Vụt thấy khoảng tối thoáng qua của tâm lý học

Một người quen đến khám bệnh, bác sĩ cho cậu ta dùng một loại thuốc được dặn trước là có thể khiến hệ thống miễn dịch suy giảm rồi dần nhiễm virus lây lan. Không có chuyện đùa tếu gì ở đây cả. Bác sĩ giải thích rằng thuốc ấy là thứ đầu tiên làm bệnh nhân dễ tổn thương và cơ thể anh ta sẽ có nhiều khả năng chống kháng các vi khuẩn trong tương lai khi hồi  phục căn bệnh. Một cơ chế phòng vệ tự động được kích hoạt nhằm chống lại sự lây nhiễm vi khuẩn.

Giống như đang đến điểm tập thể hình và luyện tập thật chăm chỉ. Mình sẽ cảm thấy khô họng, mỏi mệt rã rời vài ngày tới rồi các cơ bắp theo thời gian săn chắc hơn lên, tự điều chỉnh từ từ và sẽ càng có thêm khả năng nâng nhiều vật lớn nặng.

Đây chính xác tựa cách các bác sĩ tâm thần có khả năng chữa lành những rối rắm cũng như đưa ngược trở lại các chức năng thân- tâm an lạc.

Trong cuốn sách về tâm lý của sự thuyết phục, tác giả thảo luận về làm sao chúng ta có thể tạo đòn bẩy bằng các kỹ thuật tâm lý giúp khách hàng mua sản phẩm mình đang chào bán. Không chỉ dùng trong thương mại, các kỹ thuật ấy còn được sử dụng nhằm thuyết phục và gây ảnh hưởng cho bất kỳ sự đấu thầu hay mệnh lệnh nào chúng ta mong muốn.

Bộc lộ những sai lầm, khiếm khuyết

Một cách để giành được sự tin tưởng của tha nhân là thay vì thể hiện sức mạnh thì nên bộc lộ những sai lầm, khuyết thiếu. Khi mình có khả năng chấp nhận những lầm lạc và sai sót, người sẽ lập tức thoải mái với sự hiện diện của ta vì họ cảm thấy siêu việt hơn. Hầu hết mọi người ghen tỵ với những ai thành công hơn họ, đặc biệt với bạn bè thân thiết.

Nếu mình là nhân viên bán hàng, trước tiên nên luôn lộ ra các khiếm khuyết của sản phẩm nhằm giảm thấp sự phòng vệ của khách mua. Hầu hết nhân viên quá chăm chắm bán các ưu điểm của sản phẩm đến độ làm cho khách cảnh giác rằng nhân viên đang cố đi đến việc kết thúc cho nhanh chóng.

Luôn dành lời nói tốt đẹp về người khác

Đừng bao giờ nói xấu sau lưng. Ai đó đồn thổi với ta về những sai sót của kẻ khác thì chẳng mấy chốc, chính mình lại có thể trở thành đối tượng bị đồn thổi. Điều ấy sẽ thúc mình phòng vệ với kẻ này.

Mình nên luôn dành lời nói tốt đẹp về ai đó vắng mặt. Điều này khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi có mặt mình và sẽ tin mình vì họ biết mình dễ thương với phát ngôn tích cực. Nếu khó chịu với ai đó, mình phải đối chất ngay để khỏi giấu che sự bực bội.

Có qua có lại

Nếu cần một sự quý mến từ tha nhân, đầu tiên mình nên đề cao giá trị của họ. Tỷ dụ, đang trên tiến trình giới thiệu và rao bán sản phẩm thì mình uống nước. Ngay lập tức mình đưa một chai nước đóng sẵn khác với lời mời lịch sự, điều này sẽ nảy sinh nhu cầu qua lại khi khách cảm thấy mang ơn. Vì thế, lúc đề nghị thỏa thuận giá cả, họ sẽ cảm thấy nhu cầu đáp lại điều được nhận; làm tăng thêm xác suất họ lựa chọn mua hàng.

Vậy nếu cần sự ghi nhận quý mến, hãy thử cung cấp cho người ta trước tiên một giá trị nội tại mềm mại nhằm đào sâu nhu cầu có qua có lại về sau…

Sự kiểm chứng của xã hội

Khi số đông đang thể hiện một hoạt động đặc thù, nó tạo điều kiện cho chúng ta bước vào việc quyết định với một kịch bản soạn sẵn. Giả dụ mình đang làm việc tại một hội chợ khuyến mãi tưng bừng náo nhiệt và nhịp điệu diễn ra rất nhanh thì mình có thể chứng thực được cách thức làm sao tận dụng sự kiểm chứng về mặt xã hội để hưởng đặc ân. Công ty mình lo cài đặt các thiết bị âm thanh cho dân cư trong vùng, rồi không ngừng mở rộng và tăng cao thêm sự kiện là ngày càng có nhiều người đứng xếp hàng khi rất đông đang mua sản phẩm đặc biệt này.

Điều ấy thôi thúc khán giả đang nghe mình bước vào kịch bản tự động của việc quyết định mua ngay.

Trạng thái hiếm hoi

Dẫu có đông khách hàng, mình phải bảo họ rằng số lượng sản phẩm không dồi dào nhằm kích hoạt phản ứng lựa chọn mua hàng trong tâm trí họ. Biết sản phẩm sẽ loáng cái hết sạch, khách hàng sẽ không chần chừ ra quyết định đặt hàng. Với người đang lưỡng lự  hoặc phân vân xem thêm sản phẩm của đối tác cạnh tranh, sử dụng kỹ thuật này có thể khiến họ thay đổi dự tính.

Chẳng hạn, có thể bảo với khách hàng rằng công ty chỉ còn lô hàng cuối trong kho sẽ khiến khách hàng muốn vồ lấy.

