Loạn thần và Phân ly: ‘tình trong như đã’…

Trong tâm tưởng dân chúng nói chung, loạn thần cơ chừng đã là cái tên gây nhiều hoảng sợ, cặp đôi với phân ly nữa thì quá dễ làm dấy lên những nghi ngại vô cùng kinh hoàng.

Cả thập niên trôi qua rồi mà vấn đề cần sa gây loạn thần vẫn chưa thể đưa ra lời cuối dứt khoát, đủ thấy câu chuyện dây dưa khủng khiếp với nhiều hệ luỵ khó lường. Thực tiễn lâm sàng cũng ghi nhận việc người ta mắc loạn thần và thái độ kháng cự dùng thuốc. Tiếp cận loạn thần như kết quả của sang chấn và các hiện tượng tinh thần thì đối lập với chuyện chú mục vào bộ não, mô hình thực nghiệm và y khoa của căn bệnh tâm thần; và nếu thế, liên quan tới các kỹ năng học hỏi. Trải nghiệm tâm thần và phân ly trong trạng thái loạn thần cũng sẽ được trình bày ở đây.

Kỹ năng học hỏi và loạn thần

Những khác biệt rõ rệt giữa trải nghiệm ảo giác và hoang tưởng giúp giải thích tại sao các đặc trưng này có khả năng cải thiện nhờ thuốc. Lưu ý rằng, ảo giác và các trục trặc cảm xúc như hoang tưởng là các trải nghiệm nội tạng, và vì thế, chúng có thể liên quan nhiều tới hoá chất bất thường ở não mà từ đó loạn thần xuất hiện. Tuy vậy, các vấn đề nhận thức và xã hội thì lại phụ thuộc vào trải nghiệm trong các thế giới tinh thần và vật chất.

Khi trao đổi nhận thức ở một người mắc tâm thần phân liệt (TTPL), khó khăn trong tư duy của họ là hiển nhiên. Các liên kết lỏng lẻo, từ rối rắm, và câu cú nghèo nàn là vài ví dụ chứng tỏ những khó khăn nhận thức ở những người loạn thần. Một thực tế hiếm khi được xem xét là những người mắc TTPL đối phó với trải nghiệm chưa hề từng được khám phá, nó mới tinh, và không hề dễ dàng để sự nỗ lực của người mắc TTPL hiểu về mặt nhận thức sự thao túng của trải nghiệm loạn thần. Tại sao thiên hạ mong đợi người mắc TTPL có khả năng nghĩ đến những trải nghiệm không phổ biến và không theo chuẩn tắc nhỉ. Không có cơ sở thực tế, không có truyền thống tư duy đích thực đặng cho phép người mắc TTPL suy nghĩ thật hiệu quả về loạn thần.

Các yếu kém rõ ràng về mặt xã hội ở người mắc TTPL phụ thuộc vào trải nghiệm trong thế giới vật chất. Do xu hướng mắc loạn thần xuất hiện ở tuổi vị thành niên và mới lớn, có những hoạt động rất thiết yếu từ khía cạnh phát triển bị buộc phải thoả hiệp do sự chín chắn về mặt xã hội. Dùng cách diễn giải của Erikson về các giai đoạn phát triển xã hội, khi TTPL xuất hiện, cá nhân ở giai đoạn ‘bản sắc đối chọi với sự rối rắm về vai trò’, hoặc giai đoạn ‘gần gũi đương đầu với cô lập’. Loạn thần dẫn tới các trục trặc trong sự hình thành nhân cách và tha hoá liên nhân. Điều này e chừng là do trải nghiệm không chuẩn tắc và trải nghiệm kiệt quệ về mặt xã hội.

Cơ bản, các kỹ năng xã hội và nhận thức yếu kém ở người mắc TTPL bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm không chuẩn tắc, và các ảo giác lẫn hoang tưởng gây hiệu ứng nhân quả tới sự nhận thức lệch lạc và thiếu hụt kỹ năng xã hội. Nếu ảo giác và hoang tưởng có thể giảm bớt ngay từ sớm trên tiến trình mắc TTPL, có thể trải nghiệm không chuẩn tắc này sẽ không gây rắc rối cho các kỹ năng xã hội và nhận thức. Rõ là, hoang tưởng và ảo giác liên quan nhân quả tới kỹ năng nhận thức và xã hội. Bất luận thế nào, hoạt động nhận thức yếu kém và kỹ năng xã hội hạn chế phụ thuộc vào trải nghiệm không chuẩn tắc trong thế giới tinh thần.

Nói gọn thì các kỹ năng xã hội và nhận thức kém cỏi là kết quả của khả năng học hỏi bị giảm sút. Tuy thế, các kỹ năng nhận thức có thể được phản ánh ở siêu nhận thức (meta-cognition) vì nó liên quan tới loạn thần. Nâng cao nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về loạn thần có thể cho phép người mắc TTPL tách rời khỏi trải nghiệm loạn thần của vị ấy. Điều này có thể chứng thực là trị liệu. Tương tự, hướng dẫn các kỹ năng xã hội có thể cũng đem tới lợi lạc trị liệu. Do những thiếu hụt trong học hỏi, các kỹ năng nhận thức và xã hội kém cỏi có năng lực đáp ứng với việc học, và đây là tương quan dương tính với thực tế là các kỹ năng xã hội và nhận thức được hình thành. (còn tiếp)

Những khe khẽ mơ hồ nộ khí…

Bìm bìm về phố cùng anh, nét quê nét kiểng riêng dành miền trăng.
Bìm bìm về phố cùng anh, dùng dằng nét kiểng riêng dành miền trăng.

