Đặt câu hỏi trong tham vấn buồn đau, sầu khổ vi tế

12271277_749431878494749_342457884_o

Vắng người mùi áo nhớ thay, bóng tan nhỡ giấc đọa đày hằn in…

Thấy ai đó lọ mọ kiếm tìm trên blog Tâm Ngã theo từ khóa ‘mẫu câu nói hay trong tham vấn’…

Dưới đây là cách đặt câu hỏi trong tham vấn buồn đau, sầu khổ vi tế được dùng khi lượng giá và góp phần giúp thân chủ dễ dàng biểu đạt cảm xúc hơn, một thành phần cốt yếu thuộc tiến trình trị liệu. Các mẫu câu hỏi kèm mục đích đề ra sẽ thể hiện rõ ràng quan điểm vừa nêu.

*Các câu hỏi:

  • “Liệu cô có thể kể cho tôi nghe về cái chết?”
  • “Điều gì đã xảy ra hôm đó thế?”
  • “Cô ở đâu khi nhận được tin mất mát?”

Mục đích:

Các câu hỏi này mở ra chủ đề về buồn đau, sầu khổ và tạo cơ hội để người chịu tang nói về sự mất mát; việc ấy cũng cung cấp thêm thông tin liên quan tới bản chất và hoàn cảnh của cái chết (bất kể đã lường trước hay bất ngờ xảy đến). Chối bỏ và các cơ chế phòng vệ khác sẽ bắt đầu xuất hiện. Cảm xúc tội lỗi và giận dữ cũng khởi lên bề mặt. Chứng tỏ người chịu tang miên man nghĩ về đầy cảm xúc…

*Các câu hỏi:

  • “Liệu có thể kể cho tôi nghe về người cô từng yêu thương?”
  • “Cô đã sống rất hòa hợp với anh ấy?”

Mục đích:

Các câu hỏi kiểu thế cho phép nhà tham vấn biết rõ hơn lịch sử người đã khuất và mối quan hệ với thân chủ. Trong những đáp ứng, nhà tham vấn nên lắng lòng trước thông tin ngụ ý chất lượng quan hệ, các kỳ vọng, nhu cầu, xung đột và vai trò đang khống chế sự biểu đạt cảm xúc.  Lịch sử cùng nhau với sự tương thích giữa nội dung và tình cảm sẽ là dấu chỉ rõ ràng của trạng thái yêu ghét mâu thuẫn và xung đột lẫn lộn.  Các cảm xúc đau buồn, sầu khổ có thể được coi như là giai đoạn tiến bộ thông qua tiến trình vật vã, tiếc thương.

*Các câu hỏi:

  • “Chuyện gì xảy ra khi người ấy mất đi?”
  • “Những chuyện vậy có ý nghĩa ra sao với cô, gia đình và bạn bè?”

Mục đích:

Các câu hỏi này tạo điều kiện tìm hiểu gia đình và các mẫu hình xã hội trong tương tác với người đã mất; nó bao gồm các yếu tố văn hóa- xã hội có thể ảnh hưởng tới tiến trình đau buồn. Tập trung chú ý vào sự giao thiệp sẽ giúp mình đánh giá mức độ chấp nhận của thân chủ về sự kéo dài mất mát.

*Các câu hỏi:

  • “Cô từng trải qua thời điểm khó khăn nào trước sự kiện mất mát này chưa?”

Mục đích:

Câu hỏi này giúp đánh giá chuyện đã xảy ra hoặc mới thêm vào gần đây dễ gây tác động tới sự đau buồn, sầu khổ, thương tiếc. Đặt câu hỏi kiểu thế có thể khám phá khả năng ‘bị tước quyền’ mà thân chủ đang phải chịu đựng.

Lời cuối, việc mất mát người thương yêu, thân thiết tác động tới mọi khía cạnh đời sống  cả hiện tại và tương lai của người ở lại, có thể phá vỡ nghiêm trọng sức khỏe tâm lý của họ nếu không được giải quyết đúng đắn và kịp thời.

Thái độ bảo thủ chính trị duy trì như một dạng điên nhẹ?

Đội ngũ những người quản lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội ở Việt Nam tỏ ra chê bai trình độ dân trí nước nhà ngày càng đông đảo; nhiều tuyên bố lạ lùng và lắm phát ngôn trên nghị trường gây sốc khủng khiếp đối với công luận, không ít tuổi tên chính trị gia bị gắn với tục danh mang tính dè bỉu lẫn khinh bỉ; vô số hành động xử lý, ra quyết định chẳng hề giống ai, xa lạ quá chừng thế giới văn minh, v.v…

Chủ đề chính trị và bệnh tâm thần có thể được minh họa lịch sử từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, bởi vì nó làm cho tinh thần quốc gia thêm cường tráng, song với nhiều người tham gia thì niềm vui trở thành cơn mê sảng (delirium).

