Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.

Não trạng của bạn như nào?

Mọi sinh thể đều có tiềm năng lớn lên và triển nở, song con người không hoàn toàn học hỏi để tựu thành được điều ấy.

Với kẻ có não trạng bất động thì họ nhìn các năng lực của mình như thực thể cố định. Họ thường cảm nhận về sự thất bại của bản thân như hậu quả của những năng lực thiếu hiệu quả để thực hiện tốt đẹp mọi sự. Họ diễn giải và nghĩ hiểu về trải nghiệm thông qua các kiểu dạng gọi là quy cho.

Người mang não trạng cố định có kiểu dạng của sự học hỏi vô vọng: họ quy thành công nhờ các yếu tố bên ngoài, không cho mình có thể gây ảnh hưởng, và nhìn thất bại như sự thiếu hụt của bản thân. Họ không hề ý thức rằng các thất bại thường là hệ quả của nỗ lực chưa tới cùng.

Với người có não trạng triển nở, các năng lực được xem như phát triển không ngừng. Họ tin mình có thể cải thiện bản thân nhờ làm việc chăm chỉ. Họ biết các mục tiêu dễ đạt được với sự nỗ lực đúng mức, và nỗ lực là chuyện thưởng phạt. Họ quy thành công vào các yếu tố nội tại như các năng lực riêng có và họ tin mình có quyền lực gây ảnh hưởng.

Người mang não trạng triển nở lại theo các dạng quy cho hướng tới việc nắm vững, tỷ dụ: “Tôi biết mình có thể đạt được mục tiêu này với sự nỗ lực đúng mức”. Như thế, người ta tin mục tiêu nằm trong vùng làm chủ của họ. Người ấy cũng hay quy cho việc thất bại hoặc kết quả tiêu cực là do chưa đủ nỗ lực thích đáng.

Thiên hạ có thể phát triển một não trạng cố định hoặc não trạng triển nở; điều ấy phụ thuộc vào cách thức họ học hỏi khi nhìn nhận mình và các năng lực bản thân. Họ có thể thay đổi hoặc xem xét lại các não trạng khi những trải nghiệm học hỏi mới mẻ xảy đến. Từ thuở bé tí, trẻ nhỏ bắt đầu khởi sự phát triển não trạng riêng, khi chúng trải nghiệm cách chúng tác động lên thế giới và lối những người khác đáp ứng chúng.

Trẻ em có thể nội tâm hóa các kỳ vọng của bố mẹ và thầy cô giáo. Những mong đợi của người khác đóng vai trò như những tiên đoán tự diễn biến đến độ chúng ta nỗ lực hoàn thành các kỳ vọng ấy. Chẳng hạn, nếu bố mẹ mong đợi và nhìn nhận năng lực của con cái là không ổn thỏa thì rồi đứa trẻ có thể cũng tưởng nghĩ tương tự.

Sự ca tụng, tán dương cũng phụ thuộc vào sự phát triển não trạng. Bất chấp các niềm tin thông thường cho  ca tụng năng lực đủ sức thúc đẩy người ta, nghiên cứu cho thấy lời khen ngợi trẻ vì sự nỗ lực, gắng sức thúc đẩy trẻ nhiều hơn là khen ngợi nó vì năng lực. Nếu người ta tán tụng vì năng lực, chúng sẽ ít bày tỏ sự kiên trì bền chí, thực hiện nhiệm vụ với ít niềm vui thú hoặc vắng bóng động cơ, chúng giảm thiểu phong độ và quy kết lắm tiêu cực nhiều hơn.

Theo tác giả Carol Dweck, nếu người ta có não trạng cố định, họ hay nảy sinh ngờ vực chính mình. Họ nhìn các năng lực bản thân như một thực thể cố định và do vậy, ghi nhận các thất bại như vấn đề của sự thiếu hụt từ cá nhân mình. Quá dễ tưởng tượng sự quy kết vậy gây nên sự căng thẳng đến thế nào. Một não trạng cố định có thể khiến người ta nhanh chóng bỏ cuộc, bởi vì họ không hề nhận thấy rằng thành công là chuyện nỗ lực đúng mức.

