Ngày Độc Lập nước nhà

Kỷ niệm Ngày Độc Lập nước nhà lần thứ 74

160 năm kể từ cú đại bác Pháp bắn vào núi Sơn Trà, Đà Nẵng

sáng sớm lặng thinh, trời không mưa, tôi lội bộ trên phố Lạc Trung

Hà Nội cùng với lá cờ đỏ bay tà tà là ô nhiễm môi trường.

Nhiều thế hệ ông cha nối tiếp nhau tìm đường cứ ngã xuống

‘Modus operandi’

với hy vọng và với sự buông bỏ hy vọng

tổng thống Đức xin tha thứ sau 80 năm khởi đầu Đệ Nhị Thế Chiến.

Nghĩ khác đi và chẳng giống kẻ khác e chừng trọng tội

đất nước của vô vàn thi sĩ hát ca vô lối mê mải quên đời

Ngày Độc Lập cố thoát cơn đói nắng chiều đang lên

gió thổi thiệt tình như bàn tay ai vẫy thiện lành.

Những nghiệt ngã nghiệp chướng thả thuỷ ngân vào xung quanh

chào thời đại chưa bao giờ được thế này chăng

cúi đầu nguyện cầu mong một lần đích thị ổn thoả

thiết chế nào bao phủ hiện thực hoá giấc mơ con?

Thay đổi để hoà hợp và hiểu biết lẫn nhau

Trung tâm Văn hóa Swami Vivekananda của Ấn Độ tại Hanoi vừa trình chiếu bộ phim Queen (2013) giữa lúc ngoài giời mưa bão ầm ào. Khá háo hức sắp xếp đi xem vì thấy trang IMDb chấm 8.2/10 với số lượng bầu chọn 55.855.

Đạo diễn và kịch bản khéo quá, từ cách chọn chi tiết cho chí lời thoại, phục trang, cảnh quay lẫn ý tứ hàm ẩn tinh tế hay hiển lộ rõ ràng. Diễn viên thì đúng chất Bollywood, khó nghĩ họ thuộc nền điện ảnh Hoa Kỳ hoặc xứ sở nào khác. Và chắc khán giả Việt biết thừa mặc định rằng phim Ấn lúc nào chả kèm nhạc réo rắt.

Dẫu quen thuộc ít nhiều thế rồi, kết hợp tất cả lại hoá ra hết sức hiệu quả, đầy ấn tượng, và đáng giá.

Trên cái nền tập tục cưới xin truyền thống cùng câu chuyện yêu đương của người trẻ hiện đại, bộ phim xử lý cách riêng đặng khởi tạo nhẹ nhàng cảm nhận tính người rất chung, tưởng phá cách và không cố bảo toàn bản sắc dân tộc sẽ mất mát thì rốt ráo, đấy là cách giữ gìn do thấu biết một cái gì lớn lao luôn bao chứa, bảo bọc, thừa đủ không gian cho phát triển, tiến bộ, bền vững, nhân bản.

Bộ phim tài liệu ngắn về danh nhân Mahatma Gandhi dạo đầu buổi chiếu thật ngắn và thật bắt nối tài tình phần phim chính ngay sau đó: sự lớn lao của một cá nhân nằm ở năng lực thay đổi nhằm hoà hợp và hiểu biết lẫn nhau.

Ngoài lề riêng tư chút. Tôi cũng kịp hoàn thành ổn thoả và hoan hỉ buổi trao đổi tại Nhà xuất bản Tri Thức nhân giới thiệu cuốn sách hơn 800 trang đặng diễn giải cho trạng thái siêu việt (transcendence), tính thiêng (sacred), và sự thế tục (secularity) của hiện tượng tâm linh (spirituality) trong đời sống hiện đại ngày nay.

Tiện thể, cùng với buổi trao đổi trước đây, nếu thuận duyên thì tầm trung tuần tháng 12 tới sẽ hoàn thành bộ ba xoay quanh khổ đau (suffering), nhận diện và con đường giải thoát sẽ ưu tiên tập trung vào cái từ e chừng đã chẳng còn xa lạ mà được phổ cập, tương đối bình dân: thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation); dự tính đặt tiêu đề gợi hứng “‘Về thu xếp lại, ngày qua nếp ngày’: thiền tập tỉnh thức giữa tứ bề lui tới…”.

Khi tôi chưa đến nơi này

Hiền ngoan thiệt lòng. không rõ ràng gì về nó cả. Nơi chốn ấy lạ như việc đợi xe bus mà mãi hoài chẳng thấy chuyến nào chạy qua…

‘Ngoài kia là một khu rừng, rối loạn và nhầm nhọt ở khắp nơi, cơ chừng chẳng ai quan tâm, thế ai chịu trách nhiệm ở đây thế?’ Bài hát chủ đề nhấn nhá phi lý It’s Jungle Out There trong bộ phim truyền hình nhiều tập xuyên suốt mang tên Monk (2002-2009) đi hết 8 mùa. Biết bao tâm trạng dập dồn, đè nén.

