Trải nghiệm tiến trình khởi phát cá nhân và sự triển nở tâm linh

Có rất nhiều lợi lạc lâu dài định hình được khi làm việc với tiến trình khởi phát cá nhân và sự triển nở tâm linh.

Trước hết, không tránh né bất kỳ điều gì. Hôm nọ, một nữ sinh viên hỏi tôi liệu sau tất cả những thực hành tâm linh rồi xử lý rốt ráo chuyện chuyển hóa thì đâu là thứ mình nên né tránh? Hồi đáp đã chia sẻ là không nhất thiết phải tránh né điều chi; một phần mình mong muốn trở thành, song cũng sẽ có phần khôn ngoan hơn ta cảm thấy lôi cuốn bản thân tới việc sống trong sự thật toàn thể, và đó là hành trình tâm linh.

Chúng ta học hỏi rằng mình lớn lao hơn các khó khăn, phiền muộn đang phải gánh chịu. Khi chúng khởi lên, chúng ta có thể đương đầu giải quyết chúng; không phải vì chúng ta đang hành hạ bản thân và muốn làm các thánh tử vì đạo, mà vì chúng ta biết rõ, khi giải quyết một cách trực tiếp, phương thức hiệu quả nhất thông qua nỗi khổ niềm đau. Chẳng hạn, ai đó sẽ thích làm vài ly, gầy độ nhậu nhằm gắng tránh đối diện với một vấn đề; cơ mà, lúc nào đấy họ sẽ say mèm và rồi lần nữa, vấn đề còn đó, thậm chí dễ lớn hơn lên so với nguyên trạng ban sơ.

Kết quả tiến hành công việc này với chính bản thân mình giúp chúng ta bước vào nơi chốn trong lòng tất sẽ ôm choàng thật vui tươi đời sống như nó lộ bày ra, bởi vì chuyến hành trình ấy mang lại cho chúng ta hạnh phúc, bình an, thỏa ý mãn nguyện và quyền lực sâu xa nhất. Chúng ta thôi quá vướng bận để tránh né bất kỳ điều chi thêm nữa.

Vậy sự khác biệt giữa lặng im với yên tĩnh trên tiến trình triển nở tâm linh? Đâu là trải nghiệm riêng có về sự khác biệt ấy? Liệu đúng là giữa hiểu biết với tích hợp này không giống nhau? Vẫn còn có một bước tiến lớn xung quanh lặng im và yên tĩnh?

Tôi tin, không ít người có nhiều trải nghiệm khác biệt về sự im lặng. Như ai đó từng nghĩ mình chỉ thiền tập trong khoảng 10, 15 phút để rồi cuối cùng 3 tiếng đồng hồ đã trôi qua. Hầu hết chúng ta ít rảnh rỗi để thiền tập nên với các trải nghiệm kiểu vậy về sự mở rộng thời gian và vô ngã chắc không thuần túy tạo ấn tượng mạnh mẽ.

Yên tĩnh thì dường như thuộc trạng thái tâm lý hơn là chuyện ngồi xuống và đắm mình lặng lẽ nơi này. Học hỏi để làm lòng mình lắng lại là kỹ năng đáng giá. Mình sẽ phải bắt đầu với khả năng làm bản thân chậm rãi rồi lắng đọng và tĩnh tại nhằm sống cùng những gì đang biểu tỏ trong nội tâm mình. Điều này đưa chúng ta đi sâu hơn vào im lặng. Hiện diện cùng những gì đang là trong từng khoảnh khắc một giúp chúng ta phát hiện rồi làm việc theo cách riêng hướng tới các bản ngã đích thực. Bản ngã đích thực nối kết chúng ta với những gì lớn lao hơn nhiều cái tôi lăng xăng, bé nhỏ.

Một cái nhìn thoáng qua về trạng thái im lặng sâu thẳm là khởi đầu cho lộ trình ổn định hóa trạng thái của ý thức hợp nhất. Sau trải nghiệm thống nhất làm một trong thiền tập, chúng ta có thể học hỏi để đan dệt trải nghiệm nổi trội này vào đời sống thường ngày, trong từng khoảnh khắc. Tuần tự, dần dần sự đan dệt, kết nối bắt chặt đến độ đời sống không còn phả vào chúng ta sự cách ngăn biện biệt nữa mà đó là hơi thở của sự liên hợp; nghĩa là, không còn chia tách giữa chủ thể và đối tượng.

Như thế, khó chối bỏ lợi lạc dài hạn khi làm việc với sự khởi phát cá nhân và tiến trình triển nở tâm linh. Thường, các trải nghiệm của chúng ta không phản ánh theo lối tiến bộ từ A tới B rồi tới C, tức không thật xác đúng với sự tiến bộ tuyến tính; thậm chí, lắm lúc chúng ta dễ nghĩ rằng chẳng điều chi xảy đến cả, dù đích thị đấy là phong cảnh nội tại trong ta đang thay đổi.

Nếu không có thời gian tiến hành đọc sách, đến phòng trị liệu, tham dự các buổi hội thảo phát triển bản thân thì thiền tập cùng các nỗ lực thử nghiệm khác trong tiến trình trở thành cái tôi tốt lành nhất, chúng ta sẽ thành công. Cần lưu ý, lúc này thành công có thể trông không hề chính xác như mình nghĩ, song nếu nó có thể giúp mình bước lùi lại và lưu tâm đến cách đời mình đã thay đổi ra sao thì chúng ta thường dễ nhận ra một sư khác biệt tích cực.

