J. Soi (39): Tình đời gây cảm hứng thường xuyên

Câu chuyện tác quyền biểu diễn nhạc Trịnh liên quan đến ca sĩ Khánh Ly e sẽ khiến thiên hạ nhận ra sự vụ ảnh hưởng chẳng hề đơn giản, và mức độ hâm mộ lần nữa, dẫu biểu hiện như nào thì thảy đều có điểm chung ít nhiều là đánh thức, gây cảm hứng cho chính bản thân người trong cuộc.

Hôm nay, kỷ niệm ngày vang lên tuyên ngôn sấm truyền “I have a dream“.

Với những ai say mê phấn khích và cảm hứng, tôi đoán đó là kiểu người của đam mê. và đa phần trong đời, người ta không chỉ kiếm tìm mà còn trở thành đối tượng gây được cảm hứng. Thử nghĩ về rất nhiều khoảnh khắc “huyền thoại” mà sản phẩm tạo cảm hứng của ai đó dựng lên một ấn tượng thật sâu xa và miên man trong lòng ta, khiến bản thân cảm thấy nối kết điều gì đích thực quyền lực dù khó gọi tên rõ ràng hay định nghĩa thật chuẩn xác, rạch ròi. Và chắc chắn cũng có những lúc, với nỗ lực riêng có tạo cảm hứng với tha nhân, người ta cảm nhận mối kết nối tương tự.

Cảm hứng là gì, tuy chẳng dễ dàng biểu tỏ song chúng mình có thể chấp nhận vài ba cái nhìn phổ quát:

  • Tâm trí lâng lâng đối với hoạt động hoặc sự sáng tạo đặc biệt, bất thường
  • Hoàn thành sản phẩm hoặc kết quả của nỗ lực và suy tư mang tính sáng tạo
  • Một sự bùng nổ đột ngột của thấu hiểu xảy ra như thành phần cốt yếu cho tiến trình giải quyết vấn đề
  • Ảnh hưởng của một nguồn huyền thoại đặc biệt hoặc trạng thái hiện diện thần thánh trong tâm trí con người (kiểu ‘mặc khải’ trong các bản văn tôn giáo)
  • Trạng thái ngây ngất hoặc khiến người khác ngất ngay với một hành động hoặc cảm xúc đặc thù
  • Hành động hít vào; giát kéo lây lan trong không khí (đối lập với việc thở hắt hoặc hơi bốc ra)

Tất cả những cố gắng xác lập này chạm vào được một số khía cạnh của nỗi niềm cảm hứng, dù kỳ tình thì rất khó nắm bắt thấu đáo. Cơ chừng, một trong những điểm tương tự nhất của các định nghĩa là sự kiện nó bao hàm trong khái niệm của việc “nắm lấy, dụ vào’ điều gì đó. Và để gây được cảm hứng, chúng ta phải luôn luôn cởi mở và dễ tiếp thu (sẵn sàng để ‘nắm lấy, dụ vào’) các nguồn lực sáng tạo có thể truyền dẫn và tạo ảnh hưởng với chúng ta.

Bất kể đang đọc sách, xem phim, nghe nhạc hoặc lướt qua một phòng triển lãm tranh, người ta luôn tìm kiếm cảm hứng mới. Và khi họ viết lách, sáng tác, hát hò, hoặc dấn thân vào bất kỳ lĩnh vực sáng tạo khác thì luôn luôn họ không ngừng kiếm tìm cách để gây tạo cảm hứng với những kẻ khác.

Chắc chắn với một số người, cảm hứng là điều gì sâu rộng hơn là chỉ mỗi khía cạnh ‘vào’ của việc hít thở vậy; đích thị, nó như là tự thân hơi thở, vốn tuyệt đối căn cốt để đảm bảo sống còn.

E là sống một cuộc đời không cảm hứng tựa như không đích thị sống gì cả.

Não trạng của bạn như nào?

Mọi sinh thể đều có tiềm năng lớn lên và triển nở, song con người không hoàn toàn học hỏi để tựu thành được điều ấy.

Với kẻ có não trạng bất động thì họ nhìn các năng lực của mình như thực thể cố định. Họ thường cảm nhận về sự thất bại của bản thân như hậu quả của những năng lực thiếu hiệu quả để thực hiện tốt đẹp mọi sự. Họ diễn giải và nghĩ hiểu về trải nghiệm thông qua các kiểu dạng gọi là quy cho.

Người mang não trạng cố định có kiểu dạng của sự học hỏi vô vọng: họ quy thành công nhờ các yếu tố bên ngoài, không cho mình có thể gây ảnh hưởng, và nhìn thất bại như sự thiếu hụt của bản thân. Họ không hề ý thức rằng các thất bại thường là hệ quả của nỗ lực chưa tới cùng.

Với người có não trạng triển nở, các năng lực được xem như phát triển không ngừng. Họ tin mình có thể cải thiện bản thân nhờ làm việc chăm chỉ. Họ biết các mục tiêu dễ đạt được với sự nỗ lực đúng mức, và nỗ lực là chuyện thưởng phạt. Họ quy thành công vào các yếu tố nội tại như các năng lực riêng có và họ tin mình có quyền lực gây ảnh hưởng.

Người mang não trạng triển nở lại theo các dạng quy cho hướng tới việc nắm vững, tỷ dụ: “Tôi biết mình có thể đạt được mục tiêu này với sự nỗ lực đúng mức”. Như thế, người ta tin mục tiêu nằm trong vùng làm chủ của họ. Người ấy cũng hay quy cho việc thất bại hoặc kết quả tiêu cực là do chưa đủ nỗ lực thích đáng.

