Ô che mưa đêm

Kẻ cũng ngộ, vì kẻ không hề sở hữu bộ áo hay chiếc dù chi lại được đưa cho cái ô (to đùng) che mưa. Đang hồi bão giông, nước tuôn xối xả, phố xá dâng ngập đủ cản bánh xe lăn thì ngồi bus tới bến cũng phải bước xuống lội bộ…

Mấy đoạn trong phố cổ trông thêm phần chịu đựng ngoài hàng rào khung sắt dựng lên ngăn thành khu vực dạo chơi cuối tuần. Giờ Hanoi tạnh ráo, trên tầng cao, thương cho sự bất toàn chứa mang vẻ đẹp trái ngang. Đời sống chúng sinh vốn thế, giãy giụa với vô vàn trói buộc, hoang đàng, tù túng, bung phá… Cái quán ăn bố trí bàn sát dọc theo lối đi bán cả đồ chay lẫn mặn sao chán nản và vạ vật; hàng café với ghế ngồi nệm ấm vẫn cứ lộ rõ bơ vơ, lạc lõng… Nhớ đọc tin một ứng cử viên Tổng thống đảng Dân chủ của Hoa Kỳ muốn trở thành ‘zen president’; ông í cho rằng tổng thể thì Hoa Kỳ là một xã hội rất thương đau (very traumatized society), và vị ấy mong mỏi dùng tỉnh thức (mindfulnesss) đặng chữa lành cho cả cộng đồng, xã hội, hành tinh. Tròn 100 năm trước (1919), Hồ Chí Minh nêu yêu sách đòi lợi quyền cho dân An Nam với thực dân Pháp cũng biểu tỏ chủ nghĩa thế tục (secularism) tương tự ở khía cạnh chính trị: ‘Trăm điều phải có thần linh pháp quyền’; nhắc luôn, còn có kiểu bộc lộ chủ nghĩa thế tục thuộc triết học, và văn hoá- xã hội nữa.

Tiếng còi xe ngân rú vọng lên góp dồn sự xô bồ, ồn ã. Trơ quen, mất cảm giác hụt hẫng, bực bội, hoặc cáu gắt; thay cho tiếng máy bay vút qua mái nhà là ô tô di chuyển dưới lòng đường; thiên văn, địa lý thấu biết, bao tuốt (!). Cần tìm kiếm các công cụ phù hợp để đánh thức chính bản thân mình rồi lớn lên tương xứng. Mắc kẹt chi thì vẫn đủ sức tranh thủ liếc nhìn, phát hiện cách liên hệ mới mẻ với kẻ thù gần gũi: tham- sân- si.

Ô che mưa đêm, thềm nhà ngả lưng ghé nghỉ. Êm đềm.

Thân thể này tựa một dòng sông

Không sắp xếp từ đầu, lượn lờ trên phố ban trưa lựa chọn quán ăn để rồi thấy mình đâm thẳng một đường Hùng Vương theo hướng băng cầu Ngã ba Huế. Trục chính của Đà Nẵng, vốn xưa là cái vết dọc mà bọn con nhà nghèo lấy làm mốc phân biệt. Sát với chợ Hàn, ‘bông kia sên’ là quận 3 xa xôi nhấp nhô nhà chồ cách trở đò ghe; đầu kia, tới ngã ba Cai Lang trở ra là xem như xô bồ bến xe đi về, hết chỗ lang thang rồi. Địa giới tâm tưởng cùng cách nhìn nhận lằn ranh phân chia nọ kia một thời nhỏ hẹp thế.

Cái đình làng ở trong ngõ phố thị thành lâu rồi cũng biết cách để dần biến mất. Đất đai khan hiếm, người tụ về đông đúc, nhu cầu ăn ở và đi lại, giao lưu khiến lắm thứ vốn quen biết nay đà lạ lẫm, khó hiểu, chập chững. Và sông đời cứ chảy, bên đường Hàn giang hờ hững.

Trong trường dạ tối tăm trời đất

Có khôn thiêng phảng phất u minh…

Văn tế thập loại chúng sinh (Nguyễn Du)

Trời nắng chang chang, tiết rằm tháng Bảy. ‘Sống đã chịu một đời phiền não, thác lại nhờ hớp cháo lá đa’… Xưa nay ngôi chùa gần nhà vẫn tồn còn cây bồ đề với vô vàn thứ thi thoảng người ta đưa ra dưới gốc thải loại, gửi nhờ, ký thác…

Con rắn của muôn năm cũ càng chưa chịu rời đi; vận mạch lột sạch trong ngoài hình tướng. Giữa mùa hè đầy sức sống, vạn vật dâng trào khí nhạc dồn lại chẳng có gì thao thiết. Không buộc phải tin, xuyên qua ngày, lớp vỏ ẩm ương ắt sắp tới hồi tan rã.

Quá dễ bị chi phối bởi trạng thái chấp chới của thời dĩ vãng đang qua… Mưa, cây, sấm, và ánh sáng. Thanh tịnh vô ngần.

Tiếng bật nẩy của nồi cơm điện

Có chút gì chẳng rõ, trong rộn ràng bộn bề nhân sinh, đa cảm trộn vô tình,
cùng nhốt chung một rọ

Đấy là dấu hiệu của chín tới, tựa dấu nhắc của canh chừng vừa an toàn vừa cần cẩn trọng kẻo tràn vượt. Hơn cả cơn lũ, cú bật nảy đòi hỏi canh me trong hy vọng tốt lành của ấm áp, no đủ.