Như một nhà tâm lý trị liệu, tôi nghe đi nghe lại nhiều lần từ các thân chủ rằng họ nghĩ mọi đớn đau, khổ sở của họ sẽ biến mất ngay tắp lự nếu họ thực hiện tất cả mọi điều ‘đúng đắn’. Họ thổ lộ mình từng ghi nhớ các câu nói khẳng định, lên tinh thần, gặp người làm tham vấn tâm lý, đọc sách, áp dụng trị liệu dựa vào cảm xúc cho đời sống vợ chồng (EFT), thiền tập và cầu nguyện đủ kiểu song họ vẫn thấy buồn bã hoặc bị ruồng bỏ không ít lần. Đôi khi, tất cả chúng ta quên rằng, thời điểm ở trong nỗi đớn đau và phiền muộn thì rất khó khăn để nhìn thấy bức tranh rộng lớn hơn. Nhớ rằng, đấy là tiến bộ không hoàn hảo. Khi trưởng thành, cách định hình về nỗi khổ niềm đau (suffering) của chúng ta thay đổi và chín chắn cực kỳ. Chúng ta thực sự cảm thấy nỗi đau về mặt cảm xúc hoàn toàn khác trước. Những gì từng đẩy chúng ta rơi vào trạng thái hoảng sợ, bị kích động hoặc tê liệt thì giờ đây với một hơi thở sâu, mình cảm thấy ổn thôi…

Thân xác, như các cảm xúc, tâm trí và linh hồn, trải nghiệm các hiệu ứng cộng dồn tích cực thêm lên khi chúng ta ngày càng tích hợp, thống nhất. Ký ức thẳm sâu của sự tích hợp đó vào những thời điểm thách thức sẽ cho phép chúng ta bật tung trở lại hết sức nhanh chóng.

Một ví dụ cho việc thân xác lưu giữ các hiệu ứng cộng dồn là khi mình còn bé xíu, mình có thể nhảy múa, hát hò và diễn kịch một cách chuyên nghiệp. Bởi vì mình từng là vũ công, cơ thể đáp ứng để chóng đi vào quyết định cụ thể. Nếu quá bận để đi tập gym thì việc giữ dáng tiến hành được nhờ ký ức biết cách chuyển động và các cơ bắp biết nên như nào… Giờ già rồi, cơ thể có thể khó khăn để tìm các hiệu ứng dĩ vãng theo vài cách thức nào đó; tuy vậy, tuổi càng lớn thì mình nhận dạng cụ thể dễ dàng hơn về mặt cảm xúc và tâm linh. Nói thế, không có nghĩa chúng ta không thi thoảng gặp lắm cảm xúc rắc rối, song rốt ráo chúng ta tích lũy cơ bắp khôn ngoan khi làm việc với nội tâm.

Nếu chúng ta điều chỉnh lối đan dệt, cài đặt cuộc đời để sống đời tâm linh, không ngừng dấn tâm trí theo cùng trạng thái thách thức niềm tin và các hệ thống cảm xúc thì khả thể là chúng ta hẳn có một đời sống cân bằng và hài lòng. Làm ơn biết cho rằng thời gian đáng giá để được chúng ta sử dụng hiệu quả, hữu ích. Việc cộng dồn của thứ lợi lạc dài hạn này càng đem lại cho chúng ta nhiều bình yên, hạnh phúc và mãn nguyện.

Tự trị, một trong các nhu cầu căn bản luôn được khuyến khích khi trợ giúp, thuộc về sự lựa chọn, chưa nói là sự lựa chọn đầy ý nghĩa. Dù chắc chắn người ta thích thú với các màu sắc, hình ảnh, chân dung được tô đậm, tôn cao trong hệ thống cung cấp tin nào đó (facebook chẳng hạn) hoặc các cuộc tập huấn hô hào lên dây cót, song điều quan trọng của bảng màu này xa lắm mới có ý nghĩa bằng sự lựa chọn mang tính ý chí, ước muốn của mỗi cá nhân cụ thể.

Lựa chọn mang tính ý chí, ước muốn là khả năng đưa ra các quyết định ý nghĩa đối với chính bản thân mình; các quyết định kiểu ‘điều gì quan trọng với tôi?’, ‘giá trị của bản thân tôi là gì?’

Những ‘sứ điệp’ cá nhân thẳm sâu như thế có thể giúp ai đó dấn thân vào trạng thái trải nghiệm lớn lao và kéo dài (tựa việc thay đổi hành vi mang tính lành mạnh). Hiến dâng đời mình với mục tiêu vun bồi các quan hệ phong nhiêu hoặc lên đường khám phá, phiêu lưu có thể dẫn dắt các lưa chọn đúng đắn tức thời, phục vụ cho mục đích chung cuộc rốt ráo. Đó là lý do tại sao, như các huấn luyện viên về sức khỏe, người ta cần quan tâm sâu sắc tới việc làm sao trợ giúp thân chủ vén mở rồi tích hợp các mục tiêu cá nhân.

