Khi tôi chưa đến nơi này

Hiền ngoan thiệt lòng. không rõ ràng gì về nó cả. Nơi chốn ấy lạ như việc đợi xe bus mà mãi hoài chẳng thấy chuyến nào chạy qua…

‘Ngoài kia là một khu rừng, rối loạn và nhầm nhọt ở khắp nơi, cơ chừng chẳng ai quan tâm, thế ai chịu trách nhiệm ở đây thế?’ Bài hát chủ đề nhấn nhá phi lý It’s Jungle Out There trong bộ phim truyền hình nhiều tập xuyên suốt mang tên Monk (2002-2009) đi hết 8 mùa. Biết bao tâm trạng dập dồn, đè nén.

Và cô bé con chẳng hề chịu đựng chút mệt mỏi nào, trên tầng cao chung cư, hồn nhiên tin tưởng vào sự sống nên cứ quyết tưới chăm cho một cây con đã khô héo hoàn toàn.

Rồi tình yêu lại nảy nở giữa hai vị đã có tuổi, chuyện đàn ông mí đàn bà sinh sự quả bi hài rất đời trần thế. Vị dành năm tháng để chuẩn bị cho những gì khá khó xảy đến, vị mua đồ về chất trong phòng mà nào dùng đến…. The Tomorrow Man (2019) mang hơi hướng đỡ nâng cho một cái gì da diết lại từ đầu.

Tuổi trẻ thì tí tởn rằng thì là bầu trời xám xịt và gió lạnh song trong lòng tôi đang như tia nắng ấm… (Like A Holiday), tựa bài hát mở đầu phim One Last Night (2018). Một đêm từng diễn ra với rạp chiếu bóng cùng diễn biến hẹn hò ngộ nghĩnh.

Tin vui là vẫn còn đó nghệ thuật vấn vương (Art of Falling in Love, 2019) nên chi Hello, Love, Goodbye (2019) tìm thấy ở Hongkong mà tôi chưa ghé tới.

Lý do luôn luôn có sẵn, và lý do luôn luôn đúng

Không ít lần, dù chưa có sẵn ý tưởng chi cả song vẫn khởi thảo bài viết chỉ vì muốn dùng cho vơi dần hết ảnh chụp minh hoạ còn sót lại trong máy tính. Câu cửa miệng ưa thích lâu nay của bản thân được lấy làm bằng: lý do luôn luôn có sẵn, và lý do luôn luôn đúng.

112 năm và 259 ngày là kỷ lục thế giới ghi nhận cho cụ ông Nhật Bản hiện cao tuổi nhất quả đất: Masazo Nonaka, người vẫn tự mình di chuyển hàng ngày trên chiếc xe lăn. Bí quyết sống thọ là xơi bánh ngọt và tắm nước suối nóng. Đọc ở đâu quên mất tiêu, rằng hình như tính trung bình con người hiện tồn khoảng 79 tuổi.

Vậy nếu lý trí lẫn cảm xúc đều cùng tác động tới việc ra quyết định thì rốt ráo, cái nào quan trọng hơn nhỉ, và kinh nghiệm thì quý vị xử lý thế nào ổn thoả.

Mà nguy cơ (xác suất của điều chắc chắn nào đó) thì bằng may rủi nhân với bộc lộ. Phơi nhiễm bao nhiêu đây, với một hành vi, tiến trình, sản phẩm,… nào đấy.

Những hôm mưa gió giở giời, lúc tinh thần đi xuống hoặc thất bại te tua, hay đơn giản cảm thấy oải thì càng cần thiết bửu bối đút túi quần thường trực: câu khẩu hiệu của riêng mình.

Và chúng ta tiếp tục tăng cường khám phá trong đời sống hàng ngày để học cách tiếp cận với một ý tưởng mới mẻ hoặc ghi nhận một lối suy nghĩ tân kỳ: sáng tạo.

Loạn thần và Phân ly: ‘tình trong như đã’…

Trong tâm tưởng dân chúng nói chung, loạn thần cơ chừng đã là cái tên gây nhiều hoảng sợ, cặp đôi với phân ly nữa thì quá dễ làm dấy lên những nghi ngại vô cùng kinh hoàng.

Cả thập niên trôi qua rồi mà vấn đề cần sa gây loạn thần vẫn chưa thể đưa ra lời cuối dứt khoát, đủ thấy câu chuyện dây dưa khủng khiếp với nhiều hệ luỵ khó lường. Thực tiễn lâm sàng cũng ghi nhận việc người ta mắc loạn thần và thái độ kháng cự dùng thuốc. Tiếp cận loạn thần như kết quả của sang chấn và các hiện tượng tinh thần thì đối lập với chuyện chú mục vào bộ não, mô hình thực nghiệm và y khoa của căn bệnh tâm thần; và nếu thế, liên quan tới các kỹ năng học hỏi. Trải nghiệm tâm thần và phân ly trong trạng thái loạn thần cũng sẽ được trình bày ở đây.