Nối kết các điểm trên và mình sẽ cải tiến, hoàn thiện hơn mối quan hệ với bạn bè, người yêu cũng như thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Thực tế, không ai sẽ thiết tha gắn bó và yêu mến mình lắm nếu mối quan hệ quá dễ dàng đạt được. Cách tiếp cận lý tưởng là tạo cho tha nhân nhu cầu làm việc vì sự chu đáo, ân cần của mình. Như cách săn việc trong một công ty danh giá với vòng trong vòng ngoài đầy người để được lựa chọn. Thậm chí, nếu mức chi trả có ít ỏi và kém cỏi, sự bất hòa về mặt nhận thức sẽ xuất hiện và khiến chúng ta hợp lý hóa cách thức suy nghĩ rằng đây là cơ hội tuyệt vời, bởi vì mình phải tốn nhiều công sức và thi thố nên mới được vào.

Lợi lạc của công tác tiếp thị trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần

Sự thật khá kỳ cục, các rào cản lớn nhất để làm cho việc marketing trở nên thiếu hữu hiệu đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần tư nhân thực tế lại không dính dáng nhiều đến tự thân chuyện tiếp thị, hoặc chẳng liên quan bao nhiêu với việc cạnh tranh cả.

 Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, trở ngại lớn nhất e chừng khởi đi bởi các viễn tượng nảy sinh bên trong lòng cá nhân người hành nghề, do các giả định và thành kiến sẵn có của họ. Chí ít phảng phất hai chuyện:
  • các vấn đề thực tế, liên quan đến chuyện thật ở đời
  • các vấn đề triết lý, liên quan đến chuyện gì được cho là ‘đúng đắn’

Các vấn đề thực tế thì dễ làm rõ bởi vì chúng phụ thuộc vào cách cuộc đời vốn đích thị như nào. Các vấn đề triết lý thì thú vị hơn và phụ thuộc vào quan điểm cá nhân người ta, nghề nghiệp và đời sống của chính họ.

Một ví dụ cho vấn đề thực tế là không ít người tin rằng (đúng hoặc sai) là cơ quan, văn phòng, trung tâm chuyên nghiệp đáng kính của họ cấm bất kỳ hoạt động marketing hoặc quảng cáo nào. Không thực sự có cuộc tranh luận gì với loại vấn đề này. Đó thuần là chuyện kiểm nghiệm để biết thật, giả ra sao: chính xác thì chính sách của các đơn vị là gì? Ngay cả thế, nếu mình tin mình bị ngăn cấm không được làm điều gì đó thì bản thân sẽ ít thích thú tiến hành gì vụ đó.

Ví dụ không hoàn toàn là vấn đề đơn giản song vẫn khá sát hợp với sự tinh tế có tính triết học hoặc dính dáng tới tầm nhìn cá nhân ở đời: một số người cho rằng marketing là tương tự với quảng cáo. Nếu nghĩ vậy thì cũng hay vì chứng tỏ công ty của mình tốt. Thực tế không khó đoán, nhiều tài liệu bìa ngoài là về marketing song trong ruột đầy tràn các lời khuyên về quảng cáo. Kỳ thực, quảng cáo chỉ là một phần của marketing, phần rất đặc biệt về các cách thức truyền đi một thông điệp marketing cụ thể, thường nhắm tới khách hàng tiềm năng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Bắt chước kiểu nói của dân marketing, đó là phần từ trong ra ngoài (inside-out), tức lan truyền thông tin, hơn là phần từ ngoài vào trong (outside-in), tức lắng nghe và nắm bắt nhu cầu khách hàng rồi thích ứng để thỏa mãn họ. Ở đây, lần nữa, nếu mình vốn tin rằng marketing và quảng cáo là như nhau, mình biết (tỷ dụ thế) là mình không thích quảng cáo thì rồi mình có thể không nhất thiết được khuyên can đừng làm bất kỳ hoạt động marketing nào (!)

Từ mối quan hệ giữa các vấn đề thực tế và marketing vừa nêu, nảy sinh các câu hỏi về marketing. Hấp dẫn hơn nhiều so với hai ví dụ chán ngán bên trên, là vấn đề làm cách nào mà mình, như một cá nhân hành nghề, nhìn nhận marketing và vị trí của nó trong tập hợp các suy tư lẫn cảm xúc về công việc, về thân chủ, về đời sống rộng lớn hơn bên ngoài công việc chuyên môn, và về vai trò của bản thân trong sự chuyển đổi thương mại gồm thời gian và công sức bỏ ra để thu lại tiền bạc, lời lãi. Các vấn đề này đa phần phát sinh từ quan điểm của mình về bản thân và về chuyện đâu là con đường, cách thức đúng đắn hơn là thuộc vấn đề của thế giới thực tế thường nhật.

Khi lọ mọ tìm hiểu vấn đề marketing trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, tôi nhận thấy đó chính là câu chuyện phản ánh vị thế độc sáng của người làm chuyên môn.

Rất thường, các vấn đề ấy gợi cả lố lo lắng khó chịu, bất định, lảng tránh, đôi lúc còn là ước muốn ‘tuyên bố quan điểm’ dứt khoát của bản thân về chiều kích thế này, thế khác… Song bất luận phản ứng ra sao, thậm chí chỉ cần khởi sự cân nhắc các vấn đề đã nêu là đã tạo nên một sự bắt đầu quan trọng hướng tới việc hiểu biết tốt hơn cách nhìn nhận thực tế không thể chối bỏ liên quan đến nghề nghiệp chuyên môn của bản thân.

Nhờ phản ánh quan điểm cá nhân về marketing và một số khái niệm liên quan cận kề mà mình có thể dần nhận ra các sức mạnh tiềm tàng trong marketing, điểm yếu chết người, và một số lĩnh vực hoặc mối quan tâm mình muốn lờ đi. Và quan trọng nhất, mình có thể vượt qua bất kỳ rào cản ngăn trở không cần thiết để marketing thành công, những rào cản có thể dựa trên điều mình không thực sự nghĩ một cách cụ thể trước đây hoặc chỉ đơn giản là do thiếu thông tin mà thôi.

Bởi việc tiếp tục kiên trì khám phá, nghi vấn, kiểm nghiệm, thử giả định, và phản ánh mà tôi tin mình có thể dần hiểu biết tốt hơn lên về người bạn đồng minh tốt nhất trong công việc marketing.

Cả thực tế lẫn lý thuyết đều chứng tỏ rằng nắm bắt cơ bản về marketing sẽ giúp mình khớp nối với những người khác (thân chủ tiềm năng, người sử dụng lao động, v.v…) về những giá trị nào mà dịch vụ của mình đem lại cho họ, và cả việc hiểu biết điều gì đó thuộc cảnh quan cạnh tranh bên trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần đặc thù mà mình thao tác.

