Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.

Nguyên tắc vàng phổ quát

Đối xử với người khác như cách bản thân mình muốn được đối xử vậy là nguyên tắc vàng mang tính phổ quát.

Các nhà trị liệu tránh làm việc với những người khác niềm tin và văn hóa với mình có thể đoan chắc rằng có một nền tảng thường dựa vào để trao đổi

Làm việc với kẻ mang niềm tin khác biệt dễ là thách thức lớn lao, nhất là với ai hành nghề tâm lý trị liệu. Mỗi thân chủ tự thân không chỉ gìn giữ một số niềm tin khác biệt mà còn chứa đôi điều làm nản lòng ghê gớm thuộc các hệ thống niềm tin tôn giáo và văn hóa mã hóa sẵn rồi.

Thân chủ thường tìm nhà trị liệu có cùng nền văn hóa hoặc niềm tin, nỗi sợ (đôi khi hoàn toàn đúng đắn) rằng một nhà trị liệu ngớ ngẩn hoặc tương phản có thể ngờ vực các niềm tin căn cốt mà họ không muốn thẩm tra.

Các nhà trị liệu cũng e ngại né khỏi các thân chủ thuộc niềm tin hoặc văn hóa khác biệt, sợ rằng một sự hiểu nhầm có thể khiến thân chủ khó chịu hoăc cảm thấy bị xúc phạm, thậm chí có khả năng bị than phiền, khiếu nại. Sự thiếu tự tin thế thường không thiết lập được quan hệ tốt.

Trong khi các nhà trị liệu không thể biết hết các chi tiết liên quan đến mỗi niềm tin và văn hóa mà họ tình cờ tương tác và họ nên suy nghĩ cẩn thận trước khi nỗ lực làm việc trong các khung tham chiếu họ chẳng thể thấu tỏ rốt ráo, có một nguyên tắc thông thường đối với hầu như mọi hệ thống niềm tin: nguyên tắc vàng.

Đối xử với người khác như mình muốn họ sẽ đối xử với mình thế.// “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn, đừng làm cho người).

Một nhà trị liệu nghiêm trang sẽ không, dĩ nhiên, giả định rằng có thể đi đến tán đồng, nhất trí hoàn toàn được. Thực tế, thừa ví dụ minh họa đau đớn cho các mối hiểm họa của việc theo đuổi quá háo hức việc kiếm tìm nền tảng đặt để thông thường…

Một lời nhắc nhở luôn đáng nhớ; còn lâu mới lạc hậu hoặc thừa thãi, trong tác nghiệp.

Kháng cự lại sự thay đổi: ẩn dưới những nhiễu nhương, rối rắm

Trạng thái stress làm tăng lên ước muốn được tưởng thưởng chứ không phải niềm khoái sướng, nghiên cứu cho biết thế.

Thay đổi hiếm khi là tiến trình dễ dàng hoặc đơn giản; nó giúp chúng ta hiểu hơn các lý do chống kháng lại, và tôn trọng những khó khăn, phiền muộn dính dáng, liên quan.

Bố và mẹ đưa con gái 14 tuổi tới trị liệu bởi vì cô bé không hoàn thành bài tập ở trường, và họ đặc biệt khó chịu do phòng riêng của cô gái bày biện ‘thật bê bối’. Vấn đề mới xảy ra tạo nên khủng hoảng từ cuộc cãi vã giữa mẹ và con gái khiến cô bé ném đồ đạc rồi đe dọa tự sát. Người bố đang đi làm nhận điện thoại quay về nhà đưa con vào cấp cứu ở bệnh viện. Sau đó, họ thăm khám một bác sĩ tâm thần và được chẩn đoán khả năng cao mắc rối loạn lưỡng cực type 2, cộng khả năng bị ADHD nữa (dù cô gái có thể tiêu hàng giờ đọc truyện), rồi chỉ định 2 loại thuốc. Cô gái từng uống thuốc vì bệnh hen khá nặng, và bố mẹ đòi được trị liệu vì họ muốn tránh uống thuốc thêm.

Các sự kiện tiếp diễn liên miên xoay quanh chuyện cô gái không hoàn thành bài vở ở trường và khi về nhà dễ là biểu hiện bà mẹ cứ muốn làm con gái ngộ ra các lợi ích của việc chu toàn học hành. Phản ứng từ phía cô gái sẽ cho là mình không có khả năng tập trung đủ để hoàn thành bài vở, và rằng bố mẹ cô không hiểu con gái. Trong nhiều trường hợp tương tự với vụ ai đó phải đi cấp cứu, tương tác này sẽ leo thang tới điểm ông bố có thể buộc phải can thiệp rồi làm sao cho mọi sự lắng xuống. Đây là lần đầu mà sự tương tác căng thẳng đến độ cô gái biểu đạt dự tính tự sát.

Nhà trị liệu đề xuất cách hướng dẫn bố mẹ hiệu quả dựa trên thực chứng. Ông xác định vấn đề là kết quả của việc cô gái tự nhận thấy bản thân mình thiếu khả năng và do đó, không đáp ứng được. Bố mẹ đồng ý đây là quan điểm tự đánh giá mình chẳng hay ho gì. Nhà trị liệu hỏi người mẹ rằng bà đã thắng trong cuộc tranh cãi nào với cô con gái 14 tuổi của mình chưa. Bà mẹ thừa nhận chưa bao giờ thuyết phục được con gái thay đổi. Đó là khuyến cáo bố mẹ cần đặt để thời hạn cho việc học hành ở trường hoặc dọn dẹp phòng ốc ngăn nắp. Nếu không đáp ứng thời hạn, bà mẹ nên có mặt ở phòng con gái mà không để cho con gái có các đồ chơi điện tử ưa thích cho đến khi công việc hoàn tất. Nhà trị liệu giải thích điều này sẽ truyền thông với cô gái là cô có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Bà mẹ đồng ý thử cách tiếp cận này xem sao. Ông bố, quá mệt vì phải can thiệp, nhất trí song e ngại sự leo thang của con gái sẽ đòi hỏi mình lại can thiệp.

Vào lần gặp sau đó, bà mẹ nói mình đã thử bảo con gái có trách nhiệm đưa bà vào phòng. Đứa con gái la hét, khóc ầm lên hơn cả tiếng đồng hồ, dọa sẽ chết, và rằng mình không hoàn thành công việc được. Cuối cùng, bà mẹ rời khỏi phòng với lời hứa họ sẽ làm bài tập với nhau khi cô gái bình tĩnh đã. Việc này xảy ra ba ngày trước cuộc hẹn và bài tập vẫn để đó…

Một số nhà trị liệu có thể quen đáp ứng bằng việc nói với bố mẹ là họ đang làm hư con gái do không bắt cô bé phải có trách nhiệm xử lý, hoặc đưa ra một số chỉ trích khác về hành vi của bố mẹ chống kháng đề xuất đã nêu. Tuy thế, nhà trị liệu ở đây không hề ngạc nhiên với việc bố mẹ thể hiện như thế. Ông hiểu là khi người ta khư khư với các mẫu hình hành vi, họ thường bộc lộ thế vì các nhu cầu quan trọng được thỏa mãn. Trong tình huống đang bàn, cho thấy bà mẹ ghi nhận việc con gái mình càng dễ xuất hiện cơn suyễn và mức độ trầm trọng hơn khi stress. Phó bản của nỗi sợ ẩn bên dưới này là họ kiềm chế không thể hiện quyền uy chính đáng của người làm cha làm mẹ. Nếu nhà trị liệu tỏ ra hữu ích với bố mẹ và con gái mới lớn, ông phải tìm được cách để thúc đẩy thay đổi trong khi xem xét các nỗi sợ của họ.