Và cô bé con chẳng hề chịu đựng chút mệt mỏi nào, trên tầng cao chung cư, hồn nhiên tin tưởng vào sự sống nên cứ quyết tưới chăm cho một cây con đã khô héo hoàn toàn.

Rồi tình yêu lại nảy nở giữa hai vị đã có tuổi, chuyện đàn ông mí đàn bà sinh sự quả bi hài rất đời trần thế. Vị dành năm tháng để chuẩn bị cho những gì khá khó xảy đến, vị mua đồ về chất trong phòng mà nào dùng đến…. The Tomorrow Man (2019) mang hơi hướng đỡ nâng cho một cái gì da diết lại từ đầu.

Tuổi trẻ thì tí tởn rằng thì là bầu trời xám xịt và gió lạnh song trong lòng tôi đang như tia nắng ấm… (Like A Holiday), tựa bài hát mở đầu phim One Last Night (2018). Một đêm từng diễn ra với rạp chiếu bóng cùng diễn biến hẹn hò ngộ nghĩnh.

Tin vui là vẫn còn đó nghệ thuật vấn vương (Art of Falling in Love, 2019) nên chi Hello, Love, Goodbye (2019) tìm thấy ở Hongkong mà tôi chưa ghé tới.

Khi bố mẹ và giáo viên trầm cảm…

Chỉ bởi vì lớn tuổi hơn và khôn ngoan hơn không đồng nghĩa là người ta đúng. Điều này đang ngày càng được khẳng định đầy bi hài với hậu quả gây nặng nề cho toàn xã hội khi tiếp tục xuất hiện các vụ việc bố mẹ ép buộc, tạo căng thẳng khủng khiếp và đòi hỏi con cái thái quá, nhất là hiện tượng thầy, cô giáo bạo hành trẻ nhỏ, phát ngôn gây thù oán mà nạn nhân là học sinh phải gánh chịu,…

Những câu chuyện đau lòng và tệ hại như thế phản ánh phong cách làm cha mẹ, kiểu quản lý hành vi (giảng dạy), các chiến lược đối phó cùng tác động của sức khoẻ tâm trí lên khả năng thầy cô giáo thể hiện phù hợp với vị thế riêng có; tỷ dụ, sự mệt mỏi kinh niên, kiệt sức, niềm tin cùng khả năng dự tính cần sự trợ giúp…

Làm người ở Việt Nam đã khổ, làm bố mẹ và thầy cô giáo ở Việt Nam càng khổ gấp bội. Tôi không rõ có báo cáo nào nêu số liệu bao nhiêu phần trăm ông bố bà mẹ và thầy cô giáo trải qua một số trục trặc, dạng thức rối loạn tâm thần nọ kia khi sinh con đẻ cái, trở thành người đứng trên bục giảng.

Với thực trạng bị chê bôi và vết nhơ kéo dài mà nền giáo dục lâu nay chịu đựng, chọn tiêu đề bài viết thế cho an toàn và tránh con mắt tò mò, vì nhẽ ra giới chức giáo dục Việt Nam các cấp phải ưu tiên từ lâu và không ngừng tạo mọi điều kiện gìn giữ trạng thái thân- tâm an lạc (well-being) của thầy cô giáo, bởi sinh viên sư phạm hẳn không thể là kẻ mù chữ song rất cần ‘tri tạo kiến văn’ (literacy) về sức khoẻ tâm trí vốn là thứ phải đạt được nhờ giáo dục bài bản từ đầu đồng thời là kỹ năng sống thiết yếu, và vì thế, đáp ứng ổn thoả với đòi hỏi phức tạp liên quan tới sức khoẻ tâm trí trong xã hội ngày nay.

Liều véo von vĩ mô tí xíu vậy, giờ thì quay về giới thiệu ngay và luôn đề tài liên quan.

Vâng, nghiên cứu chỉ ra rằng bố mẹ mắc các triệu chứng trầm cảm thì rất dễ thành những vị phụ huynh phản ứng thái quá, xúc phạm, ứng xử có vấn đề với con cái. Nhóm nghiên cứu phát hiện thấy, trong khi các bà mẹ mắc triệu chứng trầm cảm hay phản ứng thái quá với hành vi của con trẻ mà từ đó có thể dẫn đến bé gặp trục trặc trong cảm xúc và ứng xử thì các ông bố mắc trầm cảm cũng rứa luôn, có điều không dự báo vấn đề ở trẻ.