Người có não trạng cố định hiếm khi thách thức bản thân hoặc thử kiếm tìm các giải pháp mới cho một vấn đề, bởi vì họ e ngại thất bại hoặc thấy mình sai. Đừng quên, nếu họ sai, họ chỉ đổ tội là do chính mình thôi. Người có não trạng triển nở thì chỉ quy về chuyện đã không nỗ lực đúng mức.

Vậy, não trạng bạn như nào? Cách thức độc giả đương đầu với các thách thức ở đời, mức độ duy trì sự kiên trì theo đuổi mục tiêu đặt định? Liệu bạn có nghĩ rằng chúng ta đủ khả năng để thay đổi và tạo tác lại não trạng bản thân, và đâu là trải nghiệm riêng có của chính bạn?

Kiên quyết mới mẻ bởi đổi thay hay bất động với nguyên trạng lay lắt?

@ Viết tặng những ai đang cần cú hích để mà nhích thỏa thích

Dù thay đổi tưởng chừng là điều thật bình thường và khó tránh thoát nổi, song kỳ thực chúng ta hay thể hiện xu hướng nghiêng về chuyện duy trì nguyên trạng (status quo). Lựa chọn cái gì đã biết (the known) hơn là cái bất tường (the unknown).

Bảo vệ hoàn cảnh, vật dụng sở hữu, thậm chí các thành tựu chúng ta đạt được là thuộc tính bản năng tự nhiên. Mình học hỏi để ưa thích hơn những môi trường, con người và tình huống ta thấy thoải mái rồi không ngừng tìm biết làm thế nào đương đầu hoặc có những trải nghiệm tích cực…

Cởi mở với sự thay đổi không hề loại trừ chúng ta miễn mê tơi một lối sống thư thái và vững vàng. Quan trọng ở đây, thông qua đời mình, chúng ta tri nhận hết sức rõ ràng lúc nào thì tình trạng kháng cự trở nên vô bổ.

Một khi thứ xung năng này quá mạnh mẽ, nó ngăn chặn chúng ta không học hỏi được biết bao điều mới mẻ hoặc các thách thức đáng giá. Chúng ta không lớn lên nổi. Chúng ta quen chỉ nhận ra chuyện này khi sự lựa chọn chuồi thoát sự kiểm soát của chúng ta và nó gây nên quá nhiều lo hãi.

Chống chế đổi thay hàm ý mình dính mắc với những thứ không thể tồn tại mãi mãi và cứ sợ hãi chưa thôi cái bất tường. Chính nó là nguyên nhân gây đau khổ khi các hoàn cảnh đời sống chuyển biến. Lẽ hiển nhiên, nỗi sợ hãi nghẹn tắc này luôn hiện diện ngay cả khi sự thay đổi lâu lắm mới nảy nở. Thậm chí, chúng ta chẳng hề ao ước chấp nhận đổi thay cho dù chúng đã xảy đến rồi.

Chấp nhận thay đổi là một trong những phần thiết yếu nhất của tâm thần lành mạnh, và người miễn cưỡng, không sẵn lòng hoặc thiếu khả năng chấp nhận một cách thích hợp với thế giới là dấu hiệu báo trước thường gặp cho vô số triệu chứng tâm bệnh lý.

Thay đổi ở đây là thay đổi chúng ta cần mang lại về chính bản thân mình, quyết bất cần với nỗi khổ đau tơi bời ngõ hầu lựa chọn sống cuộc đời đáng tưởng thưởng, tràn đầy hơn rất nhiều. Điều này nghĩa là mình có thể cần phải nói lời tạm biệt một người bạn tốt, hoặc chi tiêu dè xẻn hẳn lúc kinh tế khó khăn; mình cũng có thể chuyển nhà, bắt đầu một công việc mới, hay tạo lập lại gia đình…

Khi thuận tình đổi thay, chúng ta không còn bất động với nguyên trạng nữa, và không còn kéo dài nỗi lo lắng, sợ hãi do sự thay đổi đe dọa. Chúng ta đủ năng lực chấp nhận thật dễ dàng sự thay đổi, làm nên hầu hết những cơ hội và hoàn cảnh mới. Chúng ta nâng cao tinh thần lạc quan của bản thân và có những mong đợi tích cực về tương lai.