Ngoài sự tưởng nghĩ, chúng ta đều ngạc nhiên chân thành khi người ta tạo ra thay đổi cốt lõi trong lối sống của họ, bất kể đó là việc giảm cân, thay đổi cách làm việc như điên dại để dành thời gian nhiều hơn cho gia đình, hoặc chấm dứt chuyện ghen tuông khủng khiếp. Tất cả chúng ta biết mình nên tạo ra sự thay đổi, có lẽ cảm thấy ngu ngốc rằng mình sao không đổi thay, song gì gì thì cuối cùng mọi chuyện vẫn cứ như cũ. Thay đổi thì khó khăn đối với bất kỳ ai. Thực tế, nếu thay đổi dễ dàng thì người ta sẽ ít nhờ các nhà trị liệu trợ giúp. Điều khiến thay đổi quá khó nhọc là vì giống gia đình trên, tất cả chúng ta nhận được các nhu cầu thỏa mãn nhờ các mẫu hình hành vi mình tạo ra, và chúng ta sợ hãi (thường vô thức) mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ, hoặc chí ít không còn thoải mái như trước, nếu chúng ta tiền hành mọi thứ khác hẳn đi.

Các nhà trị liệu giỏi giang chẳng ngạc nhiên với sự kháng cự thay đổi, bởi vì họ tôn trọng và thấu hiểu người ta đang nhìn thấy các lý do cho hành vi hiện tại; chưa nói, họ hiểu cách thức người ta ngoài lúc trị liệu đôi khi vượt qua khuynh hướng giữ nguyên trạng, thói quen vi tế đến thế nào.

… Trong phiên làm việc thứ hai, nhà trị liệu trước tiên lấy làm hối tiếc vì đã không lường hết nhiệm vụ khó khăn mà bố mẹ phải đương đầu để giúp đỡ con mình. Ông đề nghị họ đưa con gái đến bác sĩ chuyên khoa điều trị bệnh hen suyễn rồi thảo luận về các nguy cơ do stress tăng lên thêm như kết quả của trị liệu. Rồi họ đi đến chọn lựa nghiêm túc về chuyện tiếp tục trị liệu.

Vào phiên thứ ba, bố mẹ báo tin là bác sĩ bày vẽ cho họ xử lý trạng thái tăng thêm các cơn hen suyễn nhờ sử dụng các dụng cụ y tế thích hợp. Bác sĩ bảo họ rằng cơn hen suyễn không nên được dùng như là cái cớ tránh né trách nhiệm. Cả hai bố mẹ tuyên bố mình đã quyết lựa chọn trị liệu tiếp bất chấp gánh nặng chi phí. Nhà trị liệu khuyến cáo họ là trẻ vị thành niên đầu tiên nên được thử thách hạn chế thôi, và sự thay đổi chỉ diễn ra khi cô gái nhận thấy bố mẹ mình đã giải quyết kỳ vọng của chính họ bằng sự tôn trọng cô đích thực. Nhà trị liệu nói thêm là các đề nghị ban đầu có thể đã làm sự việc vận động quá nhanh và việc chuyển dịch hướng tới thay đổi chậm hơn sẽ khiến mọi người chịu đựng được, ngay cả nếu thời gian kéo dài ra. Rồi ông đề nghị bố mẹ dùng thời gian phạt ‘time-out’ trong phòng với việc đầu tiên chơi điện tử chỉ mỗi 30 phút thôi, rồi tuần tự tăng thời gian phạt nếu vi phạm.

Gia đình trở lại trị liệu hai tuần sau với thổ lộ là đã có tiến bộ đáng kể. Hai ngày sau chế độ phạt 30 phút, họ quyết định muốn cải thiện nhanh hơn lên và đã giữ con gái trong phòng hết cả buổi chiều bởi vì cô gái không làm xong bài tập. Mặc cho cô gái đập cửa thình thịch khoảng hai giờ đồng hồ, họ cũng không xiêu lòng. Họ quan tâm chút ít khi cô gái im tiếng, đã kiểm tra và thấy cô gái ngủ với hơi thở không quá nặng nhọc. Đêm kế tiếp họ dọa phạt cô gái tương tự, và bài tập đã được làm đầy đủ trong một tiếng đồng hồ.

… Một số độc giả có thể thắc mắc sao nhà trị liệu ban đầu nói chuyện rất ít với cô gái nhỏ. Điều ấy là cố ý. Nhà trị liệu quan niệm trẻ vị thành niên đang có quá nhiều quyền lực, và do đó, không muốn đưa cô bé vào trong các quyết định cho đến bố mẹ cô thiết lập uy quyền. Với một số tiến bộ tạo ra, nhà trị liệu tập trung quan tâm nhiều hơn vào cô gái. Ông hỏi cô gái mô tả về điều tự do mới mẻ nào cô ưa thích, khi cô gái cho thấy mình đang ngày càng tỏ ra có trách nhiệm.

Tóm lại, kháng cự là phản ứng tự nhiên và dễ đoán định trước đổi thay. Vượt qua sự kháng cự thay đổi đòi hỏi trình tự tìm ra các cách thức mới nhằm đạt được các nhu cầu căn cốt, trong khi lảng tránh các vấn đề tồn đọng. Sự tôn trọng của nhà trị liệu với tiến trình này là một hợp phần hết sức thiết yếu.

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…

Nhận ra điểm khác biệt giữa hiệu năng và sự học hỏi

Thực tế trêu ngươi là dù tiến trình học hỏi có vẻ được hiểu kỹ càng lắm rồi, thế mà chúng ta vẫn thất bại trong việc vận dụng những gì mình đã biết.

Khi thấu tỏ học hỏi là chi, và hiệu năng thể hiện khác biệt như nào với việc học hỏi, các bậc phụ huynh dễ phát hiện một điều nghịch lý rằng, đứa cháu gái mình đạt 100% tất cả các lịch biểu học tập đề ra hàng ngày lại trở thành điều tồi tệ.

Tưởng tượng có câu chuyện về hai lớp học.

Lớp đầu tiên tuy không quá đặc biệt song nó khác với hầu hết lớp học trẻ con chúng ta quen thuộc. Trong lớp này, giáo viên phát tận tay mỗi em lịch biểu công việc học tập riêng tự bản thân tiến hành, không nhờ ai giúp đỡ cả. Một nữ sinh giả dụ tên là Lan, liếc xéo tờ lịch biểu học tập; nó dưới tầm của cô bé và cơ bản hơn, gây phiền phức cho dịp được nghỉ ngơi ở nhà của Lan. Cỡ mười phút sau, Lan đã làm xong nên cô bé ngó mông lung lên trần nhà chờ bạn bè còn đang loay hoay. Cô bé đang học hỏi rằng thành công đến với mình không phải do mình chăm chỉ ra sao mà chỉ bởi vì mình giỏi giang hơn hẳn bạn bè.

Trong khi đó, cậu bé Dũng ngồi bên cạnh Lan lại đang trầy trật với câu hỏi. Cậu chàng nhìn chăm chăm vào tờ giấy và bóp đầ,u vắt trán cho tới khi lời giải lóe lên. Dù nỗ lực gắng sức hoàn thành xong lịch biểu bài tập, Dũng vẫn cảm thấy tồi tệ vì e rằng có đôi câu hỏi trả lời sai và tốn nhiều thời gian so với Lan. Cậu nghĩ thầm tại sao mình không giỏi giống như Lan.