Mình có thể nghe chúng một cách trơ khấc, vừa đủ vậy thôi; những âm giọng thật oải mềm quá thể mà đôi khi không hề phải vì đói.

Mình từng so sánh theo lệ thường như tiếng vạc kêu, mỹ miều từ hồi vào đời cơ chừng sớm lắm. Đã dừng kiếm tìm, chuyển động và cứ đợi chờ trong im lặng; một lần nữa, dường như lan đi khuất xa khó nắm bắt quá…

Xen lẫn tiếng chim chiêm chiếp liên hồi, hơi quạt máy quay ì ì khá mịn, vẳng tới lanh canh cái chuông gió của vọng tưởng thả buông từ thân cây chằng chịt dây leo trước mặt là the thé trong đau đớn sát gần chung đụng “Là em đây!”.

Chúng ta rốt ráo sở hữu âm giọng nội tại luôn âm thầm muốn được nghe thấy. Nhiều hồi, chúng ta có thể hết sức trần trụi tiếp xúc với nó lẫn với sự inh tai nhức óc của ngày. Nó mỏng mảnh, đơn độc và ít nhiều đáng sợ bất luận đặt để, bố trí đẹp đẽ, ổn thỏa cùng nhau biết mấy. Tất thảy còn bơ vơ ở đấy, cố gắng thu hút đặng lôi cuốn tâm trí chú ý, thu nhận. Nó muốn hét váng lên song e ngại đánh thức thế giới. Hậu quả, nó duy trì việc vỗ mãi khe khẽ vào đầu, vào tim. Càng kéo dài đợi chờ, càng dữ dội, hy vọng đầy khắc khoải rằng ai đó sẽ nghe nó. Những khoảnh khắc lo lắng, băn khoăn siêng năng lui tới hoài hoài khi mình lạc lõng nơi miền đất lạ lẫm của giá mà… Không một ai nghe thấy và không một ai quan tâm cả.

Song thường mình nghe thấy rõ ràng vô cùng, tại nọ kia khoảnh khắc lưu trú vĩnh viễn. Trong tích tắc thoáng vụt, nỗi sợ hãi biến mất và mình được tái diễn trạng thái đoan chắc. Nào cần gì nhiều nhặn, chỉ nhõn mỗi cái gật đầu, một nụ cười hay cái hôn phớt chạm. Chúng ta tất thảy đang sống ở chốn thoải mái, đầy đủ tiện nghi ấy và thấu biết nó tồn tại. Dẫu hiện diện bên ngoài thì kiến tạo những khoảnh khắc bồn chồn, phi lý không ngừng sa xuống. Ám ảnh kinh hoàng khi ta tưởng tượng về sự loi choi ngập ứ liên miên, tràn khắp.

Lắng nghe âm giọng bản thân, nó muốn nói gì đó. Trong thinh lặng, mình sẽ nghe thấy tiếng nó gõ nhịp. Nếu lắng nghe trước khi nó hóa ra đáng sợ, mình sẽ phát giác rằng nhiều thứ đâu đến nỗi khủng khiếp; khá dễ chịu để ánh sáng soi chiếu, tỏ rạng– nếu mình chỉ lắng nghe, và gõ nhẹ một bộ nạp liệu nhỏ bé.

Sao chẳng nghĩ là chúng ta đang cười nhạo chính mình nhỉ?

Chuyện đùa tếu hay nhất là thứ chuyện khiến chúng ta sẽ cười phá lên sau khi nó chọc thẳng vào chính mình đầy khó nhằn và hết sức gay gắt.

Bạn càng dễ dàng cảm nhận như thế khi xem xong bộ phim Hàn quốc A Muse/ Nàng Thơ (2012).

Hãy nghe nhân vật cậu học trò, văn sĩ trẻ mới nổi phát ngôn:

Quan hệ giữa một ông già 70 tuổi và một nữ sinh trung học không phải là quan hệ yêu đương. Không bao giờ! Đó là một vụ tai tiếng, thưa Thầy!… Một vụ tai tiếng bẩn thỉu! Một câu chuyện về một nhà thơ tầm cỡ quốc gia làm tình với một cái gương? Thưa Thầy, Thầy là một lão già bẩn thỉu!

Và như thế, câu chuyện quá chừng kỳ cục, hết sức bất bình thường trên nền nhạc hòa âm vô cùng dồn dập theo điệu mời gọi dục vọng và cố ý khơi gợi thân xác ấy cứ triền miên diễn tiến… Bất chấp tất cả những chối bỏ một phần hay toàn bộ cảm nhận hốt nhiên của khán giả về cái sự thật đích thực ở đời.

