Đóng phim trong lòng đời

Người đàn ông tóc muối tiêu chỉnh sửa ống kính máy ảnh hết sức chăm chú. Rồi ưng ý thể hiện ở lời cất to với nữ nhân chẳng còn trẻ nữa đang liên tục dùng tay tạo dáng nọ kia cùng mái tóc xoã ngồi trên chiếc bàn một quãng không xa: ‘Diễn đi, bắt được góc máy rồi’. Sát cạnh bên ngoài ồn ào qua lại là xe cộ theo con đường ven hồ Tây trông mờ nhoè sau cơn mưa giải nhiệt. Họ như cặp vợ chồng muốn hồi xuân về thời mới yêu nhau ban đầu.

Tối qua [Cập nhật, 26.7: đã xem hồi tháng 6 và ghi lại ngay hôm sau khi ngồi café chờ bạn], xem phim tập thể tại Cafe Trung Nguyên Tâm Trạng Khi Yêu (In The Mood For Love, 2000) mà nguyên bản Hán ngữ là Niên Dạng Hoa Niên, tức nét vẻ đẹp nhất của một đời người. Mô tả Hong Kong thập niên 60 của thế kỷ XX. Chàng biên tập viên thời báo và nàng thư ký xinh đẹp; cả hai chung cảnh ngộ bị vợ/ chồng phản bội, ngoại tình. Họ cũng trú ngụ chung một căn hộ kề cận nhiều phòng cho thuê có cầu thang lên xuống bắt nối với con hẻm nhỏ xuôi dọc tường rào bằng xi măng cốt thép…

Không phải lần đầu xem nên ít bị ảnh hưởng và thích tăm tia hơi kỹ, nhất là khi tư thế cần uốn cong chút vì sợ che chắn tầm nhìn mấy kẻ thấp bé phía sau. Quạt cây bổ sung, hơi mát hỗ trợ vừa đủ xua tan bầu khí ngột ngạt đêm mùa hạ càng khiến bản thân chăm chú tợn. Thế là cảm nghĩ nghiêng về tính giễu nhại của tinh thần hậu hiện đại. Đâu có gì bức bối, bí bách hoặc khai thác cảnh làm tình, dục lạc chi mô; quan hệ của cặp đôi trong phim thiệt là giỡn chơi theo kiểu ‘truyện khơi đời, đời với chuyện’. Họ *diễn* vì cách í phản ánh sâu xa nỗi sợ bộc lộ cõi lòng, cả ngại ngần lo tha nhân đánh giá, những phiền muộn khó lường nếu dám đẩy đưa; toàn bộ phim phơi bày tinh thần thị dân thời hậu thuộc địa chưa bị công phá kinh hoàng bởi kỹ thuật số, ở đó cách chuyện trò trực tiếp lẫn thói quen gọi điện thoại cố định minh hoạ còn đủ sức thuyết phục cho sức chịu đựng của các giá trị truyền thống, thậm chí khó phủ nhận nổi hơi hướng đậm chất phớt Anglais.

Thói quen ăn tiệm, lập hội đánh bài, thuê phòng trọ, đặc sản Trung Hoa, kiểu phục trang một thời, hay lối dùng cái khăn mouchoir lau phẩy nước mưa rất điệu đàng cơ chừng càng khiến vị yêu lứa đôi không quá u sầu, tê tái. Đó là chuyện tình khởi phát đặng sáng tác văn chương in báo dài kỳ nghiêng hẳn tính nữ với nghĩa của sự chăm chút, thấu đáo, chừng mực, bảo bọc, trọng thị, và tương kính. Huyễn tưởng ưu tiên trú ngụ nên thực tại chạm mặt hàng ngày khỏi dằn vặt, tiếc nuối thêm phiền. Yêu trong không gian chật hẹp được bổ trợ hào phóng bởi thời gian thừa thãi: nghĩ về, ở bên… Phim gây ấn tượng quá ổn với các nữ khán giả nhỡ nhàng mộng mơ vì nó tuyệt chẳng thèm thể hiện chút chi dục tình bù trừ mãnh liệt, ào ạt, gấp gáp.