Lúc này, Hoa ngồi kế bên Dũng, lại úp mặt xuống bàn. Cô bé không hiểu tờ lịch biểu công việc này. Hoa mơ hồ về nó có thể vì hồi đêm ngủ không đủ giấc, bị chuyển tới đây học kỳ rồi, hoặc đang buồn thiu do không được chẩn đoán là gặp khó khăn trong học tập. Chẩn đoán bất thường về cô bé (do bạn cùng lớp và cả giáo viên đánh giá) là lười biếng và không thông minh cho lắm, và cô bé thật may mắn lắm thì mới theo kịp chương trình. Tỷ dụ, Hoa hình dung sẽ thế nào nếu em ngỏ lời nhờ Lan hoăc Dũng bày vẽ, giúp đỡ mà điều đó thì trái với nguyên tắc, quy định. Vả lại, gì đi nữa, cô bé Hoa biết rằng mình sẽ luôn là kẻ đội sổ lớp dù có cố gắng hay không; vậy thì quan tâm, lo lắng để làm gì cơ chứ…

Bây giờ, chúng ta chuyển sang một lớp khác: một lớp học về bơi lội. Ngôi trường này chú trọng dạy các bài học bơi với từng em hơn là bài học bơi chung cho cả nhóm. Mỗi giáo viên hướng dẫn không chỉ bơi lội giỏi mà còn hiểu biết về các tiến trình cũng như giai đoạn học sinh thường trải qua từ trình độ sơ cơ cho đến thành vận động viên tiềm năng. Vượt trên các kỹ năng vật lý của việc bơi lội, các hướng dẫn viên này có các hiểu biết thực tế về khả năng của mỗi em trong việc phối hợp các động tác cơ thể, lưu giữ chú ý, cũng như điều kiện và sức chịu đựng… Họ biết các điều ấy vì họ luôn giám sát và lượng giá đều đặn tiến bộ ở từng học sinh. Các giáo viên dạy bơi chỉ ra ngay lập tức và nhắc nhở liên tục về những thành công và vấn đề đủ cho một học sinh có vô vàn cơ hội cải thiện với từng bài học trong 30 phút.

Ấn tượng nhất là cách các hướng dẫn viên ở đây hết sức tránh việc huấn luyện kỹ năng thành lão luyện. Khi một học sinh đạt khả năng cơ bản để dùng như một kỹ năng thì người hướng dẫn tạo ra điều mới mẻ mang tính thách thức hơn chút. Chỉ cần một học sinh đã học cách đập chân ở kiểu bơi tự do (còn hơi khó khăn) thì em này đã sẵn sàng để được bày các nguyên tắc cơ bản cho kiểu bơi bướm. Sau khi thiết lập kỹ năng cơ bản, việc ôn luyện sẽ diễn ra vài tuần để kỹ năng đó ngày càng thuần thục hơn song không bao giờ để nó thành việc học gạo, diễn ra đều đều mỗi ngày. Các huấn luyện viên ‘đòi hỏi’ học sinh vươn xa hơn khả năng các em có thể đạt được, ngay cả khi việc đòi hỏi ấy tạo nên ‘sai sót’ tầm 50- 75%, vì mục tiêu là nhắm vào tạo lập các cải thiện nho nhỏ mỗi lần… Trẻ bị thách thức, động viên và đề nghị dấn thân. Bố mẹ các em ngạc nhiên biết bao bởi sau một thời gian ngắn, con em họ đã tiến bộ trông thấy.

Có hàng tá khác biệt quan trọng giữa hai kịch bản nêu trên, song ở đây chỉ muốn nhấn mạnh duy nhất một thứ. Trong lớp học truyền thống, thành công được đo bởi việc thể hiện sự giỏi giang, lão luyện, thuần thục và chính xác: một dạng thức đo lường cho hiệu năng tiến hành. Đo lường hiệu năng không xấu, song nếu chúng ta mải mê với sự kiện rằng hiệu năng là cái đợi mình sau chặng đường dài của cái gọi là ‘học hỏi’ thì rồi mình sẽ dễ thành người như bé Lan (thường học tập không cần mấy cố gắng, và không biết làm sao khi gặp chuyện khó nhằn), hoặc như Dũng (dù không ngừng học hỏi song lại cảm thấy kém cỏi vì không đạt mức hiệu năng cao như Lan), hoặc là Hoa (bị đẩy ngồi vượt cao hơn trình độ song không ai phản hồi hoặc giúp đỡ và do đó, bị tổn thương đến độ dễ thấy mình tuyệt vọng, không học tập nổi).

Cho dù chuyện hướng dẫn cá nhân cho mỗi một em học sinh là điều không thực tế lắm, vẫn tin rằng những gì các huấn luyện viên bơi lội biết rõ và thực hành xứng đáng đem vào từng lớp học. Những học sinh tài năng như Lan cần hiểu rằng tài năng của các em không phải là thứ vé ưu tiên để vào cửa hàng bánh kẹo ăn uống thoải mái, và rằng có thể các em thừa khả năng học hỏi mà không cần gắng sức bao nhiêu khi còn bé, song trừ khi các em trở nên thành thạo trong ứng dụng các kỹ năng từ chất liệu học hỏi nằm bên ngoài vòng tay nắm bắt của mình, bằng không các em sẽ khuyết tật về mặt học thuật ngay khi tốt nghiệp, rời nghế nhà trường phổ thông hoặc đại học. Tất cả học sinh tựa bạn Dũng, những người học hành chăm chỉ song thất vọng với bản thân đến độ ngóng trông sang các học sinh tài năng bay bổng nhẹ nhàng mà cóc thèm đầu tư bao nhiêu, cần biết rằng đâu là điều mà những người học hỏi thực sự đang tiến hành.

Thói quen áp dụng năng lực tập trung chú ý và chuyên cần, chăm chỉ hình như bắt đầu đã được ít nhiều đánh giá cao hơn các điểm số bài thi và bằng cấp. Và vì các em như Hoa ở đời, những học sinh sẽ bị vứt xuống đáy tháp tức khắc nếu không sẵn sàng, cần biết rằng không có khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó chẳng phải là lời buộc tội, nó đúng hơn là dấu chỉ để kiếm tìm nguồn cơn của vấn đề và truy cầu một cách thức vòng qua trở ngại để học hỏi.

Nếu chúng ta xác định việc học hỏi quan trọng hơn hiệu năng thể hiện thì rồi tôi tin, chúng ta sẽ được nhìn thấy ở trong các ngôi trường hiện nay trên khắp đất nước còn vô vàn khó khăn này những gì từng chứng kiến ở lớp học bơi: cam kết đầy hứa hẹn, nhiệt tình năng động, và tiến bộ không ngừng vượt xa mọi kỳ vọng, mong chờ của chúng ta.

Công việc cho người đang trong giai đoạn lờ đờ

Thay cho chuyện luôn luôn cố gắng hết sức để làm tốt nhất, chúng ta có thể tiến hành hay hơn nhờ sắp đặt bản thân hướng tới sự thành công khi mình cảm thấy đang ‘chết não’.