Khi hướng tới sự hiện diện đích thị, cuộc chuyện trò trở nên hiện quả; ta nói với chính mình bằng tiến trình tập luyện để phơi bày thái độ tò mò và quan tâm, đặng bất chấp tình huống xảy đến, gắng chú mục vào vấn đề đang là…

Các bước đi cụ thể thế từng được thử nghiệm rồi chứng thực là hiệu quả. Có điều, khi nồi cơm điện đột ngột bật nẩy, toàn bộ ý niệm ngỡ chừng đề cao thông thuộc là ‘sống với khoảnh khắc hiện tại’ bị tổ trác. May mắn kịp nhận chân, rằng ‘hiện diện’ không liên quan gì lắm bất kỳ khung thời gian nào mà cơ bản, sự tỉnh thức (mindful) trỏ việc nhận ra có ý thức rõ ràng những suy tư cùng cảm nhận xảy đến trong phút giây hiện tại, trái ngược với sự hiện diện theo lối mặc định; vì thế, nhờ tỉnh thức, mình có thể nghĩ về quá khứ, hiện tại, và tương lai.

Tiếng bật nẩy của nồi cơm điện chấm dứt biết bao vật lộn, xuống lên; nó còn mở thẳng cửa cho đợi chờ đầy hy vọng. Chẳng giống khi đọc mấy vấn đề tư duy triết học Việt Nam từ quá khứ tới đương đại, nghe tiếng bật nẩy của nồi cơm điện thì thừa cảm hứng để hiểu rằng, cay đắng hay ngọt ngào chi chi thì rồi ra hiện tại cũng đang dần trôi qua. Dĩ vãng mãi rời xa hẳn, tương lai không ngừng đến, và hiện tại ở cùng nơi với điểm tới của tương lai.

Lặng im, sùng sục, thư thái, câm bặt, bồn chồn, thôi thúc, yên vui… Trải nghiệm vừa qua chẳng phải là một trải nghiệm tình cờ.

Khi người vẫn ưa thích và chưa chán sống ở phố thị…

Dịp thành phố quê nhà kỷ niệm ngày giải phóng trôi qua lâu rồi, chắc giờ này nguồn nhiệt hứng khởi hừng hực đã vơi giảm ít nhiều. Đọng lại dấu ấn đô thị chắc là mấy từ trỏ việc làm cụ thể nay mai: phía Tây (mở rộng), sông Cổ Cò (nạo vét để du lịch đường thuỷ vào Hội An), Hoà Vang (phát triển).

Thành phố đáng sống hẳn là thành phố đảm bảo các chất lượng sống khá cao. Cả trên bình diện quốc gia, ảnh hưởng của văn hoá và xã hội lên sức khoẻ tâm trí vẫn còn là đề tài mông lung. Cần biết, tuy xã hội đặt để các quy tắc ứng xử chung song không phải mọi kỳ vọng của xã hội đều thuộc lĩnh vực đạo đức (morality); chúng ta vì thế, cần một cách thức độc lập trong việc lượng giá các tục ước (convention) nào là luân lý (ethics) và cái gì thì không. Do luân lý độc lập với các giáo lý nên nó độc lập với các tục ước xã hội. Và thường thì có 3 nơi hồi quy hành vi xã hội: cá nhân, các tục ước xã hội, và đạo đức.

Vào thời điểm mà các thành phố, trong đó có Đà Nẵng, chuẩn bị sẽ đi vào sự trải nghiệm tăng trưởng theo cấp số nhân, cùng với dân số vọt cao thì càng phải biết thấu đáo ảnh hưởng của môi trường đô thị tới hạnh phúc cùng sức khoẻ ra sao.

Ghê ta.

… Mấy đoạn trên khởi thảo đã hơn nửa năm mà giờ bài còn dang dở. Tối nay định vội vàng hoàn thành chỉ như là cách để tránh rét lúc xa nhà.

“Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”: trong trập trùng thế giới của huyễn tưởng

Quờ tay vào huyễn mộng- thấy đong đầy thuyền mơ...
Quờ tay vào huyễn mộng- thơ đong đầy thuyền mơ…

Bộ phim Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh cố ghi nhận những chuyển biến tuổi phơi mặt chìa tay mưa nắng thời đói nghèo chưa xa ở nông thôn miền Trung; dĩ nhiên, câu chuyện thật thơ trên cảnh sắc Việt Nam ấy thừa gợi hứng về chủ đề ghét bỏ, bảo bọc và cạnh tranh khi yêu thương vơi đầy mơ hồ trong tâm tưởng nhân loại lúc người ta còn nhỏ dại.

Đứng trước viễn cảnh huyễn mộng giã từ, khán giả ít nhiều dễ nhận ra cái phong cách rập khuôn điện ảnh Hollywood, lối diễn xuất Hàn quốc và kiểu kể chuyện hiện đại tin rằng không khó để thỏa mãn xu hướng hội nhập toàn cầu. Mặt khác, chúng mình cũng nhanh chóng bắt mắt bởi thế giới của vô vàn huyễn tưởng mà các nhân vật nhí lớn lên không ngừng được dựng xây từ sách vở, chuyện kể truyền miệng, lịch sử vùng đất duyên hải, văn hóa cổ xưa, tập tục gia đình, thảm trạng kinh tế nghèo đói. Đấy là tình thương yêu, các mối quan hệ gắn bó thân mật, nỗi niềm chia ly hụt hẫng, giai đoạn quá độ mất mát, khủng hoảng và biến cố đời sống.