Thiên hạ có thể phát triển một não trạng cố định hoặc não trạng triển nở; điều ấy phụ thuộc vào cách thức họ học hỏi khi nhìn nhận mình và các năng lực bản thân. Họ có thể thay đổi hoặc xem xét lại các não trạng khi những trải nghiệm học hỏi mới mẻ xảy đến. Từ thuở bé tí, trẻ nhỏ bắt đầu khởi sự phát triển não trạng riêng, khi chúng trải nghiệm cách chúng tác động lên thế giới và lối những người khác đáp ứng chúng.

Trẻ em có thể nội tâm hóa các kỳ vọng của bố mẹ và thầy cô giáo. Những mong đợi của người khác đóng vai trò như những tiên đoán tự diễn biến đến độ chúng ta nỗ lực hoàn thành các kỳ vọng ấy. Chẳng hạn, nếu bố mẹ mong đợi và nhìn nhận năng lực của con cái là không ổn thỏa thì rồi đứa trẻ có thể cũng tưởng nghĩ tương tự.

Sự ca tụng, tán dương cũng phụ thuộc vào sự phát triển não trạng. Bất chấp các niềm tin thông thường cho  ca tụng năng lực đủ sức thúc đẩy người ta, nghiên cứu cho thấy lời khen ngợi trẻ vì sự nỗ lực, gắng sức thúc đẩy trẻ nhiều hơn là khen ngợi nó vì năng lực. Nếu người ta tán tụng vì năng lực, chúng sẽ ít bày tỏ sự kiên trì bền chí, thực hiện nhiệm vụ với ít niềm vui thú hoặc vắng bóng động cơ, chúng giảm thiểu phong độ và quy kết lắm tiêu cực nhiều hơn.

Theo tác giả Carol Dweck, nếu người ta có não trạng cố định, họ hay nảy sinh ngờ vực chính mình. Họ nhìn các năng lực bản thân như một thực thể cố định và do vậy, ghi nhận các thất bại như vấn đề của sự thiếu hụt từ cá nhân mình. Quá dễ tưởng tượng sự quy kết vậy gây nên sự căng thẳng đến thế nào. Một não trạng cố định có thể khiến người ta nhanh chóng bỏ cuộc, bởi vì họ không hề nhận thấy rằng thành công là chuyện nỗ lực đúng mức.

Người có não trạng cố định hiếm khi thách thức bản thân hoặc thử kiếm tìm các giải pháp mới cho một vấn đề, bởi vì họ e ngại thất bại hoặc thấy mình sai. Đừng quên, nếu họ sai, họ chỉ đổ tội là do chính mình thôi. Người có não trạng triển nở thì chỉ quy về chuyện đã không nỗ lực đúng mức.

Vậy, não trạng bạn như nào? Cách thức độc giả đương đầu với các thách thức ở đời, mức độ duy trì sự kiên trì theo đuổi mục tiêu đặt định? Liệu bạn có nghĩ rằng chúng ta đủ khả năng để thay đổi và tạo tác lại não trạng bản thân, và đâu là trải nghiệm riêng có của chính bạn?

Đời cạnh tranh và quá bí bét, làm sao tránh stress?

Một cô gái trẻ sau khi tốt nghiệp đại học, đã đi làm được một thời gian rồi chợt than vãn về đời sống không rõ nên diễn biến như nào, rằng cô ấy chỉ không thấy hài lòng với những gì đang hiện diện, hỏi cô ấy muốn gì thì nhận được lời tự thú thiệt tình là không biết.

Tôi nghĩ đến nỗi trầm buồn hiện sinh. Stress cấp tính đòi hỏi đáp ứng thích nghi hết sức cao độ, song theo thời gian, nó trở nên mãn tính rồi một lúc nhất định, đòi buộc chúng ta phải suy nghĩ lại lối sống của bản thân. Stress là cái đinh chi mà thiên hạ cuống cuồng hoặc thầm lặng chịu đựng thật đớn đau cả thân lẫn tâm đến vậy?

Đời sống khả năng cao là luôn làm ta căng thẳng tinh thần, gây stress quá dễ dàng. Nói chung là hoàn toàn đúng đắn stress bộc phát nhanh chóng, song loại cấp tính kiểu thế có thể chuyển thành thói quen thâm căn cố đế, và chúng ta cần suy nghĩ lại những cách thức làm mọi điều sao đủ vượt qua và chế ngự nó. Stress mãn tính tạo nhiều hiệu ứng khắc nghiệt lên sức khỏe và trạng thái an lạc của chúng ta. Stress làm tăng thêm các hoạt động sinh lý cao độ và khiến mình thường xuyên thao thức, khó chợp mắt. Tác động đến hệ thần kinh, cơ thể phóng thích các hormones gây stress dưới nhiều dạng thức. Đáp sứng stress căn bản là đáp ứng mang tính thích ứng về mặt cơ thể, song stress cấp tính để lại nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng lên thân xác.

Quá nhiều sự kiện trong đời là tác nhân của bức bối, áp lực, căng thẳng, mệt mỏi…; các stressors này đặt để nguy cơ phát triển stress, nhất là nếu chúng ta không có các nguồn lực tâm lý đảm bảo xử lý chúng. Thực tế, một số người có khả năng chịu đựng stress cao hơn kẻ khác. Người ta cũng khác nhau trong các cách hiểu về stressors.

Nghiên cứu cho thấy, người gặp stress khuyến khích não trạng trải nghiệm thì có các mức độ hormone stress thấp hơn người nhìn nhận stress một cách quá tiêu cực.