Đoạn kết chuyển đại cảnh trên nền di tích đền đài chùa Tháp ngàn năm xưa cũ cùng motif văn hoá ‘khoét lỗ thổ lộ bí mật’ ruột gan tích chứa đau thắt bấy lâu vô hình trung, cân bằng trở lại ngọt bùi- cay đắng. Bộ phim Niên Dạng Hoa Niên nương nhờ sự lên cao đạt đỉnh của cuộc đời người ta để lựa chọn phẩm tính biểu đạt độc sáng: tác nhân quyến rũ, thu hút vô vàn là do anh ấy và cô ấy thấu hiểu bản thân. E chừng có một bài thơ của Khan Zada người Ấn viết đầu thế kỷ XX mang tựa đề ‘When Love is Over’ cũng giãi bày dư âm ái tình luyến lưu tương tự.

Thưởng thức âm nhạc khi tiếp nhận ỡm ờ

Chiều qua, tôi tranh thủ đến Nhà Hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà Nẵng) để nghe ban nhạc Ấn Độ mang tên Pranava Naadham biểu diễn tầm một tiếng đồng hồ theo phong cách hoà trộn Carnatic mà mấy ngày gần đây nhóm đã có mặt ở Vĩnh Phúc, Yên Bái

Vì Hội Hữu nghị thành phố mời nên trước khi phía bạn thể hiện thì chủ nhà mở màn bằng văn nghệ chào mừng, giao lưu. Đấy là tiết mục múa trên nền nhạc bài Việt Nam Quê Hương Tôi (Đỗ Nhuận), và ca khúc kèm múa phụ hoạ ‘Welcome to Danang’ (Nguyễn Phước Vũ Bảo); cả hai đều do vũ đoàn tên là Nhật Huy trình bày.

Tôi thấy mình lơ ngơ ở đó, giữa số khán giả không đông lắm và đa phần lớn tuổi, ngồi hờ hững kèm đôi mắt nhắm với âm nhạc, ca từ, và vũ điệu Danang- Vietnam. Giai điệu thoả mãn và những uốn éo đơn giản về mặt hình thể của các cô gái trẻ trung chẳng còn đủ sức lôi cuốn, hấp dẫn nữa; thậm chí, tôi đã nghe nhầm ‘Bà Nà sao lạnh ghê’ thành ‘Bà Nà sao lạ ghê’, cứ như thể vì điểm du lịch này vốn thiết kế kiểu cách, lai căng…

Thành thật, tôi chịu khó nghe và ưng ý hơn với phần trình diễn của nhóm nhạc tới từ xứ sở của tôn giáo và tâm linh huyền bí. Dù chưa chiếm trọn vẹn tâm tình mình, song họ đã cho tôi cơ hội hiểu thêm chút về sự khác biệt giữa âm nhạc và tính nhạc. Và thực tế, tôi kịp vừa nhìn ngó, lắng nghe vừa đặt cho bản thân những câu hỏi quen thuộc, rằng ngôn ngữ chúng ta lớn lên và âm nhạc đã nghe hồi nhỏ liệu ảnh hưởng như nào đến cách mình nghe nhạc lúc trưởng thành rồi nhỉ; liệu có sự khác biệt trong khả năng mình học hỏi rồi thưởng thức âm nhạc mình không quen thuộc lắm không? Và suy đoán câu trả lời đòi hỏi xem xét các nghiên cứu liên văn hoá.

Hẳn quan trọng là biết phân biệt khái niệm ‘âm nhạc’ và ‘tính nhạc’; với tính nhạc được hiểu hiểu là đặc điểm tự nhiên phát triển thoải mái dựa trên và bị hạn chế bởi hệ thống nhận thức, trong khi âm nhạc thì như cấu trúc xã hội và văn hoá nảy sinh từ tính nhạc đó. Các cơ chế nhận thức căn bản để ghi nhận, thực hiện và đánh giá âm nhạc là gì. Phân biệt ‘tính nhạc’ do vậy đâu có dễ.

Hầu hết mọi người yêu thích âm nhạc, chí ít vì nó giúp chúng ta biểu đạt cảm xúc đôi khi khó nói thành lời. Âm nhạc lôi cuốn, đánh bật, gây cảm hứng, cảm thấy nối kết; phản ánh chúng ta là ai và trải nghiệm của chúng ta về thế giới. Nhạc mang tính tâm linh, thần bí rất phong phú về biến tấu và da diết giai điệu như của đất nước Ấn Độ quả chạm vào lòng chúng ta theo cách thật đặc biệt.