Hai trong vô số huyền thoai đắng ngắt thiên hạ thích nuốt là ‘nhiều năng lượng’ và ‘cải thiện sự tập trung’. Có thể mấy thứ này đáng giá, song thật dễ dàng biến chúng thành cực đoan. Các lợi lạc vặt vãnh do tự trợ hoặc thiếu vắng những mong đợi thực tế rồi ra sẽ dẫn đưa ta hướng về mục tiêu sai lầm của trạng thái ‘luôn luôn bừng sáng’ hoặc ‘tốc độ 100%’.

Thực tế, hiếm khi đạt 100% và đôi khi đòi buộc trong bóng tối cần nghỉ ngơi nhằm phục hồi, chúng ta cũng tiêu hàng giờ ‘tích cực’ khó thoát khỏi việc chú ý quá mức và mê đắm ngập tràn.

Quan sát, hỏi chuyện dân viết code và lập trình giúp nhận ra nhu cầu rất cần mã lực tinh thần hơn bất kỳ thứ việc nào tôi từng biết. Ngồi trước một chương trình trục trặc đâu đó để cố gắng phát hiện lỗi sai rồi tìm cách chỉnh sửa quả nhọc nhằn chẳng kém gì chuyện tham gia kỳ thi toán nâng cao. Nếu 8 giờ sáng khởi động thì rệu rã vào giờ trưa, sau đó làm tiếp thì khả năng cao bắt gặp mình lúc đêm khuya tin rằng có gì không ổn ở đây do mọi thứ thôi còn trơn tru, lăn êm tròn trịa như trước.

Chẳng mấy chốc, người trong cuộc học hỏi được rằng nên có một thời gian hàng ngày hạn chế sự tập trung chú ý. Cơ chừng dân lập trình ngần ngại và khó chịu với việc chấp nhận các giới hạn rất người tồn tại trong họ; nhìn nhận khách quan vén lộ cả loạt chiến lược cần tiến hành lấp hố đất khai quật lại với công việc kéo dài hơn tám tiếng mỗi ngày để chỉ nên theo đuổi, chú tâm cao đội tầm ba giờ thôi.

Nếu tin xấu là chúng ta đã văng ra ít nhiều khỏi trò chơi hoặc thậm chí ‘chết não’ vì ngày làm việc quá nhiều, tin tốt là chúng ta không nhất thiết đứng đầu trò chơi đặng duy trì đôi chút tiến bộ. Bên ngoài công sở và văn phòng, hầu hết người lao động phải giải quyết khéo léo vô vàn sự vụ. Một số đòi hỏi nhiều chú ý, một số khác thì it hơn. Trang bị một bảng kiểm công việc toàn diện đi kèm vài ba hiểu biết về các yêu cầu liên quan mỗi một nhiệm vụ thì có thể giúp các năng lực bản thân xứng hợp với yêu cầu công việc.

Một trở ngại đối với cách tiếp cận ‘chết não song vẫn năng sản’ là niềm tin rằng chỉ làm việc chăm chỉ thì mới đích thị là làm việc. Sự thật ‘làm việc chăm chỉ’, gồm cả công việc sáng tạo đòi hỏi tư duy độc đáo, được xây dựng trên sống lưng của lủ khủ nỗ lực tầm thường. Mỗi đầu bếp giỏi giang biết thừa rằng giữ bếp núc sạch sẽ và mọi thứ đặt để trật tự cho phép họ vận hành công việc trơn tru, ngon nghẻ. Với thế giới phát triển phần mềm, thực hành viết code giỏi không chỉ đòi hỏi phân tích sâu và trực giác tốt mà còn cả chuyện ‘giữ gìn nhà cửa ngăn nắp’ gồm bảo quản bộ tài liệu, xử lý các điều kiệu mắc lỗi hay gặp, định dạng code dễ đọc hơn nữa… Từng công việc kiểu dân lập trình và phát triển phần mềm thế thì không thuần túy chỉ cực nhọc ghê gớm mà hầu như chẳng bao giờ đáng tưởng thưởng ngay lập tức, chưa nói gây nhiều hụt hẫng, đau đầu và gia công lại,..

Vượt trên yêu cầu không ngừng nhận ra các dạng kiểu công việc khác nhau đòi hỏi năng lượng tinh thần khác nhau, những nhiệm vụ năng lượng thấp cần thiết được cài đặt đặc thù nhằm tạo nên sự sẵn sàng ứng phó với trạng thái lờ đờ, thiếu sinh khí. Công việc dễ trở nên khó nhằn hơn hoặc bất khả thực hiện nếu các cứ liệu, vật tư chưa bày biện phù hợp. Người ta dễ kinh hãi và tránh dọn dẹp, lau chùi nhà cửa nếu trước đó họ cảm thấy thiếu nguồn cung cấp cần thiết và đặt chúng nơi gần nhất họ quen sử dụng.

Các công việc lờ đờ, vật vờ thì khá quen thuộc. Nếu muốn một công việc có khả năng tiến hành khi chết não, cần đoan chắc thực hiện nó cùng cách thức đời thường. Nhịp điệu đều đặn cất bỏ bất kỳ điểm mấu chốt quyết định nào mà nó sẽ hút cạn sức lực ghê gớm song lại không thể biểu tỏ nổi khi ta khô héo tinh thần. Nhặt lấy rác rưởi, thứ phẩm vô giá trị cùng một nơi chốn thực thi ấy. Chẳng mấy chốc hành động vun vén, quét dọn sạch sẽ thành thói quen và khởi sự chuỗi liên tiếp sẽ dễ mang mình dọc theo vụ việc cho đến lúc hoàn mãn, chung cuộc.

Các bản ngã lờ đờ, thiếu sinh khí của ta không bắt đầu nhiệm vụ trừ khi có cú lẩy chuyên biệt để khơi mào chúng chuyển động. Ai hâm mộ loạt phim xác chết biết đi tất sẽ nhận ra nhanh chóng rằng chúng tụ lại bầy đàn nhờ đủ kiểu loại tiếng ồn, nhất là các cú súng bắn ầm ĩ. Về mặt biểu tượng, chúng ta cần được phép bắt tay ngay để hoàn thành công việc theo thông lệ. Đôi khi, điều đó hàm ý cần kiểm định các nhiệm vụ vật vờ diễn ra với quan điểm thoải mái, hoặc bố trí các thứ cần trong tầm nhìn, kiểu cái chổi và khay đựng rác đặt cạnh máy giặt vậy.

Thực tế, nên đơn giản hóa và sắp xếp hợp lý hóa công việc đối với mọi nhiệm vụ lớn bé, phức tạp và dễ dàng. Nếu được chọn, chắc thiên hạ không từ chối quyền có hầu hết công việc thuộc dạng ‘việc vờ vật’ khiến mình có thể hoặc không thể tiến hành lọt ra ngoài sự dõi theo của lý tính. Nhận thấy các giới hạn trong sự chú ý và lên kế hoạch để khả thể khiến nó thành công ở mức độ nhất định, bất chấp trạng thái tâm trí ra sao.