Chúng ta cũng không gán nhãn bất kỳ sự đổi thay nào là “tồi tệ”. Thông lệ, ban đầu những gì bị cho là “tồi tệ” về sau lại trực tiếp hay gián tiếp tạo thành những điều “tốt đẹp”.  Đích thực ôm choàng sự thay đổi có nghĩa là mình phải cắt bỏ những nhãn mác vớ vẩn, chán ngắt. Hơn thế, chúng ta nhận ra các cơ hội mới và có khả năng đáp ứng với thách thức.

Nhờ cởi mở với sự đổi thay, chúng ta thấy mình thư thái hơn và đích thực hạnh phúc.  Chúng ta không còn đeo bám quá khứ, chúng ta đùa vui, trưởng thành, học hỏi và thích nghi cực kỳ ổn thỏa với những biến dịch nhỏ nhặt và những thời điểm đòi buộc mình cần cất bước hết sức bản lĩnh tới giai đoạn đầy phấn khích tiếp diễn trong đời.

Nhằm tạo cảm hứng tiến hành thay đổi, dưới đây là một vài mẫu gợi ý ám thị:

  • Tôi thích những điều mới mẻ
  • Tôi hướng theo sự thay đổi
  • Tôi kiếm tìm những cơ hội mới
  • Tôi có những kỳ vọng tích cực
  • Tôi tin tưởng vào những thay đổi xảy đến trong đời mình
  • Khi một cánh cửa này khép lại thì những cánh cửa khác mở ra
  • Tôi thư thái và khoan khoái với các đổi thay của mình
  • Tôi nghĩ, thay đổi luôn luôn tốt đẹp với chính bản thân tôi
  • Tôi đang hướng tới một tương lai tươi sáng hơn.

Lên đồng- bà nhập: thăng hoa nhập nhằng giữa cõi thiêng và giới tục

Đọc ý kiến bình luận của bác sĩ tâm thần về chuyện vong nhập, thấy cứ trờn trợt thế nào.

Theo Bác sỹ Côn, những người tự nhận mình nhìn thấy vong, tự xưng mình là con của thần thánh bị xếp vào nhóm bệnh “Hội chứng lên đồng” – mục F44.3 trong Bảng phân loại Bệnh tâm thần của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

“Tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình có khoảng hơn 10% các bệnh nhân vào điều trị chứng tâm thần phân liệt có biểu hiện hoang tưởng, nghĩ mình nhìn thấy ma quỷ, mình là con của thần thánh. Sau quá trình điều trị kết hợp thuốc và liệu pháp tâm lý để động viên, giải thích, hầu hết các bệnh nhân này bình thường trở lại” – Bác sỹ Côn cho biết thêm.

Nghe rất bài bản, song tìm hiểu kỹ thì chẳng ổn cho lắm. Đây là đoạn trích của ICD-10, tại mục F44.3 (Rối loạn lên đồng và bị xâm nhập)

Rối loạn trong đó có sự mất tạm thời cả ý thức về đặc tính cá nhân lẫn ý thức đầy đủ về môi trường xung quanh. Chỉ đưa vào nhóm này các tình trạng lên đồng không tự ý hay không mong muốn, xảy ra bên ngoài các hoàn cảnh được chấp nhận về mặt văn hóa hay tôn giáo.

[ICD-10// Bộ Y tế. Bảng Phân loại Quốc tế Bệnh tật lần thứ 10 (Việt-Anh). Hà Nội: Nxb. Y học, 2007, tr.227]

Lên đồng không phải hiện tượng quá xa lạ trong đời sống văn hóa Việt.

Cần nói rõ, blog Tâm Ngã tuyệt không bày tỏ sự ủng hộ hoặc xiển dương cho vụ việc, cá nhân làm ăn nhố nhăng được nêu đầu bài viết.

