J. Soi (41): Khởi đi từ nơi chốn nào…

Như những con người, chúng ta có ao ước từ thuở ban sơ là thuộc về. Ai đó thì có thể gọi đấy là trạng thái lãnh thổ, địa hạt; một cảm giác sở hữu, hoặc kiểm soát…

Mình bước vào giường và nằm ở tư thế quen thuộc, hoặc dàn xếp một chỗ ngồi ưa thích nơi góc phòng rồi nảy sinh cảm nhận “Mình (cho là) đang ở đây”; cái gì đấy rất thoải mái và yên an về thứ cảm nhận kiểu vậy. Mình ở đúng nơi cần thiết và thích thú có mặt, đích thị thuộc về chốn đấy.

Và dù mọi quan hệ đều trống không tự bản chất, người ta thường đi tham vấn để chia sẻ cảm giác bơ vơ của sự cô đơn, không chỉ cảm giác chẳng ai xung quanh mà sự lẻ loi mang tính hiện sinh, cảm giác ‘mình rốt ráo đơn chiếc trên cuộc đời này’… Dĩ nhiên, có nhiều cách biểu đạt và cảm nhận: do hiểu biết sai lạc, vì chia ly, từ việc lớn lên; tất thảy chúng ta đều bắt gặp ít nhiều khoảnh khắc ngậm ngùi pha chút thảng thốt ấy, ngay cả bao quanh là cả trăm người yêu thương thì cũng vẫn cứ cảm nhận tựa vậy.

Nếu đúng là người ta cảm thấy cô đơn mọi lúc, và đơn giản vì sự kiện ấy thì nó là ý tưởng xứng đáng được nhấn mạnh đúng mức. Lý trí quả là điều đẹp đẽ, có một phương thức quỷ quái về cái khó tưởng bàn cặn kẽ song chúng ta có thể chia sẻ nó.

Wow, làm sao đương đầu với cảm giác cô đơn đó đây? Một ý tưởng ứng dụng thiết thực: vun bồi, hoặc quay về, hướng tới các nơi chốn mình cảm thấy thuộc về. Cảm nhận về nơi chốn dễ tạo nên quyền năng lớn lao. Tỷ dụ, chỉ cần cân nhắc khác biệt giữa ngôi nhà của người bạn và tổ ấm của riêng mình. Hoặc đỉnh núi cao thân quen so với vỉa hè chung đụng đầy người xa lạ. Các nơi chốn rót đổ vào lòng chúng ta nguồn năng lượng sinh động, tưởng tượng năng lượng mình có thể đón nhận từ một nơi chốn mình thực sự như ở nhà.

Không ác cảm cũng chẳng dính bám với bất kỳ thứ gì, nơi chốn nào thái quá. Bởi há chẳng phải mối quan tâm chủ yếu của chúng ta là dẫm chân, đặt thân vững vàng trong thực tế, vào những gì chúng ta có thể nhìn thấy, nhận ra. Chúng ta khó thỏa mãn với kiểu dạy dỗ các nguyên tắc căn bản không những vô tri mà còn chẳng thể tưởng bàn được. Đấy là lý do tại sao chúng ta vun bồi sự hài lòng: đơn giản sống hạnh phúc cùng những gì đang là, ở đây và ngay bây giờ. Dựa vào thực tế của hiện tại, không vào tương lai tưởng nghĩ nào đó. Nếu học hỏi để hài lòng ngay lúc này, mình có thể mang theo cùng nó đến bất cứ chốn nao.

Nghiên cứu gần đây nhất vén lộ chút bí mật về cội nguồn của các tế bào đầu tiên hàng tỉ năm về trước thông qua tìm hiểu quá trình trao đổi chất: sự sống cơ chừng khởi đi từ chỗ không có gì.

Đâu là nơi, bạn và tôi, chúng ta thuộc về?

Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.

Stress, trí nhớ có vấn đề, hay trạng thái phân ly?

Suốt một ngày dài bình thường làm việc miệt mài, chúng ta tham gia cả đống các hoạt động và dấn mình cùng vô vàn suy nghĩ; hầu hết chúng khá nhỏ nhặt, quen thuộc đến độ bộ não không nhất thiết ghi nhận thật chính xác. Vào lúc kết thúc và đóng cửa văn phòng, bao nhiêu công tắc mình bật tắt? Mấy người ta chào hỏi ở nơi giao dịch công cộng?

Cảm thấy thời gian trôi quá nhanh và đôi lúc, ngồi hồi tưởng cũng khó hình dung rõ ràng… Trải nghiệm đang cảm nhận là bình thường. Năng lực của người khác nhắc nhở làm đào sâu các ký ức trong ngày cũng bình thường. Tỷ dụ, chúng ta chắc không thể nhớ tất cả tên tuổi những ai mình đã chuyện trò ngày đó, song nếu có người nhắc về lần gặp gỡ với họ, não bộ dễ gợi lại dịp tiếp xúc…

Song nếu mình cảm thấy cao hơn mức độ trung bình các khó khăn với vấn đề hồi nhớ, stress có thể là thủ phạm, chẳng phải rối loạn định dạng phân ly. Stress có tác động vào hóa sinh của não bộ, ảnh hưởng đến các chức năng chú ý và trí nhớ. Người mắc trong tình huống và môi trường stress hay thấy thổ lộ những chuyện liên quan cả việc chú ý lẫn hồi nhớ ký ức. Khi stress, bộ não vận hành rất nhanh và dính líu sâu xa với các sự vụ stress đến độ không ghi nhận tốt các sự kiện thông thường. Một bộ não bị stress cũng không giám sát ổn thỏa các hoạt động, làm nảy sinh sự quên lãng và cảm nhận mình đang rơi vào trạng thái ‘đãng trí’: quên chìa khóa nhà, không tìm thấy cốc café hay uống, đánh mất USB, v.v…

Phân ly (dissociation) thuộc vô thức và nói chung là tình huống không dự kiến làm đứt gãy, ngắt quãng sự kết nối bình thường giữa các suy tư, ký ức, cảm xúc, hành động hoặc cảm nhận về bản dạng cá nhân. Một số, chắc chắn không phải tất cả, ví dụ về phân ly có liên quan đến các giai đoạn mất trí nhớ (amnesia). Dù người ta trải nghiệm các trạng thái phân ly với nhiều dạng kiểu khác nhau song thường có tiền sử việc bị lạm dụng sâu sắc hoặc/ và gặp sang chấn; các tình huống và tác nhân gây stress khác có thể cũng đào sâu các giai đoạn phân ly.

Phân ly cơ bản có thể được xem như một cơ chế phòng vệ nguyên thủy chống kháng với nỗi đau đớn cảm xúc. Dù nó có thể hiệu quả đặc biệt trong việc cung cấp vài ba lượng định tách biệt nhằm kháng cự với sang chấn trong ngắn hạn, nó tự thân là vấn đề đáng lo khi lạm dụng thái quá như cách để ai đó cách ly mình khỏi nỗi đau đớn cảm xúc, và nó còn có thể đặt để nhiều vấn đề buộc cá nhân nỗ lực học hỏi đặng hiểu biết phương thức đương đầu với các stress đời sống và công việc xảy đến vào các thời điểm khó khăn trong các quan hệ liên nhân cách.

Một số biểu hiện phân ly hay gặp như quên bẵng thời gian, không nhớ về sự kiện, cảm giác tan rã nhân cách và mất đi cảm nhận bình thường về cái tôi có thể gây phiền nhiễu cho chính bản thân đối tượng trải nghiệm.

