Trải nghiệm tiến trình khởi phát cá nhân và sự triển nở tâm linh

Có rất nhiều lợi lạc lâu dài định hình được khi làm việc với tiến trình khởi phát cá nhân và sự triển nở tâm linh.

Trước hết, không tránh né bất kỳ điều gì. Hôm nọ, một nữ sinh viên hỏi tôi liệu sau tất cả những thực hành tâm linh rồi xử lý rốt ráo chuyện chuyển hóa thì đâu là thứ mình nên né tránh? Hồi đáp đã chia sẻ là không nhất thiết phải tránh né điều chi; một phần mình mong muốn trở thành, song cũng sẽ có phần khôn ngoan hơn ta cảm thấy lôi cuốn bản thân tới việc sống trong sự thật toàn thể, và đó là hành trình tâm linh.

Chúng ta học hỏi rằng mình lớn lao hơn các khó khăn, phiền muộn đang phải gánh chịu. Khi chúng khởi lên, chúng ta có thể đương đầu giải quyết chúng; không phải vì chúng ta đang hành hạ bản thân và muốn làm các thánh tử vì đạo, mà vì chúng ta biết rõ, khi giải quyết một cách trực tiếp, phương thức hiệu quả nhất thông qua nỗi khổ niềm đau. Chẳng hạn, ai đó sẽ thích làm vài ly, gầy độ nhậu nhằm gắng tránh đối diện với một vấn đề; cơ mà, lúc nào đấy họ sẽ say mèm và rồi lần nữa, vấn đề còn đó, thậm chí dễ lớn hơn lên so với nguyên trạng ban sơ.

Kết quả tiến hành công việc này với chính bản thân mình giúp chúng ta bước vào nơi chốn trong lòng tất sẽ ôm choàng thật vui tươi đời sống như nó lộ bày ra, bởi vì chuyến hành trình ấy mang lại cho chúng ta hạnh phúc, bình an, thỏa ý mãn nguyện và quyền lực sâu xa nhất. Chúng ta thôi quá vướng bận để tránh né bất kỳ điều chi thêm nữa.

Vậy sự khác biệt giữa lặng im với yên tĩnh trên tiến trình triển nở tâm linh? Đâu là trải nghiệm riêng có về sự khác biệt ấy? Liệu đúng là giữa hiểu biết với tích hợp này không giống nhau? Vẫn còn có một bước tiến lớn xung quanh lặng im và yên tĩnh?

Tôi tin, không ít người có nhiều trải nghiệm khác biệt về sự im lặng. Như ai đó từng nghĩ mình chỉ thiền tập trong khoảng 10, 15 phút để rồi cuối cùng 3 tiếng đồng hồ đã trôi qua. Hầu hết chúng ta ít rảnh rỗi để thiền tập nên với các trải nghiệm kiểu vậy về sự mở rộng thời gian và vô ngã chắc không thuần túy tạo ấn tượng mạnh mẽ.

Yên tĩnh thì dường như thuộc trạng thái tâm lý hơn là chuyện ngồi xuống và đắm mình lặng lẽ nơi này. Học hỏi để làm lòng mình lắng lại là kỹ năng đáng giá. Mình sẽ phải bắt đầu với khả năng làm bản thân chậm rãi rồi lắng đọng và tĩnh tại nhằm sống cùng những gì đang biểu tỏ trong nội tâm mình. Điều này đưa chúng ta đi sâu hơn vào im lặng. Hiện diện cùng những gì đang là trong từng khoảnh khắc một giúp chúng ta phát hiện rồi làm việc theo cách riêng hướng tới các bản ngã đích thực. Bản ngã đích thực nối kết chúng ta với những gì lớn lao hơn nhiều cái tôi lăng xăng, bé nhỏ.

Một cái nhìn thoáng qua về trạng thái im lặng sâu thẳm là khởi đầu cho lộ trình ổn định hóa trạng thái của ý thức hợp nhất. Sau trải nghiệm thống nhất làm một trong thiền tập, chúng ta có thể học hỏi để đan dệt trải nghiệm nổi trội này vào đời sống thường ngày, trong từng khoảnh khắc. Tuần tự, dần dần sự đan dệt, kết nối bắt chặt đến độ đời sống không còn phả vào chúng ta sự cách ngăn biện biệt nữa mà đó là hơi thở của sự liên hợp; nghĩa là, không còn chia tách giữa chủ thể và đối tượng.

Như thế, khó chối bỏ lợi lạc dài hạn khi làm việc với sự khởi phát cá nhân và tiến trình triển nở tâm linh. Thường, các trải nghiệm của chúng ta không phản ánh theo lối tiến bộ từ A tới B rồi tới C, tức không thật xác đúng với sự tiến bộ tuyến tính; thậm chí, lắm lúc chúng ta dễ nghĩ rằng chẳng điều chi xảy đến cả, dù đích thị đấy là phong cảnh nội tại trong ta đang thay đổi.

Nếu không có thời gian tiến hành đọc sách, đến phòng trị liệu, tham dự các buổi hội thảo phát triển bản thân thì thiền tập cùng các nỗ lực thử nghiệm khác trong tiến trình trở thành cái tôi tốt lành nhất, chúng ta sẽ thành công. Cần lưu ý, lúc này thành công có thể trông không hề chính xác như mình nghĩ, song nếu nó có thể giúp mình bước lùi lại và lưu tâm đến cách đời mình đã thay đổi ra sao thì chúng ta thường dễ nhận ra một sư khác biệt tích cực.

Như một nhà tâm lý trị liệu, tôi nghe đi nghe lại nhiều lần từ các thân chủ rằng họ nghĩ mọi đớn đau, khổ sở của họ sẽ biến mất ngay tắp lự nếu họ thực hiện tất cả mọi điều ‘đúng đắn’. Họ thổ lộ mình từng ghi nhớ các câu nói khẳng định, lên tinh thần, gặp người làm tham vấn tâm lý, đọc sách, áp dụng trị liệu dựa vào cảm xúc cho đời sống vợ chồng (EFT), thiền tập và cầu nguyện đủ kiểu song họ vẫn thấy buồn bã hoặc bị ruồng bỏ không ít lần. Đôi khi, tất cả chúng ta quên rằng, thời điểm ở trong nỗi đớn đau và phiền muộn thì rất khó khăn để nhìn thấy bức tranh rộng lớn hơn. Nhớ rằng, đấy là tiến bộ không hoàn hảo. Khi trưởng thành, cách định hình về nỗi khổ niềm đau (suffering) của chúng ta thay đổi và chín chắn cực kỳ. Chúng ta thực sự cảm thấy nỗi đau về mặt cảm xúc hoàn toàn khác trước. Những gì từng đẩy chúng ta rơi vào trạng thái hoảng sợ, bị kích động hoặc tê liệt thì giờ đây với một hơi thở sâu, mình cảm thấy ổn thôi…

Thân xác, như các cảm xúc, tâm trí và linh hồn, trải nghiệm các hiệu ứng cộng dồn tích cực thêm lên khi chúng ta ngày càng tích hợp, thống nhất. Ký ức thẳm sâu của sự tích hợp đó vào những thời điểm thách thức sẽ cho phép chúng ta bật tung trở lại hết sức nhanh chóng.