Theo nghiên cứu, chủ nghĩa bảo thủ là một dạng điên khùng (insanity) nhẹ. Một phân tích gộp chọn từ 88 mẫu ở 12 quốc gia với 22.818 đối tượng đã vén lộ “nhiều biến số tâm lý dự báo chủ nghĩa bảo thủ về chính trị”. Các biến gồm: sợ chết, hệ thống bất ổn, giáo điều về sự nhập nhằng, tâm trí nhỏ hẹp, thiếu khoan dung về trạng thái không chắc chắn, nhu cầu cao về tính thứ bậc (bộc lộ nhận thức), cấu trúc, phức hợp thống nhất thấp, lo hãi bị đe dọa và mất mát, và kém tự tin. Nhóm tác giả kết luận khá chua chát rằng “ý thức hệ căn cốt của chủ nghĩa bảo thủ nhấn mạnh việc kháng cự với thay đổi và biện hộ cho sự bất bình đẳng”.

Không những chẳng hay ho gì lắm, người ta đang nói tới ai đó đầy sợ hãi, với cảm quan cái tôi nghèo nàn, và vắng thiếu tinh thần linh hoạt. Khoan dung với mơ hồ, nhập nhằng là điểm tâm lý đặc biệt sáng giá ở người trưởng thành vì thế giới nào chỉ có hai màu đen, trắng. Theo nghiên cứu trên, người bảo thủ sở hữu cơ bản phẩm tính ngược lại: không khoan dung với mơ hồ và không có khả năng giải quyết điều phức tạp.

Các nghiên cứu khác còn khẳng định, khi vắng bóng nỗ lực suy tư đầy cân nhắc thì ý thức hệ bảo thủ càng tăng lên; năng lực nhận thức và chủ nghĩa bảo thủ tương quan nghịch. Nghĩa là, nỗ lực tinh thần sút giảm thì làm tăng các niềm tin bảo thủ; tức các thuộc tính trách nhiệm cá nhân (đối lập việc nhận ra ảnh hưởng của các yếu tố tình huống), chấp nhận thang bậc và khung tham chiếu giữ nguyên trạng có thể được xem là dấu ấn của niềm tin bảo thủ.

Các phát hiện của chúng tôi khẳng định những lối tư duy bảo thủ là căn bản, bình thường và khá tự nhiên, nhóm nghiên cứu khẳng định. Các yếu tố động cơ thúc đẩy là những xác quyết chủ yếu của ý thức hệ, trợ giúp hoặc chỉnh sửa các đáp ứng ban đầu phụ thuộc vao mục tiêu, niềm tin, và giá trị của người ta…

Dù tiếp cận từ các góc độ xã hội học, phương pháp luận, thành phần cấu trúc và triết lý thì bảo thủ chính trị vẫn còn đáng xem xét thấu đáo, chẳng hạn cụ thể về khía cạnh chủ động tạo áp lực xã hội, toàn trị, v.v…

Khi nỗi sợ biến bé thành đứa trẻ ngỗ ngược, khó ưa…

Câu hỏi của độc giả làm tôi muốn chia sẻ sâu thêm về nỗi sợ hãi có thể biến trẻ nhỏ thành đứa ngỗ nghịch, bạo ngược khó ngờ.

Hầu hết chúng ta chống chọi với nỗi sợ bằng cách này hoặc cách khác. May mắn, đa phần chúng ta học được cách sống với hoặc vượt qua chúng ở một phạm vi kiểm soát nhất định mà không bị quá nhiều ảnh hưởng nặng nề.

Song nếu nỗi sợ của người ta dễ thuộc bản chất gây tê liệt thì khi sự vụ xảy đến, sống với nỗi sợ tương tự như sống với một tên bạo chúa vậy: đòi hỏi quá mức ảnh hưởng tới mỗi một hành động. Hơn thế, thường bắt gặp các thành viên khác trong gia đình cũng cảm thấy như đời mình đang bị khống chế ghê gớm lúc người thân trải qua sức ép do nỗi sợ làm tàn tạ. Rồi khi, thông qua nỗ lực đầy ý nghĩa đặng giải quyết thật tốt lành cùng người sợ hãi, các vị khác cảm nhận việc đang sống dưới ách chuyên chế hơn lên do đã ‘cho phép’ một cách vô ý khiến nỗi sợ dai dẳng thêm hoặc thậm chí còn tiếp tục leo thang.

Trẻ em có thể đương đầu với nhiều lo âu và sợ hãi xuyên suốt thời kỳ tuổi hoa. Rất nhiều bé dường như trải qua các giai đoạn muốn thoát khỏi hoặc chiếm ưu thế đủ dạng nỗi sợ nọ kia đến độ việc chống kháng nỗi niềm sợ hãi trở thành hợp phần tự nhiên của sự phát triển.

Song lắm khi trẻ dần bị chốt khóa trong vòng kiềm tỏa của nỗi sợ gây liệt kháng khủng khiếp khiến chúng hống hách, làm chúa tể ở nhà mình. Ví dụ, trẻ đang trải qua cơn sợ côn trùng biết bay (do đó, không dám liều ra ngoài mùa sâu bọ sinh sôi) có thể dẫn đến kết cục phá vỡ chuyến đi chơi công viên của cả nhà. Trẻ sợ động vật có thể làm gia đình mất vui khi bố mẹ bố trí xem xiếc thú. Trẻ e ngại các trò cưỡi lái dễ biến ngày nghỉ du ngoạn cuối tuần thành trải nghiệm tồi tệ, nhất là với bố mẹ và người chịu trách nhiệm trông nom, vì các cơn tam bành và hành vi né tránh của chúng.