Âm nhạc thì thiên về cảm xúc, đam mê, phi lý, và đậm chất nữ tính (C. Jung gọi là ‘anima’ ở đàn ông); và dĩ nhiên, tôi còn nhớ rằng chính S. Freud mang nỗi ám sợ âm nhạc như ông tự bạch từ 1914 (Oliver Sacks, 2008). Song chuyện này thì khá mệt mỏi khi đêm đã khuya…

Vướng bận ta bà đỉnh núi Everest

Xem Everest (2015) vào chiều cuối tuần sấm giật báo hiệu cơn giông mùa hè bên ngoài cửa sổ giữa lòng phố thị, có lẽ sự dự đoán ấy quá mức êm đềm so với thực tế khí hậu khủng khiếp khó ngờ trên đỉnh núi kia.

E bộ phim không dựng lên đặng ca ngợi sức mạnh tinh thần của con người; hơn thế , nó nghiêng sang phản ánh sự nguy hiểm cùng cực khi các cái tôi không được kìm hãm. Leo núi, tại sao không; cơ mà tại sao vẫn cứ muốn chạm đỉnh với bao nguy cơ chết người rõ ràng rồi làm tàn phế chính mình cùng cuộc đời kẻ khác?

Everest còn đó vùng tử thần với độ cao trên 8.000 mét, nơi người ta không thể thích nghi khí hậu lâu dài và tiến trình chết chóc luôn chực sẵn. Các chức năng thể lý hỏng hóc dần, thậm chí gây hoang tưởng lẫn ảo giác nữa; thiếu dưỡng khí phụ trợ, sự sống chỉ lưu giữ trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Các cơn bão tai quái, sườn dốc trơn tuột, băng quất tê cóng, … đủ khiến sự tồn còn trở thành điều gì đó thật huyền diệu. Với bối cảnh phim, 8 kẻ leo núi đã tử vong, và danh sách người leo núi chết tiếp tục được cập nhật cho đến 22.5.2016 này dù lịch sử đâu nhất thiết cần được lặp lại.

Tại sao (leo)? Câu trả lời (đậm hơi hướng vinh danh) là ‘bởi vì nó ở đó’. Song đích thị gì là ‘nó’ đây. Tự thân ngọn núi tên là Everest lừng danh, hay ngọn núi nội tại của bản ngã cứ ước ao khẳng định chính mình, để được lượng giá đối kháng với ngọn núi- ai- đó- khác. Bởi vì nó có thể gợi cảm hứng cho bản thân lẫn tha nhân? Song đáng giá chăng nếu nó ở đó đủ để ta trả giá đắt hoặc tiêu đời luôn? Đặt câu hỏi ‘đáng giá?’ bằng cách nào thì hợp lý thuận tình, đúng đắn và toàn vẹn? Nhiều vị leo núi cốt cạnh tranh với ngọn núi và những kẻ leo núi khác. Chẳng thấy bao nhiêu bản ngã tham gia vào ư, thế sao khả năng chết chóc lại lớn thế? Liệu có kỳ cục đỉnh núi là vô ngã, Everest quả là thế. Khôn ngoan hơn chăng khi không chinh phục bản ngã?

Lần nữa, khốn khổ để chinh phục Everest đã là sự khiêm cung. Cho những ai lên được đỉnh, thế là đủ cho bản ngã? Liệu họ sẽ đặt để mục tiêu khác ‘cao hơn’. Khi bản ngã ghê gớm không được kìm nén, nó liệu còn khiêm cung? Tại sao không nhạy cảm nhận ra các giới hạn trước khi quá muộn màng. Trong cuộc đấu dài hạn, ngay dù vô ngã, thiên nhiên luôn luôn chiến thắng với tuổi già, bệnh tật và cái chết. Với những ai khổ đau khi leo núi, cầu cho những thử thách đích thực chuyển hóa đời họ, không ngừng nhắc nhở họ trân quý cuộc sống nhiều hơn; nếu không thế, các đớn đau kỳ cùng ấy chẳng giá trị gì, và sự thất bại khi leo núi chỉ đơn giản là sự thất vọng của các hành trình bất tận của bản ngã.

Một sự thượng sơn thành công chỉ là nửa hành trình, hạ sơn an toàn và nhanh chóng cũng thiết yếu chẳng kém. Trong khi tất cả các cuộc huấn luyện đảm bảo ổn thỏa, Everest há chẳng phải là sự khắc kỷ cực doan cho một độ cao phù du cần chiếm lĩnh?Có vẻ, chỉ lý do duy nhất leo Everest sẽ là được giải cứu cho những ai bị bỏ rơi. Thẳng thắn, chỉ có các kẻ khùng và Bồ tát mới dám lao vào luân hồi bể lửa; cái sau mới cứu nổi cái trước.