Một ví dụ cho việc thân xác lưu giữ các hiệu ứng cộng dồn là khi mình còn bé xíu, mình có thể nhảy múa, hát hò và diễn kịch một cách chuyên nghiệp. Bởi vì mình từng là vũ công, cơ thể đáp ứng để chóng đi vào quyết định cụ thể. Nếu quá bận để đi tập gym thì việc giữ dáng tiến hành được nhờ ký ức biết cách chuyển động và các cơ bắp biết nên như nào… Giờ già rồi, cơ thể có thể khó khăn để tìm các hiệu ứng dĩ vãng theo vài cách thức nào đó; tuy vậy, tuổi càng lớn thì mình nhận dạng cụ thể dễ dàng hơn về mặt cảm xúc và tâm linh. Nói thế, không có nghĩa chúng ta không thi thoảng gặp lắm cảm xúc rắc rối, song rốt ráo chúng ta tích lũy cơ bắp khôn ngoan khi làm việc với nội tâm.

Nếu chúng ta điều chỉnh lối đan dệt, cài đặt cuộc đời để sống đời tâm linh, không ngừng dấn tâm trí theo cùng trạng thái thách thức niềm tin và các hệ thống cảm xúc thì khả thể là chúng ta hẳn có một đời sống cân bằng và hài lòng. Làm ơn biết cho rằng thời gian đáng giá để được chúng ta sử dụng hiệu quả, hữu ích. Việc cộng dồn của thứ lợi lạc dài hạn này càng đem lại cho chúng ta nhiều bình yên, hạnh phúc và mãn nguyện.

Tự trị, một trong các nhu cầu căn bản luôn được khuyến khích khi trợ giúp, thuộc về sự lựa chọn, chưa nói là sự lựa chọn đầy ý nghĩa. Dù chắc chắn người ta thích thú với các màu sắc, hình ảnh, chân dung được tô đậm, tôn cao trong hệ thống cung cấp tin nào đó (facebook chẳng hạn) hoặc các cuộc tập huấn hô hào lên dây cót, song điều quan trọng của bảng màu này xa lắm mới có ý nghĩa bằng sự lựa chọn mang tính ý chí, ước muốn của mỗi cá nhân cụ thể.

Lựa chọn mang tính ý chí, ước muốn là khả năng đưa ra các quyết định ý nghĩa đối với chính bản thân mình; các quyết định kiểu ‘điều gì quan trọng với tôi?’, ‘giá trị của bản thân tôi là gì?’

Những ‘sứ điệp’ cá nhân thẳm sâu như thế có thể giúp ai đó dấn thân vào trạng thái trải nghiệm lớn lao và kéo dài (tựa việc thay đổi hành vi mang tính lành mạnh). Hiến dâng đời mình với mục tiêu vun bồi các quan hệ phong nhiêu hoặc lên đường khám phá, phiêu lưu có thể dẫn dắt các lưa chọn đúng đắn tức thời, phục vụ cho mục đích chung cuộc rốt ráo. Đó là lý do tại sao, như các huấn luyện viên về sức khỏe, người ta cần quan tâm sâu sắc tới việc làm sao trợ giúp thân chủ vén mở rồi tích hợp các mục tiêu cá nhân.

Đích thị, tất cả những gì các huấn luyện viên có thể làm là hướng dẫn; để chuyện ấy hiệu quả, mục tiêu phải mang tính cá nhân. Các huấn luyện viên có thể đưa cho người ta các công cụ phản ánh các giá trị và tính cách của họ, để tổng hợp những gì họ biết vào một tuyên bố rõ ràng, và lưu giữ mục đích luôn ở vị trí trung tâm trước mặt, song họ không thể tạo ra hoặc sắp đặt mục đích.

Nên thi thoảng thật buồn cười khi nghe ai đó nói về chuyện tạo ‘động lực, thúc đẩy’ ai đó. Một huấn luyện viên giỏi, thiển nghĩ, sẽ ở vai trò tấm gương soi để giúp một người nhận ra động cơ cô ấy/ anh ta đang mang chứa trong lòng.

Đó là nơi ánh sáng của tia lửa bùng lên, nó dễ làm khởi phát tiến trình cá nhân và sự triển nở tâm linh đồng vọng…

Cảm giác tội lỗi và hành động vội vàng trong vụ việc ngoại tình (2)

Việc ngoại tình có thể khiến người trong cuộc tiếp tục cảm thấy dày vò sau nhiều tháng năm đã kết thúc rồi.

Điều đấy thuộc một trong những điều lạ lùng khi tội lỗi lâu lắm chợt vừa được người vợ chân thành thú nhận, song phản ứng của chồng chỉ mới bắt đầu. Tuy thế, trải nghiệm ấy rất thông thường.

Vụ việc xưa cũ, đã chấm dứt hẳn mà phản ứng cùng các huyễn tưởng đầy hình ảnh về sự kiện chừng như mới mẻ vô cùng. Mình tưởng tượng (các ‘hình ảnh’) về kiểu dạng trong đủ trò lắm món tình huống dục lạc liên quan với chuyện ngoại tình dĩ vãng đó. Não chúng ta phản ứng thật cảm xúc với những gì mình tưởng tượng, bất kể thực hư như nào. Nếu tưởng tượng trúng vé số, ta tự động mỉm cười liền. Các huyễn tưởng về chuyện ngoại tình của cô ấy tiếp tục làm ta bức bối, và bây giờ cảm thấy bất lực. Lưu giữ hình ảnh sống động trong tâm trí, não chỉ cho phép mỗi lần một cảm xúc thôi, vì thế, nếu đang cố gắng lãng mạn và một huyễn tưởng tiêu cực nảy nòi trong tư duy, sự lãng mạn biến mất đi ngay.

Những mối ám ảnh khởi lên từ việc phản bội thuộc dạng khó khăn xử lý nhất. Bởi vì nó dính dáng sâu xa với cảm nhận toàn thể của chúng ta về sự an toàn và độ hiểu biết trong mối quan hệ, gây nên ngờ vực, lo âu, và thường tạo nên cảm nhận mất mát đến độ dẫn tới trầm uất.