Kỹ năng học hỏi và loạn thần

Những khác biệt rõ rệt giữa trải nghiệm ảo giác và hoang tưởng giúp giải thích tại sao các đặc trưng này có khả năng cải thiện nhờ thuốc. Lưu ý rằng, ảo giác và các trục trặc cảm xúc như hoang tưởng là các trải nghiệm nội tạng, và vì thế, chúng có thể liên quan nhiều tới hoá chất bất thường ở não mà từ đó loạn thần xuất hiện. Tuy vậy, các vấn đề nhận thức và xã hội thì lại phụ thuộc vào trải nghiệm trong các thế giới tinh thần và vật chất.

Khi trao đổi nhận thức ở một người mắc tâm thần phân liệt (TTPL), khó khăn trong tư duy của họ là hiển nhiên. Các liên kết lỏng lẻo, từ rối rắm, và câu cú nghèo nàn là vài ví dụ chứng tỏ những khó khăn nhận thức ở những người loạn thần. Một thực tế hiếm khi được xem xét là những người mắc TTPL đối phó với trải nghiệm chưa hề từng được khám phá, nó mới tinh, và không hề dễ dàng để sự nỗ lực của người mắc TTPL hiểu về mặt nhận thức sự thao túng của trải nghiệm loạn thần. Tại sao thiên hạ mong đợi người mắc TTPL có khả năng nghĩ đến những trải nghiệm không phổ biến và không theo chuẩn tắc nhỉ. Không có cơ sở thực tế, không có truyền thống tư duy đích thực đặng cho phép người mắc TTPL suy nghĩ thật hiệu quả về loạn thần.

Các yếu kém rõ ràng về mặt xã hội ở người mắc TTPL phụ thuộc vào trải nghiệm trong thế giới vật chất. Do xu hướng mắc loạn thần xuất hiện ở tuổi vị thành niên và mới lớn, có những hoạt động rất thiết yếu từ khía cạnh phát triển bị buộc phải thoả hiệp do sự chín chắn về mặt xã hội. Dùng cách diễn giải của Erikson về các giai đoạn phát triển xã hội, khi TTPL xuất hiện, cá nhân ở giai đoạn ‘bản sắc đối chọi với sự rối rắm về vai trò’, hoặc giai đoạn ‘gần gũi đương đầu với cô lập’. Loạn thần dẫn tới các trục trặc trong sự hình thành nhân cách và tha hoá liên nhân. Điều này e chừng là do trải nghiệm không chuẩn tắc và trải nghiệm kiệt quệ về mặt xã hội.

Cơ bản, các kỹ năng xã hội và nhận thức yếu kém ở người mắc TTPL bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm không chuẩn tắc, và các ảo giác lẫn hoang tưởng gây hiệu ứng nhân quả tới sự nhận thức lệch lạc và thiếu hụt kỹ năng xã hội. Nếu ảo giác và hoang tưởng có thể giảm bớt ngay từ sớm trên tiến trình mắc TTPL, có thể trải nghiệm không chuẩn tắc này sẽ không gây rắc rối cho các kỹ năng xã hội và nhận thức. Rõ là, hoang tưởng và ảo giác liên quan nhân quả tới kỹ năng nhận thức và xã hội. Bất luận thế nào, hoạt động nhận thức yếu kém và kỹ năng xã hội hạn chế phụ thuộc vào trải nghiệm không chuẩn tắc trong thế giới tinh thần.

Nói gọn thì các kỹ năng xã hội và nhận thức kém cỏi là kết quả của khả năng học hỏi bị giảm sút. Tuy thế, các kỹ năng nhận thức có thể được phản ánh ở siêu nhận thức (meta-cognition) vì nó liên quan tới loạn thần. Nâng cao nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về loạn thần có thể cho phép người mắc TTPL tách rời khỏi trải nghiệm loạn thần của vị ấy. Điều này có thể chứng thực là trị liệu. Tương tự, hướng dẫn các kỹ năng xã hội có thể cũng đem tới lợi lạc trị liệu. Do những thiếu hụt trong học hỏi, các kỹ năng nhận thức và xã hội kém cỏi có năng lực đáp ứng với việc học, và đây là tương quan dương tính với thực tế là các kỹ năng xã hội và nhận thức được hình thành. (còn tiếp)

J. Soi (41): Khởi đi từ nơi chốn nào…

Như những con người, chúng ta có ao ước từ thuở ban sơ là thuộc về. Ai đó thì có thể gọi đấy là trạng thái lãnh thổ, địa hạt; một cảm giác sở hữu, hoặc kiểm soát…

Mình bước vào giường và nằm ở tư thế quen thuộc, hoặc dàn xếp một chỗ ngồi ưa thích nơi góc phòng rồi nảy sinh cảm nhận “Mình (cho là) đang ở đây”; cái gì đấy rất thoải mái và yên an về thứ cảm nhận kiểu vậy. Mình ở đúng nơi cần thiết và thích thú có mặt, đích thị thuộc về chốn đấy.