Thường người ta thấy các cảnh lên đồng trong các nghi lễ tôn giáo: hòa trộn độ căng chuyển động, âm nhạc và trạng thái tâm thần dẫn tới sự chuyển đổi, thay thế các trạng thái ý thức hết sức sâu sắc.

Là một thành phần căn bản của hầu hết các tôn giáo, lên đồng gợi nhắc cực kỳ đặc trưng trong tâm tưởng dân gian với sự ‘tà thuật’– vốn cũng khá thông thường trong nhiều dòng phái Công giáo.

Lên đồng (trance) hay được kéo gộp vào với sự ‘phân ly’ (‘dissociation’)–định nghĩa đầu tiên do nhà tâm thần học Pháp Pierre Janet nêu ra– như là ‘sự phân ly hóa của vô thức thuộc các chức năng tâm thần tích hợp hết sức bình thường’.

Phân ly gồm hàng loạt các hiện tượng như thôi miên (hypnosis), phản ứng với sang chấn, lên đồng và một số dạng thức bị bà nhập (spirit possession), hysteria, rối loạn phân ly (conversion disorder) và gây nhiều tranh cãi nhất– rối loạn đa nhân cách.

Một trong những hướng dẫn tốt nhất để trải nghiệm và học hỏi khoa học Thần kinh ẩn bên dưới các trạng thái này là bài báo của hai nhà Nhân học.

Mời xem một vidéo ngắn kèm trang về hiện tượng bà nhập.

Cơ chừng đang gia tăng mối quan tâm nhằm hiểu biết về mặt khoa học thần kinh các trạng thái lên đồng, với cái nhìn tốt hơn về cả cách chúng xảy ra và làm thế nào chúng được sử dụng như thành phần căn cốt trong đời sống xã hội của mọi nền văn hóa trên thế giới: cung cấp bằng chứng trêu ngươi cho một lý thuyết cũ mèm lý giải vì sao thôi miên, ám thị (suggestion) và hysteria kết nối với nhau.

Nhà thần kinh học Jean-Martin Charcot tin có tồn tại mối liên hệ này vì bản thân ông từng kích thích hầu như các khía cạnh hysteria thông qua ám thị ở những cá nhân nhạy cảm; hysteria hiện nay là chẩn đoán đặc trưng của rối loạn chuyển đổi (conversion disorder), với biểu hiện là người ta có vấn đề về thần kinh dù hệ thần kinh của họ dường như đang hoạt động theo trật tự hoàn hảo.

Phát hiện khoa học tới giờ là tất cả chúng ta có năng lực nhất định để người khác ám thị rồi thay đổi trạng thái tâm thần của bản thân. Điều này không phân phối đồng đều giữa người và năng lực thì cũng bình thường thôi, tựa như các nét tính cách tâm lý, và chúng ta biết nó đa phần thuộc gene và có bằng chứng cho thấy nó liên quan tới những sự khác biệt trong cấu trúc não.

Nói thêm tí về sự ám thị. Trái với huyền thoại dân dã, nếu đang trải nghiệm tác động của ám thị thì tâm trí ta không ‘bị kiểm soát’ đâu, và chuyện này cơ bản tương tự như đang xem một bộ film vậy; thực tế, ta có thể thoát ra vào bất cứ lúc nào, vấn đề là ta không quyết định vì e sợ hoặc vì thích thú xem film.

Những người rất dễ dàng bị ám thị có thể cho phép ám thị bị liệt, quên bẵng hoặc thậm chí, thấy những ảo giác.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ tới trải nghiệm về một lần tham gia buổi điều phối của chuyên gia sử dụng nguyên tắc 5 Nhịp điệu; đó quả là dịp được thoải mái thả lỏng bản thân và nhận ra nhiều biến chuyển đầy mộng mị, thi vị.

Lời cuối, mong sao tại Việt Nam sẽ không bao giờ xảy ra kiểu dạng tai họa nhảy múacơn điên tập thể có liên quan tới nghi thức bà nhập và lên đồng thời hiện đại, đã được y văn ngoại quốc ghi lại thật kinh hoàng.