Đích thị, tất cả những gì các huấn luyện viên có thể làm là hướng dẫn; để chuyện ấy hiệu quả, mục tiêu phải mang tính cá nhân. Các huấn luyện viên có thể đưa cho người ta các công cụ phản ánh các giá trị và tính cách của họ, để tổng hợp những gì họ biết vào một tuyên bố rõ ràng, và lưu giữ mục đích luôn ở vị trí trung tâm trước mặt, song họ không thể tạo ra hoặc sắp đặt mục đích.

Nên thi thoảng thật buồn cười khi nghe ai đó nói về chuyện tạo ‘động lực, thúc đẩy’ ai đó. Một huấn luyện viên giỏi, thiển nghĩ, sẽ ở vai trò tấm gương soi để giúp một người nhận ra động cơ cô ấy/ anh ta đang mang chứa trong lòng.

Đó là nơi ánh sáng của tia lửa bùng lên, nó dễ làm khởi phát tiến trình cá nhân và sự triển nở tâm linh đồng vọng…

Trong muôn trùng xô đẩy…

Vui thay việc sống giữa đời- Điều may cùng chọn, tiệc lời họa sa…- Chốn nào cũng nước non nhà- Lòng yêu rải khắp ta bà mới thôi!–

Vắng thiếu dấu ấn sinh học (biological marker), chẩn đoán đương đại về tâm thần phân liệt (schizophrenia) cũng như việc điều trị chủ yếu hiện vẫn dựa vào các bảng hỏi thăm dò lâm sàng; không ngạc nhiên lắm là tỷ lệ đáp ứng chưa được thỏa mãn, đặc biệt sau nhiều nỗ lực điều trị hỗn hợp, ngoài ra sự tái phát thì thường gặp với người mắc TTPL ngưng sử dụng thuốc.

Dẫu vậy, chúng ta cũng đang hưởng thụ lợi lạc nhờ vào các thành tựu nghiên cứu liên quan, tỷ dụ cụ thể như việc hướng dẫn dùng thuốc chống loạn thần chẳng hạn.

1. Chúng chỉ được chỉ định cho những ai có biểu hiện loạn thần sớm (hoang tưởng, ảo giác hoặc buồn vui thất thường).

2. Một khi chỉ định rồi thì cần được giám sát rất chặt chẽ.

3. Hiếm lắm mới chỉ định dùng cùng lúc 2 loại hoặc hơn.

4. Không nên tiếp tục ưu tiên lựa chọn với cơn mất ngủ dai dẳng.

5. Không dùng chỉ vì mỗi lý do ‘khó kiểm soát về mặt hành vi’ ở trẻ nhỏ là con cái người đã già cả.

6. Có một số bằng chứng lâm sàng để dùng cho người mắc Tự kỷ (autism).

Thêm nữa, với việc cần sa (marijuna) dần dần được chấp nhận dùng rộng rãi hơn cho mục đích y tế, rõ ràng cấm sử dụng nó với người đã dễ bị tổn thương do các trạng thái loạn thần rồi. Thực tế, với trạng thái gọi là “spiceophrenia” làm tăng tốc hơn các trạng thái tiền loạn thần đồng thời khiến việc theo dõi lâm sàng thêm phần thách thức. Bằng chứng này được khẳng định chắc chắn.

Về khía cạnh bệnh nguyên học, rối loạn TTPL cơ chừng đa yếu tố cả từ việc tạo hậu quả lẫn các biểu hiện bệnh lý. Hầu hết những gì chúng ta nghĩ mình biết về TTPL chủ yếu thuộc lý thuyết với rất ít bằng chứng lâm sàng chẳng đáng kể bao nhiêu.

Và cuối cùng, các cách can thiệp y- sinh như sốc điện (ECT), kích hoạt sóng từ cực đại (TMS), phẫu thuật tâm lý (psychosurgery), và trị liệu gene thì có ít hoặc không thể hiện bao nhiêu hiệu quả. Đa phần các rối loạn liên quan đến hành vi lành mạnh được xem là đa gene và khá không đồng nhất trong việc bộc lộ cũng như điều trị chúng.

Tóm lại, còn cả con đường dài phía trước trong nỗ lực quản lý TTPL về mặt lâm sàng theo cách thức thật an toàn và hiệu quả.

Cảm giác tội lỗi và hành động vội vàng trong vụ việc ngoại tình (2)

Việc ngoại tình có thể khiến người trong cuộc tiếp tục cảm thấy dày vò sau nhiều tháng năm đã kết thúc rồi.

Điều đấy thuộc một trong những điều lạ lùng khi tội lỗi lâu lắm chợt vừa được người vợ chân thành thú nhận, song phản ứng của chồng chỉ mới bắt đầu. Tuy thế, trải nghiệm ấy rất thông thường.

Vụ việc xưa cũ, đã chấm dứt hẳn mà phản ứng cùng các huyễn tưởng đầy hình ảnh về sự kiện chừng như mới mẻ vô cùng. Mình tưởng tượng (các ‘hình ảnh’) về kiểu dạng trong đủ trò lắm món tình huống dục lạc liên quan với chuyện ngoại tình dĩ vãng đó. Não chúng ta phản ứng thật cảm xúc với những gì mình tưởng tượng, bất kể thực hư như nào. Nếu tưởng tượng trúng vé số, ta tự động mỉm cười liền. Các huyễn tưởng về chuyện ngoại tình của cô ấy tiếp tục làm ta bức bối, và bây giờ cảm thấy bất lực. Lưu giữ hình ảnh sống động trong tâm trí, não chỉ cho phép mỗi lần một cảm xúc thôi, vì thế, nếu đang cố gắng lãng mạn và một huyễn tưởng tiêu cực nảy nòi trong tư duy, sự lãng mạn biến mất đi ngay.