Khi nỗi sợ gây liệt kháng, hầu như mọi người liên quan đối tượng đang sợ đều bị ảnh hưởng, và đời sống chợt rắc rối với tất cả. Điều tương tự cũng xảy ra trong các gia đình khi một thành viên bị cơn nghiện vây khốn rồi cơn nghiện rốt ráo khống chế ít nhiều đời sống của mọi người trong nhà (ý nghĩa của cái gọi là ‘làm khổ lẫn nhau’/ codependency).

May thay, tin tốt lành là nỗi sợ hãi và cơn lo âu nằm trong số trục trặc tâm lý có thể trị liệu được. Hiện có nhiều cách tiếp cận ‘nỗ lực và xác thực’ mà thảy đều đem lại tỷ lệ thành công tốt đẹp; một giải pháp mỹ mãn quen thuộc là phơi nhiễm (exposure).  Để vượt thắng một nỗi sợ, mình buộc phải đối đầu rốt ráo, bất kể nỗi sợ vốn khó định hình thật thấu tỏ (vốn là điều thuộc về lo âu) hoặc nỗi sợ là điều gì đó cụ thể hay tình huống riêng biệt (ám sợ gán nhãn). Kiên trì phơi nhiễm bản thân với thứ thường né tránh và cho phép mình trải nghiệm sự kiện rằng các hậu họa ghê gớm mình quen tưởng tượng đã không xảy ra là cách hay nhất làm giảm thiểu hoặc thậm chí dần tiêu trừ đáp ứng đầy sợ hãi. Bây giờ để người ta đối đầu với những gì thích né tránh là chuyện rất thách thức, vì thế, nói chung, việc chỉ thành tựu ‘một cách có hệ thống’; dùng lối tiếp cận sao cho người ta ngày càng dễ tiến sát gần hơn với điều họ sợ nhất, để họ cảm thấy an toàn ở mỗi một bước nhỏ tiến bộ, tuần tự ‘giải mẫn cảm’ họ trước các tình huống khơi dậy nỗi niềm sợ hãi.

Các phương pháp phơi nhiễm khác dùng cách thức mãnh liệt và ngay liền hơn, như độ căng thể hiện trong kỹ thuật ‘nhâm ngúng’ (immersion) và ‘ngập tràn’ (flooding). Trong khi người lớn khá sẵn các nguồn lực để giải quyết với các cách tiếp cận mang tính đụng độ sát sườn thế, trẻ em quá nhạy cảm để rồi chúng dễ làm bản thân thân tổn thương hơn, do đó, rốt cuộc chỉ tổ làm tăng thêm nỗi niềm sợ hãi. Đứa trẻ nào cũng tự nhiên cưỡng lại bất kỳ nỗ lực phơi nhiễm, nhất là lúc ban đầu, nên quan trọng là khởi sự đơn giản thôi rồi củng cố sự già dặn dần bằng mỗi một bước nhỏ tiến tới. Có lẽ, mưu mẹo nhất để giúp trẻ vượt qua nỗi sợ là đồng thời xử lý cách thức các thành viên khác trong gia đình sơ xuất ‘gây nên’ nỗi sợ làm trẻ càng nảy bật lảng tránh khiến kéo dài thêm điều khó chịu.

Giúp trẻ đương đầu và tuần tự vượt qua sự suy yếu do nỗi sợ đòi hỏi điều nôm na ‘lòng thương yêu cứng rắn’, trong khi mình không những luôn luôn thể hiện mối quan tâm mà còn lưu ý không củng cố các ý niệm rằng thực tế có điều gì sợ hãi đang tồn tại hoặc cách an toàn là tránh tình huống làm trẻ sợ hãi. Và đó đích thị những gì xảy đến khi người trong nhà chấm dứt việc mua vui bằng việc dọa trẻ.

Trẻ em vượt thắng các nỗi sợ và ám ảnh của bản thân với lối trị liệu đúng đắn thường được hưởng nhiều lợi lạc khác. Khi tăng lên khả năng đối đầu các tình huống chúng thường quen né tránh mà không cảm thấy tê liệt, trẻ căn bản cảm thấy vừa quyền làm chủ vừa hiệu lực vào bản thân. Chúng không chỉ dần điềm tĩnh vì nỗi sợ lắng xuống mà còn tự tin hẳn. Trẻ cũng học hỏi được cách biết nhắm tiêu điểm tập trung đời mình. Không còn bị nỗi sợ kiểm soát nữa, trẻ cảm thấy cần tự chịu trách nhiệm đảm đương nhiều hơn.

Các thành viên gia đình khác trải nghiệm lợi lạc tích cực tương tự. Không còn bị nỗi sợ hãi kiềm nén từng gây phiền phức cho trẻ nhỏ, họ thoải mái khỏi kinh qua vô vàn chiêu trò ngạo ngược của tiểu bạo chúa trong nhà.