Tại sao không ngưỡng mộ Everest từ khoảng cách nhất định. Tại sao buộc mình phải dính bám vào đỉnh chóp của nó? Và tại sao không leo các ngọn núi chẳng có vùng tử thần, trong khoảng thời gian ngắn ngủi còn lêu bêu giữa cõi ta bà?

Hanoi, Hanoi (1)

Mọi thứ đang thay đổi, bất kể mọi thứ có thể như nào…

Dòng bên trên ấy lửng lơ mãi vậy đã gần ba tuần nay.

Thói quen hay thế vì Hanoi cưu mang và ôm ấp được những ai mơ hồ ngơ ngác; nó cho phép sự tội nghiệp và những nét vẻ hoang đàng trong đời sống nội tâm có cơ nở nhụy.

Không gian rộng nhất của Hanoi là cái làng lớn, bao quanh bởi các làng bé; lý giải vì sao cả gái xinh lẫn giai tài đều cứ tủn mà tủn mủn, nói tinh tế cũng đúng mà nói giang hồ vặt cũng cấm sai. Thời gian theo đó, dẫu không đi đâu quá xa mà cứ vấn vương ‘thương nhớ mười hai’.

Trái tim tôi, từng bao lần đập thình thịch khi đi tàu, đón xe, ngồi máy bay, từ núi xuôi xuống, dưới biển lên, miền Trung ra hay đơn giản mới rời xa mấy ngày phía bên kia ngoại thành Kinh Bắc.

Không- thời gian ấy giờ đây mất hẳn đi cái tâm tưởng luyến lưu da diết. Chẳng phải hết yêu đâu mà tình thương, cùng bao tháng năm dằng dặc, đột ngột chuyển hóa thành cái gì dịu dàng gắn bó, thôi nhớ nhung đau đáu nữa.

[Tạm thời rứa đã hỉ…]

Thêm một lần tính toán chi ly…

Cuối năm nằm ngồi co duỗi, trên đồi cao gió theo đuổi lá vàng

Té ra, đến hẹn lại lên, hàng năm mã nguồn mở WordPress đều đặn làm công việc tổng kết những gì thực hiện được. Tình hình cập nhật bài vở và chất lượng tuy giảm so với đận trước song số liệu thống kê cũng phản ánh blog Tâm Ngã 2013 có nhiều chuyện vui phết, lắm điều buồn cười vãi, thậm chí, góp phần cho thấy trạng thái sợ hãi, âu lo e vẫn còn đó…

@ Đã có 24.000 lượt vào xem trong năm 2013 dương lịch; 250 bài đẩy lên, nâng tổng số lượng lưu trữ thành 930, đi kèm 160 bức ảnh minh họa (chiếm 17 MB, trung bình 3 ảnh/ tuần).

@ Ngày thiên hạ chen chúc, truy cập vào blog đông nhất là 10.10 với 290 lượt ngó nghiêng; các bài được cho là đáng quan tâm nhất gồm:

1. Quản lý và lãnh đạo, 6.2013

2. Trẻ con không phải người lớn thu nhỏ, 9.2011

3. Vào Đảng để làm gì?, 7.2011

4. Tại sao trằn trọc?, 2.2012

5. Trầm cảm: dùng thuốc là đúng đấy!, 5.2011

@ Độc giả đến từ 47 nước, đứng đầu là Việt Nam, sau đó Hoa Kỳ và Canada kế liền.

@ Bài phản hồi xôm trò thuộc về: J. Soi (13): Chuyện ăn chay, ăn mặn.

@ Bạn đọc biết tới và phát hiện blog Tâm Ngã, ngoài ngõ facebook thì vi.wikipedia.org là trang truy cập nhiều nhất.

@ Với những ai sử dụng công cụ kiếm tìm trực tuyến, nổi lên các cụm từ sau trỏ vào blog Tâm Ngã: “vao dang de lam gi” (vào đảng để làm gì), “chằn chọc hay trằn trọc“, “vào đản ng để làm gì“, và “yoga thiền định“.

Đời đúng là đố mà hiểu hết hoặc/ và nói cho tỏ tường, rốt ráo được chữ ngờ.

Chờ kết thúc 2014, ta  đợi xem bảng khai cho thấy tình hình cùng lòng người liệu thay đổi như thế nào. Nhân tiện, hiện tại, bạn đọc mong đợi, góp ý, chúc tụng hay cần đề nghị điều gì thì tạm thời thả xuống đôi dòng ngay tại đây luôn nhé!