Cài đặt đồng bộ và nâng cấp hệ thống: hiểu biết tốt hơn đời sống tâm lý con người

Nhân loại lại bay trên  cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng...
Nhân loại lại vội bay lên trên cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng…

Khi cái laptop nồi đồng cối đá T42 IBM bị bánh xe ô tô cán lên làm vỡ màn hình do đặt để bất cẩn, chủ nhân của nó tiếc tiền gắn liền kỷ niệm nên nhanh nhảu nối dây cài cắm với màn hình máy tính bàn vốn tạm thời hỏng hóc ổ cứng… Thói khôn lỏi, sửa chữa vặt vãnh khó đảm bảo ổn thỏa lâu dài, chưa nói sẽ không khỏi mặc cảm tự ti khi so sánh với các dòng đời mới và vô vàn kiểu loại smartphone, Iphone, Ipad truy cập mạng lưới điểm toàn cầu cũng như tích lũy thông tin hết sức hiệu dụng.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Liệu ưu tiên khẩn thiết tìm hiểu có phải là chủ đề nóng hừng hực: tâm trí con người cần được nhận diện và rồi kiểm soát nếu em í bất chợt lêu bêu? Bởi ở mức độ nhất định, khoảng cách làm sáng tỏ cái nhìn nên đừng chú mục sát sườn: tại sao tâm trí người lớn tuổi hơn thường ít có xu hướng lang thang?

Tỷ dụ dễ hiểu rất đời là câu chuyện phân tách tính dục (sexuality) với tư tưởng dâm dục (eroticism) khá tương tự như khác biệt giữa con vật và loài người:

Động vật có sex và điều đó tự nhiên, nó là thôi thúc căn bản, thuộc bản năng, mang yếu tố sinh đẻ. Con người có đời sống dâm dục. Chúng ta thay hình biến dạng tính dục. Chúng ta xã hội hóa tính dục thông qua trí tưởng tượng. Và tác nhân cốt lõi của hành động dâm dục là sự sáng tạo, trí tưởng tượng, hoặc khả năng làm mới lại, khả năng hưởng thụ và đoán biết trước… Chúng ta có thể mường tượng hành động mà cóc nhất thiết đích thị tiến hành nó. Và đấy là sự vun bồi tự thân nỗi niềm khoái lạc.

Tư tưởng dâm dục thế, theo nữ tâm lý gia lừng danh Esther Perel, hàm ý xem sex như một trải nghiệm rung động mãnh liệt và siêu việt. Perel gọi đó là “nơi mình đi vào trong chính lòng mình cùng với kẻ khác”. Nhiên liệu cho cuộc du hành siêu việt này là sự sáng tạo riêng có của cá nhân. Và xuyên qua sự thăm dò trí dâm dục khiến các huyễn tưởng dậy lên. Các ranh giới mở rộng ra và nhiều thực tế mới mẻ được rèn giũa. Do vậy, tiêu điểm của tư tưởng dâm dục và trí thông minh gợi tình không phải ‘quan hệ” mà mang “ý nghĩa của sex”. Siêu việt là bởi thế. Perel cũng chỉ ra tính cách tân như điểm quan trọng khác giữa sex/ erotics: không phải là các vị trí hoang dại mà hơn thế là điều mình như người tham gia đem theo vào trải nghiệm: cảm xúc, sức quyến rũ, độ đam mê, tinh thần. Sự nối kết giữa sự mới mẻ và tính sáng tạo là điều bắt buộc để duy trì một mối quan hệ lành mạnh…

Dẫn chứng cách nhìn trên càng dễ chứng nhận sự thật rằng ngày nay, làm việc hoặc nói chuyện với người trong lĩnh vực kinh doanh, giáo dục, chính trị, văn hóa, xã hội… gì gì thảy đều hay được đề nghị đưa ra một mô hình hoặc tập hợp các công thức khoa học có thể ‘giải quyết’ các vấn đề hành vi giúp họ. Dẫu hiện có nhiều mô hình về cách con người ứng xử, sự tạo thành thói quen, và nhận thức khả dĩ giúp chúng ta thấy hiểu bản chất chính mình thì bất kỳ mô hình nào, theo định nghĩa, đều là việc đơn giản hóa thế giới đích thị đang là. Các mô hình tâm trí cũng cụ thể hóa hiểu biết của chúng ta ở một thời điểm nhất định. Hàng ngày, nảy nở nghiên cứu thêm và cập nhật hiểu biết về phương thức tâm trí hoạt động. Trong khi các phát hiện này phản hồi với các mô hình đang tồn tại, chúng thường đứng ngoài rìa của những khám phá kinh điển được dạy trong sách giáo khoa và các cuốn khoa học phổ thông trong một thời gian dài.

Và quả đúng là chúng ta mê những giải thích thật giản dị và chặt chẽ về các hiện tượng phức tạp. Chúng ta thích biết bao nhiêu việc trải nghiệm đời thường có thể được làm rõ ràng, minh bạch nhờ các khung lý thuyết đơn giản. Lợi lạc lớn lao việc bình dân hóa khoa học và nhờ hiểu biết các tiến trình tâm thần từng khiến chúng ta khốn khổ. Song khá nực cười để nhìn nhận bất kỳ mô hình đơn lẻ nào như nền tảng cơ bản cho hoạt động kinh doanh, marketing, hoặc quyết định sự vụ ở đời. Một mô hình có thể là khung tham chiếu có tính khai sáng đi nữa thì nó không thể hồi quang rộng khắp sự phức tạp của tâm trí.

Đó là lý do tại sao nếu mình nghiêm túc muốn làm ăn tốt đẹp và tạo lập những quyết định sống đúng đắn thì mình nên ưu tiên nghiên cứu các khoa học hành vi liên tục và suốt đời. Mình cần cập nhật thật nhất quán và tái xác lập yếu tố các viễn tượng chúng đưa ra nhằm tự bảo vệ bản thân chống lại các mô hình lỗi thời vốn gây lầm lạc hơn là làm rành mạch.

Nói khác, khởi từ bây giờ, mình nên tháo gỡ các mô hình không chính xác đã mang theo suốt từ bấy đến nay. Mỗi chúng ta có cả lố tâm lý cổ truyền chuyển giao bởi nền văn hóa, thông qua bố mẹ, và cách giáo dục thừa hưởng. Có thể nhiều ý tưởng trong đó hãy còn nhất quán với nghiên cứu đương đại, song đa phần thì không.

Chẳng hạn, hầu hết mọi người nghĩ rằng chúng ta hành động dựa trên ‘niềm tin”. Tuy thế, các nghiên cứu chứng thực, chúng ta tạo các quyết định phụ thuộc nhiều yếu tố lắm, như sự dễ chịu và việc sắp đặt (ở tiệm tạp hóa chẳng hạn), rồi đi tới tìm ra những hợp lý hóa hậu thuẫn cho những lựa chọn ấy. Nghĩa là, chúng ta không luôn luôn mua thứ gì vì thích, chúng ta thích thứ gì vì mình mua nó. Chúng ta vốn siêu trong vụ kể chuyện theo dạng biện hộ thế.

Nhiều người chúng ta đầy ứ các quan niệm sai lầm kiểu vậy. Song chúng ta khó tránh được. Nghệ thuật sử dụng khoa học hành vi không phải là điều trọng tâm trong nền giáo dục của chúng ta.  Chúng ta nên bắt đầu làm quen với việc tạo lập và tái xây dựng lại hiểu biết của chúng ta về hành vi và nhận thức con người nhờ kiểm tra, xem xét nghiên cứu mới nhất khi nó được công bố. Vẻ đẹp của cách tiếp cận gộp lãi thêm lên này là nó sẽ làm thay đổi lối chúng ta nghĩ về các vấn đề, bạn bè, và đời sống chúng ta khi chúng tiến triển, biến hóa. Tựa như chuyện nâng cấp hệ điều hành để ngày càng sát hợp hơn với thực tế. Đó là một trong những điều quan trọng chúng ta có thể tiến hành, và là cách chắn chắn đảm bảo áp dụng hết sức chính xác tâm lý học vào đời sống của mỗi chúng ta.