Lý thuyết kích hoạt nhận thức về stress giúp giải thích đáp ứng stress; theo đó, chúng ta cảm thấy stress bất kỳ lúc nào có sự thiếu nhất quán giữa giá trị mình đặt để và giá trị đích thực của bản thân. Ví dụ, chúng ta bị stress nếu đụng hạn cuối cùng phải hoàn thành công việc mà mình lại không đủ khả năng đáp ứng đúng đắn. Chúng ta bị thúc đẩy làm giảm thiểu, hạ xuống sự thiếu nhất quán giữa các giá trị đặt để và các giá trị thực của bản thân.

Từ ví dụ nêu trên, chúng ta có thể thực hiện bằng việc tăng cường mức tải làm việc đến độ đảm bảo mọi thứ hoàn thành đúng thời hạn, song điều này dễ cảm nhận là không phải giải pháp vững bền. Chúng ta thường thành công trong ngắn hạn, còn với đường trường dài lâu thì e khá hiếm hoi, do chúng ta khốn khổ bởi stress cấp tính. …

Đáp ứng stress có thể được điều hướng bởi khả năng phục hồi tâm lý; khả năng này chịu đựng các stressors môi trường, và nó thông qua các chiến lược đối phó, đương đầu hữu hiệu mà nhờ thế mình xây dựng được khả năng phục hồi. Nếu các chiến lược đối phó không thích ứng và không hiệu quả, mình sẽ làm tăng thêm nguy cơ phát triển stress. Mình có thể cố sức để thích ứng chiến lược đối phó với tình huống cụ thể đủ đương đầu hiệu quả nhất. Khi bị stress tấn công, mình có thể khởi sự cảm thấy mất tập trung, và chẳng có điều chi mình có thể tiến hành ngõ hầu tránh né hoặc cải thiện được tình hình: dạng thức vô vọng.

Chúng ta không có các nguồn lực vô tận để giải quyết các tác nhân gây stress; chỉ có thể làm tốt nhất để thích ứng với môi trường gây căng thẳng mà thôi. Nếu có quá nhiều giá trị đặt để xa vời, phi thực tế, bất kể vì tạo ra chúng cho bản thân hoặc vì tình huống công việc đòi hỏi, chúng ta nên cân nhắc tác động chúng gây nên thân- tâm chúng ta. Mong đợi quá mức vào chính mình, hoặc mức tải việc khủng khiếp? Bằng cách nào nó tác động tới tâm trí và thân xác chúng ta? Nên nhận rõ điều này. Gần đây nhất bạn cảm thấy stress? Bạn đối phó với nó như thế nào?

Không bao giờ mất đi người mình yêu quý

Có lần, vị thiền sư tên Foyin đã cứu sống một phụ nữ định quyên sinh nơi dòng sông, rồi hỏi nàng tại sao nàng muốn chết, nhất lại là nàng đang còn rất trẻ.

Người đàn bà đáp, lấy chồng mới ba năm, song khi con trai mất, chồng đâm bỏ bê, không thèm ngó ngàng gì vợ. Do đó, cô cảm thấy đời sống hiện tại chẳng có gì ý nghĩa nữa. Vị thiền sư hỏi tiếp, thế đời sống của cô trước hôn nhân như nào. Hồi tưởng, người phụ nữ thấy đấy là thời thật vô lo và mọi thứ như ý. Vị thiền sư lưu ý rằng, ngay hiện tại lúc này, cô chỉ việc quay về với giai đoạn ba năm trước; lúc đó, cô đâu có chồng con, giờ cô cũng không có họ. Một cách căn bản, xét toàn thể, cô không hề có sự mất mát đích thực nào. “Công án” vị thiền sư nêu ra: nếu cô ấy có thể vô lo ba năm trước, tại sao cô ấy lại quá sầu muộn ba năm sau?

Chúng ta trả lời câu hỏi này như thế nào đây? Sự thật, chúng ta đau đớn khổ sở chỉ khi mình chăm chắm vào tình huống bất hạnh hiện tại khiến mình cảm thấy ghét bỏ không cần thiết. Kỳ thực, gọi là điều xui rủi này khi so sánh với một trạng thái từng diễn ra rồi, vốn nó tương đối may mắn, đâu nhất thiết khiến mình phải gắn bó cùng. Vì thế, những ai đau khổ nhất thường có xu hướng trước tiên đau khổ kéo dài; khi đời sống của họ được cải thiện thì lại dễ cảm thấy mất mát khủng khiếp về sau.

Bởi vì cảm nhận mất mát đến từ sự so sánh, xuất hiện nỗi tiếc thương và bao lời ai oán. Nếu nhìn vào bức tranh rộng lớn phủ trùm một giai đoạn rộng lớn hơn, gồm cả nỗi buồn lẫn niềm vui bây giờ, sẽ thấy đấy chỉ là sự xoắn bện quá độ và chỉ ra bánh xe nghiệp bất hạnh/ may mắn mà thôi. Do đó, đều ảo ảnh, hoang tưởng việc để bản thân bị quấy nhiễu, đảo lộn bởi cả điều may mắn lẫn sự xui rủi.

Vị thiền sư đã hích nhẹ giúp cho người phụ nữ trẻ siêu việt trên các trạng thái nọ kia một cách nhị nguyên mà cô đang trải qua, để buộc cô quay về với những gì rốt ráo là mình trước đây: biểu hiện trạng thái nguyên thủy của Phật tính.

Nhất là trong những thời điểm bấn loạn, chúng ta nên quay lại trạng thái tâm linh nội tại căn bản quen thuộc này, phóng thích khỏi rối rắm do gắn bó với vận may tốt đẹp và ghét bỏ, đẩy đuổi sự xui rủi, bất hạnh.