Vài suy tư đầu tuần hư sự

Giấu một làn hương để tình thương lan vào trang sử
Giấu một làn hương để tình thương lan vào trang sử

Con người ấy nhỏ nhắn, vốn là thầy giáo dạy Sử để rồi đi vào lịch sử dân tộc như một vị tướng tài ba xuất chúng của quân đội hiện đại. Con người ấy cũng có cả số phận trớ trêu như định mệnh dân tộc này: bị áp bức, phải tìm cách tồn còn, và sống uyển chuyển đặng vừa bảo vệ tính mạng vừa làm được cái gì đó mà ông nghĩ sẽ có lợi cho sự nghiệp chung, thậm chí, trung thành hết mực với Đảng và tuyệt không hề hối tiếc chút chi, ngay cả khi tổ chức giao cho ông đảm nhận chức trách Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân số và Sinh đẻ có Kế hoạch.

Dĩ nhiên, vượt trên tất cả mọi nỗi niềm trái ngang gây tranh cãi thì khó phủ nhận điểm quy tụ nổi bật: người Việt Nam ngưỡng mộ năng lực của một nhà cầm quân lừng danh đã chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc. Và vì thế, không có gì lạ rằng khi ai đó tỏ ra quá giỏi giang, siêu tuyệt trong một lĩnh vực thì sự khâm phục ngây ngất khiến  mình thấy khuynh hướng ấy được lây lan sang các địa hạt khác (cái gọi là “hiệu ứng vầng hào quang” quen thuộc). Nên thiên hạ mong đợi ông sẽ đứng mũi chịu sào cho một trận chiến đấu mới, đặt hy vọng vào vị thủ lĩnh hiệu triệu lòng dân lúc đất nước bước sang giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội thời dân sự, hòa bình (và sự gãy đổ niềm tin ấy quá dễ tạo nên đủ thứ cáu giận ngấm ngầm hoặc công khai chỉ trích).

Vì thế nên cái chết dù quá chừng đáng sợ và gây kinh khiếp giữa ánh sáng ban ngày với hết thảy chúng sinh thì nó chắc chắn sẽ đỡ làm mình hoang mang, bơ vơ nếu chúng ta cứ tiếp tục sống trong một số phương thức sau khi qua đời, dẫu thông qua những người mình yêu thương mang tính biểu tượng hoặc biểu tỏ qua các niềm tin tâm linh. Nói khác, chúng ta si mê các thần tượng bởi vì họ là một phần tích hợp của văn hóa; họ tạo ra nó trong thế giới quan mà chính chúng ta cứ cố bám chặt hết sức kiên trì. Bởi việc thờ phụng, tôn vinh hình ảnh vị khai quốc công thần cuối cùng ở mức độ và phạm vi nhất định, giúp chúng ta cảm thấy như thể mình đang dính dáng sâu xa trong hệ thống niềm tin/ nguyên nhân vô cùng trọng đại, to lớn này.  Vả, điều đó dễ khiến mình cảm thấy ấm áp, nồng nàn và mơ hồ hư thực, tựa các vấn đề trong đời vậy, cái chết không còn kiến lập sự nhói buốt, cay đắng rất khủng khiếp.

Lần nữa, cần đo lường nghiêm túc các tác động do cái chết nổi bật rờ rỡ của nhân vật nổi tiếng gợi lên. Nghiên cứu chứng thực, người ta cảm thấy thái độ tích cực hướng về nhân vật lỗi lạc ngay lần đầu tiên họ được nhắc nhở về cái chết; nó khẳng định ý tưởng người ta đương đầu với nhận thức rằng họ sẽ chết bởi việc không ngừng yêu thương bản thân dựa trên một số yếu tố lừng danh, nổi tiếng ấy.

Khi vị tướng già lại xông xáo và xuất chiêu trên mặt trận không tiếng súng và ông thất bại, chúng ta mất niềm tin nơi ông– dù biểu tỏ ra ngoài rõ ràng, cụ thể hay không. Dấu hiệu căn bản mang tính văn hóa thuộc về thế giới quan này của chúng ta đã bị bẻ gãy ở chính khâu then chốt trong hệ thống niềm tin, dù ông tuyệt đối thủy chung như nhất mà không hề lừa dối.

Thật bi hài, trên một vài mức độ thiết thực, chúng ta càng cảm thấy quá chừng bức bối, không thể thoải mái nổi trước cái chết khó tránh khỏi đang đến khi thần tượng của lòng mình ngã đổ từ từ trong thầm lặng rồi nằm xuống hẳn.