Những mối ám ảnh khởi lên từ việc phản bội thuộc dạng khó khăn xử lý nhất. Bởi vì nó dính dáng sâu xa với cảm nhận toàn thể của chúng ta về sự an toàn và độ hiểu biết trong mối quan hệ, gây nên ngờ vực, lo âu, và thường tạo nên cảm nhận mất mát đến độ dẫn tới trầm uất.

Các mối ám ảnh về chuyện ngoại tình dễ quấn chặt ta và cho mình cảm thấy mất khả năng kiểm soát; chúng cũng làm mình rất khó khăn để lành lặn. Do vậy, chúng cần được giải quyết một cách trực tiếp. Một vài chiến lược từ cách tiếp cận hành vi- nhận thức gợi ý nhằm giảm thiểu các suy tư ám ảnh và giành lại cảm nhận kiểm soát:

  1. Lên danh mục các ý nghĩ gây ám ảnh, phân loại chúng theo kiểu dạng rồi đánh giá mức độ chúng khiến mình khó chịu. “Khách quan hóa” các ý nghĩ giúp đẩy đuổi khỏi mình một số nỗi đau thấm đẫm cảm xúc kết dính với chúng.
  2. Dành thời gian xem xét thật cẩn thận một vài ý nghĩ, song chỉ tí chút với mỗi suy tư thôi. Rồi, điều hướng lại ý nghĩ sang điều khác, bất kỳ điều gì khác hẳn, tốt nhất là thứ chi đem lại nhiều vui tươi và khiến mình thư thái hơn. Mình có thể cảm thấy bị thôi thúc quay về ý nghĩ ám ảnh. Nếu đơn thuần không kháng cự nổi, cho phép bản thân tiếp nhận, song lần nữa, chỉ dành chút ít thời gian thôi, rồi lại điều hướng các ý nghĩ với khoảng thời gian lâu hơn. Khá kỳ cục lắm lúc ngoài sức tưởng tượng, một chiến lược giản dị thế thực sự đủ sức giúp mình giành lại cảm xúc kiểm soát các suy tư của bản thân.
  3. Lưu ý lúc nào và ở đâu mình thường hay nảy sinh các suy tư ám ảnh. Rồi, khi các ý nghĩ trỗi lên, thay đổi bối cảnh hoặc làm điều gì đó khác biệt. Làm mình bận rộn với các hoạt động và những vụ việc bao quanh chí ít khiến mình phải bận tâm đầu tư suy nghĩ.
  4. Tự củng cố bản thân với mỗi một nỗ lực thực hiện được nhờ tiến hành các kỹ thuật nêu trên.

Còn có nhiều chiến lược khác có thể giúp mình phục hồi trạng thái bình thường về khả năng kiểm soát các ý nghĩ. Đạt được sự kiểm soát như vậy sẽ đích thực giúp mình giải quyết các vấn đề khác liên quan đến chính bản thân và về chồng/ vợ mình trong nỗ lực xây dựng lại mối quan hệ hôn nhân- gia đình. Một cách tự nhiên, điều cũng sẽ tốt lành không kém khi nhờ trợ giúp của nhà tham vấn tâm lý, nhất là người chuyên sâu vào các mối quan hệ, và có kinh nghiệm giúp thân chủ xử lý các ám ảnh cũng như các phản ứng đầy tràn cảm xúc thường hay kèm theo mỗi vụ việc ngoại tình cùng vô vàn các vấn đề hôn nhân khác.

*Vĩ thanh: Từ ‘ăn năn’ trong Anh ngữ có gốc tiếng La tin (contritus) mang nghĩa là ‘vò nát, tan tác’ ra thành trăm ngàn mảnh nhỏ. Ăn năn, do vậy, là sự giằng xé của cái tôi kiêu hãnh dưới sức nặng khủng khiếp của tội lỗi và nỗi niềm ô nhục. Nó tương tự những gì các thành viên tham gia các chương trình cai nghiện 12 bước diễn đạt ‘chạm tới đáy cùng cực’. Người ăn năn là kẻ bị gãy đổ, vỡ vụn, gập ghềnh…

Nhắn (64): Người phụ nữ đang than khóc

Weeping Woman 1937 by Pablo Picasso 1881-1973

Lời của nữ chính trị gia xứ Myanmar Aung San Suu Kyi:

Tôi tin phụ nữ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống chúng ta bởi vì họ không những hiện dấn thân vào thế giới nghề nghiệp mà còn vẫn tiếp tục giữ vai trò trụ cột tại gia đình của riêng mình… bởi vì tôi nghĩ, chỉ có một người phụ nữ mới có thể hiểu các rắc rối, khó khăn, vấn đề, sự phân biệt đối xử mà những người phụ nữ khác phải đối đầu.

 

Chẳng có chi phải lo ngại khi không nói gì…

Khi nhất thiết phải mở mồm và cất tiếng thì quả thật khó khăn biết bao nếu chẳng nói gì cả. Kỹ năng bộc lộ được đẩy mạnh thêm nhờ sự cho phép không cất lời chính là câu chuyện của kiểm soát, như một vấn đề thuộc quyền lực.