Phơi lộ và làm việc thông qua các xung đột cảm xúc chưa được giải quyết là những gì trị liệu tâm lý quan tâm nhắm đến. Song lắm lúc, đối diện và trải nghiệm lại các vấn đề gây stress vừa phải thôi cũng đủ kích hoạt các phòng vệ. Dù các cảm nhận và trải nghiệm là căng thẳng, phiền phức thì chúng không hề nguy hiểm và nên làm tiêu tan đúng lúc khi đương đầu rồi giải quyết với các tình huống gây sợ hãi. Nhịp điệu thích hợp là điều cần để tâm trong tiến trình phải đương đầu với các vấn đề nan giải, theo một cách thức không quá mức gây ra stress khủng khiếp cho thân chủ. Ghi chú các kiểu dạng stress xuất hiện lúc gợi lên các phản ứng phân ly là cách hay trong trợ giúp và xác lập các vấn đề cần thiết dành sự quan tâm nhất.

Về một sự nghiện ngập mềm dịu

Thường nhắc đến sự nghiện ngập, đa phần chúng ta nghĩ về các chất như cocaine, heroin, và bia rượu. Những thứ này là loại nghiện ngập chắc cứng. Song quá nhiều người không hề cho rằng các hành vi mềm dịu mang tính nghiện ngập có thể tạo nên vô vàn rắc rối cũng như gây ra nhiều phiền nhiễu khiến chúng ta mất đi bản tính cao quý.

Các loại nghiện ngập mềm dịu có thể là hành vi như lướt mạng, chơi game, xem TV, đọc sách, mua sắm, làm việc bất kể ngày đêm, phàn nàn, buôn dưa, trì hoãn lần lữa, và nhiều thứ khác mà chúng ta hay thực hiện quá mức.

Tất cả chúng ta lao mình vào các dạng nghiện ngập mềm dịu với sắc thái, tầng mức khác nhau, thậm chí một số chúng là tích cực; một số thứ là lớn lao song mặt khác nếu tiến hành trong trạng thái cưỡng bức, cực đoan thì có thể tàn phá chúng ta.

Lực thúc đẩy đằng sau mọi nghiện ngập, kể cả nghiện ngập mềm dịu, là sự truy cầu để tê liệt, lờ đi, vượt thoát, hoặc đè nén các suy tư lẫn cảm xúc khó chịu. Rồi chúng ta dùng các hoạt động này một cách xung hấn, lặp đi lặp lại không ngừng để khiến chính mình bị xao nhãng hoặc lảng tránh các cảm xúc, suy tư vô thức/ ý thức. Điều này có thể mang lại một cảm nhận phấn khích, gây phóng thích chất endorphin, và tạo ra một sự sự trốn thoát tạm thời nỗi đau đớn trong lòng.

Song ở tầm mức nhất định, hành vi như thế làm đời sống càng khó khăn hơn, tạo nên kháng cự và chi phối, phá hủy và thỏa hiệp với nhiều khía cạnh khác nhau trong đời; bao gồm công việc, các mối quan hệ, và trạng thái thân- tâm an lạc, cũng như các hoạt động khác và một cuộc sống xác quyết đầy niềm vui, hoan lạc. Chúng ta trả giá cho các dạng nghiện ngập bằng tiền bạc và thời gian, làm chết điếng đời sống nội tâm, và khóa tắt luôn ý thức của bản thân. Đặc biệt, đáng chú ý không kém, các hành vi nghiện ngập kéo chúng ta ra khỏi việc sống hoàn mãn, tràn đầy như nó vốn có.

Điều hữu ích nhất mình có thể tiến hành khi đang đương đầu với bất kỳ loại nghiện ngập nào là thấu biết đời sống nội tâm chính mình: nhận ra và sống cùng với các suy tư, cảm xúc của bản thân. Với một số người, đấy có thể là chuyện khá khủng khiếp, đe dọa họ khi thoáng nhìn mù mờ về đời sống nội tâm bí ẩn cùng với mớ rối rắm của các suy tư, ý nghĩ hỗn độn.

Để thấu hiểu sâu sắc các cảm xúc lẫn suy tư ẩn bên dưới đã dẫn dắt hành vi nghiện ngập, cần định hình và làm việc không ngừng nghỉ với thói quen lập trình cá nhân đang níu giữ, giam hãm mình; được thế, chắc chắn sẽ tạo nên một bước tiến bộ vượt bậc.

Có rất nhiều nguồn lực trợ giúp chúng ta trên tiến trình. Huấn luyện, hướng đạo, tâm lý trị liệu, các chương trình 12 bước, thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation), chữa lành năng lượng, và các loại sách tự trợ (self-help books)…

Não trạng của bạn như nào?

Mọi sinh thể đều có tiềm năng lớn lên và triển nở, song con người không hoàn toàn học hỏi để tựu thành được điều ấy.

Với kẻ có não trạng bất động thì họ nhìn các năng lực của mình như thực thể cố định. Họ thường cảm nhận về sự thất bại của bản thân như hậu quả của những năng lực thiếu hiệu quả để thực hiện tốt đẹp mọi sự. Họ diễn giải và nghĩ hiểu về trải nghiệm thông qua các kiểu dạng gọi là quy cho.

Người mang não trạng cố định có kiểu dạng của sự học hỏi vô vọng: họ quy thành công nhờ các yếu tố bên ngoài, không cho mình có thể gây ảnh hưởng, và nhìn thất bại như sự thiếu hụt của bản thân. Họ không hề ý thức rằng các thất bại thường là hệ quả của nỗ lực chưa tới cùng.

Với người có não trạng triển nở, các năng lực được xem như phát triển không ngừng. Họ tin mình có thể cải thiện bản thân nhờ làm việc chăm chỉ. Họ biết các mục tiêu dễ đạt được với sự nỗ lực đúng mức, và nỗ lực là chuyện thưởng phạt. Họ quy thành công vào các yếu tố nội tại như các năng lực riêng có và họ tin mình có quyền lực gây ảnh hưởng.

Người mang não trạng triển nở lại theo các dạng quy cho hướng tới việc nắm vững, tỷ dụ: “Tôi biết mình có thể đạt được mục tiêu này với sự nỗ lực đúng mức”. Như thế, người ta tin mục tiêu nằm trong vùng làm chủ của họ. Người ấy cũng hay quy cho việc thất bại hoặc kết quả tiêu cực là do chưa đủ nỗ lực thích đáng.

Thiên hạ có thể phát triển một não trạng cố định hoặc não trạng triển nở; điều ấy phụ thuộc vào cách thức họ học hỏi khi nhìn nhận mình và các năng lực bản thân. Họ có thể thay đổi hoặc xem xét lại các não trạng khi những trải nghiệm học hỏi mới mẻ xảy đến. Từ thuở bé tí, trẻ nhỏ bắt đầu khởi sự phát triển não trạng riêng, khi chúng trải nghiệm cách chúng tác động lên thế giới và lối những người khác đáp ứng chúng.

Trẻ em có thể nội tâm hóa các kỳ vọng của bố mẹ và thầy cô giáo. Những mong đợi của người khác đóng vai trò như những tiên đoán tự diễn biến đến độ chúng ta nỗ lực hoàn thành các kỳ vọng ấy. Chẳng hạn, nếu bố mẹ mong đợi và nhìn nhận năng lực của con cái là không ổn thỏa thì rồi đứa trẻ có thể cũng tưởng nghĩ tương tự.

Sự ca tụng, tán dương cũng phụ thuộc vào sự phát triển não trạng. Bất chấp các niềm tin thông thường cho  ca tụng năng lực đủ sức thúc đẩy người ta, nghiên cứu cho thấy lời khen ngợi trẻ vì sự nỗ lực, gắng sức thúc đẩy trẻ nhiều hơn là khen ngợi nó vì năng lực. Nếu người ta tán tụng vì năng lực, chúng sẽ ít bày tỏ sự kiên trì bền chí, thực hiện nhiệm vụ với ít niềm vui thú hoặc vắng bóng động cơ, chúng giảm thiểu phong độ và quy kết lắm tiêu cực nhiều hơn.