Đi tìm căn tính, bản dạng chính mình: phải làm điều ta nghĩ là không thể…

Bộ phim Đức “Bài hát trong tôi” (nguyên bản tiếng Anh “Day I was not born”) minh họa cho thôi thúc cần phải làm điều mà ta nghĩ mình không thể thực hiện nổi.

Dĩ nhiên, điều đó không thuần túy chỉ liên quan trong việc vượt thắng nỗi sợ; chẳng nghi ngờ gì nữa, nó còn dính dáng tới bí mật khó cưỡng cho việc phát triển căn tính, bản dạng (identity) của người trưởng thành.

Câu chuyện thấu đạt căn tính chủ yếu đòi hỏi nỗ lực khám phá và cam kết dấn thân tại một thời điểm nào đó trong nghề nghiệp, tôn giáo, quan điểm chính trị, v.v…, và chúng lắm lúc cũng có thể đề cập đến thế giới quan.

Thông qua việc đẩy bản thân ra khỏi vùng êm ấm, thoải mái quen thuộc nhờ tình cờ trò chuyện, đi du lịch hoặc tác nghiệp hay gặp gỡ ai đó khác, chúng ta học hỏi nhiều hơn về thế giới lẫn nhận định rõ ràng thêm về vai trò, chỗ đứng của mình trong đó.

Thật khủng khiếp biết bao khi đối tượng trên tiến trình kiếm tìm phải đương đầu với nỗi đe dọa của sự khuếch tán hoặc bị thủ tiêu luôn quyền thế chấp trước đây về bản dạng của mình.

… Lại được thưởng thức một bộ phim Đức cùng chủ đề để kịp nhận ra, bất kể người ta nghĩ mình là ai thì sự thật đích thị họ phức tạp hơn thế nhiều: không phải là hoàn cảnh, những gì đang làm, vai trò thủ diễn, niềm tin hay mối quan hệ do tòa phán quyết,…

Liệu chúng ta có dám chấp nhận thay đổi rốt ráo nếu bản dạng, căn tính mình bị đưa ra đặt cược?

Một kiểu nhân loại tân thời

* Dấu ấn của một tâm trí có giáo dục là khả năng tiêu khiển một ý tưởng mà không cần buộc phải chấp nhận nó. (Aristotle)

Một nguồn thống kê ngoại quốc vừa cho hay, 30,8 triệu người Việt sử dụng internet, trong đó 95% người dùng truy cập các trang tin tức.

Mỗi khuôn mặt là một đại diện cho tính đa dạng bất tận của nhân loại.

Nền văn hóa “liên tục, miên man” (“always on”) đương đại trên toàn cầu ngày nay càng khiến cho mọi sự nhấn sâu thêm trạng thái phụ thuộc, dính mắc, dây dưa. Khi mong đợi đáp ứng là văn hóa thì vụ việc, vấn đề tuyệt không hề giản đơn chỉ là chuyện bật chuyển sang nút “tắt” (“off” button)– với lứa tuổi vị thành niên, mới lớn thì điều ấy đe dọa về tình hình cô độc xã hội; với lực lượng lao động trưởng thành, là sợ hãi rớt rụng, chậm lụt, đứng sau các đồng nghiệp hoặc bị mất việc làm…

Lần nữa, chúng ta chứng kiến điều gì đó (something) đến từ cái không chi cả (nothing); ấy là biểu đạt của hiện tượng hợp trội (emergence): khái niệm này mô tả sự biến đổi bất thình lình cơ chừng khó lý giải nổi xảy đến trên lộ trình tiến hóa, khi những sự bùng vỡ phức tạp cực kỳ ghê gớm nảy sinh từ sự ít phức tạp hơn.

Nghiên cứu cho thấy, tin tức truyền thông phơi bày về bạo lực tạo cho bệnh nhân cảm thấy đau đớn hơn nhiều. Còn xét ở bình diện tiến hóa, người ta phát hiện những chủng loại mới thuộc loài khỉ bộc lộ sự tự nhận thức.

Nên nếu vẫn còn lăn tăn tự hỏi liệu bạo lực trong truyền thông dẫn tới bạo lực ở đời thường thì câu trả lời đã rõ ràng rồi, với cái gọi là “Hội chứng Thế giới Trung bình” (“Mean World Syndrome”)– ý tưởng của lý thuyết gia truyền thông George Gerbner về nội dung bạo lực trên các phương tiện thông tin đại chúng (Gerbner vốn nhắm tới phương tiện giải trí song khái niệm này cũng áp dụng cho bản chất bạo lực trong nội dung đưa tin vốn hay gieo hoang mang lo sợ nữa) khiến mọi người tin rằng thế giới là nơi chốn bạo lực hơn hẳn so với thực tế vốn có của nó.