Như thế, lợi lạc đầu tiên nhờ hiểu biết cơ bản marketing là sẽ giúp mình tiến hành hòa hợp với các nhóm khác nhau, cả khách hàng tiềm năng hoặc các nhà quản lý, ông bà chủ cơ quan, đơn vị liên quan: tại sao họ nên quan tâm, dù bé tí thôi, những gì mình có thể làm được cho họ.

Vi tế hơn chút, căn bản marketing sẽ giúp mình kết nối với các nhóm người đánh giá cao dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu của họ. Rốt ráo, không có hiểu biết về giá trị mình sẽ cung cấp, tại sao một thân chủ hoặc người quản lý nào đó phải sử dụng dịch vụ của bên mình?

Để khớp nối thông điệp giá trị này đòi hỏi:

  • hiểu biết các nhu cầu của người khác thực sự là gì,
  • cần thiết thích ứng đến độ mình có thể thỏa mãn các nhu cầu đó, và
  • giao lưu, truyền thông từ viễn tượng của họ để giá trị trong dịch vụ của mình làm sao thỏa mãn các nhu cầu họ mong muốn.

Thưc tế thì không phải vấn đề truyền thông và hiểu biết là câu chuyện dễ dàng tinh thông đối với những ai hành nghề dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần? Tuy có thể đúng thế thật, song tin xấu là không nhiều người hành nghề giỏi giang việc áp dụng trực tiếp các kỹ năng họ sở đắc trong chuyên môn vào nhiệm vụ marketing.

Rõ ràng dễ thấy là nhờ áp dụng các kỹ năng nhằm chuyển tải thông điệp giá trị trong công việc đang theo đuổi, mình sẽ sửa soạn tốt hơn để:

  • bước vào hành nghề tư nhân,
  • có nhiều thân chủ hơn trong công việc đang làm, hoặc
  • kết thúc các nghiên cứu rồi tìm ra phân khúc thị trường phù hợp với chuyên môn.

Lợi lạc thứ hai nhờ hiểu biết căn bản marketing là nó sẽ giúp mình hiểu biết bối cảnh cạnh tranh bên trong lĩnh vực chuyên ngành mình theo đuổi rồi định vị bản thân hoặc công việc phù hợp bối cảnh đó. Đây là chiến lược thị trường, nó suy cho cùng là áp dụng hiểu biết marketing cơ bản để nâng cao và hướng đích ‘giá trị đề nghị’ của bản thân, ví dụ, khớp nối giá trị mình cung cấp, đối với một lượng khách hàng lĩnh hội được và sẵn sàng chi trả cho giá trị mình cung cấp.

J. Soi (31): Hơn một huyễn tưởng

Đến chiều nay, 23 tháng Chạp, Viện Goethe còn gửi thư điện tử giới thiệu hệ thống đặt lịch hẹn trực tuyến để đăng ký các lớp học tiếng Đức.

Hơn một bao nylon đã được thu dọn và xử lý chứ không hề bị vứt vô tội vạ xuống sông. Hơn một người đã ra đi trong ngày cúng ông Công ông Táo, và vì thế, có thể làm xoắn xuýt thêm truyền thống gia đình.

Những từ ngữ này nhợt nhạt, song cầu mong chúng phục vụ đắc lực cho việc chú tâm vào giấc mơ; của chính mình và của những người khác. Mơ giúp thiên hạ suy nghĩ lại, tái định nghĩa hoặc đơn giản là tập trung lần nữa vào mục tiêu. Để tiếp cận thế giới họ, cần đôi chút khác biệt với tinh thần dũng cảm kèm phẩm chất tự tin.

Tôi cũng có một giấc mơ rằng tất cả chúng sinh sống trên cõi ta bà này với ít nỗi niềm hoài nghi bản thân, nhiều chấp nhận, tử tế và hạnh phúc hơn. Có lẽ, họ có thể giúp mình chú mục vào chính dự tính của bản thân.

Quá nhiều cho trải nghiệm về lời hứa hẹn thay đổi cuộc đời. Đang là những ngày cuối tháng Giêng, đã trôi qua 23 ngày so với dịp lễ mừng Năm Mới.

Những lời hứa hẹn và các vật thế chấp vốn như thế đó. Tạo nên từng khoảnh khắc, ngập đầy các kỳ vọng và sự đoán trước. Mỗi một ước ao và khao khát của mình như giấc mơ tựu thành của năm mới. Và ta đang ở đây, 23 ngày sau đó với những dự tính tốt lành đang ở trong sọt rác chờ tái chế. Một dạng thức của ấn tống, trầm tích.

Khi nhìn vào lời hứa hẹn và giấc mơ xảy đến, thấy hãy còn thời gian để chào hàng. Quảng cáo thì tốt cho mọi tháng nào trong năm, và bất cứ ngày nào của từng quý. Vẫn còn thời gian để ghé thăm lần nữa những cảm hứng, khích lệ rồi bước tiếp, dấn tới bán buôn. Ai quan tâm nếu tôi đang ở ngày 23, còn 7 ngày mới khóa sổ và kết thúc tháng. Và tôi đoan chắc 100% sẽ lại có những tờ bướm phất phới bay khác sẽ khơi lên lo âu đặng giúp mình hoàn thành đủ đầy những lời hứa hẹn. Bóng tối, ánh sáng, lạnh cóng hay nóng bỏng thì tất thảy lời hứa dù không như nhau song việc thành tựu đòi hỏi nhiều hơn việc duy mỗi thu hút mắt nhìn của một tờ bướm tiếp thị: nó đòi hỏi ta một khoản lợi tức hàng năm. Để đầu tư cho thời gian, tài nguyên năng lượng và vốn quyền lực…

Chấp nhận, nhẫn nhục và chịu đựng. Vậy nên hôm nay tôi sẽ viết hơn một chút, với cơn mê say luôn canh chừng trật hướng của huyễn tưởng. Hơn một suy tư, hơn một ý nghĩ hoặc hơn một cú bật sáng khơi nguồn. Đó là giấc mơ của tôi, còn bạn?