Kiểu nuôi dạy thái quá bao gồm thể hiện sự tức giận, tàn nhẫn, và bực bội khi đáp ứng với các yêu cầu của trẻ. Kết quả nghiên cứu khuyến cáo, bố mẹ rất dễ bị tổn thương khi mắc các triệu chứng trầm cảm, ngay cả khi chúng rất nhẹ (tức không đáp ứng tiêu chí chẩn đoán trầm cảm điển hình); ngoài ra, sự hài lòng của bố mẹ với mức độ hỗ trợ xã hội không có tác động chi tới các triệu chứng trầm cảm và việc nuôi dạy con quá mức cả, tuy nhiên, sự hài lòng từ hỗ trợ của chồng/ vợ thì lại có ảnh hưởng.

Gợi ý không chỉ các bố mẹ mắc trầm cảm mà vợ/ chồng họ cũng nên biết cách tự chăm sóc bản thân để nhận sự trợ giúp phù hợp và có thể tạo nên một môi trường nuôi dạy con cái nồng ấm, nhạy cảm e áp dụng được cho các thầy, cô giáo nữa.

Thật vậy, trầm cảm ở thầy, cô giáo Mầm Non có liên quan tới các vấn đề hành vi, từ xung hấn tới buồn bã, ở các cháu được thầy, cô giáo chăm sóc. Nghiên cứu này xác định yếu tố quy về mối liên quan này: bầu không khí đáng thương trong bối cảnh nuôi dạy trẻ nhỏ tồn tại như kết quả của các triệu chứng trầm cảm nơi thầy, cô giáo. Đáng lưu ý, ‘giáo viên’ ở đây trỏ cho những ai hướng dẫn trên lớp cũng như cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ tại nhà.

Theo nghiên cứu trước đây thì các vấn đề hành vi ở trẻ nhỏ, ở đây là trẻ 3 tuổi, tạo nên những trục trặc về sau gồm kết quả học tập giảm sút và thiếu hụt  các kỹ năng xã hội; nghiên cứu vừa dẫn thì bao gồm các hành vi như hung hăng, tức giận, mất khả năng kiểm soát cũng như hành vi nội tâm hoá như trầm uất, lo âu, buồn bã, và thu mình.

Để cân bằng, như lời tạm kết, một chương trình can thiệp học đường nhằm nâng cao sự tương tác nồng ấm và quan tâm giữa một giáo viên và trẻ nhỏ có thể làm giảm thiểu sự căng thẳng tinh thần của trẻ ở lớp học. Nghiên cứu chuyển tải thông điệp rõ ràng rằng mối quan hệ tích cực giữa thầy cô giáo và học sinh là rất quan trọng; những gì giáo viên tiến hành ở lớp học, cách họ ứng xử, tính quả quyết và sự hỗ trợ của họ thảy đều tác động mạnh mẽ tới trẻ nhỏ và sức khoẻ của chúng.

Thuốc chống trầm cảm: công dụng vạn năng, cân nhắc duy trì, hay không dùng chi hết?

Vậy là sau quãng thời gian dài lu bu và lần lữa, câu chuyện trầm cảm, chí ít việc dùng thuốc, cuối cùng đã có cơ hội bàn thảo tiếp tục.

Thực tế, với mạng lưới điểm toàn cầu, lọ mọ tìm hiểu về công năng của thuốc không khó; thậm chí là khá dễ dàng để ai đó dần cảm thấy tự tin về vốn kiến thức tích luỹ được. Dĩ nhiên, người ta nên quan tâm nghiêm túc hơn về độ an toàn nếu đã dùng dai dẳng, dù không ít bác sĩ tâm thần cùng bệnh nhân nhận thấy lợi lạc giải cứu của thuốc; chẳng hạn, FDA khuyến cáo nguy cơ tăng ý nghĩ cùng hành vi tự sát ở trẻ em, vị thành niên và người dưới 25 tuổi. Bài báo hồi 11.9.2017 trên trang điện tử NYT cho biết, 1/10 người Mỹ từ 12 tuổi trở lên và 1/7 người ngoài 40 được chỉ định thuốc chống trầm cảm, tính cả vụ suýt soát 1/5 phụ nữ tuổi trung niên, theo Trung tâm Thống kê Sức Khoẻ Quốc Gia Hoa Kỳ. Thông tin chỉ định thuốc đặc biệt khuyến cáo bệnh nhân nên lưu tâm các triệu chứng như lo lắng, cáu gắt, hoảng sợ bị tấn công, hưng cảm (mania) và ngồi không yên (akathisia, một hội chứng liên quan tới việc giảm thuốc với các dấu hiệu lo lắng, bồn chồn và xung hấn vận động hoặc đi lại tới lui).