Các mối ám ảnh về chuyện ngoại tình dễ quấn chặt ta và cho mình cảm thấy mất khả năng kiểm soát; chúng cũng làm mình rất khó khăn để lành lặn. Do vậy, chúng cần được giải quyết một cách trực tiếp. Một vài chiến lược từ cách tiếp cận hành vi- nhận thức gợi ý nhằm giảm thiểu các suy tư ám ảnh và giành lại cảm nhận kiểm soát:

  1. Lên danh mục các ý nghĩ gây ám ảnh, phân loại chúng theo kiểu dạng rồi đánh giá mức độ chúng khiến mình khó chịu. “Khách quan hóa” các ý nghĩ giúp đẩy đuổi khỏi mình một số nỗi đau thấm đẫm cảm xúc kết dính với chúng.
  2. Dành thời gian xem xét thật cẩn thận một vài ý nghĩ, song chỉ tí chút với mỗi suy tư thôi. Rồi, điều hướng lại ý nghĩ sang điều khác, bất kỳ điều gì khác hẳn, tốt nhất là thứ chi đem lại nhiều vui tươi và khiến mình thư thái hơn. Mình có thể cảm thấy bị thôi thúc quay về ý nghĩ ám ảnh. Nếu đơn thuần không kháng cự nổi, cho phép bản thân tiếp nhận, song lần nữa, chỉ dành chút ít thời gian thôi, rồi lại điều hướng các ý nghĩ với khoảng thời gian lâu hơn. Khá kỳ cục lắm lúc ngoài sức tưởng tượng, một chiến lược giản dị thế thực sự đủ sức giúp mình giành lại cảm xúc kiểm soát các suy tư của bản thân.
  3. Lưu ý lúc nào và ở đâu mình thường hay nảy sinh các suy tư ám ảnh. Rồi, khi các ý nghĩ trỗi lên, thay đổi bối cảnh hoặc làm điều gì đó khác biệt. Làm mình bận rộn với các hoạt động và những vụ việc bao quanh chí ít khiến mình phải bận tâm đầu tư suy nghĩ.
  4. Tự củng cố bản thân với mỗi một nỗ lực thực hiện được nhờ tiến hành các kỹ thuật nêu trên.

Còn có nhiều chiến lược khác có thể giúp mình phục hồi trạng thái bình thường về khả năng kiểm soát các ý nghĩ. Đạt được sự kiểm soát như vậy sẽ đích thực giúp mình giải quyết các vấn đề khác liên quan đến chính bản thân và về chồng/ vợ mình trong nỗ lực xây dựng lại mối quan hệ hôn nhân- gia đình. Một cách tự nhiên, điều cũng sẽ tốt lành không kém khi nhờ trợ giúp của nhà tham vấn tâm lý, nhất là người chuyên sâu vào các mối quan hệ, và có kinh nghiệm giúp thân chủ xử lý các ám ảnh cũng như các phản ứng đầy tràn cảm xúc thường hay kèm theo mỗi vụ việc ngoại tình cùng vô vàn các vấn đề hôn nhân khác.

*Vĩ thanh: Từ ‘ăn năn’ trong Anh ngữ có gốc tiếng La tin (contritus) mang nghĩa là ‘vò nát, tan tác’ ra thành trăm ngàn mảnh nhỏ. Ăn năn, do vậy, là sự giằng xé của cái tôi kiêu hãnh dưới sức nặng khủng khiếp của tội lỗi và nỗi niềm ô nhục. Nó tương tự những gì các thành viên tham gia các chương trình cai nghiện 12 bước diễn đạt ‘chạm tới đáy cùng cực’. Người ăn năn là kẻ bị gãy đổ, vỡ vụn, gập ghềnh…

Cảm giác tội lỗi và hành động vội vàng trong vụ việc ngoại tình

Nhận điện thoại từ số lạ khi đêm hôm khuya khoắt sắp sang ngày mới; giọng nữ khang khác cất lên và kể liên hồi mà không cần xưng tên… Định thần, nhận ra người quen, vụ việc đã từng nghe, giờ thêm chi tiết mới về cảm giác cơ thể gấp gáp như kiểu bị phân ly, thấy dạ dày co thắt, khó thở, v.v…

Đó chẳng phải là trạng thái phải lòng hay rộn ràng như đang yêu lần đầu gì cả, chi chi nó rõ ràng không đem lại cảm giác tích cực cho bạn. Và e chừng sắc thái đa dạng của vô vàn câu chuyện ngoại tình sớm muộn rồi sẽ chạm tới vấn đề niềm tin trong hôn nhân; kỹ năng xử lý; thái độ ứng xử với bản thân, đối tác và tương lai; thường khó tránh thoát nổi pha trộn ám ảnh, huyễn tưởng và mất an toàn.

… Chồng bạn có thể khá hạn chế về mặt cảm xúc hoặc thậm chí không được giáo dục cảm xúc. Gia đình gốc dạy cho chúng ta việc biểu đạt cảm xúc. Một số gia đình biểu đạt cảm xúc như ôm, hôn và thể hiện nâng đỡ về mặt cảm xúc; một số nhà khác thì lạnh lùng và tách biệt, để mặc thế mà chẳng ngó ngàng cảm xúc bao nhiêu. Chồng bạn có thể không được giáo dục về mặt cảm xúc: hiểu biết kém cỏi về nhu cầu nâng đỡ, cách làm sao định hình cảm xúc của người khác, khớp nối với cảm xúc của chính bản thân. Anh ta có thể không hiểu rằng các mối quan hệ đòi hỏi sự duy trì về mặt cảm xúc. Anh ta có thể cần được giáo dục và đào luyện để thành người biết biểu đạt và bộc lộ về mặt cảm xúc.

Một vấn đề khác có thể bùng khởi trong mối quan hệ vợ chồng. Sự hiện diện của stress làm tăng lên nhân cách bình thường của chúng ta. Dưới áp lực stress, các cá nhân hạn chế về mặt cảm xúc trở nên tách biệt xa hơn về mặt cảm xúc; các cá nhân thích biểu đạt thì lại thấy cần biểu đạt cảm xúc thêm nữa. Dường như các tác nhân gây stress hàng ngày trong đời sống hôn nhân có thể khuếch đại ở cả hai nhân cách, khiến quan hệ càng khó khăn, trục trặc.

Một vụ ngoại tình chỉ là huyễn tưởng nghĩ rằng đem lại điều hữu ích. Đâu tầm hơn 70% vụ ngoại tình xảy đến trong những thời điểm căng thẳng. Dù chúng có thể tạo ra một vài xao nhãng đủ lãng quên các tác nhân gây stress thông thường, một vụ ngoại tình kỳ thực rốt ráo lại thêm mức độ stress hơn và có thể phá hoại hôn nhân lâu dài.

Các lý do đều khả thể: kẻ kia không mang gánh nặng trách nhiệm, áp lực, nghĩa vụ, v.v… Ngoại tình giống như ghé đến nơi chốn ăn chơi nổi tiếng. Các tác nhân gây stress giờ dồn dập, em bé nảy sinh nhiều nhu cầu cần được chăm sóc chu đáo hơn, vợ căng thẳng nên khó tập trung chú ý sắc đẹp ngoại hình, bố vợ ốm, v.v… Khi ở trong bối cảnh như thế, chúng ta bị lôi kéo mạnh mẽ vào các tình huống mà trách nhiệm giảm thiểu thấp nhất hoặc trở thành số 0. Người nữ có thể tương tự. Mình lao cùng cô ấy vào chuyến đi chơi đến điểm nổi tiếng: đầy tràn niềm vui, tiếng cười, xốn xang bắt mắt, và không phải lo hóa đơn tiền điện hoặc học phí của con. Buồn thay, thăm viếng, ghé chơi không giống với việc đang sinh sống nơi đó. Quan hệ ngoại tình thì không nở hoa, nó thuộc dạng giải trí. Nó chỉ duy trì niềm vui thú chờ đời sống thực trần trụi xâm nhập vào. Đây là lý do khoảng 95% các cuộc ngoại tình kết thúc trong hư rỗng.