Nhà xí công cộng, đồng lòng giải bí

Tự nhiên như đất, ưu phiền vì thức
Tự nhiên như đất, ưu phiền vì thức

Thế là vài năm tới ai đi tàu lửa sẽ được thụ hưởng thêm tiện nghi thiết yếu khác: nhà vệ sinh sạch.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Liên hiệp quốc, Việt Nam hiện vẫn còn 4% dân số phóng uế trực tiếp ra môi trường bên ngoài, 16% dân số cả nước đang sử dụng nhà tiêu không cách ly được nguồn phân với môi trường xung quanh.

Đối với riêng ngành đường sắt, theo Cục Đường sắt, thống kê sơ bộ mỗi ngày trên tuyến đường sắt Bắc Nam có khoảng 6 tấn phân và 40.000 lít nước tiểu xả xuống đường sắt, bình quân mỗi năm lên tới 3.800 tấn. Nhưng đến nay mới có 10% toa xe lắp thiết bị vệ sinh tự hoại có thu gom chất thải.

Chuyện nhà xí luôn gắn bó sát sườn với đời sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Hơn 2 tỉ người trên thế giới đâu có được cơ hội thỏa mãn các chức năng tự nhiên của cơ thể, thường xuyên tiếp xúc với nguồn lây bệnh tật các kiểu.

Trước hết, đừng quên ngôn ngữ kiến tạo thực tế. Các ẩn dụ ví von góp phần xác định chúng ta cũng như truyền thông với người khác, về những gì đang đích thực diễn ra ngoài cuộc đời kia.

Vô vàn câu từ thô thiển dễ gây tức tối, làm mình giận điên lên, song vì muốn đảm bảo trật tự và hài hòa xã hội nó trông mong được làm mềm mại khi buộc phải đề cập góc cạnh khó nói. Tỷ dụ, “giấy cuộn phòng vệ sinh” chắc sẽ bán tốt hơn so với “giấy ngồi bồn cầu”. Nhà tâm lý học Albert Bandura chỉ ra bằng cách nào mà ngôn ngữ có thể giảm bớt tội lỗi đạo đức. Chúng ta có thể dễ dàng biện hộ cho một cuộc chiến tranh khi những trường hợp tử vong của thường dân được gọi là “tổn thất phụ trội” (collateral damage), khi việc giết người thành “phục vụ mục tiêu”.

Thứ đến, xin hãy nhớ tỏ lòng biết ơn mỗi lần mình giật nước toilet. Nhà xí là một trong mớ thứ nhỏ nhặt nhưng lại lớn lao vô cùng, phát minh hết sức giản đơn này góp phần quan trọng ngăn ngừa cái chết. Bí mật đằng sau nó nên được bật mí để đảm bảo cuộc sống lành mạnh, trong sáng hơn.

Thấu cảm xã hội là điều gì đó khá tự nhiên đối với con người. Vì thế, trong không gian công cộng, chuyện chung đụng khi đi vệ sinh quả đặt ra lần nữa nhu cầu thiết kế bảo vệ tính riêng tư đồng thời ngăn ngừa sỉ nhục xã hội. Và mô hình thiết kế Standford bao gồm ba cách thức đạt tính thấu cảm: suy tư, quan sát, và cam kết.

Do vậy, dưới góc nhìn cá nhân tôi không thích được nhân viên phục vụ đứng sẵn bên trong đưa khăn lau tay tại các nhà hàng, điểm đón tiếp sang trọng cho bằng việc tự mình tiến hành các thủ tục cần thiết khi vào rồi ra khỏi nhà vệ sinh mà không phải chạm vào bất cứ cái gì, cửa không buộc chặt, chốt khóa bên trong với nắm xoay mà nên thay bằng việc chỉ cần dùng khủy tay hoặc lưng đẩy là được.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Vụ “ăn” dày các công trình vệ sinh trường học đặt dư luận ngờ vực về các giá trị người công chức đề cao. Nhìn ra nước ngoài, cách đặt định các phản ứng chính trị của tác giả cuốn Tâm trí chính trực rất đáng tham khảo với 6 căn cốt: quan tâm đến đối tượng yếu đuối, dễ bị tổn thương; công bằng; tự do; lòng trung thành; tôn trọng giới chức cầm quyền; tính bất khả xâm phạm.

Làm trái lương tâm, đụng tới lĩnh vực bất khả xâm phạm– ý tưởng điều gì đó là thiêng liêng và không nên bị làm cho ô uế, vẩn đục– đào sâu cảm xúc về sự ghê tởm; đây là “một kiểu ác cảm thể hiện sự thu mình, tránh xa một người hoặc đối vật với những biểu đạt mãnh liệt của sự khiếp sợ… Nó là một trong các cảm xúc căn bản, đặc trưng liên quan với các thứ được xem là không sạch sẽ, không ăn được, gây nhiễm trùng, vấy máu me hoặc nếu không thì thuộc về điều gì chướng tai gai mắt, gớm ghiếc.”

Chúng ta tống đi, đẩy ra ngoài những gì gây kinh tởm. Nó không phải là điều mình nghĩ mà là điều mình cảm nhận trong cái bụng của bản thân.

Lời cuối. Liên quan đến sự phát triển nhận thức. Thật khó khăn để thấu hiểu điều kinh tởm của ai đó mà mình chẳng cảm nhận được, cũng như một cảm xúc cụ thể nào đấy mình không cộng hưởng nổi.

Ấn tượng Như Quỳnh

Hồng tú cầu, yên bình nơi này…

Nhìn chung, thời hiện đại, thiên hạ rất dễ bị ám ảnh bởi sự nổi tiếng; việc nối tiếp khi mình tình cờ bước vào tạo ra vấn đề với thông tin đến theo sau.

… Từ Hà Nội, chiều nay khu vực đang ở mất điện nên thử đi chơi xa bằng cách ngẫu hứng lần đầu tiên bắt xe bus 40 sang Như Quỳnh (Văn Lâm, Hưng Yên); đặt chân xuống cái thị trấn này, liếc cái, chợt thấy tấm biển giăng rõ to; té ra, nơi đây có Đền Ghênh thờ bà Hoàng Thái hậu Ỷ Lan. Trước giờ chỉ biết mỗi đền, chùa Bà Tấm.