Tin tức luôn sống động và do thế, cũng gây sốc. Tỷ dụ, nghiên cứu đầu tiên tại Hoa Kỳ chứng tỏ tập yoga có thể làm thuyên giảm các triệu chứng trầm cảm từ nhẹ tới nặng, dù người ta không dùng thuốc hoặc cóc có đi trị liệu tâm lý; người ta cũng đã tiến hành theo dõi sau 9 năm dùng thuốc ở các bệnh nhân mắc trầm cảm điển hình (MMD). Lần nữa, cần ưu tiên nhu cầu trao đổi và giao tiếp khi lần đầu tiên dùng thuốc, vài tuần đầu nên đặt mục tiêu vừa phải, nhất là tạo thái độ đúng đắn rằng cần có thời gian để nhờ trợ giúp và chữa lành; rằng bác sĩ thì cũng người này kẻ nọ… Sự vụ đẩy tới việc phân biệt trầm cảm nội sinh (melancholic) mí ngoại sinh (phản ứng) cũng như việc điều trị tâm thể (somatic) và giả dược (placebo).

Bởi thuốc gần như khác hẳn trong thế giới thực so với khi chúng được nghiên cứu ở phòng thí nghiệm; một trong những lý do hiển nhiên lý giải tại sao thuốc cơ chừng chẳng hoạt động hoàn hảo như nghiên cứu là vai trò của hiệu ứng giả dược: Ngoài hiệu ứng giả dược (tin thứ gì đó mình dùng có hiệu quả dù nó không đúng thế) vốn được truyền thông và công chúng biết rõ, thực tế còn có hiệu ứng gây hại (nocebo) xảy ra khi một đối tượng kiểm nghiệm mong đợi kết quả xấu từ thứ mình tiếp nạp vào (nói khác, ai đó mong muốn có phản ứng phụ hoặc biến chứng từ một loại thuốc, liệu pháp thì có nhiều khả năng gặp hậu quả tiêu cực hơn so với người không nghĩ rằng một trong hai khả năng xảy đến); một khuôn mặt khác của hiệu ứng giả dược: tác động của mong đợi tiêu cực liên quan tới việc đón nhận một giả dược (lessebo) mà cụ thể là một bệnh nhân tham gia nghiên cứu và được cho thuốc có hiệu quả (vì bệnh Parkinson) không bị giật giật nữa vì đơn giản người ấy biết có giả dược trong nghiên cứu: nghĩ mình có thể dùng giả dược và không dùng thuốc…

Trầm cảm là bệnh tâm thần ảnh hưởng tới cách người ta cảm nhận, suy nghĩ và xử lý các hoạt động hàng ngày; thuốc chống trầm cảm được chỉ định nhằm làm thuyên giảm các triệu chứng trầm cảm và giúp tiến trình não bộ làm việc, dùng một số hoá chất để điều chỉnh tâm trạng hoặc sự căng thẳng tinh thần; tiếc thay, các thuốc hiện có thường đòi hỏi hai tới bốn tuần trước khi bệnh nhân đáp ứng. Có lý do cho sự chậm trễ ấy, và tin vui hy vọng gây tác động nhanh hơn.

Đặt hai nghiên cứu nàynày bên nhau mới thấy hết sự thú vị về mặt lâm sàng của rối loạn trầm cảm. Các loại trầm cảm khác nhau tất dùng thuốc chẳng giống giống nhau; chẳng hiệu quả nhiêu với trẻ nhỏ và vị thành niên song nó lại tỏ ra hoạt động hữu hiệu với kẻ này và, buồn thay, có thể lại là tất cả những gì một kẻ khác đón nhận được khi tháng năm chống chọi kéo dài… Coi trọng việc cá thể hoá, giới chuyên môn giờ đây đã giới thiệu không ít thực đơn, đồ ăn thức uống nên sử dụng, thậm chí, tập thể dục có hiệu quả ấn tượng đâu thua Prozac trong cộng đồng người mắc trầm cảm; trị liệu tâm lý tiếp tục được chứng thực là có thể tác động kỳ diệu.

Rốt ráo, khó chối bỏ các tác dụng ngắn hạn của thuốc chống trầm cảm. Song có vẻ câu chuyện này sẽ chưa hết dây dưa, như lời tác giả nghiên cứu thượng dẫn rằng “điều trị bao gồm cả thuốc lâu dài có thể làm cho chứng trầm cảm tồi tệ thêm; cho tới lúc các cơ chế đem lại lợi lạc và gây hại được thấu hiểu thì các phát hiện tương tự khẳng định việc dùng thuốc chỉ ổn thoả trong ngắn hạn (ví dụ, giảm thiểu nguy cơ tự sát) và cơ chừng đã đánh giá quá nặng nề các hậu quả chậm trễ’.