Bộ phim về tuổi bé tí song có vẻ dành ưu tiên cho những ai lớn rồi mà vẫn muốn nhấm nháp trở lại ý vị những rung động đầu đời. Vì lối dàn dựng đôi khi khá phô nghiêng truyền hình, chèn vô quá háo hức ước muốn đặc tả chi tiết bầu không khí sinh hoạt nông thôn tháng năm lam lũ đói khát với bài hát Thằng Cuội, ngôi trường sập xệ, tiếng trống thùng thình và ánh đèn Trung thu tự tạo diệu kỳ cho nên rốt ráo, yếu tố huyễn mộng mông lung buông chùng thiếu thuyết phục, và dấu ấn chuyển đổi nửa cuối phim cơ chừng hụt hơi, giảm sút chất hư cấu đáng giá khiến lần nữa mộng mị đâm ra rã rời hơi vội trước ánh sáng đời thường trần trụi.

Bị bỏ rơi là thứ cảm xúc đầu đời con trẻ. Không đơn giản chứa chan ý nghĩ khát khao mãi cứ chưa thôi, huyễn mộng tự thân nó dính dáng cả quá khứ lẫn vọng tưởng tới tương lai. Như người trưởng thành, ta không có khả năng, xét từ khía cạnh kỹ thuật, bị bỏ rơi (trừ khi bị phụ thuộc thuốc, chẳng hạn); lý do là người trưởng thành lành mạnh về mặt tinh thần, ta đích thực không bị bỏ rơi trong cảm nhận thời thơ ấu. Cảm giác diễn ra thuở đầu đời đó thường liên quan với quãng thời gian bị người lớn hoặc bố mẹ bỏ rơi; ấy là thứ cảm xúc thoái lùi, điều kéo mình quay về thời thơ ấu hoặc trạng thái cảm xúc bé con.

Vậy đối đáp sao với ý kiến bảo rằng người mê xem TV hoặc ghiền điện ảnh thì đa phần là kẻ giết thời gian vô bổ, chẳng bù lỗ bao nhiêu tính cách, rằng các fan hâm mộ truyện dài cũng như thích xem trình diễn e cùng lắm chỉ là sự mê mải vô hại? Không đơn giản thế.

Tại sao chúng ta thích xem các bộ phim lãng mạn, chuyện tình sướt mướt, éo le ngăn trở…? Tại sao quan tâm chú mục vào vụ việc lãng mạn ai đó khi ta biết nó không đích thị lãng mạn chút nào? Bởi vì những gì chúng ta cơ chừng đang thực hiện không phải thứ mình đang tiến hành. Những thứ mình thực sự làm khi theo đuổi một câu chuyện tựa như bộ phim đang bàn tạm bó vào hai loại: 1) giả lập các trải nghiệm ấy cho chính bản thân, và 2) bước ra ngoài các trải nghiệm rồi tự hỏi bản thân mình có thể học hỏi hoặc dần dần hiểu thấu tốt hơn hẳn thông qua việc suy ngẫm chúng. Người hâm mộ từ từ tỏ tường vài ba kiến thức quan yếu, các bài học dính với điểm 1) vừa nêu ở chỗ ta cảm thấy mình trải nghiệm ít nhiều các sự kiện ở đời đi cùng các nhân vật trong truyện; khi dấn sâu điểm 2) là rời ra để nhìn ngó từ góc nhìn khác thì mình có thể thêm lớp trầm tư cho lớp thuộc trải nghiệm.

Dạng thức truyện, phim hư cấu cho phép người ta tưởng tượng bản ngã hòa với các hoàn cảnh của tha nhân; họ mở rộng mức độ nhất định cảm nhận về chính mình. Khi độc giả, khán giả thả lỏng lơi là nhân cách để thâm nhập tương tự tính cách nhân vật, hoặc khi họ bước vào các tình huống về mặt tâm trí so với những ai họ quen thuộc, họ thay đổi để dần trở thành chính mình hơn.

Kể quãng đời thơ ấu của bộ ba Thiều- Tường- Mận, đạo diễn bộ phim cho thấy sức hút mãnh liệt của cây đa, giếng nước, sân đình, bãi biển, bờ ruộng, làng xóm đã không ngừng nuôi dưỡng, vun bồi tâm hồn bao thế hệ. Các huyễn tưởng chẳng hề phù phiếm; chúng chẳng những có thể dùng để giải trí, phân tâm, đáng sợ, thậm chí kích thích mà còn tạo điều kiện khởi phát sáng tạo và giúp ta lập kế hoạch cho tương lai. Chừng nào mình không lầm lỗi đánh đồng các huyễn tưởng với thực tế (như trong rối loạn loạn thần hoặc tâm thần phân liệt) hoặc để mặc chúng trở nên quá chấp thì chúng có thể cung cấp một bước trốn thoát khỏi ở- đây- và- ngay- bây- giờ, vì các huyễn tưởng cho mình trải nghiệm trong đời thực những thứ mình không thể hoặc chẳng thèm muốn nổi: viếng thăm sao Hỏa, khám phá kho báu, sống vào năm 1900s, là tên trộm xuất chúng hàng đầu thế giới, hoặc có các trải nghiệm tình dục khác biệt; các huyễn tưởng là cách thức kéo căng sự tưởng tượng và cho mình thành kẻ nắm bắt nguy cơ song lại không buộc phải đối diện với bất kỳ nguy cơ đích thực nào, chưa nói khi mình huyễn tưởng, mình tiếp nạp năng lượng cho mọi thứ, mình có đủ đầy khả năng kiểm soát, tức là chẳng có chi nguy hiểm hoặc giới hạn vì nếu khó chịu lắm thì mình có thể luôn luôn dừng ngắt hoặc xác định huyễn tưởng…