Thiền tập như một hệ thống

Cách tiếp cận mang tính hệ thống đối với việc tập thiền (meditation) chắc chắn đem lại nhiều lợi lạc hơn hẳn so với các kiểu tiến hành ít quy củ, thiếu tổ chức chặt chẽ.

Thử hình dung một danh sách ngắn để lý giải tại sao.

Một hệ thống thiền tập (phát triển) thì…

  • 1. Có khả năng lặp lại.
  • 2. Được cấu trúc/ xác định rất rõ ràng.
  • 3. Học viên và người hướng dẫn, giảng dạy có thể so sánh tiến bộ và kết quả.
  • 4. Các thuật ngữ và khái niệm dùng nhất quán, đủ để giải thích, thấu hiểu và so sánh tiến bộ/ kết quả.
  • 5. Tính độc lập của vị thầy/ sư phụ; cho dẫu bậc thầy có mất đi sau đó thì hệ thống vẫn vận hành được. Nói khác, nó ít phụ thuộc vào ‘con người’ mà nghiêng về sự vận dụng của hệ thống.
  • 6. Tự thân hệ thống có thể được nhìn nhận như vị thầy (tựa Đức Phật tôn kính Pháp là vị thầy của Ngài vậy).
  • 7. Một hệ thống có thể được giảng dạy và phân xếp thật dễ dàng; chí ít xử lý ổn hơn so với việc kế thừa đặc thù từ nhân cách của vị thầy.
  • 8. Một hệ thống cần có yếu tố khoa học: giống như một thục nghiệm ai đó có thể thử lại hết sức thành công.
  • 9. Một hệ thống lôi cuốn người học: con đường được sắp đặt rõ ràng, nhiều học viên khóa trước có thể trợ giúp và xác lập con đường. Tiến bộ tạo nên từng bước và có thể so sánh với người khác.
  • 10. Các vị thầy của hệ thống thế có khả năng đánh giá tốt tiến bộ của mỗi học viên dựa trên kinh nghiệm của họ với cùng bộ hướng dẫn tương tự cho những người trước… Điều này làm giáo viên giỏi hơn và hệ thống càng thêm tinh tế.
  • 11. Hệ thống tốt lên, càng tường tận tỉ mỉ và vị hướng dẫn càng dễ dự liệu, đoán biết cũng như đánh giá tiến bộ của người học.

Cần lưu ý, điều diễn giải trên không hề biện hộ cho bất kỳ hệ thống thiền tập Phật giáo riêng biệt nào. Xem các kinh có thể nhìn ra cách (các) hệ thống được đặt để suốt thời Đức Phật. Và ngay cả một phương pháp luận nào đó cần thiết cho phép các biến thể dựa vào tính cách của hành giả thì chuyện ấy cũng có thể được tiếp cận một cách hệ thống.

Dĩ nhiên, khi dạng hệ thống ấy dần chỉ còn được ghi nhận qua giấy tờ và chết héo (không có sự truyền thừa, tiếp nối) thì thật khó khăn để phục hồi nó đúng như những ‘câu chữ’ vốn dùng ghi lại. Và người ta có lý do biết ơn một số hệ thống thiền tập xác thực trong vài thập niên trở lại đây như phương pháp Goenka, Mahasi, v.v…

Năng lực cải tiến của các hệ thống thiền tập này sẽ trở nên sành sỏi với các hướng dẫn (sau khi lão luyện về chúng) và nhờ cập nhật dựa trên trải nghiệm của người học các hệ thống này, và mối quan hệ của chúng với các lời chỉ dạy rõ ràng Đức Phật tất càng thêm ý nghĩa cho những ai theo đuổi…

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.

Nguyên tắc vàng phổ quát

Đối xử với người khác như cách bản thân mình muốn được đối xử vậy là nguyên tắc vàng mang tính phổ quát.

Các nhà trị liệu tránh làm việc với những người khác niềm tin và văn hóa với mình có thể đoan chắc rằng có một nền tảng thường dựa vào để trao đổi

Làm việc với kẻ mang niềm tin khác biệt dễ là thách thức lớn lao, nhất là với ai hành nghề tâm lý trị liệu. Mỗi thân chủ tự thân không chỉ gìn giữ một số niềm tin khác biệt mà còn chứa đôi điều làm nản lòng ghê gớm thuộc các hệ thống niềm tin tôn giáo và văn hóa mã hóa sẵn rồi.

Thân chủ thường tìm nhà trị liệu có cùng nền văn hóa hoặc niềm tin, nỗi sợ (đôi khi hoàn toàn đúng đắn) rằng một nhà trị liệu ngớ ngẩn hoặc tương phản có thể ngờ vực các niềm tin căn cốt mà họ không muốn thẩm tra.

Các nhà trị liệu cũng e ngại né khỏi các thân chủ thuộc niềm tin hoặc văn hóa khác biệt, sợ rằng một sự hiểu nhầm có thể khiến thân chủ khó chịu hoăc cảm thấy bị xúc phạm, thậm chí có khả năng bị than phiền, khiếu nại. Sự thiếu tự tin thế thường không thiết lập được quan hệ tốt.