Dưới đây, sơ qua nội dung phim:

Lee Jeok-yo (Park Hae-il đóng), thi sĩ dạng “quốc gia chi bảo”, bước vào tuổi 70 khi ông chấp bút cho Seo Ji-woo (Kim Moo-yeol) cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Phát hiện thấy nữ sinh trung học Eun-gyo (Kim Go-eun) thiếp ngủ trên ghế dưới mái hiên nhà mình, ông ngay lập tức phải lòng, và thay vì trừng phạt tội đột nhập tư gia trái phép, vị thi sĩ (ngấm ngầm) đồng ý thuê cô bé làm công việc dọn dẹp…

Càng dành nhiều thời gian bên Eun-gyo, ông Jeok-yo càng nhanh chóng bị cô bé cuốn hút thôi rồi đến độ khởi sự viết liền một truyện ngắn về mối quan hệ tình dục huyễn tưởng với người đàn bà trẻ hừng hực.

Trong lúc hai người kia càng ngày càng tiến sát gần nhau hơn, chàng Ji-woo nhận ra mình không còn chiếm được vị trí đối với lão gia thi sĩ như trước nữa, đồng thời cũng phản cảm ghê gớm với mối quan hệ mà cậu ta cho là tởm lợm, tuyệt đối chẳng xứng hợp chút nào.

Phát hiện bản thảo của Jeok-yo, nỗi hậm hực bấy lâu trong lòng xen lẫn niềm ghen tuông với mối quan hệ của Jeok-yo và Eun-gyo (thêm cả vẻ đẹp rúng động trong tác phẩm của thầy mình) bùng lên mãnh liệt khiến Ji-woo đánh thó bản thảo và gửi đăng truyện ngắn bằng tên của mình…

Wow, thực tế, chúng ta tự vấn bao nhiêu lần trong đời đã bị chọc tức, chơi khăm ít nhiều hơi hướng như trên bởi những ai đó tình cờ đi ngang qua đời mình.

Sự thật là mình có thể không bao giờ dám thổ lộ chân tình rằng người xa lạ hoàn hảo mình bỗng dưng chạm mặt ấy, người quyến rũ mình vào bất kỳ trò chơi “dở hơi, điên khùng” hay thậm chí trong tình huống bình thường đấy lại không đúng là một kẻ khoác vai đùa cợt, chơi khăm ta.

Mình nên đáp ứng sao đây với người, chẳng hạn, cần trợ giúp vì một đặc ân, xin xỏ, muốn được biệt đãi? Liệu mình có đối xử với anh ta/ cô ta một cách nghiêm túc hay tránh né, xua đuổi họ đi tức thì?

Bất kể mình nhìn sự hiện diện của những kẻ trêu đùa, chọc tức này là một sự vụ phiền bực hoặc một hơi thở mát lành hiếm hoi thì rốt cục câu chuyện đều có thể chỉ kể về chính bản thân mình mà thôi.

Tương tự, bị chộp bắt không tỉnh thức trong một câu chuyện cười thiết thực có thể phơi bày nhiều khía cạnh về tính cách bản thân mà ta đã chẳng hề nhận ra bấy lâu ẩn nấp, tồn tại trong lòng.

Những đặc tính ẩn tàng này đích thực chỉ “chực chờ” cơ hội phù hợp để bật nảy, xổ tung, bung bét… Liệu mình sẽ bị ăn phải bả bởi lòng tham thông qua một vụ lừa đảo liên quan đến tiền bạc, đất cát chẳng hạn? Liệu mình có náo động và làm tanh bành hết lên vì bị xỏ gạt? Bằng cách nào mình có thể cười xòa liền với một cảm thức hài hước thường trực sau tất thảy các khả thể như vậy? Cách thức mình đáp ứng là thước đo phạm vi, mức độ tâm linh của bản thân.

Không giỡn đâu! Cứ thử ghi chép lại– bất kỳ suy tư, phát ngôn hay hành động dự tính nào khởi lên khi mình chơi trò lừa gạt hoặc đang bị gạt lường– theo trạng thái tâm trí mình xem, rồi khắc biết ngay!

Tỷ dụ, lừa ai đó với mục đích cợt nhả, cười nhạo có thể sẽ xấu lắm, mà sự phản ứng ăn miếng trả miếng khi biểu đạt giận dữ do bị lừa cũng tồi tệ không kém. Nghịch lý thay, trợ giúp chân thành một kẻ chọc ghẹo, gây tức giận trong một tình huống ‘giả tưởng’ lại tạo nên được một nghiệp lực tốt đẹp.

Giả định bạn rảnh rỗi và tò mò nên vừa xem trực tuyến xong bộ phim… Nào, giờ bạn sẵn sàng để ‘bị chơi’, ‘chấp nhận để thử nghiệm’ chưa? Cách duy nhất biết rõ mọi chuyện là làm một con mồi bị rơi vào một trò chơi khăm, trêu chọc.

[Bật mí tí xíu ngoài lề: Có thể ông Phật không chỉ cười xòa khi nhận ra tính phi ngã, đức ngài còn có thể cười thoải mái ngay cả vào chính cái ‘ngã’ của mình nữa.]

Thêm một lần gió mùa bồi hồi thổi qua…

Tạm cất giữ chút nóng và cái nắng hốt người đâu đó không xa, đột ngột Hà Nội chuyển sang rét nàng Bân. Nửa đêm vừa xong, ngay trong phòng nhốt ấm áp, đã nghe đất trời ngoài kia xào xạc những biến dịch khôn lường.