Cũng nên biết, mặc dù chán ngán do đánh giá quá cao động cơ song nghiên cứu của các nhà tâm lý học cũng vẫn đang đuổi theo hạnh phúc. Và bản chất con người đang tiến triển trong đáp ứng với những cách tân của công nghệ, chẳng hạn tác động của công nghệ điện thoại di động đến động năng trò chuyện hàng ngày.

Chắc chắn, vẫn còn để ngỏ gợi hứng về cách thức tâm trí hoạt động. Cần tìm biết bộ não đã tạo ra thế giới tâm thần chúng ta như thế nào, chúng sẽ chỉ ta hay cách từ vựng cơ bản của tâm lý học hiện đại về trí thông minh, hành vi, thái độ, động cơ, v.v… không phải cứ thuộc kiểu dạng bản chất mãi mãi như thế mà được cấu trúc, phân loại dựa vào mục tiêu đặc thù ở các thời điểm trong lịch sử; nhiều mục tiêu cũ mèm giờ không phục vụ được cho nhu cầu hiện tại nữa và dần gây trở ngại cho tiến bộ tương lai…

Ngược dòng thời gian đặng trầm ngâm cùng tác phẩm hiếm thấy và ít khi được thông tỏ của B.F. Skinner. Đối lập với một số diễn dịch sai trái về vị trí của ông, Skinner không những chưa từng bao giờ ngờ vực rằng chúng ta có thể mô tả các trạng thái nội tâm như suy tư hoặc cảm xúc mà còn tự hỏi cách thức chúng ta làm thế nào để tiến hành chuyện đó; câu trả lời của ông gây ngạc nhiên, tương thích với thực hành tâm lý trị liệu, và là một thách thức đối với những ai giả định chúng ta có thể biết các cảm xúc bản thân chỉ nhờ tiến trình đơn giản của việc tự nội quan.

… Tác giả Gay Watson (2008) khuyến cáo chúng ta tích hợp các cách tiếp cận thân thể và tâm trí với nhau , vẽ ra những tiếp cận dự liệu trước từ phương Đông; và như cuốn sách trình bày, các lý thuyết và mô hình tâm lý, tâm lý trị liệu có thể tìm được vết ở nhiều biến thể của tâm lý học Phật giáo 2500 năm rồi.

Điều này gợi nhắc tới tác phẩm kinh điển thể hiện các nguyên tắc của tâm lý học đồng thời nó cũng minh họa đặc sắc cho lối viết, khả năng dự báo và tuệ giác của William James từ 1890.

Như cái chết của tâm trí, các công ty internet ngày nay đang sử dụng các dữ liệu cực lớn tích lũy từ từng hành vi nhỏ nhặt của người dùng mạng để gây ảnh hưởng tới lựa chọn của khách hàng. Các lý thuyết và tư tưởng tâm lý học về cách thức tâm trí hoạt động đóng vai trò rất nhỏ bé nếu không nói là nó vắng bóng trong các mô hình được đề cập trong bài báo vốn dựa hoàn toàn vào các mô hình từ toán học.

Phê bình khá công bằng, so sánh với ngành sinh học không ngừng tiến hành các nghiên cứu nhằm chỉ cố gắng mô tả các giống loài mới, tự thân tâm lý học có vẻ cũng đang thu hẹp tâm trí của chính nó, vì sự mù quáng do sở thích dùng các phương pháp thực nghiệm trong khi hạ thấp tầm quan trọng của việc nắm bắt các hiện tượng mới mẻ và thú vị của đời sống con người.

Xung đột, hòa giải và tham vấn tâm lý

Tiến trình hòa giải hiệu quả được xem là phương tiện để giải quyết các tranh cãi giữa hai hoặc nhiều bên hơn vốn muốn đạt tới một dự tính thỏa mãn. Nhà chuyên môn sức khỏe tâm thần trong tiến trình này giữ vai trò ‘trung gian hòa giải’ thông qua việc hỗ trợ các bên đang xung đột tập trung vào vấn đề ảnh hưởng qua lại, thảo luận các cách xử lý khả thể rồi đi đến nhất trí một giải pháp. Người trung gian hòa giải có thể quen làm trong bất kỳ tình huống có hai hoặc nhiều bên hơn đang bất đồng không có khả năng giải quyết các mối quan tâm về phía họ. Trung gian hòa giải thường ứng dụng như lối thay thế hoặc như một phần trên tiến trình tranh tụng tòa án.

Trung gian hòa giải trong tham vấn tâm lý là tiến trình mà nhà tham vấn giữ vai trò “người hòa giải’ thông qua việc trợ giúp các bên đang bất đồng nhắm vào vấn đề liên quan, thảo luận các cách khả thể rồi đi đến thống nhất một giải pháp.

Trung gian hòa giải đòi hỏi sự thân tín, tuy thế với một số hoàn cảnh nhất định, một người hòa giải/ nhà tham vấn tâm lý có thể buộc phải tiết lộ thông tin khi:

  • Có một luật quy định sẵn đòi hỏi người hòa giải báo cáo thông tin, tỷ dụ như việc lạm dụng trẻ em;
  • Người hòa giải tin cần thiết tiết lộ thông tin nhằm ngăn chặn tổn thương thể lý hoặc nguy cơ chết người;
  • Tư cách của người hòa giải là đáng ngờ;
  • Các bên liên quan đến vụ việc được phép công bố thông tin.

Nói chung, không hề các quy tắc bất ngoại lệ mà người hòa giải dùng khi gặp gỡ các bên, cá nhân người hòa giải dựa vào trải nghiệm cá nhân, kỹ năng và trình độ đào tạo để thực hiện và dẫn dắt các bên hướng tới sự thỏa thuận với nhau.

Khi nào dùng hòa giải?

Hòa giải có thể dùng trong bất kỳ tình huống nào có hai hoặc hơn nhiều bên đang bất đồng đến độ không có khả năng giải quyết ổn thỏa vấn đề riêng liên quan. Hòa giải thường là cách thay thế hoặc như một phần của tiến trình tranh tụng tòa án (ví dụ, các vấn đề luật hôn nhân- gia đình, luật lao động).

Các giai đoạn xung đột

Có thể xem xét xung đột qua 4 giai đoạn (hòa hợp, không ưng ý, xung đột và chiến sự) mà các cá nhân thường dính mắc hoặc hay quen trải qua. Hiển nhiên, bốn giai đoạn có thể không gợi nhiều tới chuyện đủ gây nên xung đột, tuy thế nhiều điều xảy ra cùng các giai đoạn này làm nên xung đột và thậm chí còn tạo cả giai đoạn chiến tranh.

Bốn giai đoạn của tiến trình xung đột nêu trên nguyên được phát triển từ việc xây dựng đội nhóm, song thực tế chúng cũng thích ứng để dùng cho công tác hòa giải.