Lêu bêu loanh quanh làng, thấy các mái nhà nhếch nhác, cũ kỹ đứng xen kẽ nhiều tầng lầu xây dựng mới sáng, khang trang; dòng kênh chảy qua đầy rác rưởi, màu nước đậm màu ô nhiễm nặng; lội một lượt chợ thị trấn hiểu ngay cái mức sống của vùng giáp ranh thủ đô vẫn còn nghèo khó lắm (song lòng khởi chút vui vui, cười thầm vì thấy bày bán cái mẻ).

Như Quỳnh thơm hương ngọc lan, có cây bàng vào hạ lá xanh mướt và trái sai đầy hy vọng thiện lành; trường học kiên cố, kín cổng cao tường mà ngôi chùa gần cạnh cũng khép chặt, kín mít.

Dọc con đường chính, một quãng lại treo móc xiêu vẹo tấm các tông viết chữ vội vàng thông báo chỗ trọ đang chờ bổ sung… Cái được lớn nhất ở làng e là vẫn còn màu xanh phủ quanh; người dân trẻ con mắt mũi tươi tỉnh, hồn nhiên thì đến thanh niên khá cởi mở hay người già thật chất phác, trò chuyện tin tưởng, chân tình.

… Tác động quá mức của những ấn tượng ban đầu liên quan tới hiệu ứng vầng hào quang (halo effect); hiện tượng tri giác các phẩm chất tích cực trong một điều hoặc phần đưa lại, làm nổi lên tri giác về các phẩm chất tương tự có liên quan, dính dáng tới các điều hoặc đến toàn thể luôn.

Hiệu ứng vầng hào quang thật quyền năng, song câu hỏi thắc mắc dễ được đặt ra với các mối quan hệ dài hạn. Cái ấn tượng ban đầu kiến thiết sự vụ song đoạn kế tiếp chắc cần lời kết.

Tỷ dụ, nếu mình chưa từng nghe nói đến hoặc diện kiến Albert Einstein bao giờ thì ấn tượng lần đầu thấy ông sẽ nghiêng sang hướng tiêu cực. Bây giờ, khuôn mặt Einstein kết nối với thiên tài, không điên khùng, rồ dại chút nào bởi vì ông là con người góp phần xác định thiên tài là nhân vật ra sao.

Vấn đề là hết sức hiếm hoi kẻ trong chúng ta là Einstein, và chúng ta thường đâu dễ có được cơ hội để chỉnh sửa một ấn tượng tiêu cực ban đầu.

Thực tế, sự vụ với những lần ấn tượng đầu tiên gồm cả tốt đẹp và xấu xa. Chúng tốt khi mình thích ai đó trong lần gặp đầu tiên; chúng không tốt khi lần đầu gặp gỡ là tiêu cực. Những lần gặp gỡ tích cực dẫn tới tính cố kết xã hội; những lần gặp gỡ tiêu cực tạo ra bao định kiến xã hội.

Hiệu ứng vầng hào quang bóp méo thực tế. Nó tạo dựng nên các ấn tượng sai lầm, nhầm nhọt và có thể, chẳng hạn, làm các nhà nghiên cứu thải bỏ các thông tin chống đối; chuyện làm ăn dễ tự mãn; cảnh sát định danh đối tượng nghi ngờ hoàn toàn trật lất; ngân hàng tiến hành các khoản cho vay bất cẩn…

Thả bộ về nhà, dưới ánh đèn điện, thấy mình tán đồng ngay rằng lịch sử thật tử tế; bởi quan niệm ấy cũng phản ánh một điều gì đó thuộc về bản chất con người và tính chủ thể của mỗi chúng ta, chứ không đơn thuần là phần mê tín cứ mãi đeo bám, rơi rớt lại.

Nghe tôi thử chia sẻ điều này tí nhé!

Trong các cú điện thoại, tin nhắn, thư điện tử và đôi ba vụ trực tiếp gặp mặt để nói lời chúc mừng hôm nay, một cô giáo Mầm Non ở tận Quảng Ngãi làm tôi hiểu kỹ thêm về giá trị của năng lực chuyên môn cũng như sự tử tế khi tác nghiệp, hành nghề truyền dạy.

Và tôi càng biết ơn TS. Mai Liêm Trực cùng cái ngày lần đầu tiên Việt Nam hòa vào mạng lưới điểm toàn cầu.

Chí ít, bởi một lý do cơ bản: khuyến khích. Để chia sẻ cảm xúc. Để bán. Và tin tôi đi, sẽ không bao giờ phải sợ lỗi thời đâu (như thương hiệu áo Việt Tiến bản thân luôn yêu thích vậy.)

Đến bây giờ, dạy theo kiểu của giáo viên đường đường chính chính tại trường học thì có thể hình dung như thế này: (giáo án mở sẵn), cô giáo đứng trước bảng đen kèm cả loạt hình ảnh minh họa, và đọc một văn bản để cả lớp cùng nghe.

Trong thế giới của sự đọc lướt, nhìn thoáng qua và quen thói lơ đễnh ghê gớm hiện nay thì công nghệ có thể đối xử hoàn toàn khác biệt; làm sao mình có thể chỉ biểu hiện sự truyền dạy (teaching) bằng duy mỗi lối nói năng mà thôi?

Về bản chất, nói năng mang đặc điểm tuyến tính và có nhịp điệu; mình không thể nhảy cách quãng, bỏ trống hoặc tăng tốc quá mức được. Khi giáo viên, người thuyết trình nói gì đấy đã biết rồi thì bạn đâm chán; khi thầy, cô vội vàng trình bày điều gì đấy khó hiểu nổi thì bạn bị lạc lối.

Nếu tiếp thị là nghệ thuật của sự lan trải rộng dài ra các ý tưởng thì nghề truyền dạy là một dạng tiếp thị. Và việc truyền dạy cho các nhóm bằng lời nói chắc chắn bị vỡ gãy; các khách hàng thông tin e chừng chẳng chịu đựng điều đó lâu dài đâu. Chúng ta sẽ học hỏi ngày càng ít đi với kỹ thuật nói năng cổ điển này, bởi vì mọi người háo hức với các món đồ điều khiển từ xa và các trang mạng điện tử.