Thiên hạ vẫn truyền tụng với nhau rằng, thời gian không trôi đi mà thời gian hãy còn đứng đấy, chỉ có ta băng qua nên chi chúng mình già và thời gian trẻ mãi.

Đó, mọi thứ cứ tuyền mơ hồ thế thôi; câu chuyện kể về nhân loại. Cho những yêu thương vun đầy.

“Đời nào là gì ngoài một giấc mộng”; cái ví dụ cổ điển về một sự thật ẩn kín thẳm sâu và tinh tế ấy thổi qua mỗi người dẫu mang dáng vẻ thách đố trừu tượng khó ngờ hay trực quan sinh động như công án Thiền thì chung quy, nó ập đến vào lúc ít kỳ vọng, mong đợi nhất đủ khiến mình tự hỏi về ý nghĩa nó chuyên chở.

Nhiều hiền triết tán đồng với sự quan sát huyền bí này, họ thấy thế giới chúng ta tri nhận là thật kỳ thực đích thị một ảo ảnh, chẳng khác chi một bộ phim được phóng chiếu qua màn hình vậy.

Hầu hết nhân quần dấn thân vào sự phóng chiếu ấy mà không thấu hiểu nó là gì. Chúng ta hoàn hoàn bắt chụp trong ảo ảnh, tưởng tượng mình đang va chạm tại cuộc cạnh tranh sinh tử ghê gớm và làm điều đó quá chừng nghiêm trọng.

Trái lại, một số ít giác ngộ sống đời mình với thứ ánh sáng nhận thức rằng những gì đa phần chúng ta tri nhận như thực tế chỉ là sự tưởng tượng thoáng qua, ngắn ngủi mà thôi. Kết quả, họ hành xử không hề dính mắc, thể hiện lòng từ bi và trí huệ trong khi phần còn lại của chúng ta thì căng thẳng chiến đấu và quằn quại dưới cảnh trí vở kịch đời mình.

Sở hữu năng lực khôn ngoan để biết cuộc đời chỉ là giấc mơ qua không đồng nghĩa chúng ta lờ tịt nó hoặc không làm tốt nhất với sự xoắn bện của thân phận. Hơn thế, tựa một diễn viên đóng đủ đầy vai dù cô biết rõ đó chỉ là vai diễn, chúng ta dấn thân vào vở kịch phơi tỏ song với ít nhiều tự do, bởi vì chúng ta biết đấy chẳng phải là toàn bộ con người của mình.

… Nhìn đàn kiến chạy trên tường tất tả, đoán điều gì bất ổn ngay trong nhịp bình thường. Cây ngoài vườn đứng lặng; một khoảng yên ả trước lúc giông tới, gió mùa thổi qua, rơi rụng bời bời; hy vọng được chứng kiến bản hòa tấu của sự chân thành hết mực.

Và đời sống chủ yếu thể hiện sự biến tấu diễn xuất tình cờ, hơn là một vở kịch viết sẵn kèm các vai biết trước.

Giống như người ngẫu hứng biến tấu, chúng ta càng có những lựa chọn đặng ôm choàng phẩm chất ảo ảnh của sự trình diễn, chúng ta càng có thể là thứ ánh sáng rạng ngời trên hành tinh, lên những người khác và chính bản thân mình. Chúng ta có thể thực sự chơi đùa với bố trí của những bóng râm nhờ ánh sáng từ máy đèn chiếu, không ngừng dấn thân tràn đầy mà không hề bị đắm chìm vào vũng lầy cuộc đời hư ảo.

Những xốn xang, bâng khuâng, xao động bồi hồi…

Một loại ảo giác khá lạ, thuộc về bên trong cơ thể

Một trong các triệu chứng chí ít được hiểu trong loạn thần là những ảo giác được gọi tên do thuộc cảm giác bệnh lý (cenesthesias, chẳng hạn).

Các cảm giác mang yếu tố bệnh lý ấy là các cảm nhận “nội tại cơ thể” vốn thường không tương ứng với bất kỳ thứ gì từng được biết hoặc thậm chí những trải nghiệm khả thể thuộc thân xác.

Đội ngũ nghiên cứu từ Nhật Bản vừa mới công bố một nghiên cứu về các bệnh nhân trải nghiệm cenesthesias ở trong miệng.Dưới đây là tập hợp các ảo giác:

“Cảm thấy như thể khí gas đang bùng lên trong miệng anh ta”, “cảm thấy như thể điều gì đó đang giành giật nhau, như thể có một con vật trong mồm anh ta vậy”

“Cảm thấy sự hiện diện của những sợi dây điện trong những chiếc răng cửa hàm dưới khi di chuyển hàm răng”

“Cảm thấy điều gì đó tựa bầy nhầyđang đến rất nhanh trong miệng cô ấy”, “cảm thấy như một màng đang bao phủ và xiết chặt lấy những chiếc răng cửa của cô ấy”

“Cảm thấy như đồ rác rưởi đang dâng lên từ đằng sau hàm răng cô ấy”, “cảm tháy như đầy nhớt dãi trong miệng cô ấy”

“Cảm thấy như nước bọt đầy nhớt dãi”, “cảm thấy như răng cô ấy làm bằng sắt và thật đau nhức khi nhai”

Nghiên cứu dùng một kiểu quét não bộ định danh là SPECT (yếu tính là tiêm vào bộ não lượng đường phóng xạ, đặng nhìn xem những gì đang diễn ra với một máy ảnh tia gama) để xem xét sự cân bằng của hoạt động thông qua hai bán cầu đại não khi các bệnh nhân đang nghỉ ngơi thực sự.