Và dù mọi quan hệ đều trống không tự bản chất, người ta thường đi tham vấn để chia sẻ cảm giác bơ vơ của sự cô đơn, không chỉ cảm giác chẳng ai xung quanh mà sự lẻ loi mang tính hiện sinh, cảm giác ‘mình rốt ráo đơn chiếc trên cuộc đời này’… Dĩ nhiên, có nhiều cách biểu đạt và cảm nhận: do hiểu biết sai lạc, vì chia ly, từ việc lớn lên; tất thảy chúng ta đều bắt gặp ít nhiều khoảnh khắc ngậm ngùi pha chút thảng thốt ấy, ngay cả bao quanh là cả trăm người yêu thương thì cũng vẫn cứ cảm nhận tựa vậy.

Nếu đúng là người ta cảm thấy cô đơn mọi lúc, và đơn giản vì sự kiện ấy thì nó là ý tưởng xứng đáng được nhấn mạnh đúng mức. Lý trí quả là điều đẹp đẽ, có một phương thức quỷ quái về cái khó tưởng bàn cặn kẽ song chúng ta có thể chia sẻ nó.

Wow, làm sao đương đầu với cảm giác cô đơn đó đây? Một ý tưởng ứng dụng thiết thực: vun bồi, hoặc quay về, hướng tới các nơi chốn mình cảm thấy thuộc về. Cảm nhận về nơi chốn dễ tạo nên quyền năng lớn lao. Tỷ dụ, chỉ cần cân nhắc khác biệt giữa ngôi nhà của người bạn và tổ ấm của riêng mình. Hoặc đỉnh núi cao thân quen so với vỉa hè chung đụng đầy người xa lạ. Các nơi chốn rót đổ vào lòng chúng ta nguồn năng lượng sinh động, tưởng tượng năng lượng mình có thể đón nhận từ một nơi chốn mình thực sự như ở nhà.

Không ác cảm cũng chẳng dính bám với bất kỳ thứ gì, nơi chốn nào thái quá. Bởi há chẳng phải mối quan tâm chủ yếu của chúng ta là dẫm chân, đặt thân vững vàng trong thực tế, vào những gì chúng ta có thể nhìn thấy, nhận ra. Chúng ta khó thỏa mãn với kiểu dạy dỗ các nguyên tắc căn bản không những vô tri mà còn chẳng thể tưởng bàn được. Đấy là lý do tại sao chúng ta vun bồi sự hài lòng: đơn giản sống hạnh phúc cùng những gì đang là, ở đây và ngay bây giờ. Dựa vào thực tế của hiện tại, không vào tương lai tưởng nghĩ nào đó. Nếu học hỏi để hài lòng ngay lúc này, mình có thể mang theo cùng nó đến bất cứ chốn nao.

Nghiên cứu gần đây nhất vén lộ chút bí mật về cội nguồn của các tế bào đầu tiên hàng tỉ năm về trước thông qua tìm hiểu quá trình trao đổi chất: sự sống cơ chừng khởi đi từ chỗ không có gì.

Đâu là nơi, bạn và tôi, chúng ta thuộc về?

Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.

Stress, trí nhớ có vấn đề, hay trạng thái phân ly?

Suốt một ngày dài bình thường làm việc miệt mài, chúng ta tham gia cả đống các hoạt động và dấn mình cùng vô vàn suy nghĩ; hầu hết chúng khá nhỏ nhặt, quen thuộc đến độ bộ não không nhất thiết ghi nhận thật chính xác. Vào lúc kết thúc và đóng cửa văn phòng, bao nhiêu công tắc mình bật tắt? Mấy người ta chào hỏi ở nơi giao dịch công cộng?