Đặt câu hỏi trong tham vấn buồn đau, sầu khổ vi tế

12271277_749431878494749_342457884_o
Vắng người mùi áo nhớ thay, bóng tan nhỡ giấc đọa đày hằn in…

Thấy ai đó lọ mọ kiếm tìm trên blog Tâm Ngã theo từ khóa ‘mẫu câu nói hay trong tham vấn’…

Dưới đây là cách đặt câu hỏi trong tham vấn buồn đau, sầu khổ vi tế được dùng khi lượng giá và góp phần giúp thân chủ dễ dàng biểu đạt cảm xúc hơn, một thành phần cốt yếu thuộc tiến trình trị liệu. Các mẫu câu hỏi kèm mục đích đề ra sẽ thể hiện rõ ràng quan điểm vừa nêu.

*Các câu hỏi:

  • “Liệu cô có thể kể cho tôi nghe về cái chết?”
  • “Điều gì đã xảy ra hôm đó thế?”
  • “Cô ở đâu khi nhận được tin mất mát?”

Mục đích:

Các câu hỏi này mở ra chủ đề về buồn đau, sầu khổ và tạo cơ hội để người chịu tang nói về sự mất mát; việc ấy cũng cung cấp thêm thông tin liên quan tới bản chất và hoàn cảnh của cái chết (bất kể đã lường trước hay bất ngờ xảy đến). Chối bỏ và các cơ chế phòng vệ khác sẽ bắt đầu xuất hiện. Cảm xúc tội lỗi và giận dữ cũng khởi lên bề mặt. Chứng tỏ người chịu tang miên man nghĩ về đầy cảm xúc…

*Các câu hỏi:

  • “Liệu có thể kể cho tôi nghe về người cô từng yêu thương?”
  • “Cô đã sống rất hòa hợp với anh ấy?”

Mục đích:

Các câu hỏi kiểu thế cho phép nhà tham vấn biết rõ hơn lịch sử người đã khuất và mối quan hệ với thân chủ. Trong những đáp ứng, nhà tham vấn nên lắng lòng trước thông tin ngụ ý chất lượng quan hệ, các kỳ vọng, nhu cầu, xung đột và vai trò đang khống chế sự biểu đạt cảm xúc.  Lịch sử cùng nhau với sự tương thích giữa nội dung và tình cảm sẽ là dấu chỉ rõ ràng của trạng thái yêu ghét mâu thuẫn và xung đột lẫn lộn.  Các cảm xúc đau buồn, sầu khổ có thể được coi như là giai đoạn tiến bộ thông qua tiến trình vật vã, tiếc thương.

*Các câu hỏi:

  • “Chuyện gì xảy ra khi người ấy mất đi?”
  • “Những chuyện vậy có ý nghĩa ra sao với cô, gia đình và bạn bè?”

Mục đích:

Các câu hỏi này tạo điều kiện tìm hiểu gia đình và các mẫu hình xã hội trong tương tác với người đã mất; nó bao gồm các yếu tố văn hóa- xã hội có thể ảnh hưởng tới tiến trình đau buồn. Tập trung chú ý vào sự giao thiệp sẽ giúp mình đánh giá mức độ chấp nhận của thân chủ về sự kéo dài mất mát.

*Các câu hỏi:

  • “Cô từng trải qua thời điểm khó khăn nào trước sự kiện mất mát này chưa?”

Mục đích:

Câu hỏi này giúp đánh giá chuyện đã xảy ra hoặc mới thêm vào gần đây dễ gây tác động tới sự đau buồn, sầu khổ, thương tiếc. Đặt câu hỏi kiểu thế có thể khám phá khả năng ‘bị tước quyền’ mà thân chủ đang phải chịu đựng.

Lời cuối, việc mất mát người thương yêu, thân thiết tác động tới mọi khía cạnh đời sống  cả hiện tại và tương lai của người ở lại, có thể phá vỡ nghiêm trọng sức khỏe tâm lý của họ nếu không được giải quyết đúng đắn và kịp thời.

Thái độ bảo thủ chính trị duy trì như một dạng điên nhẹ?

Đội ngũ những người quản lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội ở Việt Nam tỏ ra chê bai trình độ dân trí nước nhà ngày càng đông đảo; nhiều tuyên bố lạ lùng và lắm phát ngôn trên nghị trường gây sốc khủng khiếp đối với công luận, không ít tuổi tên chính trị gia bị gắn với tục danh mang tính dè bỉu lẫn khinh bỉ; vô số hành động xử lý, ra quyết định chẳng hề giống ai, xa lạ quá chừng thế giới văn minh, v.v…

Chủ đề chính trị và bệnh tâm thần có thể được minh họa lịch sử từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, bởi vì nó làm cho tinh thần quốc gia thêm cường tráng, song với nhiều người tham gia thì niềm vui trở thành cơn mê sảng (delirium).