Tại sao chúng ta quá phấn khích hoặc trầm uất ghê gớm? Đơn giản nhờ mang con tim và tâm trí tỉnh thức với Phật tính sẵn có, thay cho chuyện dính bám vào các điều kiện ngoại giới vốn phù du thoáng chốc; nhất định sẽ khởi lên tâm trí duy trì trạng thái yên an.

Vấn đề thuộc các điều kiện trong hiện tại do vậy, nên được xem xét tựa như trái quả tựu thành đang dần trôi qua bởi các nguyên nhân và điều kiện tích lũy, thậm chí, trước cả khi khởi sự…

Điều này không phải là trạng thái vô cảm hoặc thiếu quan tâm nghiêm cẩn; vì các biểu tỏ bình thản thực sự luôn hậu thuẫn lòng từ bi trải đều cho tất cả mà chẳng hề xốn xang, nhốn nháo với bất cứ ai hoặc bất kỳ điều gì. Lành thay.

Câu chuyện bị xâm hại thời thơ ấu: niềm đau chôn giấu, bí mật mang theo, và sự trợ giúp chuyên môn (2)

Không có gì kỳ cục với các nạn nhân bị xâm hại tình dục lúc thơ bé khi họ trải qua bất kỳ trải nghiệm đầy sợ hãi và khó chịu nào liên quan đến chuyện tiết lộ. Tự thân việc bị lạm dụng đã là chuyện xâm phạm ranh giới, và tiết lộ, với nạn nhân, cơ chừng giống như sự xâm phạm rốt ráo trở lại vậy. Bố mẹ đúng khi muốn bày tỏ sự nâng đỡ và khuyến khích con em mình xử lý mọi chuyện phù hợp với nhịp điệu phát triển riêng.

Mỗi cộng đồng, quốc gia có các luật tục và quy trình pháp luật khác biệt, với sự lưu ý rõ ràng tiến trình giải quyết thủ phạm cũng như nâng đỡ các nạn nhân. Việc định vị cục bộ cũng khác biệt với niềm coi trọng các quy điều giới hạn và các kiểu dạng hay chi tiết phải được nắm rõ để tạo thành một sự nghi ngờ hữu lý rằng việc lạm dụng thực sự đã xảy ra… Trên hết mọi điều, bố mẹ rất muốn tỏ ra hữu ích cho con cái và nhu cầu của trẻ cảm thấy bản thân an toàn và trong sự kiểm soát của các ranh giới.

Ly dị, hôn nhân, đi – ở, và trục trặc bất thường

Thi thoảng, khi thoáng bắt gặp những khuyên nhủ, bày vẽ dựa trên kinh nghiệm chủ quan và dấm dẳn liếc xéo như đây, đây, đây là y rằng thấy mình muốn góp ý, diễn giải trở lại theo cách hiểu riêng.

Trả lời: Tôi hiểu phần nào tâm trạng của bạn lúc này. Từ cảm giác chủ động đến cú sốc trong chuyện chồng ngoại tình, sự phẫn nộ và mất niềm tin ở nơi chồng bạn cũng như thái độ trơ trẽn của cô gái kia. Tuy vậy, khi phát hiện anh ấy ngoại tình lần đầu thì dường như cách xử lý của bạn có vẻ quá chủ quan. Mặc dù, cách nói chuyện với chồng là điều rất tích cực để kéo anh ấy ra khỏi chuyện ngoại tình sai trái nhưng bạn đã tin tưởng và tha thứ quá dễ dàng. Như vậy sẽ dễ làm cho họ nảy sinh tư tưởng mắc sai lầm lần nữa. Lần thứ hai tất nhiên nó đã xảy ra và bạn là người đau khổ và thất vọng. Chồng bạn tiếp tục có quan hệ với người con gái kia chứng tỏ anh ấy không giữ lời hứa và không có trách nhiệm với hôn nhân của mình. Tuy vậy, bạn nên xem xét thái độ của anh ấy với gia đình ra sao, anh ấy có yêu thương và chăm sóc gia đình hay không? Bạn mong muốn cuộc hôn nhân này sẽ đi đến đâu? Nếu còn muốn tiếp tục bạn cần chia sẻ những cảm xúc của mình với chồng bạn. Bạn cũng cần nói rõ cho anh ấy rằng, nếu muốn quay lại thì anh ấy cần phải hành động để chứng minh sự thay đổi ấy. Chúc bạn sớm tìm lại được sự bình an trong tâm hồn.

Anh chồng trong câu chuyện trên cơ chừng chẳng những đã tỏ ra không sẵn sàng cam kết mà còn hình như cho thấy ước ao luôn lợi dụng sự cảm thông của chị vợ. Cô ấy có thừa bằng chứng xác nhận điều mình hay nghi ngờ, và quan trọng không kém, cô ấy còn dư dật thời gian để học hỏi chồng mình là người như thế nào.

Vì thế, cô ấy chắc chắn cần tiến hành đôi thứ tự vấn lương tâm không chỉ về thái độ bản thân đối với chuyện hôn nhân và một đời sống cam kết cùng nhau mà còn nên lưu ý đến những dạng kiểu giới hạn và ranh giới mình muốn đặng thiết lập mối quan hệ thân mật với tha nhân. Nếu cảm thấy riêng mỗi mình thôi chẳng đủ khả năng tự vấn lương tâm chân thành, có lẽ khôn ngoan là tìm kiếm một nhà tham vấn tâm lý.