Theo tác giả Carol Dweck, nếu người ta có não trạng cố định, họ hay nảy sinh ngờ vực chính mình. Họ nhìn các năng lực bản thân như một thực thể cố định và do vậy, ghi nhận các thất bại như vấn đề của sự thiếu hụt từ cá nhân mình. Quá dễ tưởng tượng sự quy kết vậy gây nên sự căng thẳng đến thế nào. Một não trạng cố định có thể khiến người ta nhanh chóng bỏ cuộc, bởi vì họ không hề nhận thấy rằng thành công là chuyện nỗ lực đúng mức.

Người có não trạng cố định hiếm khi thách thức bản thân hoặc thử kiếm tìm các giải pháp mới cho một vấn đề, bởi vì họ e ngại thất bại hoặc thấy mình sai. Đừng quên, nếu họ sai, họ chỉ đổ tội là do chính mình thôi. Người có não trạng triển nở thì chỉ quy về chuyện đã không nỗ lực đúng mức.

Vậy, não trạng bạn như nào? Cách thức độc giả đương đầu với các thách thức ở đời, mức độ duy trì sự kiên trì theo đuổi mục tiêu đặt định? Liệu bạn có nghĩ rằng chúng ta đủ khả năng để thay đổi và tạo tác lại não trạng bản thân, và đâu là trải nghiệm riêng có của chính bạn?

Đời cạnh tranh và quá bí bét, làm sao tránh stress?

Một cô gái trẻ sau khi tốt nghiệp đại học, đã đi làm được một thời gian rồi chợt than vãn về đời sống không rõ nên diễn biến như nào, rằng cô ấy chỉ không thấy hài lòng với những gì đang hiện diện, hỏi cô ấy muốn gì thì nhận được lời tự thú thiệt tình là không biết.

Tôi nghĩ đến nỗi trầm buồn hiện sinh. Stress cấp tính đòi hỏi đáp ứng thích nghi hết sức cao độ, song theo thời gian, nó trở nên mãn tính rồi một lúc nhất định, đòi buộc chúng ta phải suy nghĩ lại lối sống của bản thân. Stress là cái đinh chi mà thiên hạ cuống cuồng hoặc thầm lặng chịu đựng thật đớn đau cả thân lẫn tâm đến vậy?

Đời sống khả năng cao là luôn làm ta căng thẳng tinh thần, gây stress quá dễ dàng. Nói chung là hoàn toàn đúng đắn stress bộc phát nhanh chóng, song loại cấp tính kiểu thế có thể chuyển thành thói quen thâm căn cố đế, và chúng ta cần suy nghĩ lại những cách thức làm mọi điều sao đủ vượt qua và chế ngự nó. Stress mãn tính tạo nhiều hiệu ứng khắc nghiệt lên sức khỏe và trạng thái an lạc của chúng ta. Stress làm tăng thêm các hoạt động sinh lý cao độ và khiến mình thường xuyên thao thức, khó chợp mắt. Tác động đến hệ thần kinh, cơ thể phóng thích các hormones gây stress dưới nhiều dạng thức. Đáp sứng stress căn bản là đáp ứng mang tính thích ứng về mặt cơ thể, song stress cấp tính để lại nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng lên thân xác.

Quá nhiều sự kiện trong đời là tác nhân của bức bối, áp lực, căng thẳng, mệt mỏi…; các stressors này đặt để nguy cơ phát triển stress, nhất là nếu chúng ta không có các nguồn lực tâm lý đảm bảo xử lý chúng. Thực tế, một số người có khả năng chịu đựng stress cao hơn kẻ khác. Người ta cũng khác nhau trong các cách hiểu về stressors.

Nghiên cứu cho thấy, người gặp stress khuyến khích não trạng trải nghiệm thì có các mức độ hormone stress thấp hơn người nhìn nhận stress một cách quá tiêu cực.

Lý thuyết kích hoạt nhận thức về stress giúp giải thích đáp ứng stress; theo đó, chúng ta cảm thấy stress bất kỳ lúc nào có sự thiếu nhất quán giữa giá trị mình đặt để và giá trị đích thực của bản thân. Ví dụ, chúng ta bị stress nếu đụng hạn cuối cùng phải hoàn thành công việc mà mình lại không đủ khả năng đáp ứng đúng đắn. Chúng ta bị thúc đẩy làm giảm thiểu, hạ xuống sự thiếu nhất quán giữa các giá trị đặt để và các giá trị thực của bản thân.

Từ ví dụ nêu trên, chúng ta có thể thực hiện bằng việc tăng cường mức tải làm việc đến độ đảm bảo mọi thứ hoàn thành đúng thời hạn, song điều này dễ cảm nhận là không phải giải pháp vững bền. Chúng ta thường thành công trong ngắn hạn, còn với đường trường dài lâu thì e khá hiếm hoi, do chúng ta khốn khổ bởi stress cấp tính. …

Đáp ứng stress có thể được điều hướng bởi khả năng phục hồi tâm lý; khả năng này chịu đựng các stressors môi trường, và nó thông qua các chiến lược đối phó, đương đầu hữu hiệu mà nhờ thế mình xây dựng được khả năng phục hồi. Nếu các chiến lược đối phó không thích ứng và không hiệu quả, mình sẽ làm tăng thêm nguy cơ phát triển stress. Mình có thể cố sức để thích ứng chiến lược đối phó với tình huống cụ thể đủ đương đầu hiệu quả nhất. Khi bị stress tấn công, mình có thể khởi sự cảm thấy mất tập trung, và chẳng có điều chi mình có thể tiến hành ngõ hầu tránh né hoặc cải thiện được tình hình: dạng thức vô vọng.

Chúng ta không có các nguồn lực vô tận để giải quyết các tác nhân gây stress; chỉ có thể làm tốt nhất để thích ứng với môi trường gây căng thẳng mà thôi. Nếu có quá nhiều giá trị đặt để xa vời, phi thực tế, bất kể vì tạo ra chúng cho bản thân hoặc vì tình huống công việc đòi hỏi, chúng ta nên cân nhắc tác động chúng gây nên thân- tâm chúng ta. Mong đợi quá mức vào chính mình, hoặc mức tải việc khủng khiếp? Bằng cách nào nó tác động tới tâm trí và thân xác chúng ta? Nên nhận rõ điều này. Gần đây nhất bạn cảm thấy stress? Bạn đối phó với nó như thế nào?

Học hỏi từ trải nghiệm: nói lại cho rõ

Cách tốt nhất để học hỏi là từ trải nghiệm, song tự thân trải nghiệm không thôi thì không đảm bảo toàn bộ câu chuyện. Học hỏi không thuần túy chỉ là chuyện giáo dục hoặc trải nghiệm; chúng ta cần cả khuyến khích sự phát triển cá nhân nữa.

Có thể rất khó nhằn để học hỏi từ trải nghiệm. Cơ chừng đe dọa chúng ta, trải nghiệm dễ khiến ta thấy yếu ớt hoặc tự nghi ngờ bản thân, song chính nó lại cũng làm ta mạnh mẽ hơn lên. Thông thường, những gì trải nghiệm đem đến là định dạng con người đang là của chúng ta.

Tôi tin, đa phần chúng ta thấy rằng hầu hết trải nghiệm cho mình một cơ hội để phát triển cá nhân, song để tận dụng lợi thế ấy, chúng ta cần suy nghĩ về cách thức bằng cách nào trải nghiệm có thể tạo điều kiện cho mình học hỏi.

Tỷ dụ, một người đàn ông gặp khó khăn lớn trong công việc. Anh ta bắt đầu nghĩ bản thân là vấn đề. Các đồng nghiệp truyền gửi thông tin ngấm ngầm rằng anh  ta chắc đang phải “rất khổ sở, mất ăn mất ngủ”. Anh ta tin họ để rồi tự mình đổ tội. vơ mọi thứ vào mình. Anh ta không tìm thấy lối thoát và vì thế, rốt cuộc, xin nghỉ việc.