Cảm thấy thời gian trôi quá nhanh và đôi lúc, ngồi hồi tưởng cũng khó hình dung rõ ràng… Trải nghiệm đang cảm nhận là bình thường. Năng lực của người khác nhắc nhở làm đào sâu các ký ức trong ngày cũng bình thường. Tỷ dụ, chúng ta chắc không thể nhớ tất cả tên tuổi những ai mình đã chuyện trò ngày đó, song nếu có người nhắc về lần gặp gỡ với họ, não bộ dễ gợi lại dịp tiếp xúc…

Song nếu mình cảm thấy cao hơn mức độ trung bình các khó khăn với vấn đề hồi nhớ, stress có thể là thủ phạm, chẳng phải rối loạn định dạng phân ly. Stress có tác động vào hóa sinh của não bộ, ảnh hưởng đến các chức năng chú ý và trí nhớ. Người mắc trong tình huống và môi trường stress hay thấy thổ lộ những chuyện liên quan cả việc chú ý lẫn hồi nhớ ký ức. Khi stress, bộ não vận hành rất nhanh và dính líu sâu xa với các sự vụ stress đến độ không ghi nhận tốt các sự kiện thông thường. Một bộ não bị stress cũng không giám sát ổn thỏa các hoạt động, làm nảy sinh sự quên lãng và cảm nhận mình đang rơi vào trạng thái ‘đãng trí’: quên chìa khóa nhà, không tìm thấy cốc café hay uống, đánh mất USB, v.v…

Phân ly (dissociation) thuộc vô thức và nói chung là tình huống không dự kiến làm đứt gãy, ngắt quãng sự kết nối bình thường giữa các suy tư, ký ức, cảm xúc, hành động hoặc cảm nhận về bản dạng cá nhân. Một số, chắc chắn không phải tất cả, ví dụ về phân ly có liên quan đến các giai đoạn mất trí nhớ (amnesia). Dù người ta trải nghiệm các trạng thái phân ly với nhiều dạng kiểu khác nhau song thường có tiền sử việc bị lạm dụng sâu sắc hoặc/ và gặp sang chấn; các tình huống và tác nhân gây stress khác có thể cũng đào sâu các giai đoạn phân ly.

Phân ly cơ bản có thể được xem như một cơ chế phòng vệ nguyên thủy chống kháng với nỗi đau đớn cảm xúc. Dù nó có thể hiệu quả đặc biệt trong việc cung cấp vài ba lượng định tách biệt nhằm kháng cự với sang chấn trong ngắn hạn, nó tự thân là vấn đề đáng lo khi lạm dụng thái quá như cách để ai đó cách ly mình khỏi nỗi đau đớn cảm xúc, và nó còn có thể đặt để nhiều vấn đề buộc cá nhân nỗ lực học hỏi đặng hiểu biết phương thức đương đầu với các stress đời sống và công việc xảy đến vào các thời điểm khó khăn trong các quan hệ liên nhân cách.

Một số biểu hiện phân ly hay gặp như quên bẵng thời gian, không nhớ về sự kiện, cảm giác tan rã nhân cách và mất đi cảm nhận bình thường về cái tôi có thể gây phiền nhiễu cho chính bản thân đối tượng trải nghiệm.

Phơi lộ và làm việc thông qua các xung đột cảm xúc chưa được giải quyết là những gì trị liệu tâm lý quan tâm nhắm đến. Song lắm lúc, đối diện và trải nghiệm lại các vấn đề gây stress vừa phải thôi cũng đủ kích hoạt các phòng vệ. Dù các cảm nhận và trải nghiệm là căng thẳng, phiền phức thì chúng không hề nguy hiểm và nên làm tiêu tan đúng lúc khi đương đầu rồi giải quyết với các tình huống gây sợ hãi. Nhịp điệu thích hợp là điều cần để tâm trong tiến trình phải đương đầu với các vấn đề nan giải, theo một cách thức không quá mức gây ra stress khủng khiếp cho thân chủ. Ghi chú các kiểu dạng stress xuất hiện lúc gợi lên các phản ứng phân ly là cách hay trong trợ giúp và xác lập các vấn đề cần thiết dành sự quan tâm nhất.

Về một sự nghiện ngập mềm dịu

Thường nhắc đến sự nghiện ngập, đa phần chúng ta nghĩ về các chất như cocaine, heroin, và bia rượu. Những thứ này là loại nghiện ngập chắc cứng. Song quá nhiều người không hề cho rằng các hành vi mềm dịu mang tính nghiện ngập có thể tạo nên vô vàn rắc rối cũng như gây ra nhiều phiền nhiễu khiến chúng ta mất đi bản tính cao quý.

Các loại nghiện ngập mềm dịu có thể là hành vi như lướt mạng, chơi game, xem TV, đọc sách, mua sắm, làm việc bất kể ngày đêm, phàn nàn, buôn dưa, trì hoãn lần lữa, và nhiều thứ khác mà chúng ta hay thực hiện quá mức.