… Bạn đang bỏ chạy khỏi nhà từ góc độ tâm lý, đa phần do bởi trách nhiệm tăng lên ghê gớm theo tháng năm. Sự kiện bạn đang xem lại băng hình quay dịp đám cưới rồi tự hỏi không rõ mình có yêu vợ không phản ánh khả năng khốn khổ vì stress nếu không mắc trầm cảm rồi. Đánh giá lại các chuyện đã xảy ra là triệu chứng cơ bản của trầm cảm.

… Ngoại tình chắc chắn không bất thường trong các mối quan hệ, và nó có thể tồn tại bởi nhiều lý do. Đôi khi việc ‘lừa dối’ của người ta được xem là triệu chứng của vấn đề trong quan hệ mà anh ta không thể nhấn mạnh trực tiếp. Không đáng lo về trạng thái một vợ một chồng hoặc sự cam kết, song có thể chuyện thuộc điều hoàn toàn khác hẳn mà anh ta đang khốn khổ đương đầu. Chưa nói, một người chồng có thể nói anh ta muốn cam kết nhưng hành vi thể hiện thì lại trái ngược. Các lý do ‘tại sao’ ngoại tình xảy ra có thể phức tạp, song điều quan trọng nhất là nỗi đau mà hành vi ấy là nguyên nhân, rồi tìm ra các cách giải quyết vấn đề và tạo những thay đổi.

… Bạn cho rằng chồng mình rất quan tâm chăm sóc vợ. Anh ta khả năng cao gặp khó khăn để thể hiện. Bạn có thể êm ả giáo dục anh ta (thiên hạ quen với ‘dạy chồng’ hơn). Khi chúng ta không được giáo dục thấu đáo về mặt cảm xúc, chúng ta không biết cần làm gì và cảm thấy khó chịu với các cảm xúc. Ở đây, khi chồng bạn bộc lộ một phản ứng cảm xúc mà bạn thích, hãy tán dương anh ta. Nói thành lời để anh ta biết là bạn thích thú với điều đó và biểu tỏ với anh ta một vài cảm xúc nữa. Các cử chỉ, hành vi được khen ngợi và tưởng thưởng thì rất dễ xuất hiện lại. Cũng hữu ích chung khi bạn thể hiện cảm xúc bản thân thật sống động. Anh ta càng bộc lộ tình cảm thì sẽ dần thấy thoải mái hơn với việc biểu đạt cảm xúc.Nhân tiện, sự hấp dẫn và quyến rũ đồng nghiệp của bạn khoảng 98% là huyễn tưởng: huyễn tưởng của bạn. Tất cả điều bạn thực sự biết về nam đồng nghiệp là chuyện anh ta ham nhìn và tìm cách đi theo bạn. Các huyễn tưởng của chúng ta có thể gây ra rắc rối thực tế trong đời sống hàng ngày.

(còn tiếp)

Quan sát trong thiền tập

Ai từng trải qua khóa thiền Vipassana gần 12 ngày thảy đều có thể cảm nhận rõ ràng về vai trò của quan sát khi được đề nghị thực hành theo dõi: hơi thở vào ra bên trong khoang mũi, dùng tâm trí quét dọc ngang thân thể từ trên đỉnh đầu xuống dưới chân rồi vòng lại, chú ý tới khoảng tam giác bé xíu ngay dưới cánh mũi, v.v…

So sánh các kỹ thuật Phật giáo của việc quan sát (Vipassana) chúng ta có thể phân biệt cách tiếp cận khác nhau tạo nên nhiều điều đáng để suy ngẫm.

Đầu tiên, xác lập tự thân việc quan sát chỉ là ‘quan sát những gì hiện là’ trong giả định mọi thứ diễn bày trung tính. Các truyền thống khác nhau định rõ đây đơn giản là việc ‘nhìn vào những gì đang xảy đến’ mà không can thiệp, dính líu tới.

Để mặc khoảnh khắc mà độ tập trung có thể xảy đến hoặc không đạt tới được, trường phái tư duy đặc thù một cách truyền thống này tin rằng điều đó đủ cho việc “quan sát hết sức tỉnh thức”. Với họ, sự đói khát thường tương đương với nỗi thèm muốn, ước ao hoặc ghét bỏ trong các cảm xúc.

Cách tiếp cận thứ hai kế thừa mọi điều vừa nêu, tuy thế họ yêu cầu phương thức quan sát đầu tiên xét kỹ một điểm tinh tế và quan trọng: nếu chúng ta nhất trí, đối tượng quan sát của chúng ta là danh- sắc-và- hình- tướng cũng như ý thức và rằng chúng ràng buộc nhau bởi một dạng thức nọ kia sâu xa của trạng thái khát thèm, hơn là hàm ý mỗi một khoảnh khắc khi chúng ta trải nghiệm có ý thức khoảnh khắc của ‘tôi đang quan sát nơi đây’ và ‘có đối tượng được tôi quan sát’ thì chúng ta đã níu bám rồi. Chúng ta từng tán đồng bằng dạng thức nọ kia rằng cái bị/ được quan sát là của mình hoặc thuộc về chúng ta, tức là chúng ta đang đặt một quan hệ với nó. Do đó, chúng thách thức ta giá mà ‘chỉ để tự mình quan sát’ thì đã tóm lấy cái đầu con rắn chứ không phải hầu hết thời gian thiền tập trải nghiệm việc núm bắt đuôi hoặc thân con rắn. Vậy, dẫn tới việc thiền tập sẽ bao gồm hầu hết thời gian nắm bắt các suy tư, cảm xúc, tri giác, v.v… và không đủ tiêu chuẩn cho những gì Đức Phật biểu thị là ‘chú ý sắp sửa dẫn tới cội nguồn’ của trải nghiệm. Các trường phái Phật giáo truyền bá rộng rãi tuệ giác này thường hay giới thiệu một kỹ thuật chú ý để dừng tâm trí lập tức ngay khi bất kỳ nào khởi lên như “vô thường”, “đau đớn”, “trống rỗng”, v.v… Các nhãn mác này quen được dùng đặng miêu tả ngắn gọn là việc gọi tên tự thân trong dạng thức căn bản nhất của sự chú ý, nhằm dừng chẳng bao lâu sau khi tiến trình phát sinh mỗi một ấn tượng cảm giác được tâm trí ghi nhận. Ở đây, thiền giả cố gắng nắm bắt trải nghiệm cảm giác đang phơi lộ của con rắn sát gần đầu nó khả dĩ. Tiến trình này thoạt trông rất giống cách mô tả bên trên, song rốt cuộc ẩn bên dưới nó, tiến sát gần hơn tới một dãy chân trời- sự kiện trải nghiệm sinh khởi. Cách tiếp cận thế tạo công cụ thiết yếu để “khôn ngoan nhìn thấy khởi lên và biến mất” về thế giới (lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà không hề thỏa hiệp. Một thỏa hiệp hàm ý để mặc tâm trí phơi tỏ trong một mối quan hệ với đối tượng mà kết cục người ta sẽ tri nhận tự thân sự đang quan sát: bắt chụp rõ ràng trong tính hai mặt, đối ngẫu.