Nhóm nghiên cứu phát hiện rằng hoạt động chủ yếu xảy ra nhiều hơn ở bán cầu phải, điều khá thông thường song hết sức chẳng đáng tin cậy trong nghiên cứu loạn thần.

Nhân tiện, dành cho ai mê thích điện ảnh: sự kiện thảo luận màn bạc có thể biểu đạt các trạng thái thay thế của loạn thần như thế nào.

Trạng thái loạn thần dưới cái nhìn của Tâm lý học (3)

[Tiếp tục]

Có thể nói rằng, người mắc loạn thần gặp vấn đề hoạt động của thùy não trước trán bị hạn chế.

Từ đây làm nảy sinh câu hỏi: “Liệu loạn thần là nguyên nhân hay hậu quả của hoạt động bị hạn chế của thùy não trước trán?” Có lẽ, câu trả lời là cả hai. Cá nhân mắc loạn thần đặc trưng có lý trí tự thân: “Tôi nghe tiếng nói ở trong đầu. Điều này nghĩa là có ai đó hoặc điều gì đó đang nói trong đầu của tôi.”

Dù khoa học dạy chúng ta rằng không được định kiến về trải nghiệm thể lý và tâm trí bằng cách loại trừ nét khác biệt trên bề mặt giá trị của nó, song loạn thần, bao gồm ảo giác và hoang tưởng, thể hiện của nhiều cá nhân mắc loạn thần cho thấy không thể có ý thức thích đáng, hoặc khó mà am hiểu rốt ráo đầy lý trí.

Năm 1929, Freud tuyên bố: “Cảm nhận về cái tôi hiện tại chỉ là phần dư còn lại của một cái gì rộng lớn hơn– thực sự gộp vào tất cả– cảm nhận tương ứng với một mối dây liên kết thân thiết hơn giữa cái tôi (ego) và thế giới xung quanh.

Trong phạm vi thuộc phẩm chất niềm tin trị liệu, một trải nghiệm thông qua quan hệ với một vị thần, tôn giáo biểu đạt mối liên kết với một vị thần có thể biểu đạt một sự diễn lại trạng thái nguyên thủy đến độ nó tái tạo mối kết nối cộng sinh  mà ý nghĩa báo trước mối quan hệ với đối tượng bà mẹ.

Sự đồ vật hóa (reification) của một mối quan hệ dễ được xem là mục tiêu của mối đồng minh mang tính trị liệu. Tuy vậy, một sự kết nối như thế với nhà trị liệu trong đời sống trưởng thành của một người không phải là sự tái tạo của mối kết nối với Thượng đế, hoặc đối tượng bà mẹ, hoặc bất kỳ một nhân vật mang tính biểu tượng cơ bản nào khác từng được xây dựng trong thuở thiếu thời hoặc tâm trí vô thức.

Người trưởng thành không phải là nguyên khởi bất chấp cái ấy (id) đang bị che lấp. Người trưởng thành sở hữu cái tôi (ego) và một lương năng (conscience) được thiết lập như lẽ phải và cảm nhận về bổn phận đạo đức. Vì các lý do đó, mối quan hệ giữa thân chủ (client) và nhà trị liệu của anh ta (therapist) không đòi hỏi phải kết nối với tôn giáo hoặc tình mẫu tử, cộng sinhvà thân mật quá mức, hoặc một sự cảm nhận hồi quang tất tật nhằm đạt được hiệu quả. Thực tế cho thấy nhu cầu này có thể làm trục trặc chức năng và phản trị liệu.

Phẩm chất bản năng đi kèm với các ảo giác, tuy vậy, trong một vài thực tại có thể được các nhà trị liệu và lâm sàng không loạn thần xem như là trải nghiệm loạn thần.

Cá nhân mắc loạn thần không thể biết lý trí với các ảo giác. Anh ta không thể làm hiện lên trong mình sự đồng cảm, thấu cảm hoặc tội nghiệp. Anh ta không thể vượt thoát khỏi khu vực trong đó chúng trú ngụ, bất kể những ảo giác của người mắc loạn thần xảy đến tại lãnh địa thể xác hoặc tâm trí.

Hơn nữa, như một sự lặp lại định tĩnh và đáng giá, trải nghiệm loạn thần có thể xảy đến như một hiện tượng mà tự thân sự biểu đạt trên mức độ của trải nghiệm bên trong tâm thần đã không thể chịu đựng và chấp nhận nổi trong sự được tri nhận như tính thân mật nội tâm thần.

Các thực tại không thường được đề cập bởi các nhà trị liệu và lâm sàng không loạn thần  thuộc địa hạt của những tưởng tượng, và sự tưởng tượng có thể chỉ là phương tiện duy nhất mà các nhà cá nhân không mắc loạn thần cơ chừng dễ thấu cảm với đối tượng mắc loạn thần.