Làm thế nào trải nghiệm làm dễ dàng và thuận lợi hơn cho việc học hỏi? Thay vì nghỉ việc, anh ta có thể suy tư: “Những nguyên nhân nào tạo nên các khó khăn này, và làm cách nào tôi/ chúng ta có thể thay đổi hoặc cải thiện được tình hình đây?”. Cơ chừng, anh ta đã đúng khi ra quyết định nghỉ việc. Cơ chừng, anh ta cho việc bỏ đi là giải pháp dễ hơn nhiều. Quan điểm cá nhân ở đây, chúng ta hay để nhỡ, đánh mất rất nhiều cơ hội để học hỏi, đơn giản chỉ bởi vì chúng ta quên phản tư:

Học hỏi từ trải nghiệm là một trong những phương tiện căn cốt và tự nhiên nhất tương hợp với tất thảy mọi người… Tất cả điều nó đòi hỏi chỉ là phản tư và suy nghĩ, tự mình thôi hoặc với sự cộng tác, hợp sức của người khác.

Theo lý thuyết học hỏi từ trải nghiệm, chúng ta hiểu biết thông qua vòng tròn học hỏi. Trải nghiệm của chúng ta phục vụ nền tảng cho việc phản tư (reflelctions). Từ những trầm mặc suy nghĩ đó, chúng ta phát triển các ý tưởng về thế giới. Rồi chúng ta kiểm tra, trắc nghiệm xem chúng có đích thực là sự thật, và rốt ráo chúng ta có một trải nghiệm mới mẻ. Vòng tròn trải nghiệm không nhất thiết khởi từ trải nghiệm, chẳng hạn, chúng ta có thể nảy sinh ý tưởng mình muốn test thôi:

Suy nghĩ… là nỗ lực được dự tính trước nhằm khám phá những nối kết đặc thù, cụ thể giữa điều gì đó chúng ta thực hiện với các hậu quả tác thành, đến độ cả hai thứ ấy cứ thế tiếp diễn không ngừng (Dewey, 1916).

Có thể ít nhiều tán đồng ngay rằng “học hỏi là phương tiện nhờ thế chúng ta đạt được không chỉ kiến thức và kỹ năng mà còn cả giá trị, thái độ và phản ứng mang tính xúc cảm nữa” (p.4).

Theo đó, học hỏi là sự thay đổi dài hạn trong sự biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí như kết quả của trải nghiệm. Từ định nghĩa, nó gồm ba phần: 1) học hỏi là sự thay đổi dài hạn: nếu nó không phải là việc sử dụng thông tin ngắn ngủi, thoáng qua như kiểu ghi nhớ số điện thoại đủ để gọi cho ai đó rồi quên đi thì rõ ràng nó không cần phải lưu tâm mãi mãi. 2) học hỏi là những biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí vì thế nó cơ chừng đặt để nền tảng ở não bộ. 3) học hỏi là một sự thay đổi như kết quả của trải nghiệm, hơn là tựu thành của sự trưởng thành về mặt sinh lý, trạng thái mỏi mệt, dùng bia rượu ma túy, đang cơn mắc bệnh tâm thần hoặc mất trí nhớ.

Chúng ta cần phản tư trải nghiệm bản thân để khuyến khích việc học hỏi suốt đời và phát triển cá nhân, do vậy, trải nghiệm tự thân nó không thôi chưa đủ:

Khi chúng ta kinh qua một trải nghiệm, điều ấy không luôn luôn dẫn tới những hiểu biết và học hỏi mới mẻ. Ví dụ, nếu trải nghiệm chỉ phục vụ nhằm xác nhận một vài niềm tin mình vốn quen nắm giữ thì nó sẽ đóng vai trò diễn giải đặng hỗ trợ cho nhận thức nguyên trạng bấy lâu mà thôi (tham khảo lý thuyết nhận thức của Piaget), và nó ít chú ý tới sự đáng giá của trải nghiệm. Nếu chúng ta không chú tâm vào thì cơ hội học hỏi mới mẻ sẽ không hề xảy ra (pp. 15-20).

Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD): cập nhật thông tin mới nhất, thực trạng siêu phức tạp, và vài ba cách thức hỗ trợ hiệu quả

Kể từ những bài xa xưa từng giới thiệu khá chi tiết quen lệ rồi, đến nay rối loạn phổ Tự kỷ (ASD) vẫn tiếp tục được blog Tâm Ngã chọn là chủ đề ưu tiên lên trang.

Ba hôm trước, đại học Carnegie Mellon công bố đã làm rõ vai trò của tính di truyền, đột biến, và các yếu tố môi trường; theo đó, nguy cơ di truyền của ASD chủ yếu khởi phát từ các genes thông thường hơn là các biến thể hiếm gặp hoặc đột biến tự phát.

Từ nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy rằng di truyền đóng vai trò chính trong sự phát triển rối loạn tự kỷ so với các yếu tố môi trường, góp phần quyết định gây nên tự kỷ hơn chúng ta tưởng; mỗi một trong nhiều yếu tố nguy cơ nhỏ khác thêm vào đẩy người mắc vươn ra rìa của phổ tự kỷ…  Không có các công cụ thống kê mới, không phát hiện được kết quả, và bây giờ chúng ta phải dựa trên những gì học hỏi được kèm sử dụng các cách tiếp cận thống kê để sắp đặt các nguồn lực tương lai, và quyết định hướng nghiên cứu nào hữu ích nhất đáng tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân gây ra tự kỷ.

Như thế chứng tỏ, tự thân yếu tố môi trường không quyết định hết thảy nguyên nhân gây ra ASD; và con số 55% có thể di truyền cho thấy genes chịu trách nhiệm hơn một nửa việc một đứa trẻ có khả năng mắc tự kỷ (80% di truyền liên quan đến chiều cao).

Lần nữa, qua thượng dẫn sơ bộ, điều ngạc nhiên ở nghiên cứu là các nguy cơ di truyền gây tự kỷ đa phần nằm ở các biến thể genes thông thường chứ không phải các đột biến dị biệt. Một đột biến nhỏ trong một gene đơn lẻ có thể gây một căn bệnh chẳng hạn như Huntington, và đột biến gene BRCA1 làm tăng lên khả năng phụ nữ phát triển ung thư vú. Các đột biến như thế chỉ chiếm 2,6% nguy cơ gây tự kỷ, so với 52% biến thể genes thông thường; với phần lớn trường hợp gây mắc tự kỷ, không có một gene sai lạc nào mã hóa rối loạn này mà chính sự kết hợp các biến thể thông thường với nhau mới dự đoán nguy cơ tự kỷ. Và dù chỉ ra các yếu tố môi trường không phải là nguyên nhân chính, song nhóm tác giả không chắc cụ thể những yếu tố môi trường nào quy cho việc mắc tự kỷ.

Liên quan đến thực trạng phức tạp gây tranh cãi, bất chấp mấy thập niên nghiên cứu khẳng định điều ngược lại thì niềm tin tự kỷ có thể là do nguyên nhân trục trặc trong quan hệ gắn bó mẹ- con vẫn thịnh hành. Trước thông tin nghiên cứu rằng có mối liên quan giữa độ tuổi cao của bố mẹ với việc mắc tự kỷ khiến một số bố mẹ còn chưa thôi lo lắng quyết định có nên sinh con sau độ tuổi 30 thì công việc của nhóm nghiên cứu quốc tế do nữ khoa học gia thuộc đại học Carnegie Mellon đứng đầu giải thích chủ yếu do genes.

