỗi đau cảm xúc hoặc khó chịu khởi từ các tình huống đời sống hiện tại vốn thường liên quan sâu xa với ký ức thời thơ ấu đầy đau đớn. Các phòng vệ này giúp cái tôi dễ bị tổn thương đè nén các cảm xúc và nhu cầu kết nối, quan hệ.

Cùng với sự kiềm nén, các phòng vệ khác như lảng tránh, thu mình, trơ lỳ về mặt cảm xúc và cách biệt nên được xử lý bằng đáp ứng trị liệu phù hợp là xem xét việc định danh, độ hiệu lực, và bình thường hóa các phòng vệ đồng thời thấu hiểu chức năng của chúng. Khi các phòng vệ này cho thân chủ cảm thấy ổn thỏa và được dùng như cơ chế đối phó, cần lưu ý để đảm bảo cả thân chủ lẫn nhà trị liệu có thể giải quyết cảm xúc ẩn bên dưới. Mục tiêu của nhà trị liệu là tăng cường thêm sự khoan thứ với cảm xúc và việc biểu đạt các cảm xúc.

Một số hoạt động mà nhà trị liệu có thể tiến hành:

1. Giúp thân chủ bộc lộ cảm xúc với người khác để thân chủ cảm thấy mình có khả năng kết nối với tha nhân

Ví dụ, nhà trị liệu có thể nói: Vậy là B, con chó nhà anh, không sống qua cuộc phẫu thuật được, và thật buồn là nó chết rồi. Hiện anh cảm thấy như thế nào về chuyện đó?

Thân chủ: Về điều gì kia?

Nhà trị liệu: Về cái chết của con chó B. nhà anh đó. Tôi đoán là anh hẳn cảm thấy buồn.

Thân chủ: Tôi cho rằng thế, tôi nghĩ thế.

Nhà trị liệu: Thế còn T. con trai anh, cậu bé cảm thấy như thế nào về cái chết của B.?

Thông qua việc khuyến khích tiến trình học hỏi xã hội, thân chủ sẽ bắt đầu nhận ra và thấu hiểu các cảm xúc khác nhau ở người khác cùng lúc với việc họ có thể mô hình bắt chước, việc này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực tri nhận sự thân mật, gần gũi và trao đổi qua lại ở thân chủ.

2. Các bài tập phản ánh

Hoạt động này nhằm khuyến khích thân chủ phản ánh một điều tình cờ xảy đến trong đời họ mang tiềm năng đánh thức một cảm xúc. Thân chủ nên được động viên nói về các cảm xúc của họ và cảm xúc của những người khác khi thân chủ đã hiểu và phản ánh sự kiện liên quan. Thân chủ cũng được khuyến khích ghi lại nhật ký phản ánh những suy tư và cảm xúc liên quan đến sự vụ hàng ngày; bài tập này giúp thân chủ nhận ra các cảm xúc của riêng họ rồi biểu đạt chúng.

Categories
Vài lời...

Từ ái, thương yêu bản thân khi cuộc đời là khổ ải

Cảm thấy nhiều yêu thương, từ ái (compassion) cho người khác âu chắc là điều ai cũng thầm mong ước và khát khao ban tặng thật nồng nhiệt, nhất là khi tháng năm ở đời gây tạo cảm giác đớn đau, khổ ải.

Từ bi với chính mình bao gồm sự thấu hiểu rằng niềm đau nổi khổ và thất bại não nề là phần tất yếu trong trạng thái sống của nhân loại, và tất thảy mọi người đều đáng xót thương, yêu quý. Khái niệm từ bi với chính mình có nền tảng từ triết học Phật giáo.

Kristin Neff (2003) nhấn mạnh:

… Từ bi thường được khái niệm hóa nhằm cốt để chỉ sự từ bi dành cho những người khác, song trong tâm lý học Phật giáo, cảm thấy lòng từ bi với bản thân thiết yếu không kém gì lòng từ bi dành cho tha nhân (p. 224).

Ý tưởng về lòng từ bi với chính mình do đó cho thấy, chúng ta nên bày tỏ lòng từ bi đối với bản thân cũng như khi bày tỏ lòng từ bi với người khác:

Lòng từ bi liên quan với chuyện dành cho những người khác sự kiên nhẫn, tử tế và hiểu biết không đánh giá, nhận ra rằng con người thảy đều bất toàn và dễ gây lầm lỗi (p. 224).

Lòng từ bi với chính mình giúp thiên hạ thấu biết và nhận thấy những giới hạn của bản thân; giúp họ tiếp chạm sâu xa với con người mình. Tác giả Neff xác định có ba thành tố của lòng từ bi với chính mình:

1. Lòng tử tế

Đối xử tử tế với chính mình thuộc về sự hiểu biết rằng bất toàn và thất bại là những phần hiển nhiên ở đời. Nó thuộc dạng tử tế với chính mình khi đương đầu với vô vàn khó khăn.

Mơ mộng hoặc lý tưởng không phải luôn trở thành sự thật; thay cho sự hụt hẫng và thất vọng vì điều ấy, mình nên chấp nhận thực tế. Những lý tưởng là là những lý tưởng vì một lý do nào đó, phải vậy không? Chúng ta không nên tiêu toàn bộ thời gian sống để nghĩ ngợi mọi thứ mình muốn sở hữu mà nên thưởng thức những gì đã có sẵn đây rồi.

2. Sẻ chia tình nhân loại

Chúng ta quen nghĩ mình trải nghiệm nhiều khó khăn, khổ sở hơn biết bao kẻ khác, song kỳ thực, tất thảy nhân loại đều hiểu nhiên dễ bị tổn thương và bất toàn.

Chúng ta nên hiểu rằng mình phụ thuộc biết bao người, và những tương tác với tha nhân tạo lập nên con người mình. Tỷ dụ, các cảm xúc, suy tư và hành vi ứng xử của chúng ta chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tó bên ngoài như văn hóa, lịch sử, và di truyền, v.v…

Với lập luận ấy, chúng ta nên bớt đi việc đánh giá bản thân. Chúng ta ít có khả năng kiểm soát quá nhiều khía cạnh trong đời sống, và mình nên hiểu thấu cũng như nhận thấy điểm chung mà trải nghiệm nhân loại sẻ chia.

3. Tỉnh thức

Chúng ta không nên định dạng bản thân mình với các suy tư và cảm xúc tiêu cực; thay vì thế, nên cố gắng tự ý thức nhiều ơn, ví dụ, nhìn thấy tình huống của bản thân trong một viễn tượng rộng lớn.

Trạng thái tỉnh thức (mindfulness) thuộc về sự quan sát không ngừng nghỉ các biểu hiện của tâm trí mà không cố gắng để đè nén hoặc chối bỏ chúng; điều này mang nghĩa rằng chúng ta tiếp cận với các cảm xúc mà chẳng hề đánh giá và học cách chấp nhận.