Tất cả chúng ta lao mình vào các dạng nghiện ngập mềm dịu với sắc thái, tầng mức khác nhau, thậm chí một số chúng là tích cực; một số thứ là lớn lao song mặt khác nếu tiến hành trong trạng thái cưỡng bức, cực đoan thì có thể tàn phá chúng ta.

Lực thúc đẩy đằng sau mọi nghiện ngập, kể cả nghiện ngập mềm dịu, là sự truy cầu để tê liệt, lờ đi, vượt thoát, hoặc đè nén các suy tư lẫn cảm xúc khó chịu. Rồi chúng ta dùng các hoạt động này một cách xung hấn, lặp đi lặp lại không ngừng để khiến chính mình bị xao nhãng hoặc lảng tránh các cảm xúc, suy tư vô thức/ ý thức. Điều này có thể mang lại một cảm nhận phấn khích, gây phóng thích chất endorphin, và tạo ra một sự sự trốn thoát tạm thời nỗi đau đớn trong lòng.

Song ở tầm mức nhất định, hành vi như thế làm đời sống càng khó khăn hơn, tạo nên kháng cự và chi phối, phá hủy và thỏa hiệp với nhiều khía cạnh khác nhau trong đời; bao gồm công việc, các mối quan hệ, và trạng thái thân- tâm an lạc, cũng như các hoạt động khác và một cuộc sống xác quyết đầy niềm vui, hoan lạc. Chúng ta trả giá cho các dạng nghiện ngập bằng tiền bạc và thời gian, làm chết điếng đời sống nội tâm, và khóa tắt luôn ý thức của bản thân. Đặc biệt, đáng chú ý không kém, các hành vi nghiện ngập kéo chúng ta ra khỏi việc sống hoàn mãn, tràn đầy như nó vốn có.

Điều hữu ích nhất mình có thể tiến hành khi đang đương đầu với bất kỳ loại nghiện ngập nào là thấu biết đời sống nội tâm chính mình: nhận ra và sống cùng với các suy tư, cảm xúc của bản thân. Với một số người, đấy có thể là chuyện khá khủng khiếp, đe dọa họ khi thoáng nhìn mù mờ về đời sống nội tâm bí ẩn cùng với mớ rối rắm của các suy tư, ý nghĩ hỗn độn.

Để thấu hiểu sâu sắc các cảm xúc lẫn suy tư ẩn bên dưới đã dẫn dắt hành vi nghiện ngập, cần định hình và làm việc không ngừng nghỉ với thói quen lập trình cá nhân đang níu giữ, giam hãm mình; được thế, chắc chắn sẽ tạo nên một bước tiến bộ vượt bậc.

Có rất nhiều nguồn lực trợ giúp chúng ta trên tiến trình. Huấn luyện, hướng đạo, tâm lý trị liệu, các chương trình 12 bước, thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation), chữa lành năng lượng, và các loại sách tự trợ (self-help books)…

Não trạng của bạn như nào?

Mọi sinh thể đều có tiềm năng lớn lên và triển nở, song con người không hoàn toàn học hỏi để tựu thành được điều ấy.

Với kẻ có não trạng bất động thì họ nhìn các năng lực của mình như thực thể cố định. Họ thường cảm nhận về sự thất bại của bản thân như hậu quả của những năng lực thiếu hiệu quả để thực hiện tốt đẹp mọi sự. Họ diễn giải và nghĩ hiểu về trải nghiệm thông qua các kiểu dạng gọi là quy cho.

Người mang não trạng cố định có kiểu dạng của sự học hỏi vô vọng: họ quy thành công nhờ các yếu tố bên ngoài, không cho mình có thể gây ảnh hưởng, và nhìn thất bại như sự thiếu hụt của bản thân. Họ không hề ý thức rằng các thất bại thường là hệ quả của nỗ lực chưa tới cùng.

Với người có não trạng triển nở, các năng lực được xem như phát triển không ngừng. Họ tin mình có thể cải thiện bản thân nhờ làm việc chăm chỉ. Họ biết các mục tiêu dễ đạt được với sự nỗ lực đúng mức, và nỗ lực là chuyện thưởng phạt. Họ quy thành công vào các yếu tố nội tại như các năng lực riêng có và họ tin mình có quyền lực gây ảnh hưởng.

Người mang não trạng triển nở lại theo các dạng quy cho hướng tới việc nắm vững, tỷ dụ: “Tôi biết mình có thể đạt được mục tiêu này với sự nỗ lực đúng mức”. Như thế, người ta tin mục tiêu nằm trong vùng làm chủ của họ. Người ấy cũng hay quy cho việc thất bại hoặc kết quả tiêu cực là do chưa đủ nỗ lực thích đáng.