Sự trộn lẫn các yếu tố nguy cơ không dễ cảm nhận thấu đáo và việc chẳng rõ ràng nguyên nhân gây ASD có thể khiến một số bố mẹ lựa chọn các giải pháp liều lĩnh và cảm tính. Một ví dụ sống động kéo dài là chuyện bố mẹ quy cho hóa chất thimerosal (đã bị gỡ bỏ hơn 10 năm nay) vốn có mặt trong vacine trẻ em gây tự kỷ, tạo điều kiện cho phong trào chống tiêm phòng thành công và gây ra nguy cơ cho con cái họ mắc một số bệnh mà chúng ta đã biết cách tránh…

Với tỷ lệ 1/ 68 trẻ em Hoa Kỳ mắc ASD, trong độ tuổi 6-17 thì chẩn đoán mắc tự kỷ tăng khoảng 1% từ 2007 đến 2012. Các triệu chứng tự kỷ đa phần không hợp trội, nổi bật cho đến khi trẻ lên 2 hoặc 3 tuổi, và không phải luôn luôn dễ chẩn đoán. Nguyên nhân hiện chưa sáng tỏ hoàn toàn, sau nhiều năm nghiên cứu có thể nghĩ tới chừng mực: các biến chứng khi sinh, thuốc trừ sâu, không phải do thiếu thốn tình yêu thương, không phải vì nhiều giun sán.

Nhân tiện, xin nêu một vài nghiên cứu liên quan: trẻ có bố mẹ làm các nghề kỹ thuật mang tỷ lệ tự kỷ cao hơn; thiếu hụt kỹ năng vận động càng làm mức độ tự kỷ nghiêm trọng; suy yếu khả năng chú ý không phải là thành phần tự thân của tự kỷ; cảm giác thứ phát hay thường thấy ở người mắc tự kỷ; chết đuối là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ ASD; chụp quét não bộ có thể hỗ trợ công tác chẩn đoán; có việc làm giúp cải thiện các triệu chứng tự kỷ ở người trưởng thành; nghiên cứu DSM-5 chỉ ra tác động của việc chẩn đoán và sự phổ biến ASD, v.v…

Chẳng nhất thiết phải nghi ngờ một điều rằng, tự kỷ thực sự khó hiểu đối với những ai không trải nghiệm trực tiếp. Với hầu hết mọi người, tự kỷ cơ chừng là ai đó lạ kỳ, cách biệt và khuyết tật tinh thần; các tường rào ngăn cách trong đời sống người mắc tự kỷ có vẻ là khó hiểu thấu; những trở ngại và thách thức họ phải đương đầu là thực tế lạnh lùng, một thực tế của ai đó khác. Con số 1/68 trẻ em mắc ASD cho thấy hầu hết mọi người dễ bắt gặp, nghe thấy hoặc tiếp xúc khá gần gũi với ai đó mắc tự kỷ; tiếc thay, phải chờ cho đến khi tự mình trải nghiệm cá nhân trực tiếp những con người ấy độc đáo và đặc biệt như thế nào thì mới phần nào nắm bắt câu chuyện.

So với ASD, ngu dốt mới đích thị là căn bệnh lớn nhất trong xã hội. Bố mẹ các trẻ mắc tự kỷ chắc chắn trải nghiệm sống động khía cạnh với người xung quanh họ; một khía cạnh tồn tại ở nhiều người song nó chỉ bộc lộ ra khi bị thách thức bởi điều gì đó khác thường, như kiểu giao tiếp với người mắc tự kỷ. Đó không phải là tội ác, chỉ là ngu dốt mà thôi.

Có rất nhiều vấn đề xoay quanh ASD. Một đứa trẻ mắc tự kỷ ảnh hưởng đến mỗi thành viên trong gia đình theo các cách thức khác nhau. Bố mẹ/ người chăm sóc giờ đây phải đặt để ưu tiên chú tâm trong việc trợ giúp con em họ, xử lý stress nảy sinh ngày càng mãnh liệt trong đời sống hôn nhân, ở các đứa con khác, công việc, tài chính, và các trách nhiệm lẫn quan hệ liên nhân cách khác nữa. Bố mẹ có con mắc tự kỷ phải chuyển khá nhiều nguồn lực thời gian và tiền bạc cho việc cung cấp phương thức điều trị và can thiệp cho đứa trẻ, hạ thấp các ưu tiên cấp bách khác.

Bố mẹ trẻ thường quen đối mặt với các thái độ và dịch vụ bất công trong xã hội. Họ bị thúc ép đương đầu và giải quyết với sự ngu dốt. Vượt trên việc xử lý các vấn đề sự vụ đời thường, hàng ngày liên quan đến tình trạng rối loạn của con em mình, họ cũng buộc phải trở thành người biện hộ và đấu tranh, các chuyên gia y tế cung cấp thông tin chính xác cho cộng đồng họ thường tiếp xúc, bởi vì định hình các chương trình can thiệp sớm thích đáng, độ an toàn và phù hợp trong chẩn đoán cũng như tự thân việc trị liệu và chăm chữa y tế tương xứng dĩ nhiên không phải là điều dễ dàng chút nào ở một đất nước đang phát triển bộn bề như Việt Nam.

Các cơn thịnh nộ, đập phá từ nhẹ tới nặng, khó khăn trong ăn uống, đủ thứ rắc rối với việc ngủ nghỉ, nhiều giới hạn bó buộc của tiến trình xã hội hóa và tương tác với những người khác, đi kèm lắm thiếu hụt xử lý cảm giác và lượng giá môi trường… chỉ là một vài vấn đề mà trẻ em cũng như người lớn mắc ASD phải đối phó thường xuyên.

Điều quan trọng hiểu tự kỷ là trạng thái rối loạn phổ rộng, nghĩa là các cá nhân sẽ thể hiện nhiều triệu chứng khác biệt nhau, một số thì nhẹ và một số thì nặng, số khác vừa vừa… Tương tự, cơ bản là bóc trần huyền thoại người mắc tự kỷ không có khả năng biểu đạt các cảm xúc bản thân hoặc cảm nhận về tình yêu thương, nỗi niềm hạnh phúc, buồn rầu, đau đớn như mọi người khác. Đơn giản vì họ không thể biểu đạt các cảm xúc bản thân theo cách của đa phần mọi người, không có nghĩa họ không có cảm xúc. Đây là sự ngu dốt và thiếu giáo dục chu đáo khiến thiên hạ tiếp tục mang vác huyền thoại vừa nêu.

Nếu nói với bố mẹ của trẻ mắc tự kỷ, mình sẽ thường nghe thấy các câu chuyện dũng cảm không thể ngờ nổi, sự kiên nhẫn vô bờ bến, những nỗ lực khủng khiếp và nỗi buồn bã, tuyệt vọng trong những ngày đen tối luôn ít nhiều phảng phất trên khuôn mặt. Mình cũng có thể nghe thấy các câu chuyện về tình yêu thương vô điều kiện, sự trân trọng đời sống, hành trình khám phá bản ngã mà họ không hề nuối tiếc dấn thân cũng như không lãng quên ước mơ, hy vọng về một tương lai tươi sáng cho con cái.

Người mắc ASD cũng là nhân loại chúng mình. Mỗi người thì khác nhau và ai cũng độc đáo. Điều họ cần chí ít là đừng ai đánh giá, xa lánh, đối xử bất công và thể hiện sự ngu dốt hướng về họ. Những gì họ cần là tình yêu, xử sự công bằng, tôn trọng, thấu hiểu và đủ đầy ý thức để xã hội nâng cao hơn nữa khả năng trợ giúp, nâng đỡ họ cùng với gia đình họ nhiều hơn nữa. Họ cần nhiều phương thức trị liệu đúng đắn và hiệu quả, tiếp cận được, chẩn đoán và can thiệp sớm, và nhiều nghiên cứu cũng như ủng hộ quỹ, vận động chính sách, tài trợ nhiều hơn nữa.

Bố mẹ cũng cần giúp đỡ với nhiều chi phí phải trả, các chương trình phù hợp giúp con em họ có việc làm, nơi học tập, được hỗ trợ cảm xúc và tâm lý, hội thảo và giáo dục đặc biệt đặng giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh với trẻ mắc tự kỷ. Chúng ta cần mở rộng các mạng lưới, cộng đồng khuyết tật phủ khắp và tạo điều kiện để các gia đình có cơ hội tương tác với nhau, trao đổi thông tin, ý kiến, tiếp cận được ngày càng nhiều dịch vụ và nhiều hỗ trợ từ phía nhà trường cũng như xã hội.