Hôn nhân luôn sản sinh tiềm năng tạo tác các hoa trái tốt lành trong đời sống những ai hiểu biết ý nghĩa và quyền lực của sự cam kết, tin tưởng, chung thủy, và tôn trọng lẫn nhau; gì gì, nó quyết không phải là nơi chốn kinh doanh lập ra để giải trí hoặc mời gọi bước vào trong hời hợt, khinh suất. Dù khác biệt phong tục tập quán và tùy thuộc nền văn hóa, không cuộc hôn nhân nào có thể gìn giữ vững bền mà không đòi hỏi các bên chia sẻ các giá trị căn cốt và tin tưởng lẫn nhau.

Mặt khác, kết thúc cuộc tình, chia tay với một người ‘phụ nữ tốt’ vì những lý do hết sức ích kỷ rõ ràng là điều chẳng lành mạnh chút nào. Song duy trì một mối quan hệ thuần túy bởi cảm nhận hàm ơn và bổn phận âu cũng có cái giá phải trả nhất định. Quá nhiều lý lẽ một ai đó tự mình có thể phát hiện ra về chuyện bản thân không hạnh phúc trong một cuộc hôn nhân. Và nếu họ không tính đếm đủ đầy các lý do ấy, họ khá dễ lặp lại những lỗi lầm trong các mối quan hệ tương lai. Người đàn ông có thể đã “hoàn tất, xong việc” với nỗ lực cố gắng nêm nếm gia vị hôn nhân, song anh ta nợ bản thân mình việc hiểu biết thật chính xác những gì đang diễn ra trong lòng mình và mức độ cần phải thực hiện thật lành mạnh, đối lập với các lý do dở tệ. Lần nữa, hẳn là ý tưởng hay khi viếng thăm một nhà tham vấn để sắp xếp, phân loại các vấn đề đang ngổn ngang, phiền muộn.

Điều duy nhất cơ chừng ‘sáng tỏ’ ở đây là người phụ nữ tuổi 40 băn khoăn nên hay không ly hôn nói chung không tương thích với toàn bộ những thứ khác diễn ra chừng ấy tháng năm dằng dặc, và câu hỏi thắc mắc của người phụ nữ này tự thân nó mâu thuẫn kỳ lạ. Chị ấy đang tiến tới việc sẽ không ngừng chất vấn chính mình về mối quan hệ này có đích thực tốt đẹp. Và, nếu cô có tâm trí nô lệ nhẫn nhục nó, thay vì thiết lập các giả thuyết về những gì cần tiến hành để hàn gắn, sửa chữa thì cơ chừng người phụ nữ này nên  nghiêm túc nhận được sự đánh giá thật khách quan, chuyên nghiệp hơn từ bên ngoài về những gì cả hai vợ chồng cần học hỏi cách giao tiếp hiệu quả nhất cũng như làm sao để nuôi dưỡng và củng cố tốt lành mối quan hệ. Không khó thấy một bầu không khí ngột ngạt và ốm đau lởn vởn xung quanh cuộc hôn nhân này, đòi hỏi thời gian và tiến trình xử lý dài lâu, kiên định…

Điều thú vị là người ta thường hỏi xin lời khuyên nhủ về những gì đang diễn ra khi họ cơ chừng khá đủ khả năng để định hình tương đối cô đọng các hiệu ứng do chồng, vợ họ gây ra. Cũng thú vị rằng khi hãy còn quan hệ và đón nhận các ‘đặc ân’ nọ kia thì cảm nhận hiện trạng hôn nhân rõ ràng không hề là điều họ mong đợi, ưng ý. Và cuối cùng, khá hay ho rằng các nhân vật trong các trường hợp tư vấn trên tâm tình rằng quan hệ bị phá vỡ, hủy hoại không hề mới xảy ra ngày một ngày hai, thậm chí ngay cả khi vợ/ chồng họ tiếp tục trục trặc, vụng trộm thì kết cục hình như chỉ tổ làm cho hành vi thiếu trách nhiệm với chính bản thân mình tăng lên thêm mà thôi.

Những gì đang diễn ra ở đây phần lớn bộc lộ khá nhiều bất thường của cả hai bên đối với một cuộc hôn nhân đã trải qua năm tháng chẳng hề ngắn ngủi. Gợi ý khả dĩ: đây là thời điểm dựa vào giá trị và lợi ích của bản thân, và xử lý các vấn đề có thể gây nên chuyện ảnh hưởng như thế nào đến mối quan hệ vợ chồng, gia đình và con cái.

Thiền tập tỉnh thức: câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành

Thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation) giờ không còn quá xa lạ với quảng đại quần chúng Đông Tây.

Thiền tập tỉnh thức là câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành chứ nó không liên quan chi với việc thay đổi thế giới bất công. Nói khác đi, ngay cả tiềm năng to lớn và tác dụng lâm sàng sáng giá thì cần làm rõ một điều rằng tỉnh thức không phải là giải pháp hoàn hảo cho toàn bộ vấn đề của thế giới; nó là một lĩnh vực nghiên cứu đầy hứa hẹn, đi kèm với vài ba chỉ trích rất cần nắm biết.

Ví von, làm tóc thì rốt ráo chỉ liên quan đến tóc, không liên quan chi  đến việc thay đổi thế giới bất công. Chữa lành ung thu chủ yếu thuộc về thuốc men, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công. Bay lên sao Hỏa là chuyện du lịch không gian, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công.

Một mẫu hình dần nổi trội lên ở đây: một điều thì chung quy liên quan điều ấy, không phải là thứ mà nó không thuộc về. Hoàn hảo, đó là sự tiến bộ đích thực.

