“Và chúng mình yêu nhau bắt đầu từ độ ấy”…

Yêu thương nở tại vườn tâm...
Yêu thương nở tại vườn tâm…

Một trong những nghèo nàn nhất khi biểu đạt bằng Anh ngữ là chỉ có mỗi động từ ‘love’ để diễn tả các thang bậc và chiều kích cùng sắc thái đa dạng của sự yêu thương; một từ mà định phủ trùm hết thảy đủ thứ cảm xúc rất người này, ngay dù nhiều cách thức và hình tướng của yêu thương.

Chứa toàn bộ điên rồ khi biết mình phải hy sinh bản thân cho con cái, để chăm cả cháu chắt hoặc bất cứ đứa trẻ nào máu mủ ruột rà. Làm thế nào chúng ta kiểm soát hết sức kiên định để luôn phải lòng với những sinh linh chẳng ngừng leo trèo, quậy phá, la hét ỏm tỏi và sẵn sàng nằm vạ khóc tu tu khủng khiếp nếu trái ý bất mãn để rồi chúng vắt kiệt chúng ta về mặt tài chính, thể lý, và cảm xúc? Đó hầu như là dạng kiên định nhất về tính điên rồ rất người.

Đã hết đâu… Còn có tình yêu lãng mạn, và sự thuộc về vốn là dạng điên khùng khác.

Chúng ta cũng thôi thúc phải tìm kiếm tình yêu thuần tinh thần với bạn bè thấu hiểu mình, những người yêu quý và chiều chuộng mình ngay cả khi chúng ta giống đứa trẻ, làm bộ làm tịch và bần tiện đáng khinh lại còn phát ngôn đủ thứ lố lăng nữa.

Và dĩ nhiên, khởi nguyên thì chúng ta xoắn bện với nhu cầu được đón nhận tình yêu thương của bố mẹ và người chăm nom, nuôi dưỡng. Khi thiếu hụt điều ấy từ những năm đầu đời, nó trở thành yếu tính khiến chúng ta ngụy trang để sống còn.

Tình yêu mang tính trị liệu tâm lý là sự kết nối của tất cả ba dạng ấy: tình yêu lãng mạn, tình yêu phụ mẫu, và đôi khi tình yêu ngớ ngẩn thật trẻ con. Các nhà trị liệu hiếm khi nhận ra sâu sắc sự kiện này vì nỗi e sợ thoát khỏi thân chủ và buộc phải sát gần với thực tiễn hành nghề. “Yêu thương”, cái từ mù mờ và mang tính hồi quang khó nắm bắt này mang quá nhiều ý nghĩa thật khác biệt với ai đó không giống nhau; nó không thể bị ném lung tung và buông thả. Vì vậy, chúng ta nói về nó, đôi lúc dùng thuật ngữ lâm sàng là “gắn bó” hoặc “chuyển dịch”, và khi khác đơn giản là “kết nối” hoăc “ràng buộc”.

Thực tế, khá sáo rỗng về chuyện phải lòng với nhà trị liệu. Cái mà văn hóa quần chúng hay lờ đi là sự kiện rằng các nhà trị liệu cũng phải lòng thân chủ của mình. Nếu bạn đang ở trong giai đoạn cần đến trị liệu, tôi cá là nhà trị liệu của bạn đang yêu bạn. Nhà trị liệu yêu đến rồ dại mỗi thân chủ, nếu giả sử hiếm hoi mình không yêu, điều gì đó thật là sai trái lắm. Các nhà trị liệu cũng mong đợi bạn phải lòng. Cần biết rõ, phải lòng nhà trị liệu không hề yếu đuối hoặc tội lỗi hay ngu ngốc hay dở hơi; nó là dấu hiệu đích thực cho các kỹ năng quan hệ và sức khỏe tinh thần tốt lành, đúng đắn.