Dưới đây là vài bước khuyến cáo cụ thể từ giới chuyên môn mong có thể trợ giúp cho người mắc ASD.

1. Giải thích từng giai đoạn một những gì mình định làm, những gì sẽ xảy đến tiếp theo và tại sao.

2. Cho người mắc ASD đủ thời gian để hiểu thông tin mình đang chia sẻ và đợi đáp ứng chứ đừng vội vàng, mong ngóng.

3. Các câu hỏi nên được đặt ra thật dễ hiểu theo cách sử dụng ngôn ngữ trực tiếp, dùng tranh ảnh khi cần thiết; đừng phụ thuộc vào việc trẻ làm quen, nắm bắt được tình cờ nghĩa của các câu hỏi nêu ra hoặc ngôn ngữ cơ thể.

4. Người mắc tự kỷ dễ nghiêng theo hướng nắm lấy lời mình nói theo nghĩa đen nên cần tránh dùng từ ngữ mang nghĩa nước đôi và thể hiện tính hài hước rất dễ bị hiểu nhầm.

5. Duy trì công việc và thói quen hàng ngày; tương tự là điều quan trọng đối với người mắc tự kỷ.

6. Các khó khăn trong giao tiếp xã hội có thể bao gồm việc tiếp xúc mắt, các ngôn ngữ cơ thể bất thường, nói chuyện vào những lúc bất tiện hoặc nói về các chủ đề không thích hợp lắm.

7. Các hành vi lặp đi lặp lại có thể là cơ chế đối phó, và đo đó nên được tôn trọng.

8. Mội trường rất quan trọng. Một số người mắc tự kỷ đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng, chuyển động, tiếng ồn và sự sờ chạm. Cố gắng thiết lập môi trường yên an, tĩnh lặng để giúp bình hòa nỗi lo lắng, sợ hãi.

9. Luôn luôn thử đặt mình ứng xử, hành động như người mắc tự kỷ dù đó quả là thách thức ghê gớm.

10. Hỏi người mắc tự kỷ, bố mẹ, người chăm sóc hoặc vị giám hộ họ những gì họ cần.

@ Cập nhật, 15h42′ cùng ngày

Phương thức dạy nhận thức về Tự kỷ giúp giáo viên đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều hiểu được rối loạn và giúp đỡ trực tiếp bạn mắc ASD; nâng cao nhận thức về những nhu cầu và khó khăn mà người mắc Tự kỷ gặp phải, giải thích ASD là gì, và tại sao nó ảnh hưởng các kỹ năng truyền thông, xã hội và tư duy.

Hướng dẫn nhấn mạnh không những nhu cầu của cách tiếp cận cá nhân khi làm việc với học sinh mắc ASD mà còn bao gồm một số chiến lược “nắm trọn” như cách bắt đầu bài học với các hoạt động ngắn, vui và thực tế nhằm giúp có được cấu trúc ngay lập tức rồi đề cao các điểm tưởng thưởng để chào đón trẻ. Khẳng định những thay đổi trong môi trường lớp học là giảm tiếng ồn xung quanh, sử dụng ánh sáng tự nhiên và tránh các tranh, ảnh gây ‘bắt mắt’.

Ý tưởng cho ngân hàng chiến lược làm việc với trẻ mắc ASD là đi theo các quy định rất rõ ràng ở lớp học, hỗ trợ việc trình bày miệng với bảng biểu, sơ đồ, tranh ảnh, xác lập nhiệm vụ với các mục tiêu rõ ràng, và hướng dẫn ngắn, đơn giản.

Một vài mẹo thực hành cho giáo viên như khung làm việc SPELL: nhắm vào cấu trúc (structure), hành vi tích cực (positive behavioir), thấu cảm (empathy), ít gây kích thích (low arousal), và liên kết (link) với nhiệm vụ ở nhà. Mục tiêu là giảm bất kỳ trải nghiệm lo lắng nào ở trẻ, để chúng làm việc hiệu quả hơn trong một môi trường khiến chúng cảm thấy an toàn.

Nhằm giúp giáo viên giảm thiểu nguy cơ trẻ bị bắt nạt, hướng dẫn nhắm vào “tính đa dạng thần kinh” giúp học sinh hiểu những khác biệt trong cách người ta suy nghĩ hoặc tri nhận thế giới; được thiết kế để khuyến khích nhận thức nhóm bạn cùng trang lứa, chấp nhận về mặt xã hội, thấu cảm và hòa đồng ở mọi học sinh cho dù một số bạn có thể biểu lộ hành vi khó thấu hiểu hết được…

Lựa chọn để thấy những vị Bồ tát vô hình trong đời sống hàng ngày

Tên phim dựa trên câu chuyện có thật 50/50 chứng tỏ tùy thuộc mỗi người trong lựa chọn cái nhìn về cách tha nhân lẫn cuộc đời đối xử với bản thân ta, và dĩ nhiên, làm sao không tính đến thái độ của chính mình với sự sống nội tại hòa cùng ngoại giới đeo mang bấy lâu.

Tôi đã ứa lệ thầm khi xem bộ phim này vào một mùa hè mới đây thôi ngay lúc nửa đêm về sáng; rồi tôi tiếp tục nghĩ rằng không nên chuyển ngữ thành Hên Xui bởi bản chất đích thực của câu chuyện chính là việc quyết định trước cái gì hoặc thế này hoặc thế khác và may mắn thay, chúng mình còn có thể nhìn vượt lên trên và thoát ra ngoài mớ vướng mắc nhị nguyên ấy nữa.

Chí ít, tự nội dung bộ phim đã chứng tỏ xác đáng rằng chúng ta nên tri ân tha nhân nhiều bao nhiêu cũng chưa đủ, bởi vì làm sao mình biết được những gì họ đã làm cho chúng ta nhiều bao nhiêu cũng chưa đủ.

Nhìn sâu vào dự tính, ý định tạo tác hành động đời thường đố mà khỏi khởi lên cảm xúc đau đớn đi kèm yêu thương, vì sự thật rằng không có người khác chúng ta chẳng thể tự mình sống sót được.

Nàng họa sĩ nghèo ấy đã cố gắng biểu tỏ tình cảm gắn bó bằng bức tranh dành tặng riêng chàng; việc cô vẫn chung giường hằng đêm với nhân vật chính kèm theo nhu cầu quan hệ ngoài luồng, là điều gì đó quá dễ phán xét và khá khó để cảm thông chấp nhận được; vì cô vẫn còn muốn tiếp tục làm mới lại mối quan hệ và thật lòng muốn bên cạnh để chăm sóc, vì ai thấu tỏ mọi nỗi niềm cô phải chịu đựng và gắng gỏi vượt qua chừng ấy thời gian trước khi Adam phát hiện ung thư, và vì thi thoảng phút chốc hoảng sợ đầy tràn cô độc thì chàng trai trẻ thầm nhận ra mình chưa thôi nhớ nhung một không gian ấm áp quen thuộc…

Cả cậu Kyle thích chơi bời (nội cái tên đã ít nhiều gây hoảng sợ vì mơ hồ căn tính) cứ mở miệng là nói chuyện làm tình và chưa từng bỏ dở bất kỳ cơ hội tán tỉnh, ngủ nghê với các em (tận dụng Adam làm bàn đạp) thì xem ra, đó không nhất thiết tạo ấn tượng mặc định chân dung một con người. Vì trong dịp tình cờ ghé qua căn hộ cậu bạn, Adam nhìn thấy tại phòng tắm, cuốn sách “Cùng nhau đương đầu với ung thư” chi chiết dấu gạch dưới… Khi Adam liếc mắt nhìn Kyle ngủ thiếp đi vì say xỉn, chàng trai trẻ thấm thía với những bày vẽ ngô nghê nhằm làm sáng lên tâm trạng u buồn đồng thời cũng bàng hoàng ghi nhận nỗ lực kín đáo trợ giúp mình tốt nhất của cậu bạn.