Vượt xa các giải pháp như là uống café hay chơi ô chữ, nếu muốn tích nạp siêu phàm cho bộ não, mình cần phải thay đổi lối sống của bản thân. Tin vui là các thành tựu khoa học có thể trợ giúp chúng ta theo hướng ngày càng nhân văn và từ bi.

Chẳng hạn, các nhà tâm lý học thực nghiệm đang học hỏi được rằng, cảm nhận của con người về từ bi (compassion)– giúp chúng ta thấu cảm với những đồng loại khác– mở rộng phạm vi con người cảm nhận về, và rằng chúng ta thực sự có thể đào luyện bản thân để trở nên tử tế hơn, ít định kiến hẳn đi…

Quyền năng của từ bi nằm ở chỗ nó cho thấy những khám phá lớn lao về sinh học thần kinh liên quan tới niềm tin và sự tiếp xúc giữa người với người cả trên các tiến trình phân tử lẫn mức độ tế bào—cũng như tác động của chúng tới các trạng thái bệnh lý.

Vậy nên, rốt ráo, hãy dám là chính mình vì đó là cách để bảo vệ và gìn giữ đời sống bản thân tốt nhất đồng thời góp phần thúc đẩy lịch sử nhân loại. Bởi như ghi nhận, qua nghiên cứu, người ta cho thấy điểm số cao về tính thẩm quyền “thì có xu hướng đáp ứng với những khó khăn bằng những chiến lược đối phó hiệu quả, hơn là phương cách giải quyết vụ ma túy, rượu chè, hoặc các thói quen tự tàn phá chính mình. Họ thường khai ra mình có các quan hệ thỏa mãn. Họ ưa thích một cảm nhận mạnh mẽ về việc bản thân đáng giá và sống có mục đích, tự tin trong xử lý lão luyện những thách thức trong đời, và khả năng tuân thủ, thuận theo các mục tiêu đang tìm kiếm.”

Lời cuối, đêm tốt lành; cầu chúc bình yên và may mắn đến với tất cả mọi người.

Nghĩ về giáo dục Tự do trong Ngày Độc Lập

Thật trêu ngươi; vào dịp kỷ niệm 67 năm Tết Độc lập của đất nước ngàn năm văn hiến, ngay giữa lòng thủ đô, tôi còn phải tiếp tục tìm cách vòng vèo kỹ thuật chứ không thể tự nhiên gõ phím “Đăng bài viết”/ “Phát hành”/ “Xuất bản” là đẩy được liền lên blog.

Dân tộc và lòng dân”, “dân chủ và pháp quyền”, “ý nghĩa thời đại”,…; những bài học lịch sử- lý luận lại xuất hiện theo thông lệ. Cũng tiện thể hôm qua, báo ngoại quốc đăng hình con gái rượu của một vị Ủy viên Bộ Chính trị, mang nhan đề rõ ràng “Ở Việt Nam, thông điệp về sự bình đẳng bị thách thức bởi khoảng cách giàu nghèo ngày càng lan rộng”; đoạn kết, tác giả dẫn câu ca cổ xưa dạy cho học trò nhỏ tuổi: “Con vua thì lại làm vua- Con sãi ở chùa thì quét lá đa- Bao giờ dân nổi can qua- Con vua thất thế lại ra quét chùa”.

Hồ nghi là yếu tính của đời sống trí thức, song thái độ ngờ vực đầy ác ý và phóng đại quá mức rất dễ làm xói mòn nền tảng khoa học. Vậy, những gì cần định tội, đổ lỗi cho quần chúng nhân dân đông đảo đây– sự nhẹ dạ, cả tin thân thương, hay thói tham lam vô độ quen thuộc?

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” ba chữ thiêng liêng trong tiêu ngữ hiện diện thường xuyên nơi này cần được nghiền ngẫm thấu đáo và rồi quan trọng hơn, nhìn thấy được ‘hình tướng’ biểu lộ sát sườn trong đời thực hàng ngày. Bởi tự thân ngôn ngữ vốn có tính logic của việc chuyển tải thông tin đồng thời, nó vẫn chứng tỏ điều khó hiểu một cách phi lý.

Đừng suy nghĩ, hãy nhìn!” Cách ngôn ấy của triết gia Wittgenstein chắc chắn liên quan sâu xa với thực trạng là có những điều cốt tủy bất khả lập ngôn. “Về điều gì chúng ta không thể nói lên, về điều đó chúng ta phải im lặng.”