Phòng trị liệu là nơi chốn ấp ủ tình yêu. Chúng ta có thể thực hành yêu thương ở phòng trị liệu bởi vì cấu trúc bao bọc nó đảm bảo an toàn cho việc này. Các phiên trị liệu khởi đầu và kết thúc đều đặn mỗi tuần. Độ bảo mật và sự thân tín cùng các quy điều đạo đức và pháp luật ngăn cấm nhà trị liệu thiết lập một quan hệ tay đôi (như kiểu bằng hữu, đối tác làm ăn, hoặc bạn tình) với một thân chủ. Chúng ta gọi cấu trúc đó là “khung trị liệu” và nó được đặt để đủ cho bạn thoải mái có bất kỳ và hết thảy cảm xúc của con người, bao gồm yêu thương và hận thù, nộ khí và tri ân, bên trong bốn bức tường yên bình ấy. Phòng trị liệu là phòng thực hành, và điều chúng ta thực hành hầu như kiên định là cảm xúc và các kỹ năng yêu thương.

Chúc Mừng Năm Mới đầy tràn hoan hỉ và an lạc, với tình yêu nhà trị liệu dành cho; mình tốt đẹp, mạnh mẽ, và cực kỳ rất dễ phải lòng.

Nhắn (66): Một mùa Xuân lại gần để nhân quần yêu thương mãi…

Danh sắc còn trên vô thường rất khẽ, ngồi yên an thật mới đón chào xuân.
Danh sắc còn trên vô thường rất khẽ, ngồi yên an thở nhẹ đón chào xuân.

Tất niên Giáp Ngọ bó sát mặt, ngựa vẫn chồn chân, tẩy trần bốn phương chưa chứng đắc;
Khai xuân Ất Mùi nùi sừng chắc, dê khéo cần lao, tạo hứng chúng sinh thành sự nghiệp.

#########

Năm mới Ất Mùi vừa sang

tặng nhau hiện diện đàng hoàng tâm- thân;

đào hồng nương ánh thanh tân

tháng ngày bình thản tri ân người đời…

Vụt thấy khoảng tối thoáng qua của tâm lý học

Một người quen đến khám bệnh, bác sĩ cho cậu ta dùng một loại thuốc được dặn trước là có thể khiến hệ thống miễn dịch suy giảm rồi dần nhiễm virus lây lan. Không có chuyện đùa tếu gì ở đây cả. Bác sĩ giải thích rằng thuốc ấy là thứ đầu tiên làm bệnh nhân dễ tổn thương và cơ thể anh ta sẽ có nhiều khả năng chống kháng các vi khuẩn trong tương lai khi hồi  phục căn bệnh. Một cơ chế phòng vệ tự động được kích hoạt nhằm chống lại sự lây nhiễm vi khuẩn.

Giống như đang đến điểm tập thể hình và luyện tập thật chăm chỉ. Mình sẽ cảm thấy khô họng, mỏi mệt rã rời vài ngày tới rồi các cơ bắp theo thời gian săn chắc hơn lên, tự điều chỉnh từ từ và sẽ càng có thêm khả năng nâng nhiều vật lớn nặng.

Đây chính xác tựa cách các bác sĩ tâm thần có khả năng chữa lành những rối rắm cũng như đưa ngược trở lại các chức năng thân- tâm an lạc.

Trong cuốn sách về tâm lý của sự thuyết phục, tác giả thảo luận về làm sao chúng ta có thể tạo đòn bẩy bằng các kỹ thuật tâm lý giúp khách hàng mua sản phẩm mình đang chào bán. Không chỉ dùng trong thương mại, các kỹ thuật ấy còn được sử dụng nhằm thuyết phục và gây ảnh hưởng cho bất kỳ sự đấu thầu hay mệnh lệnh nào chúng ta mong muốn.

Bộc lộ những sai lầm, khiếm khuyết

Một cách để giành được sự tin tưởng của tha nhân là thay vì thể hiện sức mạnh thì nên bộc lộ những sai lầm, khuyết thiếu. Khi mình có khả năng chấp nhận những lầm lạc và sai sót, người sẽ lập tức thoải mái với sự hiện diện của ta vì họ cảm thấy siêu việt hơn. Hầu hết mọi người ghen tỵ với những ai thành công hơn họ, đặc biệt với bạn bè thân thiết.

Nếu mình là nhân viên bán hàng, trước tiên nên luôn lộ ra các khiếm khuyết của sản phẩm nhằm giảm thấp sự phòng vệ của khách mua. Hầu hết nhân viên quá chăm chắm bán các ưu điểm của sản phẩm đến độ làm cho khách cảnh giác rằng nhân viên đang cố đi đến việc kết thúc cho nhanh chóng.