Thiên hạ có thể phát triển một não trạng cố định hoặc não trạng triển nở; điều ấy phụ thuộc vào cách thức họ học hỏi khi nhìn nhận mình và các năng lực bản thân. Họ có thể thay đổi hoặc xem xét lại các não trạng khi những trải nghiệm học hỏi mới mẻ xảy đến. Từ thuở bé tí, trẻ nhỏ bắt đầu khởi sự phát triển não trạng riêng, khi chúng trải nghiệm cách chúng tác động lên thế giới và lối những người khác đáp ứng chúng.

Trẻ em có thể nội tâm hóa các kỳ vọng của bố mẹ và thầy cô giáo. Những mong đợi của người khác đóng vai trò như những tiên đoán tự diễn biến đến độ chúng ta nỗ lực hoàn thành các kỳ vọng ấy. Chẳng hạn, nếu bố mẹ mong đợi và nhìn nhận năng lực của con cái là không ổn thỏa thì rồi đứa trẻ có thể cũng tưởng nghĩ tương tự.

Sự ca tụng, tán dương cũng phụ thuộc vào sự phát triển não trạng. Bất chấp các niềm tin thông thường cho  ca tụng năng lực đủ sức thúc đẩy người ta, nghiên cứu cho thấy lời khen ngợi trẻ vì sự nỗ lực, gắng sức thúc đẩy trẻ nhiều hơn là khen ngợi nó vì năng lực. Nếu người ta tán tụng vì năng lực, chúng sẽ ít bày tỏ sự kiên trì bền chí, thực hiện nhiệm vụ với ít niềm vui thú hoặc vắng bóng động cơ, chúng giảm thiểu phong độ và quy kết lắm tiêu cực nhiều hơn.

Theo tác giả Carol Dweck, nếu người ta có não trạng cố định, họ hay nảy sinh ngờ vực chính mình. Họ nhìn các năng lực bản thân như một thực thể cố định và do vậy, ghi nhận các thất bại như vấn đề của sự thiếu hụt từ cá nhân mình. Quá dễ tưởng tượng sự quy kết vậy gây nên sự căng thẳng đến thế nào. Một não trạng cố định có thể khiến người ta nhanh chóng bỏ cuộc, bởi vì họ không hề nhận thấy rằng thành công là chuyện nỗ lực đúng mức.

Người có não trạng cố định hiếm khi thách thức bản thân hoặc thử kiếm tìm các giải pháp mới cho một vấn đề, bởi vì họ e ngại thất bại hoặc thấy mình sai. Đừng quên, nếu họ sai, họ chỉ đổ tội là do chính mình thôi. Người có não trạng triển nở thì chỉ quy về chuyện đã không nỗ lực đúng mức.

Vậy, não trạng bạn như nào? Cách thức độc giả đương đầu với các thách thức ở đời, mức độ duy trì sự kiên trì theo đuổi mục tiêu đặt định? Liệu bạn có nghĩ rằng chúng ta đủ khả năng để thay đổi và tạo tác lại não trạng bản thân, và đâu là trải nghiệm riêng có của chính bạn?

Đời cạnh tranh và quá bí bét, làm sao tránh stress?

Một cô gái trẻ sau khi tốt nghiệp đại học, đã đi làm được một thời gian rồi chợt than vãn về đời sống không rõ nên diễn biến như nào, rằng cô ấy chỉ không thấy hài lòng với những gì đang hiện diện, hỏi cô ấy muốn gì thì nhận được lời tự thú thiệt tình là không biết.

Tôi nghĩ đến nỗi trầm buồn hiện sinh. Stress cấp tính đòi hỏi đáp ứng thích nghi hết sức cao độ, song theo thời gian, nó trở nên mãn tính rồi một lúc nhất định, đòi buộc chúng ta phải suy nghĩ lại lối sống của bản thân. Stress là cái đinh chi mà thiên hạ cuống cuồng hoặc thầm lặng chịu đựng thật đớn đau cả thân lẫn tâm đến vậy?

Đời sống khả năng cao là luôn làm ta căng thẳng tinh thần, gây stress quá dễ dàng. Nói chung là hoàn toàn đúng đắn stress bộc phát nhanh chóng, song loại cấp tính kiểu thế có thể chuyển thành thói quen thâm căn cố đế, và chúng ta cần suy nghĩ lại những cách thức làm mọi điều sao đủ vượt qua và chế ngự nó. Stress mãn tính tạo nhiều hiệu ứng khắc nghiệt lên sức khỏe và trạng thái an lạc của chúng ta. Stress làm tăng thêm các hoạt động sinh lý cao độ và khiến mình thường xuyên thao thức, khó chợp mắt. Tác động đến hệ thần kinh, cơ thể phóng thích các hormones gây stress dưới nhiều dạng thức. Đáp sứng stress căn bản là đáp ứng mang tính thích ứng về mặt cơ thể, song stress cấp tính để lại nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng lên thân xác.