Có rất nhiều lời giảng dạy, minh họa và nguyên tắc trong đạo Phật thực sự hữu ích để tạo nên sự thay đổi tích cực về mặt xã hội. Đó tuyền chuyện dân chủ; quyết định chịu trách nhiệm tạo nên nhiều tiến trình; lòng từ bi thực tế; sự thịnh vượng vượt qua sự bất bình đẳng; không hoặc chỉ dùng gọi là sự trừng phạt; nhấn mạnh vào giáo dục và trao quyền cá nhân lẫn trung gian; thoát khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử; ý tưởng thậm chí quyền năng nhất là đối tượng hướng tới pháp trị, và v.v…

Tỉnh thức không phải là một trong những điều vừa nêu; nó là sự dạy dỗ cách thức trở nên yên an và chấp nhận.

Tỉnh thức có thể thao tác trong một dãy phức tạp các mối quan hệ với cộng đồng rộng lớn hơn cùng các vấn đề xã hội nảy sinh. Từ toàn bộ tính khả thể, như tác giả bài báo chỉ ra, nó có thể trở thành trừu tượng tách khỏi bất kỳ bối cảnh ý nghĩa nào và được dùng theo các lối kiểu gây hại. Song đó không phải là vấn đề của tỉnh thức, nó là vấn đề của sự thiếu vắng các điều tốt lành khác, đặc biệt là các giá trị đạo đức. Điều ấy lý giải tại sao Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh rằng tỉnh thức, và các thực hành thiền nâng cao khác, diễn ra trên sự đặt để của một nền tảng đạo đức rất tinh tuyền.

Rời bỏ điều đó và áp dụng sai trái, nó trở thành Tỉnh thức Lầm lạc. Vì vậy, có lẽ chúng ta nên dừng đổ lỗi cho tỉnh thức về hiện trạng không thuộc về nó.

Câu chuyện bị xâm hại thời thơ ấu: niềm đau chôn giấu, bí mật mang theo, và sự trợ giúp chuyên môn

Những vụ việc cưỡng hiếp cũng như tội ác xâm hại tình dục nói chung thường luôn diễn ra phức tạp và chứa nhiều sắc thái.lắm khi khó tóm bắt đủ đầy, chính xác.

Dạng trả lời phỏng vấn kiểu này khá dễ khiến thiên hạ thêm phần định kiến về chuyên môn tham vấn/ trị liệu tâm lý cũng như quá chừng thứ sinh động liên quan đến câu chuyện đang bàn không ngừng xuất hiện trong thực tế lại bị đơn giản hóa do thiếu vắng nền tảng tiếp cận bài bản.

Việc điều trị tâm lý phải hướng đến chuyện giúp các em coi chuyện bị cưỡng hiếp ấy chỉ là một kỷ niệm buồn, chứ không phải là sự kiện làm thay đổi đời em. Kỷ niệm buồn ấy có thể quên đi. Các em có thể lớn lên, lấy chồng lấy vợ bình thường, nhưng nếu cha mẹ làm không khéo thì vết thương ấy bị khoét rộng ra, làm tổn thương các em nhiều hơn. Câu chuyện sẽ được truyền từ nhà này sang nhà khác, từ người này sang người khác, cứ lan rộng ra thì các em khó có khả năng hàn gắn được vết thương.

Trước hết, có một câu hỏi cần nghiêm túc đặt ra ngay: liệu tôi có thể thoát ra khỏi các ký ức đau buồn và tồi tệ, nói khác đi, lám sao tôi có thể khít khớp bản thân trở lại mà không cần phải đi tham vấn/ trị liệu tâm lý không? Và bằng cách nào tôi phơi mở các ký ức, niềm đau chôn giấu bấy lâu rồi phát hiện thấy điều đích thực từng xảy đến với tôi?

Thực tế, nhiều kỹ thuật được chứng thực đảm bảo độ tin cậy trong việc giải quyết với những nỗi niềm khủng khiếp liên quan đến sang chấn thể lý và cảm xúc. Một trong những phương pháp hiệu quả là tiến hành những gì thôi thúc mãnh liệt phải thực hiện nó bất kể thế nào, tức là, nói ra với ai đó. Khi người ta “kể câu chuyện đời họ” bằng những câu chữ riêng tư, với nhịp điệu đặc thù và chấp nhận lắng nghe thì việc ấy không những cho họ cơ hội thoát ra mà còn là phương tiện giải mẫn cảm chính bản thân họ trước vô vàn nỗi niềm khốn khổ gắn dính với các ký ức đau thương. Tên gọi cho kỹ thuật này là “xử lý nhờ kể ra” và nó dễ biểu tỏ đàng hoàng dưới dạng ai đó ước mượn được một đôi tai không định kiến hoặc làm việc với chuyên gia. Đôi khi, mình phải kể đi kể lại câu chuyện vô số lần, tốt nhất với ai đó mình tin tưởng, nhằm giải quyết thật hữu hiệu tất cả mọi cảm xúc đeo bám để rồi cảm thấy thuyên giảm, buông bỏ được nỗi đớn đau.

Cũng nên khuyến khích người ta bước từng bước phù hợp để duy trì sự tự tin rằng mình có thể vượt qua nỗi đau chấn động. Kỹ thuật này hữu kiệu ngay cả khi không có ai mình tin tưởng hoặc người muốn nghe mình tâm sự. Điều quan trọng là kể câu chuyện và ước muốn thôi thúc nói về cái tên xấu xí cứ cứ nghẹn nơi cổ họng mình bấy lâu. Càng kể câu chuyện và cho phép bản thân thoát ra khỏi cảm xúc kết nối với nó thì mình càng tuần tự giải mẫn cảm với nỗi đau gắn chặt luôn theo cùng.

Liên quan với sự vụ này, cần biết rằng không có lĩnh vực nào của tâm lý bị trở thành đối tượng soi mói cho bằng chủ đề tiết lộ, khởi động lại ký ức kiềm nén bấy lâu.