Nếu truyền dạy– truyền dạy bất kỳ điều gì– tôi nghĩ mình cần khởi sự bằng việc nhận ra rằng có một nhu cầu bán các ý tưởng một cách đầy cảm xúc. Vậy nên, mình cần dùng bất cứ công cụ nào tương hợp với bản thân.

Và rồi nếu việc truyền dạy diễn ra cho một nhóm từ ba người trở lên thì mình nên phát hiện ra cách thức sao đó để dấn tới theo hướng không tuyến tính. Hỏi – đáp không phù hợp với một nhóm thành viên đông đảo.

Nếu việc truyền dạy là đáng giá thì nó đáng truyền dạy thật hay. Khi học viên lên con số hàng trăm, hàng ngàn thì quả đáng đầu tư công sức lẫn thời gian để tìm kiếm phương thức chuyển tải sâu sắc thông điệp muốn chia sẻ.

Với các ứng dụng công nghệ dựa trên nền tảng mới là internet thì việc giáo dục hàng triệu người mỗi ngày trở nên hết sức nhanh chóng và miễn phí.

Không thể cứ khư khư ôm giữ cho riêng một mình ta thôi thông tin trực tuyến. Thiên hạ chẳng chịu ngồi im khi mình nhín tí chút điều gì đó giá trị mà lại giấu nhẹm trong hộp báu vật hấp dẫn khủng khiếp.

Cuối cùng, rốt lại nan đề này: cần tìm cách thể hiện kiểu truyền dạy sao cho càng nhiệt tình chia sẻ bao nhiêu thì càng góp phần phác họa hết sức rõ ràng giữa những gì là miễn phí và những gì thì không…

J. Soi (7): Nhớ lời Karl Marx xởi lởi

Trí khôn thông thường (ngay cả trót lỡ bỏ quên nó ở nhà) bảo rằng, trước khi chối bỏ một mô hình bất kỳ nào, phải học hỏi về nó đã.

Bởi quá chừng khó khăn với việc vá sửa thị trường. Ngon ăn hơn nhiều là tìm một thị trường sẽ tôn trọng và trả phí cho công việc mà mình có thể làm. Thực tế, các công ty chuyên về công nghệ tuân thủ lệ này lâu nay rồi; giờ tất cả chúng ta phải làm thế thôi.

Hàn gắn, sắp đặt hầu như luôn là cuộc chiến đấu nhất định thất bại. Do anh giỏi giang điều gì đấy đâu có nghĩa thị trường kéo dài mối quan tâm thêm.

Lời khuyên quá tốt đẹp thì rất dễ dàng bị soi xét kỹ càng. Đa phần ai cũng biết, chớ dại bơi trong nước toàn cá sấu khủng; dĩ nhiên, đôi khi nếu mình chợt muốn ở phía bên kia của hồ thì cố đừng phàn nàn, ca thán chi mà chỉ việc bơi nhanh.

Trách nhiệm, nôm na ra, có thể hiểu là sự đáp ứng thích đáng.

Cách tân, sáng tạo vốn là hành động của chuyện đưa điều đã tiến hành thực hiện ở đấy rồi đem sang triển khai, ứng dụng tại đây.

Vấn đề của mình, dù thế nào chăng nữa, chắc chắn có một giải pháp đứng nằm nơi chốn này kia trên đời. Và tổ chức của mình đích thị mắc kẹt vì họ không biết cần làm gì, quan trọng hơn, không có các quyết tâm để làm (quyết tâm chính trị cũng đáng được lựa chọn lắm chứ).

Một ví dụ trong thế giới thực hết sức chính xác về vấn đề đặc thù của riêng mình sẽ tự dưng trở nên hoang đường không thể tưởng, vì chẳng những chỉ cho mình thấy cần làm gì, nó còn đem lại cho mình lòng tin cậy để làm nó.

Nên nếu mình cứ mong chờ một điển cứu (case study) chứng thực rõ ràng, hoặc một cách trực tiếp trỏ nhắm vào thì mình sẽ ngóng đợi mòn mỏi, dài lâu.

Kỹ năng, cơ chừng, là duy trì ước muốn và có quyết tâm kiếm tìm các minh họa tương tự– thay cho việc cứ nằn nì, khăng khăng xin xỏ cho phép được giữ vai trò đồ đệ đi theo ai đó với nỗ lực, quyết tâm cháy bỏng.

Giờ hãy chia sẻ về đòn bẩy. Sau những phát ngôn, tìm ở đâu để nhận được sự khuyên nhủ, bày dạy? Từ những người nổi tiếng, yếu nhân và các tổ chức tầm cỡ.

Song, đừng quên, vấn đề của khuyên nhủ là mình cần hai điều để nó thao tác:

1. nó phải tốt đẹp

2. nó phải tạo động lực cho mình đích thực làm điều gì đấy.

Lý do đơn giản khiến người ta hướng tới những nhân vật lừng danh và các tổ chức to lớn là vì lớp phủ hào nhoáng của sự nổi tiếng và quyền uy khiến nó dễ dàng hơn trong việc khiến mình tự thuyết phục bản thân mình và các đồng nghiệp của mình thực hiện hành động– đích thị làm điều gì đấy với lời khuyên nhủ.

Chuyện nhiêu khê là, lời khuyên của người nổi tiếng không phải luôn luôn tốt đẹp hơn (thường nó không tốt đẹp hơn, khi mình thoáng nhìn) và nó càng đắt giá, buộc mình năn nỉ hiểu biết rốt ráo những gì đang diễn biến.

Lưu ý rằng, mệt mỏi kinh khủng và dính mắc sâu quá khiến đòn bẩy cao đến mấy cũng khó tác dụng.

Vậy thì, vâng, mua lời khuyên. Mua nhiều lời khuyên. Song quan trọng nhất, hiểu biết tại sao lời khuyên là lời khuyên tốt đẹp, hiểu biết đích thị động năng ẩn bên dưới nó– rồi thì mình sẽ không gặp bất kỳ rắc rối, phiền nhiễu nào cho việc bán ý tưởng, bởi vì chẳng phải vấn đề ở người khuyên nhủ… chủ yếu ở lời khuyên nhủ.