Dù cách tiếp cận thứ ba cũng kế thừa mọi thứ đã trình bày, song nó lại không cho phép bất kỳ ‘lời bào chữa’ nào do không lưu tâm, ghi nhận tới. Nói khác, trong khi cách tiếp cận/ trường phái thiền tập thứ hai vẫn làm dúm dó và biện hộ một sự thay đổi dự tính sẵn trong quan sát thiền tập, cách tiếp cận thứ ba này khẳng định rằng một khi chúng ta bước vào mô thức quan sát như thế thì thể nào ngay bây giờ điều chi hẳn là đều được quan sát một cách nhị nguyên, mang tính đối ngẫu. Tỷ dụ, trong khi một số tuệ giác của thiền sư theo cách tiếp cận thứ hai hợp pháp hóa rằng một thiền sinh có thể ‘thay đổi đối tượng thiền tập nếu một đối tượng thứ phát trở nên hay gặp’, cách tiếp cận thứ ba quả quyết không nên có điều tựa thế. Nếu chúng ta dấn thân vào bất kỳ điều quan sát nào nhằm cố thấy ra những gì đang hiện diện đúng với căn cốt của nó thì ngay cả một ước muốn/ dự tính chuyển đổi các đối tượng cũng nên được ghi nhận. Tiếp tục và ước thay đổi đối tượng thiền tập thì thực tế tựa như một cách tiếp cận dính mắc mà kết cục hàm ý ôm nắm và bám níu vào đối tượng quan sát. Một khi khởi sự thiền tập, tự thân việc ghi nhận cũng nên trở thành một đối tượng của ý thức! Đích thị khó khăn để lại ngừng ngay cả việc thiền tập này song như tất cả chúng ta đều biết, ham muốn và luân hồi sẽ rốt cục là cứu cánh khi đồng nhất hóa nỗi đớn đau với thân xác này trở nên ngập tràn quá độ và thiền giả cứ để mặc nó vậy rồi tự định hình bản thân lần nữa.

… Tóm lại, dù ba cách tiếp cận trên có vẻ như mới được nhìn nhận từ viễn tượng mang tính lý thuyết thì tất cả chúng đều muốn trợ giúp thiền giả buông phóng khỏi cái tình gắn bó sâu xa với việc nhìn, nghe, ngửi, nếm… suy tư.

Ngoài ra, nếu tìm hiểu cặn kẽ thì biết là đã có sẵn các hướng dẫn chi tiết. Xin ghi nhận sự kiện rằng bất kỳ điều chi (không có ngoại lệ) đều phải được ghi nhận, và thứ hai cách một cái nhãn ngắn gọn cơ chừng được áp dụng ở đây nhằm ngừng tâm trí nhanh nhất có thể ngay khi vừa quan sát thấy ‘đang bị dính vào’ hoặc là ‘thành phần’ của câu chuyện.

Chí ít, có ba mô thức thực hành đáng lưu tâm kỹ càng. Trước tiên, vốn đang lan rộng phổ quát ở các điểm tu tập thiền định tại phương Tây là chuyện nhấn mạnh khía cạnh tâm lý của các nhóm ôm nắm hoặc các bầu khí cảm giác được thay thế bằng một diễn giải đậm tính triết lý quá. Thứ hai, đặc trưng bởi việc không ngừng gây trở ngại cho tiến trình ghi nhận vì sự lợi lạc của ‘kỹ thuật’ mà khá buồn cười, có vẻ gây ra hạn chế cho chính sự triệt để của khoảnh khắc đó. Thứ ba, áp dụng việc ghi nhận tất cả bao quanh mà không loại trừ bất kỳ điều gì.

Tri ân sự nỗ lực chú ý dõi theo bài viết của độc giả và chúc quý vị may mắn với việc quan sát kỹ lưỡng, thấu triệt.

Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.

Stress, trí nhớ có vấn đề, hay trạng thái phân ly?

Suốt một ngày dài bình thường làm việc miệt mài, chúng ta tham gia cả đống các hoạt động và dấn mình cùng vô vàn suy nghĩ; hầu hết chúng khá nhỏ nhặt, quen thuộc đến độ bộ não không nhất thiết ghi nhận thật chính xác. Vào lúc kết thúc và đóng cửa văn phòng, bao nhiêu công tắc mình bật tắt? Mấy người ta chào hỏi ở nơi giao dịch công cộng?

Cảm thấy thời gian trôi quá nhanh và đôi lúc, ngồi hồi tưởng cũng khó hình dung rõ ràng… Trải nghiệm đang cảm nhận là bình thường. Năng lực của người khác nhắc nhở làm đào sâu các ký ức trong ngày cũng bình thường. Tỷ dụ, chúng ta chắc không thể nhớ tất cả tên tuổi những ai mình đã chuyện trò ngày đó, song nếu có người nhắc về lần gặp gỡ với họ, não bộ dễ gợi lại dịp tiếp xúc…

Song nếu mình cảm thấy cao hơn mức độ trung bình các khó khăn với vấn đề hồi nhớ, stress có thể là thủ phạm, chẳng phải rối loạn định dạng phân ly. Stress có tác động vào hóa sinh của não bộ, ảnh hưởng đến các chức năng chú ý và trí nhớ. Người mắc trong tình huống và môi trường stress hay thấy thổ lộ những chuyện liên quan cả việc chú ý lẫn hồi nhớ ký ức. Khi stress, bộ não vận hành rất nhanh và dính líu sâu xa với các sự vụ stress đến độ không ghi nhận tốt các sự kiện thông thường. Một bộ não bị stress cũng không giám sát ổn thỏa các hoạt động, làm nảy sinh sự quên lãng và cảm nhận mình đang rơi vào trạng thái ‘đãng trí’: quên chìa khóa nhà, không tìm thấy cốc café hay uống, đánh mất USB, v.v…

Phân ly (dissociation) thuộc vô thức và nói chung là tình huống không dự kiến làm đứt gãy, ngắt quãng sự kết nối bình thường giữa các suy tư, ký ức, cảm xúc, hành động hoặc cảm nhận về bản dạng cá nhân. Một số, chắc chắn không phải tất cả, ví dụ về phân ly có liên quan đến các giai đoạn mất trí nhớ (amnesia). Dù người ta trải nghiệm các trạng thái phân ly với nhiều dạng kiểu khác nhau song thường có tiền sử việc bị lạm dụng sâu sắc hoặc/ và gặp sang chấn; các tình huống và tác nhân gây stress khác có thể cũng đào sâu các giai đoạn phân ly.