Quá nhiều sự kiện trong đời là tác nhân của bức bối, áp lực, căng thẳng, mệt mỏi…; các stressors này đặt để nguy cơ phát triển stress, nhất là nếu chúng ta không có các nguồn lực tâm lý đảm bảo xử lý chúng. Thực tế, một số người có khả năng chịu đựng stress cao hơn kẻ khác. Người ta cũng khác nhau trong các cách hiểu về stressors.

Nghiên cứu cho thấy, người gặp stress khuyến khích não trạng trải nghiệm thì có các mức độ hormone stress thấp hơn người nhìn nhận stress một cách quá tiêu cực.

Lý thuyết kích hoạt nhận thức về stress giúp giải thích đáp ứng stress; theo đó, chúng ta cảm thấy stress bất kỳ lúc nào có sự thiếu nhất quán giữa giá trị mình đặt để và giá trị đích thực của bản thân. Ví dụ, chúng ta bị stress nếu đụng hạn cuối cùng phải hoàn thành công việc mà mình lại không đủ khả năng đáp ứng đúng đắn. Chúng ta bị thúc đẩy làm giảm thiểu, hạ xuống sự thiếu nhất quán giữa các giá trị đặt để và các giá trị thực của bản thân.

Từ ví dụ nêu trên, chúng ta có thể thực hiện bằng việc tăng cường mức tải làm việc đến độ đảm bảo mọi thứ hoàn thành đúng thời hạn, song điều này dễ cảm nhận là không phải giải pháp vững bền. Chúng ta thường thành công trong ngắn hạn, còn với đường trường dài lâu thì e khá hiếm hoi, do chúng ta khốn khổ bởi stress cấp tính. …

Đáp ứng stress có thể được điều hướng bởi khả năng phục hồi tâm lý; khả năng này chịu đựng các stressors môi trường, và nó thông qua các chiến lược đối phó, đương đầu hữu hiệu mà nhờ thế mình xây dựng được khả năng phục hồi. Nếu các chiến lược đối phó không thích ứng và không hiệu quả, mình sẽ làm tăng thêm nguy cơ phát triển stress. Mình có thể cố sức để thích ứng chiến lược đối phó với tình huống cụ thể đủ đương đầu hiệu quả nhất. Khi bị stress tấn công, mình có thể khởi sự cảm thấy mất tập trung, và chẳng có điều chi mình có thể tiến hành ngõ hầu tránh né hoặc cải thiện được tình hình: dạng thức vô vọng.

Chúng ta không có các nguồn lực vô tận để giải quyết các tác nhân gây stress; chỉ có thể làm tốt nhất để thích ứng với môi trường gây căng thẳng mà thôi. Nếu có quá nhiều giá trị đặt để xa vời, phi thực tế, bất kể vì tạo ra chúng cho bản thân hoặc vì tình huống công việc đòi hỏi, chúng ta nên cân nhắc tác động chúng gây nên thân- tâm chúng ta. Mong đợi quá mức vào chính mình, hoặc mức tải việc khủng khiếp? Bằng cách nào nó tác động tới tâm trí và thân xác chúng ta? Nên nhận rõ điều này. Gần đây nhất bạn cảm thấy stress? Bạn đối phó với nó như thế nào?

Học hỏi từ trải nghiệm: nói lại cho rõ

Cách tốt nhất để học hỏi là từ trải nghiệm, song tự thân trải nghiệm không thôi thì không đảm bảo toàn bộ câu chuyện. Học hỏi không thuần túy chỉ là chuyện giáo dục hoặc trải nghiệm; chúng ta cần cả khuyến khích sự phát triển cá nhân nữa.

Có thể rất khó nhằn để học hỏi từ trải nghiệm. Cơ chừng đe dọa chúng ta, trải nghiệm dễ khiến ta thấy yếu ớt hoặc tự nghi ngờ bản thân, song chính nó lại cũng làm ta mạnh mẽ hơn lên. Thông thường, những gì trải nghiệm đem đến là định dạng con người đang là của chúng ta.

Tôi tin, đa phần chúng ta thấy rằng hầu hết trải nghiệm cho mình một cơ hội để phát triển cá nhân, song để tận dụng lợi thế ấy, chúng ta cần suy nghĩ về cách thức bằng cách nào trải nghiệm có thể tạo điều kiện cho mình học hỏi.