Trong khi các nhà trị liệu không thể biết hết các chi tiết liên quan đến mỗi niềm tin và văn hóa mà họ tình cờ tương tác và họ nên suy nghĩ cẩn thận trước khi nỗ lực làm việc trong các khung tham chiếu họ chẳng thể thấu tỏ rốt ráo, có một nguyên tắc thông thường đối với hầu như mọi hệ thống niềm tin: nguyên tắc vàng.

Đối xử với người khác như mình muốn họ sẽ đối xử với mình thế.// “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn, đừng làm cho người).

Một nhà trị liệu nghiêm trang sẽ không, dĩ nhiên, giả định rằng có thể đi đến tán đồng, nhất trí hoàn toàn được. Thực tế, thừa ví dụ minh họa đau đớn cho các mối hiểm họa của việc theo đuổi quá háo hức việc kiếm tìm nền tảng đặt để thông thường…

Một lời nhắc nhở luôn đáng nhớ; còn lâu mới lạc hậu hoặc thừa thãi, trong tác nghiệp.

Kháng cự lại sự thay đổi: ẩn dưới những nhiễu nhương, rối rắm

Trạng thái stress làm tăng lên ước muốn được tưởng thưởng chứ không phải niềm khoái sướng, nghiên cứu cho biết thế.

Thay đổi hiếm khi là tiến trình dễ dàng hoặc đơn giản; nó giúp chúng ta hiểu hơn các lý do chống kháng lại, và tôn trọng những khó khăn, phiền muộn dính dáng, liên quan.

Bố và mẹ đưa con gái 14 tuổi tới trị liệu bởi vì cô bé không hoàn thành bài tập ở trường, và họ đặc biệt khó chịu do phòng riêng của cô gái bày biện ‘thật bê bối’. Vấn đề mới xảy ra tạo nên khủng hoảng từ cuộc cãi vã giữa mẹ và con gái khiến cô bé ném đồ đạc rồi đe dọa tự sát. Người bố đang đi làm nhận điện thoại quay về nhà đưa con vào cấp cứu ở bệnh viện. Sau đó, họ thăm khám một bác sĩ tâm thần và được chẩn đoán khả năng cao mắc rối loạn lưỡng cực type 2, cộng khả năng bị ADHD nữa (dù cô gái có thể tiêu hàng giờ đọc truyện), rồi chỉ định 2 loại thuốc. Cô gái từng uống thuốc vì bệnh hen khá nặng, và bố mẹ đòi được trị liệu vì họ muốn tránh uống thuốc thêm.

Các sự kiện tiếp diễn liên miên xoay quanh chuyện cô gái không hoàn thành bài vở ở trường và khi về nhà dễ là biểu hiện bà mẹ cứ muốn làm con gái ngộ ra các lợi ích của việc chu toàn học hành. Phản ứng từ phía cô gái sẽ cho là mình không có khả năng tập trung đủ để hoàn thành bài vở, và rằng bố mẹ cô không hiểu con gái. Trong nhiều trường hợp tương tự với vụ ai đó phải đi cấp cứu, tương tác này sẽ leo thang tới điểm ông bố có thể buộc phải can thiệp rồi làm sao cho mọi sự lắng xuống. Đây là lần đầu mà sự tương tác căng thẳng đến độ cô gái biểu đạt dự tính tự sát.

Nhà trị liệu đề xuất cách hướng dẫn bố mẹ hiệu quả dựa trên thực chứng. Ông xác định vấn đề là kết quả của việc cô gái tự nhận thấy bản thân mình thiếu khả năng và do đó, không đáp ứng được. Bố mẹ đồng ý đây là quan điểm tự đánh giá mình chẳng hay ho gì. Nhà trị liệu hỏi người mẹ rằng bà đã thắng trong cuộc tranh cãi nào với cô con gái 14 tuổi của mình chưa. Bà mẹ thừa nhận chưa bao giờ thuyết phục được con gái thay đổi. Đó là khuyến cáo bố mẹ cần đặt để thời hạn cho việc học hành ở trường hoặc dọn dẹp phòng ốc ngăn nắp. Nếu không đáp ứng thời hạn, bà mẹ nên có mặt ở phòng con gái mà không để cho con gái có các đồ chơi điện tử ưa thích cho đến khi công việc hoàn tất. Nhà trị liệu giải thích điều này sẽ truyền thông với cô gái là cô có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Bà mẹ đồng ý thử cách tiếp cận này xem sao. Ông bố, quá mệt vì phải can thiệp, nhất trí song e ngại sự leo thang của con gái sẽ đòi hỏi mình lại can thiệp.