Phân ly cơ bản có thể được xem như một cơ chế phòng vệ nguyên thủy chống kháng với nỗi đau đớn cảm xúc. Dù nó có thể hiệu quả đặc biệt trong việc cung cấp vài ba lượng định tách biệt nhằm kháng cự với sang chấn trong ngắn hạn, nó tự thân là vấn đề đáng lo khi lạm dụng thái quá như cách để ai đó cách ly mình khỏi nỗi đau đớn cảm xúc, và nó còn có thể đặt để nhiều vấn đề buộc cá nhân nỗ lực học hỏi đặng hiểu biết phương thức đương đầu với các stress đời sống và công việc xảy đến vào các thời điểm khó khăn trong các quan hệ liên nhân cách.

Một số biểu hiện phân ly hay gặp như quên bẵng thời gian, không nhớ về sự kiện, cảm giác tan rã nhân cách và mất đi cảm nhận bình thường về cái tôi có thể gây phiền nhiễu cho chính bản thân đối tượng trải nghiệm.

Phơi lộ và làm việc thông qua các xung đột cảm xúc chưa được giải quyết là những gì trị liệu tâm lý quan tâm nhắm đến. Song lắm lúc, đối diện và trải nghiệm lại các vấn đề gây stress vừa phải thôi cũng đủ kích hoạt các phòng vệ. Dù các cảm nhận và trải nghiệm là căng thẳng, phiền phức thì chúng không hề nguy hiểm và nên làm tiêu tan đúng lúc khi đương đầu rồi giải quyết với các tình huống gây sợ hãi. Nhịp điệu thích hợp là điều cần để tâm trong tiến trình phải đương đầu với các vấn đề nan giải, theo một cách thức không quá mức gây ra stress khủng khiếp cho thân chủ. Ghi chú các kiểu dạng stress xuất hiện lúc gợi lên các phản ứng phân ly là cách hay trong trợ giúp và xác lập các vấn đề cần thiết dành sự quan tâm nhất.

Vấn đề liên quan đến hình ảnh bản thân con người ta

Tất thảy chúng ta thường đều nghĩ chúng mình ổn và những người khác cũng xoắn khít. Tiếc rằng sự thật lại nằm ở đâu đó khoảng giữa. Thiên hạ có khiếm khuyết của thiên hạ, chúng ta có vấn đề của chúng ta.

Hình ảnh bản thân (self-image) là cách thức khái niệm hóa chúng ta thiết lập trong tâm trí về kiểu dạng mình là người như nào. Chúng ta đều vẽ bức tranh tâm thần về bản thân mình, và nó là bức tranh mang hơi hướng duy trì khá ổn định theo thời gian, trừ khi chúng ta cân nhắc các bước để thay đổi nó. Một số nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ ‘sơ cấu bản ngã’ (self-schema), (với thuật ngữ ‘schema’ nhắm trỏ một khung, mẫu hoặc sự trình diễn một lý thuyết) khi nghiên cứu về hình ảnh bản thân và cách thức làm sao tạo lập nó.

Có bằng chứng hình ảnh chính mình chúng ta phát triển là dựa trên phần lớn sự đo lường của những gì chúng ta học hỏi được từ môi trường, như điều người khác bảo về bản thân ta và cách họ có vẻ đáp ứng lại với ta. Song, dĩ nhiên, hình ảnh bản thân cũng khởi lên do chính cách mình phản ứng, những diễn giải đặc thù của chúng ta về các sự kiện, và nhất là phương thức chúng ta đánh giá cả bản thân lẫn bản chất các tương tác với người khác. Rất nhiều bằng chứng khẳng định, cách chúng ta nhìn nhận bản thân mình mới đích thị là vấn đề. Hình ảnh bản thân quan trọng do đủ lý do song cơ bản, vì ở tầm mức nào đó nó tác động hết sức chính xác và nghiêm trọng tới tổng thể an lạc tâm lý và đặc trưng trong các quan hệ của chúng ta.

Hình ảnh bản thân của người ta có thể bị bóp méo, mất cân bằng hoặc chẳng hề lành mạnh với cả loạt lý do. Khi còn bé, chúng ta đặc biệt nhạy cảm với những đánh giá bởi bố mẹ mình, các nhân vật quyền thế, những ai có ảnh hướng tới chúng ta, và nhất là bạn bè cùng trang lứa. Nếu những đánh giá đó quá thường xuyên và/ hoặc rất tiêu cực, gây căng thẳng thì chúng ta dễ nội tâm hóa thành quan niệm về bản thân càng thêm phần tiêu cực. Song các tính cách nguyên sơ của chúng ta cũng giữ vai trò thiết yếu trong sự phát triển hình ảnh bản thân mình nữa. Một số người cực kỳ nhạy với sự phê bình và đẩy lên thái quá khi diễn giải về sự việc hoặc hành động gây tiêu cực cho họ. Một số khác lại có xu hướng đặt áp lực khủng khiếp lên bản thân để thành người ‘hoàn hảo’ khiến các sự việc bé tí và nhỏ nhặt mấy cũng minh chứng cho sự vô dụng và thất bại của chính họ. Thiết lập hình ảnh bản thân tiêu cực không chỉ là dạng vấn đề thuộc tự hiểu biết bản thân mà nó còn trở nên bị bóp méo thường xuyên gây trục trặc trong chiều hướng nhìn nhận. Trẻ em quen việc đón nhận được khen ngợi và chú ý quá lố đến tài năng, ngoại hình hoặc năng lực xã hội của chúng có thể đề cao cực đoan việc đánh giá tích cực và lòng tự trọng của chính bản thân chúng.

Căn cốt đối với một hình ảnh bản thân thật lành mạnh bao gồm cả việc cảm nhận, ý thức và sự cân nhắc, cân bằng đúng đắn.

Thường thì, vấn đề trong quan hệ không chỉ do đối tác mà còn phụ thuộc chính bản thân họ nữa. Mỗi người sẽ chỉ điểm người kia như tính cách gây phiền phức ghê gớm trong quan hệ trong khi mình đang tự biểu lộ bản thân như dạng khá ‘rối nhiễu’, đa phần phụ thuộc và rủi ro thành nạn nhân; mỗi người dường như gây rắc rối cho người khác đồng thời cũng gây rắc rối với chính bản thân mình.