Theo nghiên cứu, chủ nghĩa bảo thủ là một dạng điên khùng (insanity) nhẹ. Một phân tích gộp chọn từ 88 mẫu ở 12 quốc gia với 22.818 đối tượng đã vén lộ “nhiều biến số tâm lý dự báo chủ nghĩa bảo thủ về chính trị”. Các biến gồm: sợ chết, hệ thống bất ổn, giáo điều về sự nhập nhằng, tâm trí nhỏ hẹp, thiếu khoan dung về trạng thái không chắc chắn, nhu cầu cao về tính thứ bậc (bộc lộ nhận thức), cấu trúc, phức hợp thống nhất thấp, lo hãi bị đe dọa và mất mát, và kém tự tin. Nhóm tác giả kết luận khá chua chát rằng “ý thức hệ căn cốt của chủ nghĩa bảo thủ nhấn mạnh việc kháng cự với thay đổi và biện hộ cho sự bất bình đẳng”.

Không những chẳng hay ho gì lắm, người ta đang nói tới ai đó đầy sợ hãi, với cảm quan cái tôi nghèo nàn, và vắng thiếu tinh thần linh hoạt. Khoan dung với mơ hồ, nhập nhằng là điểm tâm lý đặc biệt sáng giá ở người trưởng thành vì thế giới nào chỉ có hai màu đen, trắng. Theo nghiên cứu trên, người bảo thủ sở hữu cơ bản phẩm tính ngược lại: không khoan dung với mơ hồ và không có khả năng giải quyết điều phức tạp.

Các nghiên cứu khác còn khẳng định, khi vắng bóng nỗ lực suy tư đầy cân nhắc thì ý thức hệ bảo thủ càng tăng lên; năng lực nhận thức và chủ nghĩa bảo thủ tương quan nghịch. Nghĩa là, nỗ lực tinh thần sút giảm thì làm tăng các niềm tin bảo thủ; tức các thuộc tính trách nhiệm cá nhân (đối lập việc nhận ra ảnh hưởng của các yếu tố tình huống), chấp nhận thang bậc và khung tham chiếu giữ nguyên trạng có thể được xem là dấu ấn của niềm tin bảo thủ.

Các phát hiện của chúng tôi khẳng định những lối tư duy bảo thủ là căn bản, bình thường và khá tự nhiên, nhóm nghiên cứu khẳng định. Các yếu tố động cơ thúc đẩy là những xác quyết chủ yếu của ý thức hệ, trợ giúp hoặc chỉnh sửa các đáp ứng ban đầu phụ thuộc vao mục tiêu, niềm tin, và giá trị của người ta…

Dù tiếp cận từ các góc độ xã hội học, phương pháp luận, thành phần cấu trúc và triết lý thì bảo thủ chính trị vẫn còn đáng xem xét thấu đáo, chẳng hạn cụ thể về khía cạnh chủ động tạo áp lực xã hội, toàn trị, v.v…

Khi nỗi sợ biến bé thành đứa trẻ ngỗ ngược, khó ưa…

Câu hỏi của độc giả làm tôi muốn chia sẻ sâu thêm về nỗi sợ hãi có thể biến trẻ nhỏ thành đứa ngỗ nghịch, bạo ngược khó ngờ.

Hầu hết chúng ta chống chọi với nỗi sợ bằng cách này hoặc cách khác. May mắn, đa phần chúng ta học được cách sống với hoặc vượt qua chúng ở một phạm vi kiểm soát nhất định mà không bị quá nhiều ảnh hưởng nặng nề.

Song nếu nỗi sợ của người ta dễ thuộc bản chất gây tê liệt thì khi sự vụ xảy đến, sống với nỗi sợ tương tự như sống với một tên bạo chúa vậy: đòi hỏi quá mức ảnh hưởng tới mỗi một hành động. Hơn thế, thường bắt gặp các thành viên khác trong gia đình cũng cảm thấy như đời mình đang bị khống chế ghê gớm lúc người thân trải qua sức ép do nỗi sợ làm tàn tạ. Rồi khi, thông qua nỗ lực đầy ý nghĩa đặng giải quyết thật tốt lành cùng người sợ hãi, các vị khác cảm nhận việc đang sống dưới ách chuyên chế hơn lên do đã ‘cho phép’ một cách vô ý khiến nỗi sợ dai dẳng thêm hoặc thậm chí còn tiếp tục leo thang.

Trẻ em có thể đương đầu với nhiều lo âu và sợ hãi xuyên suốt thời kỳ tuổi hoa. Rất nhiều bé dường như trải qua các giai đoạn muốn thoát khỏi hoặc chiếm ưu thế đủ dạng nỗi sợ nọ kia đến độ việc chống kháng nỗi niềm sợ hãi trở thành hợp phần tự nhiên của sự phát triển.