Thực tế, tình huống trị liệu từ ban đầu đã bất công; tuy nhiên, thấm thía với tư cách là nhà tham vấn tâm lý cho thân chủ quyền lực để điều hướng tiến trình của riêng họ, mình buộc phải nhận ra rằng đang nắm giữ tất cả kiến thức về tình huống, các chuẩn mực và ranh giới thuộc văn hóa trị liệu, và những kỳ vọng lẫn trải nghiệm cá nhân. Cảm xúc nắm giữ hết thẩy thế của nhà trị liệu dễ khiến một số thân chủ nảy sinh trạng thái bất an, và họ có thể muốn giữ rịt các câu chuyện cho riêng mình để bám chặt một vài kiểm soát nhất định.

Thường người thực hành tâm lý được dạy rằng phiên đầu tiên dành cho các thủ tục ký tá nọ kia, phiên thứ hai mới khởi sự nói về ‘vấn đề đích thực’ nên cũng dễ xảy ra chuyện nếu được phép ngấm ngầm, như dấu chỉ chân thành của lòng tôn trọng từ nhà tham vấn, để bộc lộ toàn bộ tình huống của họ ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ.

Quan điểm trị liệu ẩn bên dưới thông điệp vừa nêu rõ ràng khẳng định rằng thân chủ nợ nhà tham vấn việc cung cấp thông tin, trong đó thổ lộ tự thân nó là mục tiêu, có vẻ là sự dựa cậy quyền lực chẳng mấy hữu ích. Ở đâu bất công về quyền lực, ở đấy sẽ là xung đột. Thiển nghĩ, ý tưởng thân chủ cần ‘đưa cho’ nhà tham vấn câu chuyện đời mình hoặc các cái tôi để nhà tham vấn ‘làm điều gì đó’ với chúng nào khác gì hơn nỗi sợ hợp pháp mà thân chủ có thể sở hữu, điều nhà tham vấn có thể nỗ lực xua đi dứt khoát xuyên suốt phiên làm việc đầu tiên.

Bất kể thân chủ đến với ước muốn chân tình đi thẳng vào ‘vấn đề’ hoặc họ không cảm thấy an toàn để làm điều đó và cần xây dựng sự tin tưởng trước đã, trường hợp nào thì phiên đầu tiên là cơ hội để cả hai bên để ý lẫn nhau rồi thương lượng công việc tương lai dưa trên nên tảng công bằng nhất khả dĩ. Công việc giá trị có thể cũng hoàn thành ngay ở đây và bây giờ giữa thân chủ và nhà trị liệu hoặc trong lòng thân chủ mà không nhất thiết đang nhắc đến ‘câu chuyện’ hay ‘vấn đề’.

Kiểu phiên làm việc như này cũng chứa đựng thông điệp rằng đúng cả khi nói hoặc không cất tiếng gì cả. Nhiều nhiều vấn đề hay ho mang tầm quan trọng sống động có thể đã không hề được thảo luận. Song các thân chủ, một khi họ cảm thấy an toàn, được tự do dùng không gian và các mối quan hệ như họ muốn. Họ không nợ nhà trị liệu điều chi, và nhà trị liệu không hề nghĩ mình bị chơi khăm nếu họ nhận ra tất cả những gì là sự kiện và cảm xúc thích hợp, liên quan.

Bài học nằm ở chuyện tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để không gây áp lực thúc đẩy những người khác bộc lộ, và truyền thông sự vắng bóng áp lực hết sức rõ ràng âu là công cụ hữu ích cho mọi kiểu dạng quan hệ; gợi nhớ ví dụ mẹ liên tục hỏi con kể cho bà nghe những gì xảy ra ở trường trong thời gian đi học xa nhà, hoặc tình huống cô vợ rập khuôn khẩn khoản chồng nói cho mình hay về cảm xúc trong lòng cậu ấy…

Khi cảm thấy được chấp nhận bất kể mình là ai, nói nhiều ít tùy thích, rồi thường hơn là cảm giác an toàn cùng tin tưởng tạo lập nên trong quan hệ, và mình có thể nói nhiều như mình cần thiết và mong muốn bộc lộ. Mình được thoải mái chọn lựa. Và sự chấp nhận tự thân nó đủ xúc tiến, làm tăng lên trạng thái triển nở và thân- tâm an lạc.

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…

‘Biết dùng lời rất khó để mà nói rõ… ôi biết nói gì…’

Đọc được nghiên cứu khẳng định cánh đàn ông đa phần quá dễ làm kẻ ngốc và thường hay tạo ra nhiều nguy cơ hơn so với chị em đã khiến tôi ít mơ hồ với quan điểm cho rằng mọi điều chúng ta biết về chuyện nói “I love you” có thể sai thật rồi.

Ngừng tìm kiếm, khởi sự phát hiện thêm chút xem sao. Thế giá trị chi đây khi mở lời: ‘Anh yêu em’/ ’em yêu anh’… Cơ chừng ba từ, tám ký tự, kèm kiểu ỡm ờ dụ dỗ ‘nói đi rồi em là của anh’ ấy đã bị lạm dụng thái quá; rằng kỳ thực, chúng ta không nhất thiết lâm ly ILY để biểu đạt cảm xúc yêu thương?

Giời ạ, liệu chúng ta hàm nghĩa gì khi phát ngôn theo lối nửa nạc nửa mỡ ‘tôi đã làm điều mà thiệt tình thì tôi không muốn tiến hành’ (thật kỳ cục hết sức, bởi rốt cục mình thực hiện rồi đó thôi).