Và cô gái hấp dẫn từng đổ vỡ đang giữ vai trò nhà trị liệu của Adam (ai dám chắc mối quan hệ rất đỗi lung linh giữa họ sau này ra sao), và bà mẹ suốt ngày bận rộn hay gọi điện thoại hỏi han và để ý đủ thứ nhỏ nhặt vì con trai, và ông bố mắc bệnh mất trí nhớ chợt thể hiện nỗi niềm thấu cảm trước lúc Adam bước vào phẫu thuật với mỗi từ “OK” cụt lủn, và các bệnh nhân có mặt trong phòng hóa trị liệu, v.v…; tất thảy, đã góp phần cho Adam nhận ra thế giới này không thể chỉ là chuyện hên xui, may rủi.

Dẫu các cảm xúc nhộn nhạo chút xíu (bởi vì một số gây tổn thương trong quá khứ đột ngột tái hiện) thì sự thật, khi chúng ta tưởng chừng không thể chịu đựng nổi cách thức mà họ biểu tỏ với mình thì mối quan tâm của họ là đích thị và chân thành. Thường bố mẹ và bạn bè thân thiết dễ bị hiểu nhầm nhất. Có lẽ, chẳng gì buồn hơn các quan hệ đang hồi chơm chớm thì lại mất hẳn đi cơ hội đơm hoa trổ quả đủ đầy chỉ vì những sự nhầm nhọt không đâu.

Bộ phim mang tên khá kỳ cục thế vì các nhân vật xoay quanh việc cứu sống Adam. Trên con đường đi đến giác ngộ, không có gì đáng giá hơn tình bạn tâm linh; ngay cả khi chưa đích thực thỏa mãn bản chất hai chiều thì nó đòi hỏi tâm thế tích cực và phụ thuộc chủ yếu vào phần chúng ta đóng góp thật thiện xảo và có thể khá tinh tế, đặng đánh thức tính tâm linh trong những ai chúng ta quan tâm, chăm sóc.

Thực tế, trong khi dĩ vãng chúng ta cơ chừng không thích bị tổn thương, điều thực sự khó khăn là tưởng tượng con người mình tốt lành hơn ở hiện tại bây giờ cho dẫu quá khứ khổ não, ngay cả phải băng qua lò luyện đan sinh tử.

Vì thế rốt ráo, bộ phim gợi nhắc về những vị Bồ tát vô hình đang hiện diện trong gia đình và giữa cuộc sống xô bồ hàng ngày không ngừng thể hiện tốt nhất khả năng của họ, dưới nhiều hình tướng khác nhau thuận theo ái lực nghiệp dĩ, để trợ giúp chúng ta tiến bộ trên con lộ tâm linh dằng dặc. Và họ, được mình nguyện lòng tiếp nối thêm lên, sẽ còn thực hiện điều ấy cho đến khi mỗi một chúng sinh được dẫn dắt đúng đắn đến với tự do trong ràng buộc.

J. Soi (37): Quen bạn trai nào cũng đòi hỏi ‘chuyện ấy’: vấn đề lần đầu tiên gần gũi thể lý và tiếp cận sex

Những vụ việc, tình tiết và tâm trạng như này khá quen thuộc với không ít bạn trẻ mới bước vào ngưỡng cửa yêu đương, hoặc cả những ai khuyết thiếu trải nghiệm tình dục trong quan hệ lứa đôi, thân mật.

Điều đáng học hỏi chẳng kém cạnh ở đây lại thuộc về cách trả lời, bởi nó vô hình trung, chỉ ra giá trị của nền tảng bài bản, chuyên nghiệp, và hiệu quả trợ giúp khi thân chủ cố vượt thoát nỗi niềm bất an liên quan đến chuyện trai gái làm quen và hẹn hò, bắt cặp.

Em chưa nói cụ thể mức độ đòi hỏi của bạn trai là gì nên tôi chưa thể đưa ra câu trả lời cụ thể. Nếu sự gần gũi ở mức độ như quan hệ tình dục vào thời gian mới quen nhau là rất mạo hiểm. Nhưng nếu đã quen biết nhau một thời gian và đi đến quan hệ yêu đương thì cũng cần một cái nắm tay, một nụ hôn, sự ôm ấp, vuốt ve nhau cũng sẽ giúp cho tình cảm thêm gắn bó.

Qua những gì em chia sẻ, tôi nhận thấy em là một cô gái khả ái, chuẩn mực, biết giữ mình nên chắc hẳn là giành được nhiều tình cảm của người khác phái. Em đang muốn tìm kiếm một người yêu nghiêm túc, nhưng chưa nói rõ nghiêm túc theo tiêu chuẩn nào.

Đọc thư, cảm thấy các diễn biến lo lắng, xáo trộn ấy là bình thường, có thể hiểu được; cũng không quá khó lý giải cơn cớ cô gái đang cảm thấy hụt hẫng và bối rối về những nguyên nhân khả thể cho chuyện tình cảm tan hợp, lâu chóng; tuy thế, những điều cô gái nhấn mạnh khẳng định rõ ràng rằng đấy không chỉ là trường hợp lần đầu tiên tiếp cận sex mà còn bộc lộ các giả định về niềm tin, quan điểm khởi đi từ truyền thống văn hóa, gia đình, giáo dục, và trải nghiệm bản thân.

Cho dù chuyện giữ gìn trinh tiết có liên quan đến nỗi hoang mang “quen bạn trai nào cũng đòi hỏi” song đó dễ chừng là hai điều khác hẳn nhau. Đa phần, không thành vấn đề bất kể nguyên do thuần túy tâm lý hay thể lý; bởi trong hầu hết các trường hợp, những băn khoăn đều có thể thuộc về cả hai yếu tố thể lý và tâm lý. Do vậy, khá thiết thực nếu lượng giá từ người có chuyên môn để có một bức tranh chính xác.

Một vòng lặp của thất vọng, e sợ, và lảng tránh thường dễ cùng nhau dẫn tới việc đổ vỡ hết sức đau đớn; để bẻ gãy được nó, cô gái phải đoan chắc không tiếp tục dấn sâu vào các suy tư tiêu cực và kiên trì theo đuổi việc cải thiện các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách. Điều cũng quan trọng không kém là đừng vội nản lòng bởi việc thiếu vắng các câu trả lời ngay lập tức và lối thoát ra khỏi vấn đề vướng mắc; đôi khi cần dành thời gian lẫn sự kiên nhẫn đặng lắng nghe, học hỏi cho thiệt thấu đáo.

Lần nữa, làm ơn biết cho ràng những gì cô gái đang trải qua là rất bình thường và tự nhiên. Nghĩ đến việc sex lần đầu tiên có thể mang lại quá chừng các cảm xúc nặng nề, trái ngược; trải từ phấn khích, bối rối cho tới sợ hãi (thường thì tất thảy trong cùng khoảnh khắc). Với sự vụ vi tế này, lứa tuổi mới lớn còn tri nhận nhiều thông điệp xung đột không ngừng về sex từ nền văn hóa đại chúng, internet, bạn bè, bố mẹ, thầy cô giáo, các vị dẫn đạo và chỉ bày tâm linh, cũng như các yếu nhân khác trong đời người trẻ. Với vô vàn giọng điệu tranh giành đó, và với mỗi một ham muốn hòa cùng xung năng tự nhiên ấy, có thể thật khó khăn để quyết định thời điểm nào là ‘thích hợp’ để khởi sự sex.