Các cá nhân mắc loạn thần sống với các trải nghiệm sinh động mà hầu hết thiên hạ có thể thấu hiểu nổi, và nếu người không mắc loạn thần nhận ra sự kiện này, điều ấy có thể giúp cho các cá nhân mắc loạn thần hiểu biết tốt hơn trải nghiệm loạn thần.

Tâm lý trị liệu trong truyền thống nhân loại có thể trợ giúp cho các cá nhân mắc loạn thần, đặc biệt với năng lực truyền đạt sự thấu cảm bởi nhà lâm sàng không loạn thần đối với trạng thái cảm xúc của cá nhân người mắc loạn thần, là kết quả của trạng thái ý thức của anh ta. Trạng thái ý thức này có thể được nhà lâm sàng tri nhận đầy thấu cảm mà không hề tán thành, đối với thế giới quan của cá nhân mắc loạn thần.

Trải nghiệm của cá nhân mắc loạn thần có thể cần được chấp nhận trước tiên, thứ đến là thấu hiểu, rồi sự thử thách sau rốt, nếu đây là điều khả thể của các nhà lâm sàng khi làm việc với người mắc loạn thần.

Cách trị liệu đáng tin cậy nhất cho loạn thần vẫn là dược lý, và hiệu quả của cách điều trị này phải được xem xét hài hòa với thực nghiệm khéo léo trong việc phát hiện thuốc men đúng đắn, hoặc nối kết thuốc men với đặc tính sinh hóa thuộc cá nhân người mắc loạn thần.

Lý thú là, với hầu hết giai đoạn trong đời, các thuốc chống loạn thần (antipsychotic medications) được gọi bằng cụm từ “các loại áo bao bọc trực tiếp tâm thần” song gần đây, các thuốc thế hệ không theo truyền thống mới hơn có năng lực để “tổ chức tâm trí”.

Cũng đáng nói, các cá nhân mắc loạn thần như thế có điểm số xấp xỉ 10. trở lên trong thang điểm IQ tổng quát khi học sử dụng thuốc chống loạn thần thể hiện mới hơn, đối lập với điểm số của những người tham gia thực nghiệm không dùng thuốc.

Trong khi điều này có thể tiếp tục cổ vũ cho việc điều trị người mắc loạn thần thì vấn đề loạn thần vẫn còn là điều vô cùng khó khăn để gỡ bỏ, mà dường như chính là đang cần gỡ bỏ dần tâm trí loạn thần.

Mưa đêm

Thời điểm cuối năm thường hay mưa, không có gì lạ.

Khi ngày sắp hết, trên đường về nhà, bắt gặp bầu không khí ướt sũng nào quá bất ngờ.

Những cuộc hẹn hò, tiếp xúc chừng như chỉ cố kéo dài thêm sự ràng buộc và nối kết, theo thông lệ của người.

Và cứ thế, vô tư tháng ngày qua…

Trong chén trà nhập nhoạng, tôi chợt nhìn thấy khuôn mặt người thờ hắt ngắn, dài mỏi mệt. Lễ nghi, thù tạc giữ chức năng ngăn giữ đối tượng đỡ khóc òa vì bất lực trước trò cười cợt của tha nhân.

… Dần dần, những tình huống nọ kia đòi buộc chúng ta phải nhìn kỹ hơn lòng mình; để không thể chối bỏ thêm nữa những phần cố tình lờ tịt hoặc gắng sức đè nén vì xã hội gán nhãn cho nó là xấu xa hay sai trái.

Khó khăn nhất khi thực hành từ bi chính là cảm giác bản thân không thấu hiểu được hành xử của kẻ xúc phạm, làm hại mình. Kỳ diệu thay, cũng tại thời điểm đớn đau này diễn ra quá trình chuyển hóa nội tại.

Giống với bất kỳ kỹ năng nào, lòng từ bi triển nở với sự hiện diện của điều cản trở.

Từ bi rốt ráo, là năng lực nhận ra mối dây kết nối sâu xa giữa bản thân mình với những người khác.

Hơn thế, lòng từ bi đích thực giúp chúng ta nhận ra rằng ranh giới mình hằng tưởng nghĩ giữa bản thân và những người khác chỉ là ảo ảnh.

Mưa đêm mềm mượt ủ che…

Trạng thái loạn thần dưới cái nhìn của lý thuyết tâm lý học (2)

Cuộc trò chuyện xảy đến bên trong mối quan hệ cái tôi – đối tượng khách thể này cho phép đồ vật hóa các niềm tin mang tính loạn thần hoặc hoang tưởng (delusions) vốn nảy sinh trên sự lêu bêu của cá nhân mắc loạn thần đi ra khỏi suy nghĩ thông thường, nhằm hướng tới công nhận suy tư huyền ảo được kế thừa bởi một xác định về sự làm ra vẻ tồn tại của một hoặc nhiều bản dạng bên trong lĩnh vực tâm trí, mà cá nhân mắc loạn thần đánh giá là đang đối thoại với cái tôi.