Tại sao cách thức chúng ta nhìn nhận bản thân tạo thành vấn đề? Chủ yếu vì chúng ta thường biến làm sao tất thảy đem lại thoải mái cho chính mình. Hầu hết các kiểu dạng tính cách là “ego-syntonic” (hành vi, giá trị, cảm xúc hài hòa hoặc chấp nhận với các nhu cầu và mục tiêu của bản ngã, hoặc nhất quán với hình ảnh lý tưởng của bản thân); ví dụ, người ta tìm ra cách để nhìn nhận mọi thứ và mọi việc mình làm đều đáng tán thành và ưa thích. Tất cả chúng ta hay nghĩ rằng chúng ta ngon lành, người khác mới rắc rối, và điều này là sự thật với các tính cách quấy động… và, nếu chúng ta sắp nhấn mạnh thật đúng đắn và chính xác lỗi lầm ở người khác, như người khôn ngoan từng nói, chúng ta phải trước tiên gỡ bỏ, cất khỏi những bóp méo trong tri nhận của bản thân đang như đám mây mù che mờ đánh giá của chính mình đã…

Dưới đây là vài ba câu hỏi có thể giúp người ta phản ánh cách họ nhìn nhận về chính bản thân mình:

  • Mình thấy gì khi soi mình trước gương?
  • Mình có thấy điều người khác thấy?
  • Mình có bị khống chế bởi điều đó?
  • Mình có thể chấp nhận sự phê bình mà không đưa ra lời phát biểu (ví dụ, ‘hết sức xây dựng’ đối lập ‘rất phá hoại’)?
  • Mình có thể sống với ý tưởng luôn có cơ hội cải thiện bản thân để thành loại người mình mong muốn trở thành?
  • Mình ít khi nghĩ ngợi cho chính bản thân đến độ mình nên cảm thấy may mắn là bất kỳ ai rồi cũng sẽ thích mình?
  • Mình nghĩ mình là người hoàn hảo và người khác nên học tập?
  • Mình biết tỏng tòng tong rằng mình chẳng là gì song thích bóp méo để gây ấn tượng với người khác thay vì tự mình lo cải thiện hình ảnh bản thân?

Cách thức chúng ta nhìn bản thân mình không chỉ nói rất nhiều về sự thích ứng tâm lý mà còn phản ánh sâu rộng về các mối quan hệ mình có. Và dĩ nhiên, khi đề cập hình ảnh bản thân, nhiệm vụ suốt một đời là làm cho nó trở nên thật đúng đắn.

Về một sự nghiện ngập mềm dịu

Thường nhắc đến sự nghiện ngập, đa phần chúng ta nghĩ về các chất như cocaine, heroin, và bia rượu. Những thứ này là loại nghiện ngập chắc cứng. Song quá nhiều người không hề cho rằng các hành vi mềm dịu mang tính nghiện ngập có thể tạo nên vô vàn rắc rối cũng như gây ra nhiều phiền nhiễu khiến chúng ta mất đi bản tính cao quý.

Các loại nghiện ngập mềm dịu có thể là hành vi như lướt mạng, chơi game, xem TV, đọc sách, mua sắm, làm việc bất kể ngày đêm, phàn nàn, buôn dưa, trì hoãn lần lữa, và nhiều thứ khác mà chúng ta hay thực hiện quá mức.

Tất cả chúng ta lao mình vào các dạng nghiện ngập mềm dịu với sắc thái, tầng mức khác nhau, thậm chí một số chúng là tích cực; một số thứ là lớn lao song mặt khác nếu tiến hành trong trạng thái cưỡng bức, cực đoan thì có thể tàn phá chúng ta.

Lực thúc đẩy đằng sau mọi nghiện ngập, kể cả nghiện ngập mềm dịu, là sự truy cầu để tê liệt, lờ đi, vượt thoát, hoặc đè nén các suy tư lẫn cảm xúc khó chịu. Rồi chúng ta dùng các hoạt động này một cách xung hấn, lặp đi lặp lại không ngừng để khiến chính mình bị xao nhãng hoặc lảng tránh các cảm xúc, suy tư vô thức/ ý thức. Điều này có thể mang lại một cảm nhận phấn khích, gây phóng thích chất endorphin, và tạo ra một sự sự trốn thoát tạm thời nỗi đau đớn trong lòng.

Song ở tầm mức nhất định, hành vi như thế làm đời sống càng khó khăn hơn, tạo nên kháng cự và chi phối, phá hủy và thỏa hiệp với nhiều khía cạnh khác nhau trong đời; bao gồm công việc, các mối quan hệ, và trạng thái thân- tâm an lạc, cũng như các hoạt động khác và một cuộc sống xác quyết đầy niềm vui, hoan lạc. Chúng ta trả giá cho các dạng nghiện ngập bằng tiền bạc và thời gian, làm chết điếng đời sống nội tâm, và khóa tắt luôn ý thức của bản thân. Đặc biệt, đáng chú ý không kém, các hành vi nghiện ngập kéo chúng ta ra khỏi việc sống hoàn mãn, tràn đầy như nó vốn có.

Điều hữu ích nhất mình có thể tiến hành khi đang đương đầu với bất kỳ loại nghiện ngập nào là thấu biết đời sống nội tâm chính mình: nhận ra và sống cùng với các suy tư, cảm xúc của bản thân. Với một số người, đấy có thể là chuyện khá khủng khiếp, đe dọa họ khi thoáng nhìn mù mờ về đời sống nội tâm bí ẩn cùng với mớ rối rắm của các suy tư, ý nghĩ hỗn độn.

Để thấu hiểu sâu sắc các cảm xúc lẫn suy tư ẩn bên dưới đã dẫn dắt hành vi nghiện ngập, cần định hình và làm việc không ngừng nghỉ với thói quen lập trình cá nhân đang níu giữ, giam hãm mình; được thế, chắc chắn sẽ tạo nên một bước tiến bộ vượt bậc.

Có rất nhiều nguồn lực trợ giúp chúng ta trên tiến trình. Huấn luyện, hướng đạo, tâm lý trị liệu, các chương trình 12 bước, thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation), chữa lành năng lượng, và các loại sách tự trợ (self-help books)…

Nước mắt lưng tròng vì lòng con sợ mẹ chết quá chừng

Một người con luôn cảm thấy đau đớn vì không ngừng nghĩ mẹ mình có thể ra đi bất kỳ lúc nào. Bà mẹ hiện không ốm bệnh gì, nên chính người con không biết tại sao mình lại cảm nhận như vậy; nếu mẹ qua đời thì người con sẽ cảm thấy mình khó sống nổi thảm họa này.

Người con cho biết yêu mẹ rất nhiều. Không có từ nào mô tả được, và biết rằng việc mẹ mình không hạnh phúc trong đời khiến người con cảm thấy quá ư tồi tệ. Tất cả mọi công việc nặng nhọc người con đang làm là vì mẹ, không phải vì bản thân. Người con muốn mẹ hạnh phúc, muốn chấm dứt mọi điều đang diễn ra làm mẹ buồn.

Người con hỏi làm cách nào để thoát khỏi ý nghĩ hoặc cảm xúc về chuyện mẹ mình đang sắp chết. Đêm người con mất ngủ.