  1. Giai đoạn 1: HÒA HỢP. Đây là giai đoạn hai hoặc nhiều bên hơn đang đạt đến mức độ vui vẻ và thành công nhất trong quan hệ. Xung đột được giải quyết hoàn toàn tích cực và đấy là mục tiêu của hòa giải (dù điều này không nhất thiết luôn luôn là điều hòa giải nhắm tới).
  2. Giai đoạn 2: KHÔNG ƯNG Ý. Giai đoạn này cho thấy trạng thái vui vẻ, sung sướng của các bên liên quan suy giảm. Có cảm nhận khó chịu và mọi thứ không ổn thỏa. Nhiều vấn đề và khó khăn, rắc rối ngày càng làm họ khốn khổ mà vẫn chưa được giải quyết. Các cá nhân, vì lý do nào đó, không có khả năng bộc lộ và lên tiếng về các bất mãn riêng. Dễ chừng còn gây nên cảm giác bất đắc dĩ ngập tràn trước tình huống “thuyền va phải đá ngầm”.  Các cá nhân có thể bắt đầu thay đổi các mẫu ứng xử, hành vi quen thuộc lâu nay.
  3. Giai đoạn 3: XUNG ĐỘT. Đây là giai đoạn các vấn đề cần được nhấn mạnh, định dạng rõ ràng. Là điểm mà điều gì đó cần hoàn tất và tình huống không thể lờ đi được nữa. Hoài giải là lựa chọn tối ưu cho giai đoạn này.
  4. Giai đoạn 4: CHIẾN SỰ. Đây là giai đoạn đổ vỡ, đứt gãy trong truyền thông và với một số trường hợp cực đoan, các cá nhân có thể dẫn đến bạo lực và xung hấn. Tình huống này có thể được ngăn ngừa trước thông qua hòa giải hiệu quả. Nên lưu ý rằng không phải mọi xung đột ở giai đoạn này đều tồi tệ. Xung đột có thể khuyến khích sự sáng tạo và gợi cảm hứng cho nhiều ý tưởng mới mẻ; nó có thể ngăn ngừa tình trạng vô cảm và trì trệ. Tuy vậy, với các khối bộ riêng có mà nó để lại, xung đột có thể leo thang tăng lên thêm đến điểm hết sức nan giải: chiến sự.

Phòng ngừa khả năng mắc trầm cảm

Phòng ngừa được hiểu như là việc tiến hành những sự can thiệp nhằm ngăn không cho xảy ra các cuộc tấn công khiến phát triển lên thành rối loạn, gây rắc rối thêm…

Ngăn ngừa trầm cảm (depression) làm giảm các yếu tố nguy cơ rối loạn tâm thần cũng như tăng cường các yếu tố bảo vệ nhằm nâng cao sức khỏe tâm trí.

Mức độ nguy cơ của một cá nhân phát triển trầm cảm có thể được xem xét bởi tính dễ bị tổn thương và trạng thái phơi nhiễm đối với các yếu tố nguy cơ, và sự hiện diện cũng như sức mạnh của các yếu tố bảo vệ liên quan với sự phát triển đó.

Các can thiệp phòng ngừa có thể mang mục tiêu hướng đích phổ quát (chủ yếu ngăn ngừa) ở mẫu dân số chung, lựa chọn cố ý ở các nhóm nhỏ thuộc dân số hoặc các cá nhân khả năng dễ mắc trầm cảm hết sức cao một cách ý nghĩa so với trung bình, hoặc biểu lộ ở các cá nhân được đánh giá là nguy cơ cao, với các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm ban đầu thể hiện ra…

Nhìn chung, có một phổ các can thiệp liên quan đến các trục trặc và rối loạn tâm thần: dự phòng chung, dự phòng chọn lọc, can thiệp sớm (can thiệp theo chỉ báo; định hình trường hợp, và trị liệu sớm); trị liệu (theo chuẩn mực); tiếp tục theo dõi (quyết tâm trị liệu dài hạn; chăm sóc lâu dài); dự phòng độ ba.

Dự phòng sơ cấp (phổ quát)

Can thiệp mang tính dự phòng sơ cấp thì trực tiếp hướng tới toàn bộ mẫu dân số mà không hề được định dạng cơ bản mắc nguy cơ, và có mục đích nhằm cải thiện sức khỏe tâm trí phổ quát của một cộng đồng. Một ví dụ là việc xây dựng sự kết nối và cảm nhận thuộc về, các kỹ năng đối phó và hy vọng về tương lai cho học sinh trong nhà trường phổ thông chẳng hạn. Làm việc với một cộng đồng nhằm giảm các yếu tố nguy cơ liên quan với rối loạn trầm cảm, như việc kiểm soát kém và các mức độ stress cao trong môi trường làm việc cũng được xem là sự dự phòng phổ quát.

Dự phòng chọn lọc (thứ cấp)

Nhắm vào các nhóm dân số và các cá nhân gặp nguy cơ trầm cảm cao. Mức độ nguy cơ được xe là trạng thái cao hơn hẳn đầy ý nghĩa so với trung bình và có thể là một nguy cơ sắp xảy ra hoặc là một nguy cơ mang theo suốt đời. Mục đích dự phòng chọn lọc nhằm giảm các nguy cơ đối với mẫu dân số nhắm sẵn trước rồi. Các ví dụ là những chương trình làm bố mẹ tích cực dành cho các mẫu không ổn, bất lợi; là các chương trình dựa vào học đường đặc biệt quan tâm tới người trẻ tuổi mắc nguy cơ trầm cảm, và các chương trình dành cho người phơi nhiễm cũng như mắc nguy cơ do trải nghiệm nhiều điều khắc nghiệt trong đời (ly dị, mất mát người thân).

Can thiệp sớm

Sự dự phòng theo chỉ báo nhắm đến các cá nhân và nhóm có nguy cơ cao xảy ra rối loạn, người có các triệu chứng và dấu hiệu sớm của tiền triệu trầm cảm song không thỏa mãn tiêu chí chẩn đoán của một rối loạn. Can thiệp sớm thường là các can thiệp hướng tới người đang thể hiện các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của một rối loạn hoặc trục trặc sức khỏe tâm thần, và người hiện phát triển hoặc đang trải nghiệm giai đoạn đầu của một rối loạn.

Can thiệp sớm hồi quy với ‘can thiệp theo chỉ báo’, ‘định hình trường hợp’ và ‘trị liệu bước đầu’. Đó là sự định hình ban đầu một cách kịp thời, hiệu quả và phù hợp người nổi trội các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm để ngăn ngừa bệnh như dự đoán và làm giảm thiểu các tác động liên quan đến các triệu chứng ấy.

Các chương trình định hướng can thiệp sớm có mục đích ngăn ngừa sự phát triển trầm cảm nhờ nâng cao các yếu tố bảo vệ và giảm thiểu các yếu tố nguy cơ (hoặc tác động của các yếu tố nguy cơ), cũng như giúp người ta xử lý thật hiệu quả với mức độ hiện thời của các triệu chứng. Các can thiệp này xảy đến ngay sau khi một nhu cầu được khởi lên, mục tiêu là giảm phiền nhiễu, thu ngắn lại giai đoạn chăm sóc và giảm tối thiểu mức độ đòi hỏi phải can thiệp. Nhờ thế, can thiệp sớm làm giảm sự phụ thuộc và các tác động vốn thường liên quan với các triệu chứng trầm cảm cũng như tăng cường hy vọng cho một tương lai đảm bảo thân- tâm an lạc.

Định nghĩa can thiệp sớm bao gồm dự phòng theo chỉ báo, trong khi các dự phòng chung và dự phòng có chọn lọc thì mới được xem là can thiệp. Khía cạnh ý niệm này phân biệt các cách tiếp cận dự phòng dựa vào sự hiện diện hoặc vắng bóng các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn. Các can thiệp mang tính dự phòng phổ quát và chọn lọc tiến hành khi vắng mặt bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm, trong lúc đó thì dự phòng theo chỉ báo tiến hành khi thấy các triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn tuy nhỏ nhặt bộc lộ ra.