Ký ức giấu che không phải là trạng thái mất trí nhớ (amnesia): ký ức bị thất lạc do một số hư hỏng các trung tâm ký ức ở não bộ; hơn thế, giấu che ký ức được nhìn nhận như là một dạng chiến lược phân ly nhằm tách rời, không tạo nên kết nối giữa tâm trí ý thức của người ta với điều gì đó quá khủng khiếp hoặc đớn đau nếu lưu giữ, ghi nhớ nó trong đầu.

Một số nghiên cứu cho thấy, các ký ức được “vén màn” không đáng tin cậy thường là loại được diễn ra trong tiến trình trị liệu thông qua khả năng “ám thị, gợi ý” của nhà trị liệu. Vì thế, mình không nhất thiết cần đến trị liệu để chỉ mà phơi tỏ các thứ bị kiềm nén, giấu che. Những gì cần thiết là ở trong bầu không khí cho mình cảm thấy an toàn và tin cậy đủ để kết nối với các cảm xúc và ký ức của bản thân. Mình cũng không nhất thiết cần đi trị liệu để chữa lành hoặc giải quyết với sự sút giảm bất thường tình dục sau này (nếu có). Điều mình cần tính đến là sự thành thật với chính bản thân về bản chất của các mối quan hệ và những gì mình tin tưởng phải tạo ra sự khác biệt đặng làm cho các khía cạnh về mặt tình dục, cảm xúc và thân mật lành mạnh hẳn lên.

Thực tế, nếu thời gian càng lùi xa thì khá khó khăn để phân biệt một ký ức đích thực từng bị giấu che với cái giờ đây có thể được phục hồi từ ký ức giả tạo… Rốt ráo ra, tuy thế, tham vấn/ trị liệu tâm lý vẫn có thể là ý tưởng tốt, đặc biệt khi làm việc với một chuyên gia trong lĩnh vực mình vướng mắc cần giải quyết; một nhà trị liệu được đào tạo bài bản có thể giúp mình xử lý để thoát ra khỏi những ám ảnh theo cùng năm tháng.

Những người sống sót sau khi bị cưỡng hiếp, nhất là trẻ em, không ngừng tìm cách để đối phó với cơ thể họ, và chuyện tình dục sau đó thường là khoảng trống mù mờ về thông tin và dịch vụ hỗ trợ. Xét về mặt giới thì hầu như tất cả nữ giới từng bị cưỡng hiếp đều thổ lộ về ảnh hưởng họ phải chịu đựng liên quan đến cơ thể họ và chuyện quan hệ tình dục sau đó. Những từ như “cô đơn”, “lạc lõng”, “xa lánh”, “bối rối” và “cách biệt” cứ lặp đi lặp lại sau các cuộc trao đổi chứng tỏ điều ấy.

Đây cũng là lúc cần hiểu biết về những sự khác biệt giữa bị cưỡng hiếp hồi thơ ấu và thời đã lớn.

Thường người ta có xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nguyên do khiến đối tượng bị cưỡng hiếp (trẻ trung, hấp dẫn, ăn mặc hở hang, trông khêu gợi, uống bia rượu ngà ngà, ở một nơi kín đáo, không tuyên bố rõ ràng hoặc bày tỏ sự tán đồng, v.v…) Tuy thế, rất khó khăn để đổ tội cho một đứa trẻ, nhất là khi cháu còn bé tí, về chuyện cưỡng hiếp vì chúng ta thường hay nhìn nhận trẻ em không phải là đối tượng quan hệ tình dục, hoặc không có đủ khả năng kiểm soát trước một số tình huống, điều kiện nhất định. Có vẻ loạt bài báo trên tờ Thanh Niên tiếp tục minh họa cho cảm giác giận dữ của người đời trước chuyện một đứa bé bị xâm hại, lạm dụng. Kẻ lạm dụng trẻ em dù dưới bất kỳ hình thức và kiểu dạng ra sao thì thảy đều bị đối xử tồi tệ ngay cả trong trại giam vì các phạm nhân trong tù cũng không ưa thích hoặc chấp nhận họ.

Có một số điều khác biệt có thể chỉ ra giữa trẻ em và người lớn. Thứ nhất, cơ thể trẻ em nhỏ bé hơn nên thường dễ bị tàn hại lớn hơn về mặt thể lý. Thứ hai, trẻ ít có trải nghiệm về thế giới và cuộc đời nên khả năng chống đỡ của chúng thấp hơn hẳn người trưởng thành. Ví dụ, nếu mình biết đa phần đàn ông là những gã tử tế và lịch sự thì mình sẽ khó mà kết luận đấy là tất cả đàn ông đều thô lỗ và bạo lực. Thứ ba, các xã hội nói chung thường tin rằng người lớn có nhiệm vụ bảo vệ trẻ em, không được làm hại chúng; do đó, cảm giác bị phản bội khi biết trẻ em bị cưỡng hiếp hiển nhiên là lớn lên rất nhiều. Cuối cùng, trẻ em không có đủ cơ hội để phát triển các kỹ năng đối phó, do đó, năng lực giải quyết các cảm xúc bản thân của chúng thấp hơn so với người lớn. Tuy thế, dẫu các khác biệt và sự kiện mọi người muốn bảo vệ trẻ em, không nhất thiết rút ra kết luận logic rằng người lớn sẽ tự vượt qua được hoặc nên biết cách để bảo vệ chính bản thân mình.