Ngoài tí chút tiếc nuối với những bức hoạt hình dễ thương ghê gớm trước khi kết thúc, có vẻ bộ phim trập trùng huyễn mộng do đầu tư trau chuốt cảnh quay, và suy đoán, cơn đói khủng khiếp nhất trên thế giới ta ba này đang mở ra trước màn ảnh, hôm nay, là tình yêu; và những người đàn ông, phụ nữ, trai gái khổ sở bất chấp bao tiện nghi hiện đại thụ hưởng. Cảm giác bồng bềnh bồi hồi tuổi thơ mà bộ phim nếu tiết chế kỹ càng e sẽ lây lan mãnh liệt hơn phản ánh nhu cầu tội nghiệp của chúng ta thuộc về tình yêu, tình yêu đích thực, tình yêu không vị kỷ, thứ tình yêu tự bộc lộ nó trong hành động phục vụ và quên đi chính bản thân mình.

Thấy gì qua huyền thoại ‘nhà tâm lý có thể đọc vị tâm trí kẻ khác’?

Chưa cần tốt nghiệp rồi vừa không ngừng bổ túc kiến thức lẫn kỹ năng vừa mò mẫm hành nghề, chỉ mới gặp mặt hoặc nghe nói mình học Tâm lý thôi là có vẻ dễ khiến thiên hạ hay bạn bè quen biết nghĩ ta thừa sức xem tướng, coi bói, rành chuyện này chuyện nọ hay giỏi đến mức đọc vị được tâm trí họ.

Các bình phẩm suýt xoa thường kiểu ‘Nè, nói chuyện cẩn thận nghe, vì nhà tâm lý học ở đây có thể đoán biết những gì bọn mình suy nghĩ đó’. Khởi sự ấy có thể là tấm lòng thán phục chân thành hoặc lời đùa tếu vô tư; rằng nhiều người nghĩ làm một nhà tâm lý học thì sở hữu quyền năng ghê gớm: dễ dàng khám phá những gì kẻ khác che giấu. Tin tắp lự (đáng ngờ vực vô cùng) là người này có khả năng mở cái đầu ta và nhìn thấy những gì nằm trong đó.

Điều ấy không chỉ là niềm tin sai lầm duy nhất từng nghe về công việc tâm lý học. Còn nhiều nhiều vô kể. Chúng gây phấn khích đến độ đủ khiến ta một ngày muốn nhặt nhạnh rồi đặt cái tên: những trò mèo tâm lý; dù lắm lúc dùng giải lao, buồn cười vui vẻ phết song đôi khi trở thành vấn đề quan ngại thực sự.

Chẳng hạn, nghĩ tới cách một thân chủ cảm nhận khi anh ta tiếp cận tham vấn tâm lý và nghĩ về nhà trị liệu như thể vị này đã biết tuốt các suy tư của mình đến độ không cần thiết dành nhiều thời gian kể lể, mô tả cảm xúc bản thân: ‘Quái lạ, nhà tâm lý này cứ hỏi đi rồi hỏi lại mãi. Tại sao? Chẳng phải ông này biết mọi thứ chỉ đơn giản nhìn vào mình thôi mà? Có lẽ tay nghề ông này không giỏi lắm, hoặc có thể đây chưa là dạng trị liệu xịn, hoặc tự thân cái môn tâm lý học e có vấn đề chăng! Đúng thế, tâm lý học đích thực đồ đểu giả; chỉ tổ làm tốn thời gian và tiền bạc!’

Nghiêm túc mà nói, rất quan trọng việc cần có ý tưởng thực tế những gì người ta có thể và không thể mong đợi khi làm việc với một nhà tâm lý, và đôi khi có thể bảo vệ họ khỏi cảm giác bị lừa dối. Vì vậy, phải nói to lên và rõ ràng (nếu ai đó cảm thấy quá thẳng thừng thì mong được cảm thông) rằng nếu nghĩ một nhà tâm lý biết mỗi một suy nghĩ của mình chỉ nhờ quan sát thì ta đã sai.