Mà đời lắt léo, nào dễ hiểu cho cam. Chàng đang phải lòng hay tán tỉnh? Không phải câu trả lời trú ngụ nơi nụ hôn đâu, bí mật được các khoa học gia tiết lộ là nằm ở đôi mắt đấy.

Nghiên cứu mới cho thấy, các mẫu hình liên quan đến đôi mắt tập trung ở khuôn mặt kẻ xa lạ nếu người nhìn ghi nhận như một đối tác yêu đương tiềm năng, song người nhìn sẽ chòng chọc vào bộ phận khác ở cơ thể mình nếu anh/ chị ấy đang ham muốn tình dục. Xác quyết xảy ra tự động chỉ trong chưa đầy một giây làm sản sinh các mẫu hình nghiêng ngó khác nhau.

Nhóm tác giả trên tin là các kết quả nghiên cứu của họ sẽ góp phần tạo nên cách trị liệu mới trong tâm thần học và tham vấn hôn nhân. Nhờ thế, họ có thể giúp chúng ta điều chỉnh ai đó trong đời sống hàng ngày: nếu mình thấy bản thân đang muốn nói với kẻ lạ ‘đôi mắt anh hiện dừng ở đây, đồ đáng ghét ạ’ thì khả năng cao là họ không muốn lấy mình sớm đâu.

Vụ trêu ngươi vừa nêu còn góp phần lý giải tại sao yêu đương là một cuộc gặp gỡ (tình cờ) theo dạng bỗng dưng phải lòng ai đó. Mình thậm chí ngay lập tức ghi nhận là toàn bộ năm tháng đã qua chỉ để có khoảnh khắc duy nhất này thôi, rằng mọi thứ cốt hướng tới thời điểm lấp lánh đến độ quá xúc động thốt lên ‘cả đời em đợi anh đấy’.

Trong cuốn sách mới nhất, triết gia Žižek than vãn là các khoảnh khắc thần thánh khó quên ấy ngày càng hiếm hoi trong thời buổi hẹn hò trực tuyến nhờ internet. Theo một cách nào đó, chúng ta đang quay về kỷ nguyên mai mối và hôn nhân sắp đặt sẵn. Trừ khi không phải bố bạn chọn chàng rể rồi, đó là công việc của các thuật toán (algorithms) và các đại lý hẹn hò. Ý của triết gia là những gì họ đưa cho chúng ta đích thị là tình yêu song không có chuyện phải lòng, không có vụ gặp gỡ tình cờ rốt cục khó đoán trước được; ông buồn bã cho rằng ngày nay chúng ta đơn giản rất e ngại sự kiện (event) hoặc các cuộc gặp (encounters) kiểu phải lòng thế. Mình tình cờ bắt gặp hết sức ngẫu nhiên thôi song kết cục thì mình chấp nhận nó như là điều khiến toàn bộ đời mình thay đổi hẳn.

… Quay về với việc phát ngôn ba từ quyền lực ILY; nó hàm ý đấy là dấu hiệu mình chính thức cam kết, mình ưu tiên một quan hệ so với các mối còn lại, mình sẵn sàng đi đăng ký kết hôn và đám cưới, và thậm chí, sãn sàng làm tình. Thầm lặng hay lộ rõ, chúng ta tìm kiếm câu thần chú này vào dịp này nọ, đôi khi suốt cả cuộc đời.

Song lần nữa, nói ILY có thực sự trỏ về chất lượng và tình trạng lành mạnh của mối quan hệ cặp đôi không? Nghiên cứu chỉ ra, tiếc thay, chẳng nhất thiết đúng thế.

(bài chưa hết, sẽ viết tiếp khi thuận tiện)

Trị liệu Gestalt: trải nghiệm những gì đang diễn ra ở- đây- và- ngay- bây- giờ

Fritz và vợ là Laura Perls phát triển trị liệu Gestalt vào những năm 1940, nhấn mạnh sự chữa lành thông qua nhận ra các ‘khối chặn’ (“blocks”) trải nghiệm toàn thể ‘ở đây và bây giờ’ (Corey, 2004). Nói khác, Gestalt dựa vào giả định rằng chúng ta hiểu biết tốt nhất trong bối cảnh của môi trường; mục tiêu của tham vấn nhóm là cung cấp một bối cảnh thích hợp để các thành viên nâng cao nhận thức về những gì đang trải nghiệm và phẩm chất tương tác với người khác. Hiểu biết từng khoảnh khắc điều đang trải nghiệm đi cùng ý thức ngay lập tức về các ‘khối chặn’ ấy được xem là tự thân việc trị liệu vậy.

Gestalt là hiện sinh do đặt để ở- đây- bây- giờ và ưu tiên đối thoại mang tính hiện sinh. Nhận thức, lựa chọn và trách nhiệm là nền tảng của thực hành trị liệu. Gestalt đặc biệt coi trọng tồn tại như con người trải nghiệm nó và khẳng định năng lực người cho sự trưởng thành và chữa lành thông qua tương tác và thấu triệt liên nhân cách. Cách tiếp cận là hiện tượng luận do nhấn mạnh cách chúng ta nhìn thế giới, cách chúng ta góp phần tạo nên trải nghiệm, và cách chúng ta tổ chức thế giới cũng như thiết lập bản thân. Trị liệu Gestalt còn là cách tiếp cận thực nghiệm, và các thành viên của nhóm dần đi đến nắm bắt những gì và cách họ đang suy tư, cảm xúc và hành động khi tương tác với người khác trong nhóm. Các thành viên được hướng dẫn và khuyến khích làm thử các ứng xử mới như cách tăng cường tự hiểu biết (Yontef, 1995).