Đây là lời thiên tài Karl Marx một thời xởi lởi:

… vương triều Đức quốc đương đại, một quái thai lỗi thời (anachronism), một sự phủ nhận trắng trợn của những gì vốn được xem là chân lý hiển nhiên, một tồn tại vớ vẩn của chế độ cổ đại (ancien régime) đối với thế giới, chăm chắm hình dung rằng nó cứ tin tưởng vào bản thân và yêu cầu thế giới nên hình dung theo cùng lối kiểu tương tự. Nếu tiếp tục tin vào yếu tính (essence) riêng có, liệu nó có cố gắng che giấu yếu tính đó đi dưới vẻ bề ngoài (semblance) man trá khác và nỗ lực ẩn náu trong hành động đạo đức giả (hypocrisy) và thói ngụy biện (sophism)? Chế độ cổ đại tân thời chỉ xứng là diễn viên tấu hài (comedian) của một trật tự thế giới nơi mà các anh hùng đích thực (true heroes) đã tiêu ma hết rồi. Lịch sử phải băng vượt, xuyên qua nhiều giai đoạn nghiêm trọng khi mang vác trên mình một hình thức cổ lổ sĩ. Những giai đoạn sau rốt của một dạng thức sử tính-thế giới chính là tấn hài kịch của nó (its comedy)… Tại sao lịch sử lại diễn tiến như thế? Để nhân loại có thể dự phần vào trạng thái hớn hở (cheerfully) của quá khứ. Định mệnh lịch sử phởn phơ này là điều chúng ta thù oán đối với nền chính trị độc đoán của Đức quốc.

Wow, chuyến tới nếu các chuyên gia hàng đầu lại nhiệt tình xuất hiện và trình diễn màn trò khuyên nhủ quen thuộc, xin báo hộ rằng bạn đang bận nhé!

Lún mắc vào những điều vụn vặt

Thông lệ luôn biết mình chỉ cần mua chút ít đồ gia dụng, thực phẩm, rau- trái- củ- quả gọi là nên chẳng mấy chốc mà xong việc ngay, song tôi lại không rời chợ ra về rất nhanh vì ít nhiều tò mò để ý xem thiên hạ lượn qua lượn lại… Thật lạ, nhiều người cứ bước tới lộn lui, mãi mà vẫn chưa thấy họ dứt khoát được nên bỏ thứ chi vào giỏ; chắc do còn phân vân ghi nhớ đầy đủ các món, đặt lên hạ xuống hàng này, giá nọ, nhãn kia chăng…

Tại sao xảy đến hiện tượng chúng ta lắm khi bận tâm ghê gớm với cái quyết định về những thứ tương tự– trên đại thể– không thực sự quan trọng quá mức?

Một bài báo đăng trong số Tạp chí JCR tháng 8.2012 góp phần lý giải điều thắc mắc vừa nêu ấy.

Hai tác giả khẳng định, quyết định chẳng mấy quan trọng có thể lôi kéo, cuốn hút chúng ta khi chúng phức tạp hơn rất nhiều so với dự liệu. Họ gọi các lựa chọn này là “quyết định cát lún” (“decision quicksand”), vì chúng đẩy ta vào sâu dù chúng không xứng đáng đòi buộc mình phải bỏ công, tốn sức như thế.

Kết quả từ hai thực nghiệm trong nghiên cứu trên cho thấy, khi tiến hành các lựa chọn, chúng ta phải để ý cân nhắc giữa sự nỗ lựcđộ chính xác. Tức là, yêu cầu chúng ta cần tiêu hầu hết thời gian vào những lựa chọn nào quan trọng nhất ngõ hầu ráng sức đảm bảo chắc chắn rằng mình có được lựa chọn tốt nhất.

Câu chuyện ở đây: làm sao chúng ta biết mình nên tiêu tốn bao nhiêu thời gian cho một lựa chọn?

Lúc bắt đầu, chúng ta ước đoán khá dễ dàng để đi đến một sự lựa chọn. Rồi khi chúng ta ngờ rằng lựa chọn là khó khăn và nó đúng thế thật thì chúng ta lại chỉ thích tập trung tới các lựa chọn, chứ không nhắm vào tính gay go của quyết định.

Chúng ta vốn giả định sự lựa chọn là dễ dàng và đến lúc nó cho thấy là khó khăn thì chúng ta tỏ vẻ ngạc nhiên bởi cái sự rắc rối, gay go đó. Chúng ta đáp ứng hết sức tự nhiên với nỗi khó khăn chẳng hề mong đợi tí nào bằng việc nỗ lực nhiều hơn, thậm chí gắng sức phụ trội không cần thiết nữa. Đáp ứng kiểu vậy phản ánh: thêm một chút nỗ lực thường sẽ giúp mình giải quyết được các vấn đề chúng ta tình cờ bắt gặp trong đời sống hàng ngày.

Vậy, rốt cục thì mình có thể làm gì nhẹ nhàng?

Khi tới cửa hàng bán đồ tạp hóa và thực phẩm– hoặc bất kỳ nơi chốn nào không nhất thiết phải có một quyết định cực kỳ chính xác lắm í– mình nên giữ sự chú tâm trên tiến trình đưa ra quyết định. Thoáng bỏ tí chút thời gian lướt qua, khoanh vòng nhanh ước muốn khiến không phải tốn quá nhiều thời gian chẳng đáng cho việc ra quyết định và để dành sức còn lại cho những lựa chọn đích thực quan trọng.

Chi phí phải trả càng đắt đỏ, lời khuyên càng có giá trị

Bất luận là lĩnh vực nào trong cuộc sống, có vẻ chúng ta hầu như rất thích nghe lời khuyên đắt giá.

Thực tế, có không ít người sẵn sàng trả tiền cho ai đó ngõ hầu hưởng lợi từ sự khôn ngoan của đối tượng. Bất luận chất lượng của lời khuyên ấy ra sao, đoan chắc đây là sự thật: việc người ta phải trả tiền để có nó, chứng tỏ nó rất đáng được xem xét, chú ý tới một cách thấu đáo.