… Khi vinh danh lòng hiếu thảo của người con đối với mẹ mình, dễ cảm thấy là mối gắn bó ấy quá chừng mãnh liệt, đến độ có thể thừa sức làm cho chính người con ngã bệnh, ốm đau. Một mối dây bền chặt với người khác là điều tốt đẹp song nếu quan hệ thu hút hết mức quyền lực thì nó trở nên không còn lành mạnh. Nói khác, đấy là  sự dính mắc.

Gọi là dính mắc khi hai người hoặc nhiều hơn (thường gồm cả toàn bộ gia đình) phụ thuộc và xoắn vào nhau thái quá. Khi một người khó chịu, mọi người khó chịu. Những gì một người muốn, mọi người muốn. Các nhu cầu và cảm xúc cá nhân bị đánh mất; vì thế, người trong tình trạng dính mắc thấy thật khó nói lời từ chối hoặc cân nhắc tới các ao ước riêng của bản thân.

Thật hay khi tích hợp các nhu cầu và ước muốn của người khác vào đời mình song cái giá đánh đổi cho điều đó không thể là sự mất đi cuộc sống riêng. Cả hai đều đến và đi khỏi thế giới một mình, vì thế người duy nhất hiện diện nơi đó với toàn bộ đời mình là chính bản thân ta. Nên chi, chúng ta hết sức cần biết chắc mình luôn chăm lo, bảo bọc dọc dài cuộc đời chính mình. Không may, nghe như thể người con đang rung chuông báo động những gì vốn nhẽ ra là của riêng– công việc nặng nhọc, hạnh phúc– đang thuộc về người mẹ, và thân xác người ta có lẽ cũng đang nói rằng nó chịu áp lực ghê gớm.

Không ai biết khi nào thì bố mẹ mình qua đời, song chúng ta có thể đảm bảo rằng một ngày rồi họ sẽ tạ thế. Nếu tự nhiên diễn tiến theo kế hoạch định sẵn, bố mẹ chúng ta sẽ chết trước khi chúng ta mong đợi thì đấy không nên xem là ‘thảm họa’; nó là trật tự sắp bày của mọi sự, và nếu bộ mẹ hoàn thành bổn phận, con cái họ có thể bước tiếp mà không có mặt các bậc sinh thành nữa.

Một trong những công việc chúng ta ứng xử như bố mẹ là chuẩn bị con cái mình vào đời rồi để mặc chúng tự quyết. Không rõ người mẹ đã gắng làm điều đó, nếu chưa, tự thân chính người con có thể cần tiến hành. Trong khi người mẹ có thể trợ giúp, bà không thể là thế giới của người con. Do vậy, đặt để ranh giới giữa mẹ và con có thể rất hữu ích.

Các ranh giới cá nhân là các quyết định mình tạo ra điểm bản thân dừng và nơi người khác khởi sự. Điều duy nhất bất kỳ ai trong chúng ta có thể kiểm soát được là hành vi của bản thân, vì vậy các ranh giới là cách thức mình đáp ứng với những người khác. Ví dụ, trong các quan hệ dính mắc, người ta thường mong đợi kẻ khác cảm nhận điều họ đang cảm nhận. Họ không nắm giữ chắc chắn các cảm xúc riêng mà để kẻ khác xử lý giúp. Một ranh giới nên là mình kiểm soát cảm xúc bản thân đồng thời mong người khác cũng quản lý chính họ; nói khác, mình chịu trách nhiệm hạnh phúc chính mình và để mẹ mình kiểm soát cuộc đời riêng của bà.

Rất nhiều sách vở viết về ranh giới sẵn có để tham khảo; nếu không cảm thấy đủ, người con có thể nghĩ tới việc kiếm tìm sự trợ giúp chuyên môn. Các nhà trị liệu gia đình đặc biệt rất giỏi trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến việc xâm phạm ranh giới và có thể trợ giúp người ta sửa chữa ranh giới tồn tại bấy lâu. Khi người con có thể học cách tách bản thân khỏi mẹ mình một cách lành mạnh, viễn tượng về cái chết của người mẹ, dù vẫn buồn đau, sẽ không thể phá hủy đời sống của người con được.

Một sự mời gọi trong lòng

Mình có thể cảm thấy thu mình và hụt hẫng trước những hoàn cảnh hôm nay. Kỷ niệm Ngày Độc Lập của Việt Nam trùng với lễ vinh danh người lao động ở Mỹ quốc. Trời mưa tầm tã càng dễ khiến bồi hồi lại nhớ về thân phận của ông Nguyễn Hữu Đang, vị chỉ huy dựng lễ đài Ba Đình. Thống kê cho hay, mấy ngày nghỉ đã có 259 vụ thương vong vì tai nạn giao thông, trong đó 112 người đã chết.

Mình cũng có thể đang phải chật vật chống chọi với các trở ngại cản ngăn, hoặc cảm thấy bị mắc kẹt và không thấy khả năng đặng tạo tác nổi các thay đổi tích cực. Mình dễ phát hiện thấy hữu ích với việc đặt để thời gian dành ở một mình và làm việc với các cảm xúc trên với ước ao tìm thấy ý tưởng tốt hơn về nguồn gốc hình thành của chúng.

Đơn giản tìm ra một nơi chốn riêng tư không bị quấy rầy, và nhắm vào phóng thích trạng thái căng thẳng rồi làm trống rỗng tâm trí mọi sự suy tư tràn lấp. Chỉ trong vài khoảnh khắc, mình sẽ dễ khởi lên sự yên ả và tập trung hơn hẳn. Tiếp theo đấy bắt đầu khám phá các cảm xúc, quyết định tại sao cơ chừng mình nên đương đầu hôm nay. Giai đoạn phản ánh này khuyến khích mình đào sâu hơn cho trạng thái sáng rõ, nhằm làm nảy nở các giải pháp sáng tạo cho rắc rối hiện đối đầu và chấp nhận một não trạng lạc quan.

Dành thời gian suy tư hoàn cảnh bản thân có thể cho chúng ta sự thấu hiểu nhằm tạo nên các trải nghiệm đầy ý nghĩa và toàn mãn với những gì kinh qua hàng ngày. Cảm thấy hụt hẫng hoặc mắc kẹt thường là dấu hiệu từ các bản ngã nội tại đủ đem lại lợi lạc nhờ giai đoạn lặng lẽ suy ngẫm về các hoàn cảnh xảy đến trong đời.

Làm tâm trí mình thư thái và tĩnh lặng rồi đưa sự chú ý nhắm vào nội tại trong lòng, chúng ta thừa khả năng phóng thích ảo ảnh bị mắc kẹt cũng như phát triển một cảm nhận sáng rõ và thấu hiểu về đời mình.

Nhờ lựa chọn nhìn nhận nỗi niềm hụt hẫng như lời mời gọi để kết nối sâu thẳm hơn với bản ngã cao hơn, mình có thể làm triển nở sự thấu hiểu để rồi tạo nên cuộc đời mình nhiều ý nghĩa vượt trội.