Tự thân điều diễn bày này như một vết nứt vỡ trong tâm trí người mắc loạn thần. Khi lêu bêu với tâm trí bị nứt vỡ ấy, anh ta sẽ hiểu, có lẽ ngẫu nhiên thôi, một số lý giải hoặc các “trực giác” thấm nhuần trong những hoang tưởng mà anh ta biểu đạt. Những diễn bày như vậy cân bằng với phần đồ vật hóa và bị nứt gãy của tâm trí được dẫn dắt bởi các đánh giá thuộc về tiến trình loạn thần mà cá nhân trải nghiệm ngay lập tức.

Không có lý do nào để cho rằng một người mắc loạn thần có thể khách quan được trong tình huống này. Anh ta không có khoảng cách khách quan với các hiện tượng loạn thần như thế, anh ta không có nền tảng cơ bản để hiểu biết trải nghiệm, đa phần bởi vì những người khác bảo trải nghiệm của anh ta mấu chốt là không tồn tại, và đặc biệt dường như cưỡng bức cá nhân người mắc loạn thần để có thể tri nhận anh ta lành mạnh được. Mục tiêu vừa nêu có thể là điều bắt buộc, mang tính sai khiến đối với hầu hết những ai mắc tâm thần phân liệt (schizophrenics).

Một giả định về sự tự do ý chí (free-will) theo nghĩa thuộc suy tư tự định hướng và có dự tính giúp người mắc loạn thần kiến tạo, chí ít với đối tượng mắc tâm thần phân liệt dạng paranoid, những hoang tưởng kỳ cục và có hệ thống mà bất kỳ nhà lâm sàng nào đều có khả năng nhận ra mức độ cam go, ác liệt của chúng.

Những suy tư tỏ ý định tùy thích như thế có thể tăng cường thêm lập trường hoang tưởng là những nỗ lực ngõ hầu không những đưa đến việc tránh bị cô lập, ngược đãi mà còn thậm chí nghĩ về những hoang tưởng của người ta có thể kéo dài miên man sự hình thành quan niệm loạn thần. Đây như là kết quả của những gắng sức phát hiện ra một cách thức nhằm nhìn nhận chính suy tư của mình không thuộc diện loạn thần, và, như đã ngụ ý, hầu hết các cá nhân mắc loạn thần có thể được thúc đẩy bởi mục tiêu về sự lành mạnh.

Tuy nhiên, sẽ miên man loạn thần, và nhất là cứ hoang tưởng. Các ảo giác miêu tả những biểu tượng hoặc khái niệm bên trong tâm trí, thậm chí ngay cả chỉ thuộc phạm vi các ảo thanh là những từ ngữ như những biểu tượng mà cá nhân mắc loạn thần “nghe thấy” trong tâm trí của anh ta.

Cần phải xác quyết rằng loạn thần có thể được mô tả như một tiến trình mà tự nó là một thứ trải nghiệm chẳng hề dựa trên lý trí (theo bản năng) đang ảnh hưởng đến những cảm xúc trên các bình diện của cái ấy (the id), cái tôi (the ego) và cái siêu tôi (the superego).

Loạn thần có thể gợi mở về những bản năng, sự bóp méo lý trí, và tàn phá lương tri. Đây có thể là kết quả của loại trải nghiệm không chuẩn tắc của người mắc loạn thần, đối tượng cảm thấy và suy tư rằng những “người khác” ẩn nấp bên trong tâm trí anh ta được thức nhận như là thuộc về tất cả các khía cạnh của chính bản thân anh ta.

Như một vài cá nhân không loạn thần phân biệt ra, một sự thiếu vắng các ranh giới với những người khác, các ranh giới vốn được tri nhận là không hề tồn tại bên trong tâm trí của cá nhân mắc loạn thần là nguyên nhân làm cái tôi bị tan rã và có thể dẫn tới một trạng thái căng trương lực (catatonia) về cả khía cạnh cảm xúc lẫn tâm trí người ta.

Chính bởi lý do như vậy, cá nhân mắc loạn thần có thể bị tác động vô cùng bất lợi từ các tiến trình loạn thần vượt thoát khỏi việc suy tư mang tính phân tích, có lẽ tồn tại riêng biệt, không thể và sẽ không bị giảm giá trị, gièm pha hay nói xấu được đâu.

[chưa hết]

Trạng thái loạn thần dưới cái nhìn của lý thuyết tâm lý học

Thường dựa trên cam kết của tâm lý trị liệu theo lối tiếp cận nhận thức – quan hệ và thuốc men định hướng sinh học như là cách xử lý hiệu quả tiến trình loạn thần thì cả lý thuyết lẫn thực tiễn lâm sàng đều chứng tỏ tính phức tạp ghê gớm mới có thể định dạng, bàn tính tới hiện tượng loạn thần.

Theo thuật ngữ Phân tâm học, tư duy nói chung được kinh qua như sự liên tưởng tự do của nhận thức hoặc các ý nghĩ. Một cá nhân bị loạn thần trải nghiệm các ý nghĩ một phần sở hữu bởi “cái tôi” (“the self”), một phần bởi “tha nhân” (“the other”). Người mắc loạn thần có thể dấn tới thể hiện tính khách quan (objectification) trong thế giới tâm trí, do đó trải nghiệm một phần tâm trí thuộc của riêng anh ta, trong khi một số phần vốn trội hơn hẳn của tâm trí anh ta– thuộc về những người khác– mọi thứ này đều cho là của cá nhân mắc loạn thần.