Làm thế nào những trò mèo tâm lý này lại có thể khởi lên rồi lớn nhanh dễ dàng đến thế? Chúng không thể sinh ra từ sự rỗng không. Hãy thử gắng tưởng tượng xem chúng từ đâu tới. Khi trò mèo về ‘nhà tâm lý thấu thị’, khả năng cao giữ vai trò lý giải ở đây là khái niệm “vô thức” (unconscious). Nhờ Freud nghiên cứu, hầu hết người làm tâm lý biết ý nghĩa của từ đó; bất chấp vài khác biệt giữa các trường phái phân tâm học, tất cả đều tán đồng rằng nó là điều trong tâm trí mà chúng ta không nhận ra được. Freud làm việc dựa trên khái niệm này; ông nghĩ một bệnh nhân có thể cải thiện sức khỏe tâm lý nhờ dần nhận biết nền tảng vô thức trong các cảm xúc của bản thân. Vậy nên ông đặt để điều ấy như là mục tiêu trị liệu và gắng giúp các bệnh nhân của mình nhìn thấy những gì nằm bên dưới bề mặt đời sống ý thức. Đấy là điều nhà phân tâm học vẫn còn làm việc cho tới ngày nay.

Chẳng nghi ngờ chuyện một người không làm tâm lý phát hiện bao điều huyền bí ở đây. Được giúp đỡ để nhìn ra điều nằm sẵn trong tâm trí mình dù nó vốn chẳng hề rành mạch gì thì nghe ra như sự bói toán vậy. Và người ta dễ nghĩ những ai có thể giải mã cảm xúc của họ giỏi đến thế khác chi thầy phù thủy có phép lạ. Kỳ thực, không bí hiểm gì cho cam; nó đơn giản là vấn đề của kỹ năng.

Các kiểu dạng công việc thảy đều cần những kỹ năng chuyên biệt. Một thợ may áo quần giỏi việc ướm đo, chọn vải, cắt và ráp vá.  Anh ta sẽ cho điều ấy là tự nhiên và không hề nghĩ rằng việc may vá là chuyện gì to tát lắm, dù với không ít cánh đàn ông ấy thật bất khả vì họ không hề có kỹ năng.

Nhà tâm lý cũng cần các kỹ năng chuyên biệt. Công việc là trợ giúp và để trợ giúp, nhà tâm lý phải giỏi giang trong việc lắng nghe và thấu hiểu mọi người tốt hơn… thường dân. Do vậy sự thật kém lãng mạn hẳn đi: các nhà tâm lý học đơn giản tập trung chú ý vào những gì nghe được và nhìn thấy, và biết các lý thuyết có thể lý giải mọi chuyện liên quan. Lý thuyết và trải nghiệm giúp nhà tâm lý học lưu ý tới các chi tiết nhỏ nhặt mà hầu hết mọi người không hay nhìn ra và thậm chí còn thấy chúng thú vị, và nhà tâm lý giúp người ta nghĩ về những ý nghĩa bị giấu kín.

Song khoan, đợi chút nhé: nếu dừng tại đây, người ta chắc đúng khi tin rằng một người được đào tạo bài bản có thể đọc vị tâm trí họ. Người ta dễ phát biểu dạng: “Ồ, chỉ là do học hành chăm chỉ và nghiên cứu thấu đáo thôi ư? Nên kẻ không nhiều trải nghiệm thật khó, còn chuyên gia được đào tạo ngọn ngành thông tỏ có thể thực sự đọc được suy tư của mình chứ nhỉ.’

Anh ta không thể đâu. Điều giảng dạy cốt lõi trong đào tạo tâm lý là không có nhà tâm lý được đào tạo hoàn hảo nhất cũng như lý thuyết tốt nhất trên thế giới thì không thể chứng thực sai sót. Sự thật, kết quả tốt nhất một nhà tâm lý giỏi có thể thành tựu là chọn lựa nhiều đầu mối rồi tìm ra một cách lý giải cung cấp vài ý nghĩa liên quan nhất.  Song sẽ luôn luôn có điều gì đó không khít khớp, phù hợp.

Con người ta vốn phức tạp, phức tạp hơn lý thuyết nhiều, và mình phải luôn sẵn sàng thay đổi các giả thuyết của bản thân. Thử làm một bước tiến xa hơn: mình không thể đưa ra bất kỳ diễn giải nào có sẵn vì chẳng những con người phức tạp mà họ còn luôn tiến hóa, thay đổi rồi phát triển theo nhiều cách thức mới mẻ nữa. Ví von khi nghĩ về điều này là đừng ‘phải lòng’ bất kỳ chẩn đoán nào, ngay các chẩn đoán sát hợp và làm ta say mê ghê gớm. Một nhà tâm lý giỏi nhất thiết phải luôn giữ một không gian tự do trong lòng để anh ta có thể khai sinh các giả thuyết mới.

Lý do khác để mọi người có những niềm tin sai lầm về nhà tâm lý: các nguồn không luôn luôn đáng tin cậy. Nghĩ về cách các nhà tâm lý được mô tả trên phim ảnh và truyền hình nhiều tập thì tất rõ. Các nhà tâm lý là sự nhào trộn từ sự kiện và hư cấu; ngay cả khi lấy cảm hứng bởi công việc của một nhà tâm lý thực thì nhiều điều trong đó vẫn thừa yếu tố bịa đặt, dựng chuyện. Và mình thường quên mất một bộ phim là một bộ phim, và một bộ phim có thể không bao giờ mô tả thực tế đúng như nó là, chưa nói nhiều lúc gây phản cảm và buồn chán…

Hy vọng những câu từ trên thuyết phục ai còn mơ hồ, hoài nghi  và mong sẽ ngày càng ít đi người sẽ cảm thấy bị lột trần trước một nhà tâm lý.