Ham muốn tình dục không phải là chuyện bẻ lái, bật công tắc có thể chuyển đổi dễ dàng sau khi vị trí ‘khóa, tắt’ nhiều năm tháng dài vị thành niên. Thuận theo lời dạy bảo của bố mẹ và các yếu nhân khác không nên quan hệ có thể gây khó khăn cho việc tiếp cận sex khi chúng ta (và người yêu của mình) cảm thấy rằng chúng mình đã sẵn sàng. Dẫu thế, mặt khác thì đôi khi sự miễn cưỡng của cơ thể khi có sex dễ là một chỉ dấu cho thấy nên lùi lại và đặt các câu hỏi thiết yếu, quan trọng cho mình và người yêu cho đến lúc cần trao đổi, thảo luận đàng hoàng.

  • Các giá trị cá nhân của mình khít khớp ra sao với chuyện sex vào lúc này (các niềm tin tôn giáo, quan điểm của gia đình, các ý tưởng về lần đầu tiên)?
  • Những nguy cơ thể lý nào mình sẽ phải gánh chịu (sử dụng biện pháp tránh thai, mang bầu ngoài ý muốn, xử lý các bệnh lây truyền qua đường tình dục)?
  • Mình muốn gì từ mối quan hệ tình cảm với người yêu đây (chuyện sex sẽ làm thay đổi như nào quan hệ hiện tại, nó mang nghĩa ra sao với mối quan hệ của hai đứa)?
  • Áp lực mình cảm thấy (nếu có) từ nhóm bạn bè thân thiết (mình quan hệ vì là đứa duy nhất chưa bao giờ, muốn làm thế để gắn bó với nhau hơn, v.v…)?

Nếu cô gái và bạn trai chưa từng thảo luận các câu hỏi nêu trên, có thể hữu ích khi họ dành chút thời gian để thử nói về chúng. Còn đã trao đổi các câu hỏi liên quan với sự thoải mái của cô/ cậu rồi lại quyết định thích đưa quan hệ hai đứa lên tầm cao mới nữa thì e khả năng cao là tâm trí đôi lứa sẽ trở ngại, quấy nhiễu với áp lực có sex; nếu sự vụ xảy ra đúng thế thì khuyến cáo không nên quan hệ với nhau. Thay vào đó, dấn thân vào các hoạt động nào tạo cảm giác tốt lành cho cả hai song không vì mục tiêu là quan hệ tình dục. Cũng thế, xin hãy tự cho phép bản thân mình quyền thay đổi tâm trí; nếu khởi sự muốn tiến tới quan hệ tình dục và nó không tạo cảm giác ổn, có dấu hiệu hay câu chữ nào đó để biết rằng ‘lúc này nên dừng’…

Dành thời gian để chính mình nói nhiều hơn về ý nghĩa của sex với bạn và cách nó khít khớp với các giá trị cũng như ao ước cá nhân, riêng tư. Dành thời gian thưởng thức cùng nhau, chuẩn bị sẵn sàng cho những gì có thể xảy đến song đừng tạo áp lực bản thân để bắt buộc nó diễn ra.

Như thế, vấn đề ham muốn thật quan trọng, nhất là khi người ta yêu đương. Thực tế, có một cộng đồng tự thổ lộ là họ hiếm hoi, hoặc không bao giờ cảm giác hoặc bị thôi thúc về tình dục (vô tính ?);  thường những người này này không cảm thấy họ đánh mất điều gì vì họ luôn cảm thấy theo lối đó, vấn đề chỉ khởi lên khi người yêu của họ bất mãn do sự thiếu vắng trạng thái thân mật tình dục.

Có vẻ cô gái viết thư không phải thuộc trường hợp vắng bóng ham muốn mà cơ chừng thiếu hụt trải nghiệm hoặc độ tự tin. Dĩ nhiên, chưa từng kinh qua gì trước đây bao giờ thì sẽ dễ cảm thấy bất định và nảy sinh cảm giác lo lắng ít nhiều. Đáp ứng an toàn với một tình huống bất định hoặc lo lắng là không tiến hành làm gì cả. Không ai thích rơi vào trường hợp bị từ chối, hoặc là nguồn cơn của sự khó xử, lúng túng hoặc gây hiểu nhầm về mặt xã hội. Vì thế, dính dáng với chuyện khởi sự các dạng thức nọ kia của sự gần gũi thân xác thì lựa chọn ‘an toàn nhất’ đơn giản là không khởi sự. Rồi theo thời gian trôi qua, các cách thức liên hệ không gần gũi thân xác, thể lý có thể trở thành chuẩn tắc, hoặc mặc định hành vi; nguy cơ là bị mắc kẹt trong một mối quan hệ kiểu chỉ- là- bạn- bè- thôi.

Cách thức để xây dựng sự tự tin về mặt hành vi là thông qua trải nghiệm, học hỏi trực tiếp rằng việc khởi xướng trạng thái thân mật thể lý ban đầu rồi cho phép người yêu mình nhìn thấy cơ thể thì không giống với chuyện bị từ chối hoặc gây khó xử quá tồi tệ như mình có thể hình dung chúng trong tâm trí, khi hai người đã thiết lập quan hệ với nhau rồi. Ở một mức độ nhất định, sự tự tin này theo sau trong các mối quan hệ yêu đương, bồ bịch. Nhiều người bắt đầu tiến trình xây dựng dạng thức tự tin này xuyên suốt thời vị thành niên nên lúc lớn rồi, dường như chuyện ấy với họ trở nên dễ dàng hoặc tự nhiên hơn hẳn.

Vậy, làm thế nào để khởi sự đây? Thường khá ngạc nhiên về chuyện chúng ta hiếm hoi nghĩ về việc tạo nên một cuộc trao đổi chân tình như là giải pháp cốt lõi khi mối quan hệ gặp trục trặc. Ở trường hợp cô gái, dường như logic là nên giải thích với (các) bạn trai khi nào và ra sao mình thấy bất định để khởi sự sự gần gũi thể lý, rằng đơn giản mình chưa từng có trải nghiệm quan hệ kiểu thế… Một cuộc trao đổi chân thành nhất có thể tái đảm bảo người yêu mình rằng cái dấu hiệu dường như vô cảm của mình í không phải là do sự thiếu hụt ham muốn hoặc độ quyến rũ, hấp dẫn đâu.

Cần hiểu thấu đáo rằng những bức tường rào ngăn cách ghê gớm nhất chính là việc tiến hành trò chuyện, và khởi sự sự gần gũi thân thể hơn cho vài lần đầu tiên. Khi người yêu càng cởi mở đủ lâu để trợ giúp và các khởi sự được lĩnh hội, nắm bắt đúng đắn thì mình sẽ ngạc nhiên ngay về cách thức quá chừng nhanh chóng cho việc đạt được sự thoải mái và tự tin. Đấy sẽ là điều làm khuây khỏa, giảm nhẹ nhờ đơn giản biểu đạt tình cảm bằng cơ thể và độ quyến rũ tính dục khi nó khởi lên, hơn là mắc kẹt mãi với vô vàn phân tích trong đầu rằng nên hay không nên nhặng xị..

Trạng thái thân mật lứa đôi luyến ái thường tự chăm lo cho chính nó ổn thỏa, và khi mình chạm tới giai đoạn đó trong quan hệ thì thường các vấn đề gay cấn nhất cũng sẽ được gỡ rối, giải quyết. Khuyến cáo cô gái tập trung vào việc thiết lập quan hệ, cải thiện giao tiếp, và nâng cao các kỹ năng xã hội mình sẽ sử dụng trong một mối quan hệ yêu đương. Nếu gặp các sự cố, vấn đề quá chừng chuyên biệt, tham vấn tâm lý có thể thiết thực trợ giúp hiệu quả với các chiến lược xử lý nhắm đến các vấn đề này. Nếu cô gái đã từng tìm hiểu, hẹn hò trước đây, giờ cô cứ tiếp tục hẹn hò, tìm hiểu…