(còn tiếp, tiệp dịp viết sau)

Ngu ngơ đi tìm bằng chứng cho Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner

Cùng với phong trào nhà nhà, người người hướng về Tây phương đặng mong cầu chỉ bày và vươn tới chuẩn mực, quá nhiều các phương pháp lẫn cách tiếp cận trên đủ các mặt trận, lĩnh vực được giới thiệu, quảng bá, chào bán,… Giờ các bậc phụ huynh hết lòng hết sức vì tương lai con em chắc hiếm ai chưa từng một lần nghe nói tới nhiều kiểu dạng trí thông minh ở bé.

Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner (Multiple intelligences, MI) khuyến cáo thiên hạ cải thiện không ngừng việc học hỏi: chúng ta biết một số người học hỏi thông qua tiến hành công việc, số khác lại nhờ chuyện đọc sách. v.v… Do vậy, tin rằng người đời có nhiều kiểu thông minh khác nhau, rằng những thông minh của họ như thế thật độc sáng, và rất nên đồng thuận cùng hiện tượng có nhiều phương cách học tập ở trên giảng đường và lớp học.

Nếu giờ tiếp cận vấn đề từ việc tìm kiếm bằng chứng xác thực, liệu có chăng các dạng kiểu thông minh khác nhau như MI mà Gardner xiển dương?

Lý thuyết MI lần đầu tiên được Gardner trình bày năm 1983 trong cuốn sách Frames of Mind, dù về sau thì MI trải qua nhiều chỉnh sửa, thay đổi. Ngay từ 1983, Gardner đưa ra sự tồn tại của 7 loại trí thông minh:

1. Ngôn ngữ (linguistic). 2. Âm nhạc (musical). 3. Logic- toán (logical-mathematical). 4. Không gian (spatial). 5. Cơ thể- vận động (bodily-kinesthetic). 6. Cảm nhận nội tâm (intrapersonal sense of self). 7. Lên nhân cách (interpersonal)

Trong cuốn Intelligence Reframed xuất bản sau đó 16 năm, tác giả Garner thêm một dạng khác là ‘trí thông minh tự nhiên’ (naturalistic intelligence) nhằm trỏ sự thấu cảm đối với các ngoại vật tự nhiên, và ông còn gợi ý một dạng khác: ‘trí thông minh hiện sinh’ (existential intelligence), được xem là khả năng ngập chìm tính tâm linh trong tác phẩm nghệ thuật.

Với phiên bản gần nhất năm 2004, Gardner đề nghị thêm hai dạng nữa là ‘trí thông minh rọi sáng tâm trí’ (mental searchlight intelligence) và “trí thông minh laser (laser intelligence). Gardner tuyên bố, mỗi loại trí thông minh chứa đựng nhiều tiểu dạng thông minh, và mỗi loại thông minh được kiểm soát bởi các vùng não bộ khác nhau, và ông cho biết các khoa học gia Thần kinh “đang trên tiến trình hướng đích về bản chất của các thao tác căn bản trong mỗi dạng trí thông minh“.

Lý thuyết MI của Gardner thu hút sự chú ý của giới chuyên môn, và cơ chừng MI thiếu vắng bằng chứng xác thực. Theo tổng thuật được Waterhouse thực hiện năm 2006, không thấy nêu một nghiên cứu nào hỗ trợ cho độ hiệu lực của MI; Gardner đã cố gắng đáp trả các chỉ trích này từ 2004 như sau:

Lý thuyết MI được ít người say mê trong số các nhà đo nghiệm tâm lý hoăc những đối tượng dựa trên nền tảng tâm lý học khác là bởi vì họ yêu cầu: “đo nghiệm tâm lý hoặc bằng chứng thực nghiệm phải cho phép người ta chứng tỏ sự hiện hữu của nhiều trí thông minh khác nhau”.

Ngay từ 2004, tác giả Chen (được Waterhouse dẫn trong tổng thuật nêu trên) lại thử bênh vực cho sự kiện MI thiếu sự hỗ trợ của thực nghiệm thông qua lời tuyên bố:

“Một lý thuyết tất yếu có giá trị bởi vì nó được hỗ trợ bởi các kết quả của các test thực nghiệm” và “trí thông minh không phải thứ hữu hình để mà có thể đo lường được”.

Đi sâu hơn, tác giả Chen đã chỉ ra 5 điểm gây tranh cãi cụ thể với lý thuyết MI:

  1. MI không có đủ các bằng chứng thực nghiệm thiết yếu
  2. Trí thông minh không phải là đối tượng hữu hình, có thể sờ mó được
  3. MI là các cấu trúc mới đòi hỏi các công cụ đo lường mới
  4. Lý thuyết MI xác định độ hiệu lực của nó thông qua các ứng dụng tại lớp học
  5. Lý thuyết MI mô tả sơ lược kỹ năng nhận thức tốt hơn so với các tiểu thang đo IQ.

Nói tóm, theo cách lập luận của Chen thì có vẻ không có điểm nào  làm cho nhu cầu xác nhận lý thuyết MI là ít cần thiết cả. Dường như MI duy trì nó “đích thị là một lý thuyết” không thể công nhận là có giá trị được (validated), trừ khi các thành phần của lý thuyết được định vị, thiết lập rõ ràng. Khi Gardner tuyên bố rằng ông sẽ không định rõ các thành phần đó, lý thuyết MI khó nghiêng theo hướng đạt độ hiệu lực mong muốn.

Tác giả Chen (2004) cho rằng dẫu lý thuyết MI đạt độ hiệu lực thông qua việc ứng dụng nó, tuy thế, điều ấy không đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu với dữ liệu có cơ sở chắc chắn, vì dạng thức ứng dụng kiểu vậy không cung cấp dữ liệu đáng tin cậy. Sau rốt, không có nghiên cứu nào chứng thực rằng năng lực nhận thức được MI mô tả sơ lược tốt hơn khi dùng các tiểu thang đo IQ cả.