Nhìn cho kỹ càng và tinh tế, khoan hẵng vội vàng đập đầu, bóp trán suy nghĩ hết sức lao lung; chỉ nên đọc sách, nhất là đừng ưu tiên những cuốn sách được các “chuyên gia văn hóa đọc” tung hô ầm ĩ, nếu nó (chúng) khiến mình chuyển biến thái độ và thôi thúc đổi mới, hành động khác hẳn trước— chứ không thể hiện duy là thói quen, là một việc khác ta làm mà thôi.

Cho dẫu cách thức tồn đọng, lưu giữ, để lại sẽ chỉ là lời phàn nàn, buồn đau mạnh mẽ– lần này đến lần khác– về vô vàn ví dụ tường minh cho lối kiểu phá hủy tàn bạo, ngày càng làm tha hóa khủng khiếp các giá trị nhân văn và quyền con người. Bởi nôm na, giáo dục tự do chính là định hình (những) vấn đề hiện tồn.

Tâm trí của kẻ giết người hàng loạt, thành kiến về tính cách gây án dính dáng điện ảnh, và tinh thần từ bi dễ dàng định đọat

Tôi không lướt mạng để chú mục theo dõi các vụ án, sự việc chấn động được đăng tải trên các trang điện tử trong nước thường xuyên; do vậy, chiều qua thật bất ngờ khi cậu bạn đạo diễn điện ảnh hỏi ý kiến bình luận về vụ thảm sát tại rạp chiếu bóng trong buổi ra mắt phim ở bang Colorado (Hoa Kỳ) mới xảy ra hôm kia đây thôi.

Tìm kiếm thông tin, thấy truyền thông ngoại quốc cập nhật tình hình, cung cấp những chi tiết bất ngờ về nhân thân kẻ thủ ác, lý giải động cơ phạm tội, các dấu hiệu liên quan sát sườn trực tiếp tới bộ phim

Lần nữa, gợi nhắc những cơn cớ và cách tiếp cận dưới góc nhìn văn hóa.

Vào thời điểm mà sự chữa lành đang được khẩn trương tiến hành ngõ hầu gắng khép lại nỗi đau thương quá lớn như thế này, thật phi thực tế để đòi hỏi có ngay lời giải đáp rốt ráo về hành động khủng khiếp của kẻ thủ ác.

Sự trình lý đối với hành vi của xạ thủ sát nhân cơ chừng sẽ vài tháng nữa mới nổi rõ, và khả năng cao thể hiện dưới dạng một phức hợp của các yếu tố cá nhân, gia đình, văn hóa và thần kinh học. Dĩ nhiên, tương tự các trường hợp như thế này, không có cái gì trong các yếu tố vừa nêu đủ khả năng thêm vào mà thỏa mãn hoàn toàn cho phần giải đáp cả.

Xin nêu minh chứng vài ba ý kiến chuyên gia Tâm lý đã bày tỏ quan điểm về vụ việc, với chút lưu ý về góc độ đạo đức hành nghề. (1, 2,3, 4).

Như thế, ý tưởng ‘phim là đời’; nghệ thuật thứ bảy đã chuyển tải đời sống lên màn ảnh góp phần làm cho việc bình luận vụ án trở nên sâu sắc và toàn diện hơn.

Cũng cần nhấn mạnh, bi kịch lần này sẽ trở thành một thành phần khác cho cuộc tranh cãi về các vấn đề nổi cộm mang tính xã hội và luật pháp– kiểm soát súng đạn, bệnh tâm thần, bản chất của tội ác, chủ nghĩa khủng bố, và việc điều chỉnh truyền thông và phương tiện giải trí.

Có một khía cạnh khác phải được xiển dương hơn nữa. Đó là tinh thần từ bi của những người trẻ có mặt tại rạp chiếu bóng, nhờ họ mà nhiều người khác đã được chở che và cứu sống.

Câu chuyện ấy sinh động đến độ thừa sức khẳng định từ bi là bản chất của con người chúng ta, và khi được kích họat thì nó thể hiện như một phản xạ hết sức tốt đẹp. Từ bi đích thị là bản chất cốt lõi của nhân loại và nó giải thích tại sao không thể chết niềm hy vọng chẳng những đảm bảo chữa lành nỗi mất mát, thương đau hết sức bi kịch từ quá khứ mà còn chắc chắn hướng tới một tương lai tươi sáng hơn.