Lời cuối. Chỉ nghĩ thôi sẽ buồn cười ngay chuyện có thể đoán biết trúng phóc tất cả các câu trả lời trong chương trình truyền hình Ai Là Triệu Phú nhỉ mà không phải đầu tư học hỏi, tích lũy kiến thức lẫn cóc cần ai trợ giúp téo tẹo gì cả.

Chỉ là các khung hình…

Tôi đang ngồi trong rạp chiếu bóng. Nhưng tôi không biết.

Tôi lạc vào các câu chuyện diễn ra trước mắt, xoay quanh đôi tai.

Tôi vùi mình, hoàn toàn chìm sâu vào trong câu chuyện phim. Tôi không biết mình đang nơi nao, tôi tin mình hiện ở… trên màn hình, một phần của bộ phim, thuộc về bộ phim. Đây là tôi, ngay đó thôi, trong phim. Tôi chẳng thể nhìn ra thêm gì khác, không nghe thấy gì khác cả.

Vài nhân vật trong chuyện nói với tôi. Anh ta bảo, nhớ điều này nhé: những gì cậu thấy chẳng phải là cậu đâu. Nhớ đấy! Tập trung định lực và nhìn thật kỹ càng vào! Cậu cũng sẽ nhận ra điều đó. Đừng quên, nhớ nhìn.

Nhân vật này kỳ lạ, giọng anh ta nghe thôi miên như câu chuyện phim, không bao giờ kết thúc phim, lệ ứa theo diễn tiến câu chuyện. Tôi hóng anh ta. Anh ta có vẻ sống ngoài thế giới này. Liệu tôi có nên thử?

Sự mê hoặc làm tôi muốn xem xem anh ta có lý… Tôi đích thị đang ở đâu đây?

Vì vậy, tôi nhớ để nhớ.

“Hình ảnh câu chuyện này không phải là tôi. Không liên quan. Không thuộc về tôi.”

“Âm thanh câu chuyện này không phải là tôi. Không liên quan. Không thuộc về tôi.”

………………

“Ý tứ câu chuyện này không phải là tôi. Không liên quan. Không thuộc về tôi.”

“Âm thanh này là vô thường. Âm thanh kia là vô thường. Màu phim đó, hình ảnh phim đó, tiếng động phim này”.

Ồ, quá chừng lạ lẫm.

Điều gì đó kỳ kỳ bắt đầu xuất hiện.

Vẻ quyến rũ- sự mê hoặc hấp dẫn và quyến rũ khi vào phim giờ nhòe mờ dần đi. Tại sao nhỉ?

Wow, tôi không cho phép bản thân mình theo sau câu chuyện thêm như trước đây nữa. Quá đủ rồi, song tại sao mọi thứ chợt khác biệt thế?

Tôi lại quên mất cần phải nhớ rồi. Tôi thử cố nhớ nhiều hơn. Nhớ nhắm vào trải nghiệm của bản thân về bộ phim thay vì theo kịch bản. Thay vì đua xe, lái máy bay, người vợ thổn thức, đứa con trai khiếp đảm, người bạn đang dần chết đi…

Giờ tôi nhìn thấy, nhìn thấy… một bức ảnh, ồ không, đây là một bức ảnh. Một cái khung hình!

“Đây không phải là tôi. Đây không phải bản thân. Điều này không còn thuộc về tôi nữa”.

Và tôi bắt đầu nhìn thấy khung hình của bộ phim này. Có ánh sáng và các bóng râm. Và các màu sắc và tiếng vọng lại.

Tôi đang ngồi! Trên một chiếc ghế! Thật phi thường làm sao!

Đêm tối vây quanh tôi, và một màn ảnh phía trước.

Giờ đây, nhận ra nhiều thứ trong thực tế, tôi cảm thấy khoảng cách lạ lùng đối với các bức tranh và âm thanh trong câu chuyện. Mình vẫn đang nhìn mọi thứ, nghe hết thảy…. song khoảng cách này là sao nhỉ? Có phải vì tôi biết tốt hơn những gì đang đích thị diễn tiến? Tôi cảm thấy khinh an nhẹ nhàng hẳn, phóng thích áp lực về bản chất nghiêm túc của bộ phim, không còn nhiều hạn độ như trước đây với cảm xúc đánh thức tác động tới câu chuyện phủ lên mình.

Làm sao tôi nhận ra mình quả đúng là đang trong một bộ phim?

Vâng, đã có nhân vật trong câu chuyện bảo tôi đừng chú mục vào câu chuyện (kể cả anh ta, thiệt lạ lùng) mà để ý vào trải nghiệm về bộ phim. Anh ta nói tôi không ngừng ghi nhớ và tập trung định lực vào tự thân trải nghiệm, chứ không phải nội dung của nó.

Chỉ có thế thôi. Song khó khăn ghê.

Giờ tôi đang ở đây, song tôi không hiện diện.

Tôi tiết chế song cũng thoải mái.