Khi thân chủ đạt tới trạng thái ý thức tập trung vào hiện tại đang là và ghi nhận rõ ràng hơn về các giới hạn trong kiểu quan hệ liên nhân cách của mình, sự vụ đầy ý nghĩa còn dang dở sẽ nổi lên. Để sống đầy tràn hơn trong hiện tại, các thân chủ cần định dạng và giải quyết bất kỳ điều gì từ quá khứ quấy nhiễu chức năng đương thời. Nhờ trải nghiệm lại những xung đột dĩ vãng như thể chúng đang diễn ra lúc này, các thân chủ mở rộng tầm nhận thức và đủ khả năng ôm choàng các phần bị chối bỏ và gãy vỡ của chính mình, do đó trở nên hợp nhất và toàn thể.

Quan điểm Gestalt là nhìn những gì đang trải nghiệm quan trọng hơn những diễn giải của nhà trị liệu (Strumpfel & Goldman, 2002). Vì thế, cách tiếp cận của nhà trị liệu nhóm theo Gestalt là không diễn giải; không cố gắng giải thích cho các thành viên tại sao họ lại làm thế, cũng như không biểu đạt ý nghĩa đích thực trong trải nghiệm của các thành viên (Frew, 2008). Các vị điều phối (leaders) nhóm khuyến khích các thành viên khám phá các ý nghĩa của riêng họ.

Các thành viên cũng được khuyến khích thử kiểu hành xử mới, biểu đạt một số chiều kích của nhân cách bị ngủ đông, và kiểm tra các phương thức hành xử khác nhằm mở rộng năng lực đáp ứng với thế giới. Theo Zinker (1978), các thực nghiệm Gestalt móc chặt với đời sống thực tế của các thành viên khi họ tự bộc lộ bản thân trong tình huống và trưởng thành từ bối cảnh sống động của nhóm.

Fritz Perls giới thiệu khái niệm “chỗ ngồi nóng” (hot seat) là một trải nghiệm tự nguyện mang tính trị liệu với một thành viên nào đó trong khi các thành viên còn lại quan sát. Fritz cũng đưa ra kỹ thuật “chiếc ghế trống”.

Nhiều nhà trị liệu sử dụng các kỹ thuật Gestalt kết hợp với các mô hình lý thuyết khác. Trong bối cảnh tham vấn nhóm, các bài tập và các hoạt động, như các huyễn tưởng được dẫn dắt, giữ vai trò hình thành ý thức và tạo nên trải nghiệm ở- đây- bây- giờ. Dùng các kỹ thuật Gestalt đòi hỏi am hiểu kiến thức và kỹ năng áp dụng từng cái. Do các nỗi đau tâm lý có thể tái hiện, gây rắc rối, thậm chí sang chấn khi đào sâu các cảm xúc nên người điều phối còn đòi hỏi phải chuẩn bị tư thế giải quyết các cảm xúc mãnh liệt có thể nảy sinh.

Dưới đây minh họa việc trị liệu Gestalt đặt ai đó vào chiếc ghế trống.

Bích là người phụ nữ trẻ có bố mẹ đã mất nhiều năm trước do tai nạn trên chuyến xe đi nghỉ mát. Bích từng đề cập chuyện này và giờ tiếp tục nói về bố mẹ mình.

Bích: (khóc) Tôi không nghĩ mình biết sắp xếp cuộc đời khi không có họ.

Người điều phối: Bích, cô có muốn thử hoàn thành công việc dang dở này không?

Bích: Tôi không biết cách làm thế nào.

Người điều phối: Cô muốn thử? Tôi có một vài ý tưởng. Cô có muốn chúng tôi giúp cô làm điều này?

Bích: Tôi muốn làm điều gì đó. Tôi không muốn cứ mãi cảm nhận như này mãi.

Người điều phối: Ok, để chuẩn bị vài thứ nhé. (Người điều phối đặt hai cái ghế vào giữa nhóm, đối diện với thành viên Bích; một cái là bà mẹ, một cái là ông bố). Cô muốn nói chuyện với ai trước?

Bích: Mẹ tôi.

Người điều phối: (Thành viên đang nhìn người điều phối. Bà sử dụng đôi tay để thu hút sự chú ý của thành viên vào ‘chiếc ghế bà mẹ’ và nói bằng giọng dịu nhẹ). Cô thích nói gì với mẹ mình nào?

Bích: (Thành viên nhúc nhích, nhìn chăm chú vào chỗ trống nơi chiếc nghế và nước mắt chợt rơi). Con nhớ mẹ lắm. Tại sao mẹ lại bỏ rơi con? Mẹ biết là con cần mẹ mà. Tại sao mẹ phải đi nghỉ mát với bố? Con biết mẹ thực sự không muốn đi chuyến đó. (Giọng thành viện lên cao ở đoạn cuối, cho thấy cảm xúc tức giận).

Người điều phối: Cô đang cảm thấy thế nào?

Bích: Buồn.