Song lắm khi trẻ dần bị chốt khóa trong vòng kiềm tỏa của nỗi sợ gây liệt kháng khủng khiếp khiến chúng hống hách, làm chúa tể ở nhà mình. Ví dụ, trẻ đang trải qua cơn sợ côn trùng biết bay (do đó, không dám liều ra ngoài mùa sâu bọ sinh sôi) có thể dẫn đến kết cục phá vỡ chuyến đi chơi công viên của cả nhà. Trẻ sợ động vật có thể làm gia đình mất vui khi bố mẹ bố trí xem xiếc thú. Trẻ e ngại các trò cưỡi lái dễ biến ngày nghỉ du ngoạn cuối tuần thành trải nghiệm tồi tệ, nhất là với bố mẹ và người chịu trách nhiệm trông nom, vì các cơn tam bành và hành vi né tránh của chúng.

Khi nỗi sợ gây liệt kháng, hầu như mọi người liên quan đối tượng đang sợ đều bị ảnh hưởng, và đời sống chợt rắc rối với tất cả. Điều tương tự cũng xảy ra trong các gia đình khi một thành viên bị cơn nghiện vây khốn rồi cơn nghiện rốt ráo khống chế ít nhiều đời sống của mọi người trong nhà (ý nghĩa của cái gọi là ‘làm khổ lẫn nhau’/ codependency).

May thay, tin tốt lành là nỗi sợ hãi và cơn lo âu nằm trong số trục trặc tâm lý có thể trị liệu được. Hiện có nhiều cách tiếp cận ‘nỗ lực và xác thực’ mà thảy đều đem lại tỷ lệ thành công tốt đẹp; một giải pháp mỹ mãn quen thuộc là phơi nhiễm (exposure).  Để vượt thắng một nỗi sợ, mình buộc phải đối đầu rốt ráo, bất kể nỗi sợ vốn khó định hình thật thấu tỏ (vốn là điều thuộc về lo âu) hoặc nỗi sợ là điều gì đó cụ thể hay tình huống riêng biệt (ám sợ gán nhãn). Kiên trì phơi nhiễm bản thân với thứ thường né tránh và cho phép mình trải nghiệm sự kiện rằng các hậu họa ghê gớm mình quen tưởng tượng đã không xảy ra là cách hay nhất làm giảm thiểu hoặc thậm chí dần tiêu trừ đáp ứng đầy sợ hãi. Bây giờ để người ta đối đầu với những gì thích né tránh là chuyện rất thách thức, vì thế, nói chung, việc chỉ thành tựu ‘một cách có hệ thống’; dùng lối tiếp cận sao cho người ta ngày càng dễ tiến sát gần hơn với điều họ sợ nhất, để họ cảm thấy an toàn ở mỗi một bước nhỏ tiến bộ, tuần tự ‘giải mẫn cảm’ họ trước các tình huống khơi dậy nỗi niềm sợ hãi.

Các phương pháp phơi nhiễm khác dùng cách thức mãnh liệt và ngay liền hơn, như độ căng thể hiện trong kỹ thuật ‘nhâm ngúng’ (immersion) và ‘ngập tràn’ (flooding). Trong khi người lớn khá sẵn các nguồn lực để giải quyết với các cách tiếp cận mang tính đụng độ sát sườn thế, trẻ em quá nhạy cảm để rồi chúng dễ làm bản thân thân tổn thương hơn, do đó, rốt cuộc chỉ tổ làm tăng thêm nỗi niềm sợ hãi. Đứa trẻ nào cũng tự nhiên cưỡng lại bất kỳ nỗ lực phơi nhiễm, nhất là lúc ban đầu, nên quan trọng là khởi sự đơn giản thôi rồi củng cố sự già dặn dần bằng mỗi một bước nhỏ tiến tới. Có lẽ, mưu mẹo nhất để giúp trẻ vượt qua nỗi sợ là đồng thời xử lý cách thức các thành viên khác trong gia đình sơ xuất ‘gây nên’ nỗi sợ làm trẻ càng nảy bật lảng tránh khiến kéo dài thêm điều khó chịu.

Giúp trẻ đương đầu và tuần tự vượt qua sự suy yếu do nỗi sợ đòi hỏi điều nôm na ‘lòng thương yêu cứng rắn’, trong khi mình không những luôn luôn thể hiện mối quan tâm mà còn lưu ý không củng cố các ý niệm rằng thực tế có điều gì sợ hãi đang tồn tại hoặc cách an toàn là tránh tình huống làm trẻ sợ hãi. Và đó đích thị những gì xảy đến khi người trong nhà chấm dứt việc mua vui bằng việc dọa trẻ.