Tuy thế, thường sự phân biệt giữa dự phòng và can thiệp sớm không thật rõ ràng, dứt khoát, nhất là với tình huống gần như bất khả trong hầu hết trường hợp chỉ ra chính xác sự khởi đầu các triệu chứng và dấu hiệu trầm cảm.

Trị liệu

Trị liệu gồm cả thể lý và tâm lý với người được chẩn đoán mắc các rối loạn. Trị liệu chuẩn mực bao gồm ứng dụng các dạng trị liệu hiệu quả, dựa trên bằng chứng với các cá nhân đáp ứng tiêu chí chẩn đoán. Mục tiêu là cung cấp trị liệu hiệu quả nhất nhằm tạo nên khả năng phục hồi tốt nhất trong tương lai.

Chăm sóc liên tục

Chăm sóc liên tục gồm các can thiệp với cá nhân mắc trầm cảm trường diễn hoặc tái phát. Mục đích là cung cấp trị liệu lâm sàng tốt nhất và những dịch vụ hỗ trợ đi kèm phục hồi chức năng cần thiết nhằm duy trì hoạt động tối ưu để nâng cao sự phục hồi.

Phục hồi chức năng có thể nhắm vào các khía cạnh nghề nghiệp, giáo dục, xã hội và nhận thức. Để nâng cao sức khỏe tâm trí, việc làm giảm các yếu tố nguy cơ và tăng cường các yếu tố bảo vệ hãy còn tương thích với thái cực này của phổ, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục hồi và duy trì trạng thái thân- tâm an lạc.

Dự phòng tái phát (độ ba)

Dự phòng tái phát (độ ba) nhắm tới các can thiệp đáp ứng với các dấu hiệu ban đầu của việc tái phát trầm cảm. Dự phòng tái phát là vấn đề thiết yếu với nhóm người mắc trầm cảm, gia đình họ, các dịch vụ sức khỏe tâm thần và cộng đồng lớn hơn. Nhận ra các dấu hiệu ban đầu của rối loạn tái phát và đáp ứng bằng trị liệu phù hợp đòi hỏi khả năng phát hiện siêu tuyệt. Trong khi nhiều vấn đề liên quan đến các can thiệp ban đầu cũng tương thích với dự phòng tái phát, tỷ như khả năng các yếu tố khá khác nhau có thể ảnh hưởng tới sự tái phát và diễn ra lại của một rối loạn hơn ảnh hưởng do sự tấn công kịch phát của chính rối loạn.

Đời cạnh tranh và quá bí bét, làm sao tránh stress?

Một cô gái trẻ sau khi tốt nghiệp đại học, đã đi làm được một thời gian rồi chợt than vãn về đời sống không rõ nên diễn biến như nào, rằng cô ấy chỉ không thấy hài lòng với những gì đang hiện diện, hỏi cô ấy muốn gì thì nhận được lời tự thú thiệt tình là không biết.

Tôi nghĩ đến nỗi trầm buồn hiện sinh. Stress cấp tính đòi hỏi đáp ứng thích nghi hết sức cao độ, song theo thời gian, nó trở nên mãn tính rồi một lúc nhất định, đòi buộc chúng ta phải suy nghĩ lại lối sống của bản thân. Stress là cái đinh chi mà thiên hạ cuống cuồng hoặc thầm lặng chịu đựng thật đớn đau cả thân lẫn tâm đến vậy?

Đời sống khả năng cao là luôn làm ta căng thẳng tinh thần, gây stress quá dễ dàng. Nói chung là hoàn toàn đúng đắn stress bộc phát nhanh chóng, song loại cấp tính kiểu thế có thể chuyển thành thói quen thâm căn cố đế, và chúng ta cần suy nghĩ lại những cách thức làm mọi điều sao đủ vượt qua và chế ngự nó. Stress mãn tính tạo nhiều hiệu ứng khắc nghiệt lên sức khỏe và trạng thái an lạc của chúng ta. Stress làm tăng thêm các hoạt động sinh lý cao độ và khiến mình thường xuyên thao thức, khó chợp mắt. Tác động đến hệ thần kinh, cơ thể phóng thích các hormones gây stress dưới nhiều dạng thức. Đáp sứng stress căn bản là đáp ứng mang tính thích ứng về mặt cơ thể, song stress cấp tính để lại nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng lên thân xác.

Quá nhiều sự kiện trong đời là tác nhân của bức bối, áp lực, căng thẳng, mệt mỏi…; các stressors này đặt để nguy cơ phát triển stress, nhất là nếu chúng ta không có các nguồn lực tâm lý đảm bảo xử lý chúng. Thực tế, một số người có khả năng chịu đựng stress cao hơn kẻ khác. Người ta cũng khác nhau trong các cách hiểu về stressors.

Nghiên cứu cho thấy, người gặp stress khuyến khích não trạng trải nghiệm thì có các mức độ hormone stress thấp hơn người nhìn nhận stress một cách quá tiêu cực.

Lý thuyết kích hoạt nhận thức về stress giúp giải thích đáp ứng stress; theo đó, chúng ta cảm thấy stress bất kỳ lúc nào có sự thiếu nhất quán giữa giá trị mình đặt để và giá trị đích thực của bản thân. Ví dụ, chúng ta bị stress nếu đụng hạn cuối cùng phải hoàn thành công việc mà mình lại không đủ khả năng đáp ứng đúng đắn. Chúng ta bị thúc đẩy làm giảm thiểu, hạ xuống sự thiếu nhất quán giữa các giá trị đặt để và các giá trị thực của bản thân.

Từ ví dụ nêu trên, chúng ta có thể thực hiện bằng việc tăng cường mức tải làm việc đến độ đảm bảo mọi thứ hoàn thành đúng thời hạn, song điều này dễ cảm nhận là không phải giải pháp vững bền. Chúng ta thường thành công trong ngắn hạn, còn với đường trường dài lâu thì e khá hiếm hoi, do chúng ta khốn khổ bởi stress cấp tính. …

Đáp ứng stress có thể được điều hướng bởi khả năng phục hồi tâm lý; khả năng này chịu đựng các stressors môi trường, và nó thông qua các chiến lược đối phó, đương đầu hữu hiệu mà nhờ thế mình xây dựng được khả năng phục hồi. Nếu các chiến lược đối phó không thích ứng và không hiệu quả, mình sẽ làm tăng thêm nguy cơ phát triển stress. Mình có thể cố sức để thích ứng chiến lược đối phó với tình huống cụ thể đủ đương đầu hiệu quả nhất. Khi bị stress tấn công, mình có thể khởi sự cảm thấy mất tập trung, và chẳng có điều chi mình có thể tiến hành ngõ hầu tránh né hoặc cải thiện được tình hình: dạng thức vô vọng.

Chúng ta không có các nguồn lực vô tận để giải quyết các tác nhân gây stress; chỉ có thể làm tốt nhất để thích ứng với môi trường gây căng thẳng mà thôi. Nếu có quá nhiều giá trị đặt để xa vời, phi thực tế, bất kể vì tạo ra chúng cho bản thân hoặc vì tình huống công việc đòi hỏi, chúng ta nên cân nhắc tác động chúng gây nên thân- tâm chúng ta. Mong đợi quá mức vào chính mình, hoặc mức tải việc khủng khiếp? Bằng cách nào nó tác động tới tâm trí và thân xác chúng ta? Nên nhận rõ điều này. Gần đây nhất bạn cảm thấy stress? Bạn đối phó với nó như thế nào?