Vào lần gặp sau đó, bà mẹ nói mình đã thử bảo con gái có trách nhiệm đưa bà vào phòng. Đứa con gái la hét, khóc ầm lên hơn cả tiếng đồng hồ, dọa sẽ chết, và rằng mình không hoàn thành công việc được. Cuối cùng, bà mẹ rời khỏi phòng với lời hứa họ sẽ làm bài tập với nhau khi cô gái bình tĩnh đã. Việc này xảy ra ba ngày trước cuộc hẹn và bài tập vẫn để đó…

Một số nhà trị liệu có thể quen đáp ứng bằng việc nói với bố mẹ là họ đang làm hư con gái do không bắt cô bé phải có trách nhiệm xử lý, hoặc đưa ra một số chỉ trích khác về hành vi của bố mẹ chống kháng đề xuất đã nêu. Tuy thế, nhà trị liệu ở đây không hề ngạc nhiên với việc bố mẹ thể hiện như thế. Ông hiểu là khi người ta khư khư với các mẫu hình hành vi, họ thường bộc lộ thế vì các nhu cầu quan trọng được thỏa mãn. Trong tình huống đang bàn, cho thấy bà mẹ ghi nhận việc con gái mình càng dễ xuất hiện cơn suyễn và mức độ trầm trọng hơn khi stress. Phó bản của nỗi sợ ẩn bên dưới này là họ kiềm chế không thể hiện quyền uy chính đáng của người làm cha làm mẹ. Nếu nhà trị liệu tỏ ra hữu ích với bố mẹ và con gái mới lớn, ông phải tìm được cách để thúc đẩy thay đổi trong khi xem xét các nỗi sợ của họ.

Ngoài sự tưởng nghĩ, chúng ta đều ngạc nhiên chân thành khi người ta tạo ra thay đổi cốt lõi trong lối sống của họ, bất kể đó là việc giảm cân, thay đổi cách làm việc như điên dại để dành thời gian nhiều hơn cho gia đình, hoặc chấm dứt chuyện ghen tuông khủng khiếp. Tất cả chúng ta biết mình nên tạo ra sự thay đổi, có lẽ cảm thấy ngu ngốc rằng mình sao không đổi thay, song gì gì thì cuối cùng mọi chuyện vẫn cứ như cũ. Thay đổi thì khó khăn đối với bất kỳ ai. Thực tế, nếu thay đổi dễ dàng thì người ta sẽ ít nhờ các nhà trị liệu trợ giúp. Điều khiến thay đổi quá khó nhọc là vì giống gia đình trên, tất cả chúng ta nhận được các nhu cầu thỏa mãn nhờ các mẫu hình hành vi mình tạo ra, và chúng ta sợ hãi (thường vô thức) mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ, hoặc chí ít không còn thoải mái như trước, nếu chúng ta tiền hành mọi thứ khác hẳn đi.

Các nhà trị liệu giỏi giang chẳng ngạc nhiên với sự kháng cự thay đổi, bởi vì họ tôn trọng và thấu hiểu người ta đang nhìn thấy các lý do cho hành vi hiện tại; chưa nói, họ hiểu cách thức người ta ngoài lúc trị liệu đôi khi vượt qua khuynh hướng giữ nguyên trạng, thói quen vi tế đến thế nào.

… Trong phiên làm việc thứ hai, nhà trị liệu trước tiên lấy làm hối tiếc vì đã không lường hết nhiệm vụ khó khăn mà bố mẹ phải đương đầu để giúp đỡ con mình. Ông đề nghị họ đưa con gái đến bác sĩ chuyên khoa điều trị bệnh hen suyễn rồi thảo luận về các nguy cơ do stress tăng lên thêm như kết quả của trị liệu. Rồi họ đi đến chọn lựa nghiêm túc về chuyện tiếp tục trị liệu.

Vào phiên thứ ba, bố mẹ báo tin là bác sĩ bày vẽ cho họ xử lý trạng thái tăng thêm các cơn hen suyễn nhờ sử dụng các dụng cụ y tế thích hợp. Bác sĩ bảo họ rằng cơn hen suyễn không nên được dùng như là cái cớ tránh né trách nhiệm. Cả hai bố mẹ tuyên bố mình đã quyết lựa chọn trị liệu tiếp bất chấp gánh nặng chi phí. Nhà trị liệu khuyến cáo họ là trẻ vị thành niên đầu tiên nên được thử thách hạn chế thôi, và sự thay đổi chỉ diễn ra khi cô gái nhận thấy bố mẹ mình đã giải quyết kỳ vọng của chính họ bằng sự tôn trọng cô đích thực. Nhà trị liệu nói thêm là các đề nghị ban đầu có thể đã làm sự việc vận động quá nhanh và việc chuyển dịch hướng tới thay đổi chậm hơn sẽ khiến mọi người chịu đựng được, ngay cả nếu thời gian kéo dài ra. Rồi ông đề nghị bố mẹ dùng thời gian phạt ‘time-out’ trong phòng với việc đầu tiên chơi điện tử chỉ mỗi 30 phút thôi, rồi tuần tự tăng thời gian phạt nếu vi phạm.

Gia đình trở lại trị liệu hai tuần sau với thổ lộ là đã có tiến bộ đáng kể. Hai ngày sau chế độ phạt 30 phút, họ quyết định muốn cải thiện nhanh hơn lên và đã giữ con gái trong phòng hết cả buổi chiều bởi vì cô gái không làm xong bài tập. Mặc cho cô gái đập cửa thình thịch khoảng hai giờ đồng hồ, họ cũng không xiêu lòng. Họ quan tâm chút ít khi cô gái im tiếng, đã kiểm tra và thấy cô gái ngủ với hơi thở không quá nặng nhọc. Đêm kế tiếp họ dọa phạt cô gái tương tự, và bài tập đã được làm đầy đủ trong một tiếng đồng hồ.