Người điều phối: Còn gì khác? (Thành viên chằm chằm nhìn người điều phối, như thể chưa sẵn sàng định dạng cảm xúc bản thân. Giọng người điều phối tuy vẫn dịu dàng song có phần nồng nhiệt hơn). Tôi lưu ý là giọng của cô thay đổi đó, như thể cô đang cảm thấy đôi chút tức giận với mẹ mình vì bỏ rơi cô, vì lên chuyến xe mà bà không muốn đi và hiện không quay trở về nữa?

Bích: (Thổn thức). Làm sao tôi có thể tức giận với mẹ chứ? Mẹ đã chết. (Trong trị liệu Gestalt, thành viên có sự tách ngăn cảm xúc tức giận và chối bỏ chúng).

Người điều phối: (Giọng mềm mại, đoan chắc). Ổn thôi do tức giận với người chúng ta thương yêu. Nếu cô ngồi trên sự tức giận, cô sẽ khó đặt điều này trước mặt mình. (Người điều phối lần nữa dùng cử chỉ để thu hút sự chú ý của thành viên vào chiếc ghế trống).

Bích: (Thổn thức, với giọng vống cao, tức giận). Tại sao mẹ đi? Tại sao mẹ chết và để con bơ vơ một mình? Mẹ biết con khó khăn thế nào để sống mà không có mẹ giúp đỡ!

Người điều phối: (Quét nhanh nhóm, quan sát thấy các thành viên đang rất chú tâm). Cô cần gì từ mẹ mình để bà có thể siêu thoát?

Bích: Tôi muốn biết là mẹ yêu thương tôi và mẹ không muốn để tôi phải trơ trọi một mình trên đời.

Người điều phối: (Điệu bộ hướng tới chiếc ghế trống). Tôi sẽ đề nghị cô ngồi vào kia, chỗ chiếc ghế đó. (Thành viên rời khỏi chiếc ghế đại diện cho mẹ mình). Tôi muốn cô làm mẹ mình. Bà muốn nói điều gì với Bích nào?

Bích: (Đổi ghế, nói với tư cách người mẹ). Mẹ yêu con và mẹ không muốn bỏ rơi con. Đó là một tại nạn mà chúng ta đã không tránh được. Mẹ không cố ý làm điều đó. Mẹ không cố ý bỏ rơi con ở lại một mình.

Người điều phối dãn dắt cuộc ‘đối thoại” giữa Bích và mẹ mình, bảo thành viên chuyển đổi ghế cho đến khi cô nhận ra mẹ cô “đã không làm điều đó với cô” và cảm xúc tức giận với mẹ là không có cơ sở. Trong ví dụ này, người điều phối nhóm dùng chiếc ghế trống để giúp thành viên trình bày các cảm xúc đối với mẹ mình, định vị và phóng thích chúng theo một cách chấp nhận được, và tích hợp nhận thức mới ấy. Khi Bích hoàn thành, người điều phối quay sang cả nhóm.

Người điều phối: Chuyện của Bích có ý nghĩa gì với các bạn?

Dương: Nó khiến tôi xúc động mạnh. Bích, anh chia sẻ với em. Anh đã từng điên tiết với bố anh khi ông nhậu nhẹt suốt và chuyện của em làm anh nhận ra bố mình không muốn mình điên tiết. Câu chuyện này thật mãnh liệt. Tôi có thể nói về nó?

Người điều phối: Hẳn rồi. Để nghe những thành viên khác chia sẻ rồi Dương có thể tiến hành bất kỳ việc gì cần thiết.

Ánh: Tôi vẫn đang tiếp tục hình dung ông nội mình trên chiếc ghế và nghĩ về những điều mình muốn nói với ông.

Có những lúc thành viên đang trị liệu dễ thấy khó khăn để nhập vào ý tưởng nói chuyện với chiếc ghế trống do một số lý do nào đó. Đoạn đối thoại bên dưới, dùng cùng tình huống vừa nêu trên, cho thấy cách người điều phối xử lý tình huống kiểu thế.

Người điều phối: (Sau khi cẩn thận đặt để trạng thái với Bích). Cô muốn nói gì với mẹ mình nào?

Bích: Tôi không biết phải nói điều gì đây.

Người điều phối: (Vẫn chăm chú nhìn vào chiếc ghế trống). Mẹ, con có một vài cảm xúc mà con không thể thoát ra khỏi được. (Hướng về thành viên). Cô thử nói thế xem.

Bích: Mẹ, con có một vài cảm xúc mà con không thể thoát ra khỏi được.

Người điều phối: (Lần nữa, nói với “Mẹ” ở chiếc ghế trống). “Một cảm xúc là… ” Tiến lên!

Bích: Một cảm xúc là.. tức giận. (Bích thổn thức).

Ở đây, người điều phối đã biết cài đặt tình huống trị liệu hết sức đúng đắn và biết thành viên chưa mang mẹ mình vào hiện tại được. Bởi việc thúc đẩy thành viên rất tinh tế, diễn cùng thành viên và sử dụng cách hoàn thành câu, người điều phối giúp thành viên nắm bắt được trải nghiệm… Giá trị của chiếc ghế trống quyền năng đến độ không chỉ mỗi thành viên duy nhất đang “ngồi chỗ nóng” mà hầu hết các thành viên trong nhóm cũng đang suy nghĩ ai đó họ muốn nói ngồi ở chỗ nóng.