Tỷ dụ, một người đàn ông gặp khó khăn lớn trong công việc. Anh ta bắt đầu nghĩ bản thân là vấn đề. Các đồng nghiệp truyền gửi thông tin ngấm ngầm rằng anh  ta chắc đang phải “rất khổ sở, mất ăn mất ngủ”. Anh ta tin họ để rồi tự mình đổ tội. vơ mọi thứ vào mình. Anh ta không tìm thấy lối thoát và vì thế, rốt cuộc, xin nghỉ việc.

Làm thế nào trải nghiệm làm dễ dàng và thuận lợi hơn cho việc học hỏi? Thay vì nghỉ việc, anh ta có thể suy tư: “Những nguyên nhân nào tạo nên các khó khăn này, và làm cách nào tôi/ chúng ta có thể thay đổi hoặc cải thiện được tình hình đây?”. Cơ chừng, anh ta đã đúng khi ra quyết định nghỉ việc. Cơ chừng, anh ta cho việc bỏ đi là giải pháp dễ hơn nhiều. Quan điểm cá nhân ở đây, chúng ta hay để nhỡ, đánh mất rất nhiều cơ hội để học hỏi, đơn giản chỉ bởi vì chúng ta quên phản tư:

Học hỏi từ trải nghiệm là một trong những phương tiện căn cốt và tự nhiên nhất tương hợp với tất thảy mọi người… Tất cả điều nó đòi hỏi chỉ là phản tư và suy nghĩ, tự mình thôi hoặc với sự cộng tác, hợp sức của người khác.

Theo lý thuyết học hỏi từ trải nghiệm, chúng ta hiểu biết thông qua vòng tròn học hỏi. Trải nghiệm của chúng ta phục vụ nền tảng cho việc phản tư (reflelctions). Từ những trầm mặc suy nghĩ đó, chúng ta phát triển các ý tưởng về thế giới. Rồi chúng ta kiểm tra, trắc nghiệm xem chúng có đích thực là sự thật, và rốt ráo chúng ta có một trải nghiệm mới mẻ. Vòng tròn trải nghiệm không nhất thiết khởi từ trải nghiệm, chẳng hạn, chúng ta có thể nảy sinh ý tưởng mình muốn test thôi:

Suy nghĩ… là nỗ lực được dự tính trước nhằm khám phá những nối kết đặc thù, cụ thể giữa điều gì đó chúng ta thực hiện với các hậu quả tác thành, đến độ cả hai thứ ấy cứ thế tiếp diễn không ngừng (Dewey, 1916).

Có thể ít nhiều tán đồng ngay rằng “học hỏi là phương tiện nhờ thế chúng ta đạt được không chỉ kiến thức và kỹ năng mà còn cả giá trị, thái độ và phản ứng mang tính xúc cảm nữa” (p.4).

Theo đó, học hỏi là sự thay đổi dài hạn trong sự biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí như kết quả của trải nghiệm. Từ định nghĩa, nó gồm ba phần: 1) học hỏi là sự thay đổi dài hạn: nếu nó không phải là việc sử dụng thông tin ngắn ngủi, thoáng qua như kiểu ghi nhớ số điện thoại đủ để gọi cho ai đó rồi quên đi thì rõ ràng nó không cần phải lưu tâm mãi mãi. 2) học hỏi là những biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí vì thế nó cơ chừng đặt để nền tảng ở não bộ. 3) học hỏi là một sự thay đổi như kết quả của trải nghiệm, hơn là tựu thành của sự trưởng thành về mặt sinh lý, trạng thái mỏi mệt, dùng bia rượu ma túy, đang cơn mắc bệnh tâm thần hoặc mất trí nhớ.

Chúng ta cần phản tư trải nghiệm bản thân để khuyến khích việc học hỏi suốt đời và phát triển cá nhân, do vậy, trải nghiệm tự thân nó không thôi chưa đủ:

Khi chúng ta kinh qua một trải nghiệm, điều ấy không luôn luôn dẫn tới những hiểu biết và học hỏi mới mẻ. Ví dụ, nếu trải nghiệm chỉ phục vụ nhằm xác nhận một vài niềm tin mình vốn quen nắm giữ thì nó sẽ đóng vai trò diễn giải đặng hỗ trợ cho nhận thức nguyên trạng bấy lâu mà thôi (tham khảo lý thuyết nhận thức của Piaget), và nó ít chú ý tới sự đáng giá của trải nghiệm. Nếu chúng ta không chú tâm vào thì cơ hội học hỏi mới mẻ sẽ không hề xảy ra (pp. 15-20).