… Một số độc giả có thể thắc mắc sao nhà trị liệu ban đầu nói chuyện rất ít với cô gái nhỏ. Điều ấy là cố ý. Nhà trị liệu quan niệm trẻ vị thành niên đang có quá nhiều quyền lực, và do đó, không muốn đưa cô bé vào trong các quyết định cho đến bố mẹ cô thiết lập uy quyền. Với một số tiến bộ tạo ra, nhà trị liệu tập trung quan tâm nhiều hơn vào cô gái. Ông hỏi cô gái mô tả về điều tự do mới mẻ nào cô ưa thích, khi cô gái cho thấy mình đang ngày càng tỏ ra có trách nhiệm.

Tóm lại, kháng cự là phản ứng tự nhiên và dễ đoán định trước đổi thay. Vượt qua sự kháng cự thay đổi đòi hỏi trình tự tìm ra các cách thức mới nhằm đạt được các nhu cầu căn cốt, trong khi lảng tránh các vấn đề tồn đọng. Sự tôn trọng của nhà trị liệu với tiến trình này là một hợp phần hết sức thiết yếu.

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…

Nhận ra điểm khác biệt giữa hiệu năng và sự học hỏi

Thực tế trêu ngươi là dù tiến trình học hỏi có vẻ được hiểu kỹ càng lắm rồi, thế mà chúng ta vẫn thất bại trong việc vận dụng những gì mình đã biết.

Khi thấu tỏ học hỏi là chi, và hiệu năng thể hiện khác biệt như nào với việc học hỏi, các bậc phụ huynh dễ phát hiện một điều nghịch lý rằng, đứa cháu gái mình đạt 100% tất cả các lịch biểu học tập đề ra hàng ngày lại trở thành điều tồi tệ.

Tưởng tượng có câu chuyện về hai lớp học.

Lớp đầu tiên tuy không quá đặc biệt song nó khác với hầu hết lớp học trẻ con chúng ta quen thuộc. Trong lớp này, giáo viên phát tận tay mỗi em lịch biểu công việc học tập riêng tự bản thân tiến hành, không nhờ ai giúp đỡ cả. Một nữ sinh giả dụ tên là Lan, liếc xéo tờ lịch biểu học tập; nó dưới tầm của cô bé và cơ bản hơn, gây phiền phức cho dịp được nghỉ ngơi ở nhà của Lan. Cỡ mười phút sau, Lan đã làm xong nên cô bé ngó mông lung lên trần nhà chờ bạn bè còn đang loay hoay. Cô bé đang học hỏi rằng thành công đến với mình không phải do mình chăm chỉ ra sao mà chỉ bởi vì mình giỏi giang hơn hẳn bạn bè.

Trong khi đó, cậu bé Dũng ngồi bên cạnh Lan lại đang trầy trật với câu hỏi. Cậu chàng nhìn chăm chăm vào tờ giấy và bóp đầ,u vắt trán cho tới khi lời giải lóe lên. Dù nỗ lực gắng sức hoàn thành xong lịch biểu bài tập, Dũng vẫn cảm thấy tồi tệ vì e rằng có đôi câu hỏi trả lời sai và tốn nhiều thời gian so với Lan. Cậu nghĩ thầm tại sao mình không giỏi giống như Lan.

Lúc này, Hoa ngồi kế bên Dũng, lại úp mặt xuống bàn. Cô bé không hiểu tờ lịch biểu công việc này. Hoa mơ hồ về nó có thể vì hồi đêm ngủ không đủ giấc, bị chuyển tới đây học kỳ rồi, hoặc đang buồn thiu do không được chẩn đoán là gặp khó khăn trong học tập. Chẩn đoán bất thường về cô bé (do bạn cùng lớp và cả giáo viên đánh giá) là lười biếng và không thông minh cho lắm, và cô bé thật may mắn lắm thì mới theo kịp chương trình. Tỷ dụ, Hoa hình dung sẽ thế nào nếu em ngỏ lời nhờ Lan hoăc Dũng bày vẽ, giúp đỡ mà điều đó thì trái với nguyên tắc, quy định. Vả lại, gì đi nữa, cô bé Hoa biết rằng mình sẽ luôn là kẻ đội sổ lớp dù có cố gắng hay không; vậy thì quan tâm, lo lắng để làm gì cơ chứ…

Bây giờ, chúng ta chuyển sang một lớp khác: một lớp học về bơi lội. Ngôi trường này chú trọng dạy các bài học bơi với từng em hơn là bài học bơi chung cho cả nhóm. Mỗi giáo viên hướng dẫn không chỉ bơi lội giỏi mà còn hiểu biết về các tiến trình cũng như giai đoạn học sinh thường trải qua từ trình độ sơ cơ cho đến thành vận động viên tiềm năng. Vượt trên các kỹ năng vật lý của việc bơi lội, các hướng dẫn viên này có các hiểu biết thực tế về khả năng của mỗi em trong việc phối hợp các động tác cơ thể, lưu giữ chú ý, cũng như điều kiện và sức chịu đựng… Họ biết các điều ấy vì họ luôn giám sát và lượng giá đều đặn tiến bộ ở từng học sinh. Các giáo viên dạy bơi chỉ ra ngay lập tức và nhắc nhở liên tục về những thành công và vấn đề đủ cho một học sinh có vô vàn cơ hội cải thiện với từng bài học trong 30 phút.