Đối tượng ấy trải nghiệm một sự tha hóa (alienation) đầy ý nghĩa, dễ chừng được giả định rằng sự tha hóa bao gồm cả nguyên nhân xô đẩy và tác động có thật của sự phóng chiếu (projection) của kiểu dạng này nằm bên trong tâm trí người ta. Điều này cơ chừng làm vơi bớt nỗi cô đơn để tri nhận những ảo giác (hallucinations) là “thật”.

Bởi vì cuộc trạm chán với những ảo giác của cá nhân mắc loạn thần thường hay dựa trên sự diễn bày của các cuộc trò chuyện có liên quan với “tha nhân”, đối lập với trạng thái thoải mái của các mệnh giá (entities) bên trong tâm trí, nên cũng có thể nói rằng người mắc loạn thần trải nghiệm một trạng thái thân mật hết sức trơ trẽn với “tha nhân” được phóng chiếu, một sự thân mật tri nhận là trần truồng về mặt tâm lý. Tri giác thân mật này hoàn trả lại các tiến trình loạn thần vốn được thiết lập như để trừng phạt người mắc loạn thần vậy.

Tình huống phóng chiếu lên trên lãnh địa tâm trí dù có thể gây hậu quả làm bối rối tựa một mối quan hệ mang tính ác liệt giữa cái tôi và đối tượng khách quan, nó được người mắc loạn thần tri nhận, thậm chí ngay cả khi nó làm thuyên giảm, dịu bớt mức độ tha hóa và đơn độc.

[Hơi uể oải, tạm dừng đây vì đã muộn giờ, và vài bữa sẽ viết thêm đặng nhanh chóng kết thúc bài]

Tiền ư? Gì gì, xin đừng phát điên vì nó nhé!

Tôi không cho rằng buổi cơm trưa văn phòng ngồi trong quán café máy lạnh giữa thủ đô đang hồi nực nội là chỗ phù hợp để nói về tiền, nhất là bàn luận cả mối liên quan của nó với hạnh phúc nữa.

Tuy nhiên, gõ những dòng này vì thắc mắc của một độc giả về bản chất tâm linh của tiền bạc; cụ thể, cô ấy trích đoạn cuốn sách nêu trong trắc nghiệm liên quan rồi kèm theo câu hỏi tiếng Việt.

Accepting abundance

If we believe adequate money exists to meet everyone’s spiritual needs, there’s no reason why we can’t have the amount of money we need. We won’ t be depriving anyone else of money since there’s enough for everyone. (p. 177).

Nếu tiền có đủ cho tất cả mọi người thì tại sao lại có người chết vì đói?

Vậy đó, e không hay ho lắm bởi cơ chừng ngày nay quá nhiều thứ phụ thuộc vào tiền bạc; thậm chí, đến độ dường như chúng ta không thể sống nếu thiếu nó và các giá trị vật chất trở nên vô cùng quan trọng. Tự thân đời sống làm chúng ta phụ thuộc vào tiền.

Kỳ cục thật. Hiểu biết tâm lý tiết kiệm vẫn không khiến chúng ta hạnh phúc.

Cần nhớ là mọi người nghĩ tiền bạc ảnh hưởng tới niềm hạnh phúc nhiều hơn so với thực tế. Dường như thông điệp muốn chuyển tải: nỗ lực làm giàu và thất bại sẽ khiến mình cảm thấy khốn khổ; trong khi đó, thành đạt về mặt tài chính dễ tạo cho mình cảm thấy hạnh phúc hơn— bất luận mình có mơ mộng về nó hay không.

Việc xem băng hình các cảnh cắt và đốt tiền nhắc nhở những người tham gia thực nghiệm chú mục vào chức năng thông dụng của tiền là một công cụ thể hiện giá trị của các loại thực phẩm và dịch vụ.

Gợi lên vô vàn cảm xúc khác biệt, có thể nhìn nhận rằng tiền bạc như là nghi thức toàn cầu mọi người đều tham gia vào chăng? Wow… đó là sự thật, nó có giá trị vì người ta cho là nó có giá trị để đánh đổi những thứ khác.

Vậy, rốt cục tiền là gì? Việc định nghĩa nó rất gần gũi với mô tả về không gian mạng như một “ảo giác liên ứng cực đại”, bởi vì tiền bạc phụ thuộc vào chuyện chúng ta tin nó có tác dụng hay không. Nói khác, nó đa phần là một khái niệm xã hội mà tất cả chúng ta ký giao kèo với; dĩ nhiên, càng đặc biệt ít nhiều ý nghĩa khi nhắc đến tiền trong thời kỳ khủng hoảng tài chính hiện nay.

… Thường thì người trẻ chỉ để ý tới những khoảnh khắc và thời gian hiện tại, còn lớp già hơn lại quan tâm tới tương lai nhiều hơn. Nghiên cứu cho thấy, 13- 16 là giai đoạn của những đổi thay, chuyển biến ấn tượng trong thái độ đối với thời gian.

Liệu có phải chính thái độ đang thay đổi của chúng ta về thời gian làm cho câu chuyện tiền bạc thêm phần ám ảnh, bức bối?