Chí ít, nghiên cứu này cho thấy rằng chúng ta càng rất thích sử dụng lời khuyên mà mình phải bỏ tiền ra hơn là lời khuyên miễn phí, ngay cả nếu chẳng có sự khác biệt nào về chất lượng giữa hai nguồn.

Theo đó, sinh viên trả lời các câu hỏi về lịch sử Hoa Kỳ, và nhận một giải thưởng be bé bằng tiền mặt cho những câu trả lời đúng. Các sinh viên hoặc tùy chọn nhận lời khuyên cho những câu trả lời đúng, hoặc họ bị ấn buộc phải nhận lời khuyên. Đôi khi lời khuyên này miễn phí; lúc khác thì phải trả tiền với những sinh viên không giành được chiến thắng. Điều cơ bản ở đây, lời khuyên luôn luôn xuất phát một nguồn như nhau– sinh viên nhận được trong dạng thức câu trả lời đến từ một phiên dẫn dắt cho cùng một câu hỏi– vì vậy, chất lượng lời khuyên tuyệt không hề thay đổi, dù nó đưa ra miễn phí hay phải trả tiền.

Kết quả nghiên cứu phát hiện thấy, những người tham gia rất thích chọn loại lời khuyên mà họ phải trả tiền, hơn là lời khuyên được cho không, dù họ biết rõ ràng là lời khuyên cùng một chất lượng. Nghiên cứu cuối khẳng định, loại lời khuyên càng đắt tiền, càng được các sinh viên chọn lấy.

Nghiên cứu trên có thể lý giải bởi một hiện tượng mà trong lý thuyết ra quyết định hay được gọi là sự ngụy biện của chi phí chìm, đắt đỏ.

Đây là ước muốn của chúng ta nhằm bào chữa cho những đầu tư đã tiến hành từ quá khứ thông qua hành vi ứng xử trong hiện tại và tương lai (giờ thì hiểu tại sao đôi giày mắc tiền chúng ta mua cứ nằm mãi dưới ngăn kệ).

Với trường hợp lời khuyên nhủ, dường như chúng ta cảm thấy bị cưỡng bức phải dùng sự hướng dẫn, chỉ bày mà chúng ta đã trả tiền tốn kém mới có được. Và dường như, nó giải thích tại sao lắm lúc sự lừa lọc, lường gạt lại có tác động mạnh mẽ đến vậy.

Quảng cáo: không chỉ giới thiệu về mỗi sản phẩm mà thôi

Động cơ là chìa khóa để tạo ra một quảng cáo hoàn hảo.

Thể hiện một lợi lạc rõ ràng, quảng cáo đưa mời một sự chào hàng đầy quyền năng, với một đối tượng hướng đích rất chuyên chú.

Có thể nói, tất cả những gì mà công ty khêu gợi lợi lạc thật hấp dẫn muốn thu hút thì nên được đặt thành các câu chữ: chính xác và riêng biệt; rồi khởi động nó. Chắc chắn, kết quả sẽ gây ngạc nhiên bội phần.

Thực tế, cho dù không chú ý tới quảng cáo thì nó vẫn ảnh hưởng tới ta. Mở tờ báo, cuốn tạp chí ưa thích và nhìn vào các trang nêu một lọat danh sách quảng cáo về giày dép, áo quần, xe cộ, đồ ăn thức uống… ; hoặc bật TV lên và những khuôn mặt mỉm cười tươi như hóa í đang cố gắng bán cho ta nào là kem đánh răng, dầu gội đầu, kẹo bánh và các chính trị gia,…

Vậy, quảng cáo thực sự làm những gì?

Nghiên cứu buộc chúng ta suy tư gấp đôi về khả năng ghê gớm của quảng cáo đủ khiến mình bộc lộ đến mức độ thế nào.

Chúng ta thường hay giả định rằng, các chức năng của quảng cáo đa phần bảo cho biết về các thuộc tính liên quan đến sản phẩm.

Một loại bột giặt nào đó có thể tẩy sạch vết bẩn tốt hơn hẳn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, nó thật thơm và làm cho áo quần tinh tươm, sáng bóng. Chúng ta tin đây là những điều khiến chúng ta muốn mua loại bột giặt ấy.

Tuy nhiên, quảng cáo còn tiến hành nhiều điều khác nữa. Một việc nó làm là đưa sản phẩm ra và đặt nó tiếp theo những điều từng khiến mình cảm thấy hết sức tích cực. Thí dụ, một quảng cáo về bột giặt có thể thêm vào hương thơm tự nhiên, các bé dễ thương và ánh nắng mặt trời. Những thứ chúng ta vốn cảm thấy tốt này được lặp đi lặp lại nhiều lần kèm với loại bột giặt cần giới thiệu sẽ làm cho chúng ta cảm thấy loại bột giặt í cũng tốt theo luôn.

Sự chuyển dịch cảm xúc chúng ta từ điều này sang điều khác gọi là điều kiện hóa cảm xúc (affective conditioning).

Các kết quả này khẳng định, hầu như hiệu ứng mạnh mẽ nhất của quảng cáo đích thị tạo ra một cảm nhận tốt lành về một sản phẩm bao quanh nó với điều gì khác mà ta thích thú.

Cũng quan trọng để chỉ rõ rằng, điều kiện hóa cảm xúc sẽ gây tác động sâu sắc nhất khi mình không nhận thấy điều gì đang diễn ra.

Tức là, cố gắng ít chú ý tới quảng cáo trên TV và trong tạp chí có thể thực sự làm cho kiểu quảng cáo này càng tăng thêm hiệu quả.

Nhân tiện. Vụ lùm xùm dính dáng mì gói ăn liền hiệu Gấu Đỏ minh họa bài học đáng nhớ này: hành vi của con người bị tác động mãnh liệt bởi môi trường. Hết sức thiết yếu trong việc cân nhắc bối cảnh con người đang sống.

Bối cảnh có thể quyết định không những cách thức con người ứng xử mà còn cả lối kiểu vô cùng khác biệt họ hành động theo cách họ được trông đợi, và trong hầu hết trường hợp, cách thức bản thân họ sẽ thích biểu tỏ thế nào.

Nôm na, quảng cáo bạn làm ra không phải dành cho bạn.