Một ngày nào đó, liệu tôi vượt thoát khỏi sự thống trị của bộ phim này đến độ chỉ việc đứng lên rồi bỏ đi thôi? Không buộc phải xem thêm bản phim khác, do thành phần tất cả các bản thảy đều giống nhau. Kỳ cùng, dường như tôi không thể ngăn dừng tiến trình tỉnh thức nổi. Ngày càng nhiều các mảnh của câu đố dần lộ diện…

Tên giết người, kẻ cười biếm và sự chế nhạo tế vi sinh tử: trong nỗi khổ đau chung đụng

Thế giới của những chỉ trích lại qua cao độ càng dễ làm tăng thêm mức nguy hiểm âm ỉ từ nỗi niềm hận thù tích chứa khó lường trong lòng. Vụ thảm sát ở Paris vừa qua chắc khó khiến người ta ngoác miệng nhìn nhau hỉ hả được, bất chấp tranh luận trong ngoài hiện vẫn còn tiếp diễn dây dưa…

Ai quan tâm tìm hiểu văn học- nghệ thuật Pháp chẳng khó nắm bắt các sắc thái châm biếm, trào phúng khác nhau qua các thời đại, với phong vị Rabelaisian hay khí chất kiểu Voltairean. Khởi từ thời nổi loạn ấn tượng 5- 6.1969, các bức tranh biếm họa của tờ báo ra hàng tuần Charlie Hebdo mang cả lối đả kích chính trị hồi Charles de Gaulle trộn lẫn kiểu minh họa dung dị Charlie Brown.

Nếu biếm họa quả là một truyền thống Pháp thì càng dễ hiểu cơn cớ người ta cố bảo vệ quyền tự do biểu đạt, và tính cách ấy góp phần lý giải tại sao cần gìn giữ khả năng gây sốc của nghệ thuật.

Vấn đề đáng tìm hiểu nghiêm túc: liệu các biếm họa mang quyền năng hơn hẳn nghệ thuật đích thực? Và thật phi lý khi giới truyền thông toàn cầu lờ các vụ thảm sát ở lục địa đen Phi châu và sẵn lòng hừng hực đương đầu khi sự cố chết người xảy đến ở châu Âu già cỗi? Lần cuối cùng một nghệ sĩ thị giác bị giết bởi một tác phẩm gây tranh cãi là khi nào, hay các điểm khác biệt giữa nghệ thuật bình dân với hội họa, mỹ thuật?

Không chỉ tranh biếm họa, phim ảnh cũng từng trở thành đối tượng để các kẻ cực đoan sát hại tác giả. Và lần nữa, lich sử nghệ thuật vẫn sẵn có ví dụ về sắp đặt được mua với giá $20.000 và ngay cả khi bị cho là ‘gớm chết’ thì khi khởi kiện, phía Bảo tàng vẫn thắng, bất chấp đề tài chạm tới các biểu tượng tôn kính của Công giáo La Mã.

Dĩ nhiên, đó không phải là câu chuyện nhắm tới ý khoan dung tôn giáo; kỳ thực, người làm chuyên môn có thể nảy sinh nhu cầu phân biệt giữa biếm họa và mỹ thuật. Kiểu biếm họa (cartoon) thì vẽ liền ngay, dễ xem, và thường được khởi thảo để trêu tức, khiêu khích; nghệ thuật (art) thì thường dự tính, mang ý định tạo vết cắt buốt chầm chậm về sau, nó đề xuất nhiều vấn đề và câu trả lời. Các nhà vẽ tranh biếm họa biết họ dễ bị đưa lên giá chữ thập:

Vẽ tranh biếm họa là tay cực tối giản, và những kẻ chuyên quyền, bạo chúa cũng tối giản đâu kém… Vì thế, họ hiểu quyền lực của biếm họa. Những người vẽ biếm họa thường rất giỏi chuyện chưng cất, tinh luyện, họ đánh thức theo cách hết sức dễ hiểu… và đó là lý do tại sao các bức tranh thật đáng sợ.

Và sự sinh, sinh sự nên tất xuất hiện ý kiến “tự do báo chi không có nghĩa thoát khỏi mọi phê bình” đi kèm với nhận định rằng nghệ thuật không coi trọng quá tính thiêng.

Thực tiễn nhân loại chỉ ra, duy mỗi con người trong các tạo vật trần gian mới có thể suy tư, nói năng, và làm ra các tác phẩm; trầm tư rồi nhận thấy tính Vô hạn; rằng nghệ thuật nhân loại, như nghệ thuật thần thánh bao gồm cả hai mặt của các khía cạnh định rõ và không xác lập nổi, cả cần thiết lẫn tự do, gồm trạng thái run rẩy lẫn niềm vui thú.

Nghệ thuật thế tục do vậy, được phân biệt với nghệ thuật của tính thiêng: trong nghệ thuật tính thiêng (sacred art) những gì đặt định sẵn vượt qua mọi thứ là nội dung và việc sử dụng tác phẩm, còn với nghệ thuật thế tục (profane art) những cái đó chỉ là cớ cho việc nảy nở niềm vui sáng tạo…

Chắc chắn, đấy là cuộc chung đụng bất khả chối bỏ, chẳng ít tai ương và đầy đau khổ.

Nỗi niềm âu lo khôn ngoan

Lo lắng, ngại sợ bị phiền nhiễu có thể được hiểu trong bối cảnh thật hết sức tự nhiên. Tất thảy thông qua làn da, chúng ta thấm thía từ thông điệp chuyển gửi của hệ thống thần kinh báo cho biết điều gì đó không ổn.