Trẻ em vượt thắng các nỗi sợ và ám ảnh của bản thân với lối trị liệu đúng đắn thường được hưởng nhiều lợi lạc khác. Khi tăng lên khả năng đối đầu các tình huống chúng thường quen né tránh mà không cảm thấy tê liệt, trẻ căn bản cảm thấy vừa quyền làm chủ vừa hiệu lực vào bản thân. Chúng không chỉ dần điềm tĩnh vì nỗi sợ lắng xuống mà còn tự tin hẳn. Trẻ cũng học hỏi được cách biết nhắm tiêu điểm tập trung đời mình. Không còn bị nỗi sợ kiểm soát nữa, trẻ cảm thấy cần tự chịu trách nhiệm đảm đương nhiều hơn.

Các thành viên gia đình khác trải nghiệm lợi lạc tích cực tương tự. Không còn bị nỗi sợ hãi kiềm nén từng gây phiền phức cho trẻ nhỏ, họ thoải mái khỏi kinh qua vô vàn chiêu trò ngạo ngược của tiểu bạo chúa trong nhà.

Thiền tập như một hệ thống

Cách tiếp cận mang tính hệ thống đối với việc tập thiền (meditation) chắc chắn đem lại nhiều lợi lạc hơn hẳn so với các kiểu tiến hành ít quy củ, thiếu tổ chức chặt chẽ.

Thử hình dung một danh sách ngắn để lý giải tại sao.

Một hệ thống thiền tập (phát triển) thì…

  • 1. Có khả năng lặp lại.
  • 2. Được cấu trúc/ xác định rất rõ ràng.
  • 3. Học viên và người hướng dẫn, giảng dạy có thể so sánh tiến bộ và kết quả.
  • 4. Các thuật ngữ và khái niệm dùng nhất quán, đủ để giải thích, thấu hiểu và so sánh tiến bộ/ kết quả.
  • 5. Tính độc lập của vị thầy/ sư phụ; cho dẫu bậc thầy có mất đi sau đó thì hệ thống vẫn vận hành được. Nói khác, nó ít phụ thuộc vào ‘con người’ mà nghiêng về sự vận dụng của hệ thống.
  • 6. Tự thân hệ thống có thể được nhìn nhận như vị thầy (tựa Đức Phật tôn kính Pháp là vị thầy của Ngài vậy).
  • 7. Một hệ thống có thể được giảng dạy và phân xếp thật dễ dàng; chí ít xử lý ổn hơn so với việc kế thừa đặc thù từ nhân cách của vị thầy.
  • 8. Một hệ thống cần có yếu tố khoa học: giống như một thục nghiệm ai đó có thể thử lại hết sức thành công.
  • 9. Một hệ thống lôi cuốn người học: con đường được sắp đặt rõ ràng, nhiều học viên khóa trước có thể trợ giúp và xác lập con đường. Tiến bộ tạo nên từng bước và có thể so sánh với người khác.
  • 10. Các vị thầy của hệ thống thế có khả năng đánh giá tốt tiến bộ của mỗi học viên dựa trên kinh nghiệm của họ với cùng bộ hướng dẫn tương tự cho những người trước… Điều này làm giáo viên giỏi hơn và hệ thống càng thêm tinh tế.
  • 11. Hệ thống tốt lên, càng tường tận tỉ mỉ và vị hướng dẫn càng dễ dự liệu, đoán biết cũng như đánh giá tiến bộ của người học.

Cần lưu ý, điều diễn giải trên không hề biện hộ cho bất kỳ hệ thống thiền tập Phật giáo riêng biệt nào. Xem các kinh có thể nhìn ra cách (các) hệ thống được đặt để suốt thời Đức Phật. Và ngay cả một phương pháp luận nào đó cần thiết cho phép các biến thể dựa vào tính cách của hành giả thì chuyện ấy cũng có thể được tiếp cận một cách hệ thống.

Dĩ nhiên, khi dạng hệ thống ấy dần chỉ còn được ghi nhận qua giấy tờ và chết héo (không có sự truyền thừa, tiếp nối) thì thật khó khăn để phục hồi nó đúng như những ‘câu chữ’ vốn dùng ghi lại. Và người ta có lý do biết ơn một số hệ thống thiền tập xác thực trong vài thập niên trở lại đây như phương pháp Goenka, Mahasi, v.v…

Năng lực cải tiến của các hệ thống thiền tập này sẽ trở nên sành sỏi với các hướng dẫn (sau khi lão luyện về chúng) và nhờ cập nhật dựa trên trải nghiệm của người học các hệ thống này, và mối quan hệ của chúng với các lời chỉ dạy rõ ràng Đức Phật tất càng thêm ý nghĩa cho những ai theo đuổi…

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.