Luôn dành lời nói tốt đẹp về người khác

Đừng bao giờ nói xấu sau lưng. Ai đó đồn thổi với ta về những sai sót của kẻ khác thì chẳng mấy chốc, chính mình lại có thể trở thành đối tượng bị đồn thổi. Điều ấy sẽ thúc mình phòng vệ với kẻ này.

Mình nên luôn dành lời nói tốt đẹp về ai đó vắng mặt. Điều này khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi có mặt mình và sẽ tin mình vì họ biết mình dễ thương với phát ngôn tích cực. Nếu khó chịu với ai đó, mình phải đối chất ngay để khỏi giấu che sự bực bội.

Có qua có lại

Nếu cần một sự quý mến từ tha nhân, đầu tiên mình nên đề cao giá trị của họ. Tỷ dụ, đang trên tiến trình giới thiệu và rao bán sản phẩm thì mình uống nước. Ngay lập tức mình đưa một chai nước đóng sẵn khác với lời mời lịch sự, điều này sẽ nảy sinh nhu cầu qua lại khi khách cảm thấy mang ơn. Vì thế, lúc đề nghị thỏa thuận giá cả, họ sẽ cảm thấy nhu cầu đáp lại điều được nhận; làm tăng thêm xác suất họ lựa chọn mua hàng.

Vậy nếu cần sự ghi nhận quý mến, hãy thử cung cấp cho người ta trước tiên một giá trị nội tại mềm mại nhằm đào sâu nhu cầu có qua có lại về sau…

Sự kiểm chứng của xã hội

Khi số đông đang thể hiện một hoạt động đặc thù, nó tạo điều kiện cho chúng ta bước vào việc quyết định với một kịch bản soạn sẵn. Giả dụ mình đang làm việc tại một hội chợ khuyến mãi tưng bừng náo nhiệt và nhịp điệu diễn ra rất nhanh thì mình có thể chứng thực được cách thức làm sao tận dụng sự kiểm chứng về mặt xã hội để hưởng đặc ân. Công ty mình lo cài đặt các thiết bị âm thanh cho dân cư trong vùng, rồi không ngừng mở rộng và tăng cao thêm sự kiện là ngày càng có nhiều người đứng xếp hàng khi rất đông đang mua sản phẩm đặc biệt này.

Điều ấy thôi thúc khán giả đang nghe mình bước vào kịch bản tự động của việc quyết định mua ngay.

Trạng thái hiếm hoi

Dẫu có đông khách hàng, mình phải bảo họ rằng số lượng sản phẩm không dồi dào nhằm kích hoạt phản ứng lựa chọn mua hàng trong tâm trí họ. Biết sản phẩm sẽ loáng cái hết sạch, khách hàng sẽ không chần chừ ra quyết định đặt hàng. Với người đang lưỡng lự  hoặc phân vân xem thêm sản phẩm của đối tác cạnh tranh, sử dụng kỹ thuật này có thể khiến họ thay đổi dự tính.

Chẳng hạn, có thể bảo với khách hàng rằng công ty chỉ còn lô hàng cuối trong kho sẽ khiến khách hàng muốn vồ lấy.

Nối kết các điểm trên và mình sẽ cải tiến, hoàn thiện hơn mối quan hệ với bạn bè, người yêu cũng như thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Thực tế, không ai sẽ thiết tha gắn bó và yêu mến mình lắm nếu mối quan hệ quá dễ dàng đạt được. Cách tiếp cận lý tưởng là tạo cho tha nhân nhu cầu làm việc vì sự chu đáo, ân cần của mình. Như cách săn việc trong một công ty danh giá với vòng trong vòng ngoài đầy người để được lựa chọn. Thậm chí, nếu mức chi trả có ít ỏi và kém cỏi, sự bất hòa về mặt nhận thức sẽ xuất hiện và khiến chúng ta hợp lý hóa cách thức suy nghĩ rằng đây là cơ hội tuyệt vời, bởi vì mình phải tốn nhiều công sức và thi thố nên mới được vào.

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.