Ấn tượng nhất là cách các hướng dẫn viên ở đây hết sức tránh việc huấn luyện kỹ năng thành lão luyện. Khi một học sinh đạt khả năng cơ bản để dùng như một kỹ năng thì người hướng dẫn tạo ra điều mới mẻ mang tính thách thức hơn chút. Chỉ cần một học sinh đã học cách đập chân ở kiểu bơi tự do (còn hơi khó khăn) thì em này đã sẵn sàng để được bày các nguyên tắc cơ bản cho kiểu bơi bướm. Sau khi thiết lập kỹ năng cơ bản, việc ôn luyện sẽ diễn ra vài tuần để kỹ năng đó ngày càng thuần thục hơn song không bao giờ để nó thành việc học gạo, diễn ra đều đều mỗi ngày. Các huấn luyện viên ‘đòi hỏi’ học sinh vươn xa hơn khả năng các em có thể đạt được, ngay cả khi việc đòi hỏi ấy tạo nên ‘sai sót’ tầm 50- 75%, vì mục tiêu là nhắm vào tạo lập các cải thiện nho nhỏ mỗi lần… Trẻ bị thách thức, động viên và đề nghị dấn thân. Bố mẹ các em ngạc nhiên biết bao bởi sau một thời gian ngắn, con em họ đã tiến bộ trông thấy.

Có hàng tá khác biệt quan trọng giữa hai kịch bản nêu trên, song ở đây chỉ muốn nhấn mạnh duy nhất một thứ. Trong lớp học truyền thống, thành công được đo bởi việc thể hiện sự giỏi giang, lão luyện, thuần thục và chính xác: một dạng thức đo lường cho hiệu năng tiến hành. Đo lường hiệu năng không xấu, song nếu chúng ta mải mê với sự kiện rằng hiệu năng là cái đợi mình sau chặng đường dài của cái gọi là ‘học hỏi’ thì rồi mình sẽ dễ thành người như bé Lan (thường học tập không cần mấy cố gắng, và không biết làm sao khi gặp chuyện khó nhằn), hoặc như Dũng (dù không ngừng học hỏi song lại cảm thấy kém cỏi vì không đạt mức hiệu năng cao như Lan), hoặc là Hoa (bị đẩy ngồi vượt cao hơn trình độ song không ai phản hồi hoặc giúp đỡ và do đó, bị tổn thương đến độ dễ thấy mình tuyệt vọng, không học tập nổi).

Cho dù chuyện hướng dẫn cá nhân cho mỗi một em học sinh là điều không thực tế lắm, vẫn tin rằng những gì các huấn luyện viên bơi lội biết rõ và thực hành xứng đáng đem vào từng lớp học. Những học sinh tài năng như Lan cần hiểu rằng tài năng của các em không phải là thứ vé ưu tiên để vào cửa hàng bánh kẹo ăn uống thoải mái, và rằng có thể các em thừa khả năng học hỏi mà không cần gắng sức bao nhiêu khi còn bé, song trừ khi các em trở nên thành thạo trong ứng dụng các kỹ năng từ chất liệu học hỏi nằm bên ngoài vòng tay nắm bắt của mình, bằng không các em sẽ khuyết tật về mặt học thuật ngay khi tốt nghiệp, rời nghế nhà trường phổ thông hoặc đại học. Tất cả học sinh tựa bạn Dũng, những người học hành chăm chỉ song thất vọng với bản thân đến độ ngóng trông sang các học sinh tài năng bay bổng nhẹ nhàng mà cóc thèm đầu tư bao nhiêu, cần biết rằng đâu là điều mà những người học hỏi thực sự đang tiến hành.

Thói quen áp dụng năng lực tập trung chú ý và chuyên cần, chăm chỉ hình như bắt đầu đã được ít nhiều đánh giá cao hơn các điểm số bài thi và bằng cấp. Và vì các em như Hoa ở đời, những học sinh sẽ bị vứt xuống đáy tháp tức khắc nếu không sẵn sàng, cần biết rằng không có khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó chẳng phải là lời buộc tội, nó đúng hơn là dấu chỉ để kiếm tìm nguồn cơn của vấn đề và truy cầu một cách thức vòng qua trở ngại để học hỏi.

Nếu chúng ta xác định việc học hỏi quan trọng hơn hiệu năng thể hiện thì rồi tôi tin, chúng ta sẽ được nhìn thấy ở trong các ngôi trường hiện nay trên khắp đất nước còn vô vàn khó khăn này những gì từng chứng kiến ở lớp học bơi: cam kết đầy hứa hẹn, nhiệt tình năng động, và tiến bộ không ngừng vượt xa mọi kỳ vọng, mong chờ của chúng ta.