Nếu bất kỳ phần nào trong cơ thể chúng ta quá nóng, quá lạnh, bị va chạm mạnh hoặc châm chích ghê gớm thì chúng ta sẽ tri nhận như sự đau đớn. Cơn đau không thuần túy là thông tin trừu tượng; phụ thuộc vào độ căng thẳng, nó túm bắt sự chú ý của chúng ta. Không thích thú cơn đau, hầu hết thời gian chúng ta làm bất cứ điều gì khả thể đặng giải thoát khỏi cơn đau càng nhanh càng tốt và điều ấy hầu luôn luôn là câu trả lời đúng đắn, chí ít nhằm tránh bị gây hại.

Song có những trạng thái mà cơn đau không thể hiện chức năng như dự tính, nó kéo dài lâu hơn lúc vết thương đã lành, hoặc khi khó làm thuyên giảm, êm dịu đi được. Các trạng thái đau đớn trường diễn kiểu thế đòi hỏi một đáp ứng cách khác, vì giờ đây tín hiệu gây hại là lầm lạc rồi.

Quan ngại và âu lo có thể rất giống với con đau thể lý. Ở tầm mức nhất định, con người ta có thể cảm nhận không chỉ những gì đang xảy ra trong hiện tại mà còn có thể cảm nhận cả cơn đau tương lai, nhờ khả năng tưởng tượng, dự đoán và cân nhắc hậu quả…

Lo lắng giúp chúng ta bớt nhẹ nguy cơ tương lai, tựa cơn đau khiến mình tránh bị thương thêm nữa. Và, giống cơn đau thể lý, lo lắng cũng gây ác cảm. Chúng ta không thích điều kinh hãi của sự bất hạnh cơ chừng sắp đổ ụp xuống; chúng ta muốn rời xa không chỉ tương lai kinh hoàng mà cả khoảnh khắc hiện tại gây nỗi niềm u ám. Lo lắng còn bỏ lơ mục đích, và quấy rầy chúng ta về các sự kiện sắp đến là bất khả hoặc không thể thuyên giảm được, giống như cách cơn đau mãn tính khiến chúng ta nghĩ rằng chẳng lợi lạc gì.

… Đôi khi, mọi chuyện chỉ cần một từ, một ý nghĩ, hoặc một cảm giác là đủ bao vây tâm trí và nhúng chúng ta vào một trải nghiệm, như thể mình đang xem bộ phim kinh dị bằng công nghệ 3D sắc nét, sống động vậy. Thưc tế, nếu lượng giá các âu lo cùng các tiêu chuẩn như đánh giá phim ảnh, chúng ta sẽ dần nhận ra chúng là thứ phim khủng khiếp chẳng đáng xem. Nếu các nỗi lo âu của chúng ta là các bộ phim, mình sẽ rời khỏi chúng trước khi cảnh đầu tiên kết thúc, bởi vì chúng đầy vẻ mờ ám và lặp đi lặp lại kinh hoàng, vô vàn bất hạnh đâu đâu, các vai chính vớ vẩn, và kịch bản nhiều lỗ thủng.

Trong những cơn đau dữ dội của nỗi âu lo, cần dành nỗ lực đích thực để tách biệt huyễn tưởng với thực tế. Tin tốt là chẳng mấy chốc, mình nhận ra ngay rằng nỗi niềm âu lo là phim tồi tệ, và mình lựa chọn ‘bước ra’; thậm chí hay hơn, mình hiểu bản thân không chỉ là khán giả ngồi xem các thứ phẩm mà mình cũng là tác giả kịch bản và đạo diễn. Điện ảnh hiện đại, như ở phương Tây, tạo cho khán giả cảm nhận rằng các anh hùng trong phim có thể chịu đựng khốn khổ xong rồi sẽ được minh oan, giải thoát vào đoạn kết; kỳ lạ nhất, phim ảnh trong đầu chúng ta thường chạy theo hướng các câu chuyện cổ tích Grimm nguyên bản mà chỉ tồn tại tí xíu hoặc chẳng hề có chút tẹo hy vọng nào trong đó. Trầm cảm và lo âu làm mên một đội ngũ khủng khiếp, khi trầm cảm gắng bảo ta kém cỏi hoặc không có khả năng đối phó trong khi lo âu gieo ném mình vào toàn các hoàn cảnh tưởng tượng thảm khốc; chúng cướp đoạt hy vọng của ta về tương lai.

Tại sao mình không cập nhật các kịch bản tinh thần theo các tiêu chí hiện đại? Khi lo âu chỉ là một bộ phim do mình đang tạo tác, tại sao không để bản thân tự đóng vai người hùng đang gặp thời cơ thuận lợi. Thực tế, khi xu hướng mình thường xuyên hạ thấp năng lực bản thân, tại sao không làm cho mình cao hơn và mạnh mẽ hơn so với thực tế? Cứ để mặc sự vụ thế đi, thay vì khiến chúng lớn lao hơn thì chỉ cần để chúng như thực tế là… Biết mình có các tiếp điểm tốt và xấu trong đời, và cho phép chúng tô vẽ trí tưởng tượng. Cuối cùng, để bản thân có cái kết tốt đẹp, và khi mình tái chế lại các bộ phim tinh thần theo cách ấy, nhận ra rằng lo âu chuyển sang đúng vai trò của nó là hệ thống khuyến cáo và lập kế hoạch giúp mình thoát khỏi rắc rối trước khi nó bộc lộ ra.

Thay hình chuyển dạng, biến hóa nỗi niềm lo âu vớ vẩn thành kế hoạch hữu ích là cách hiệu quả giúp vượt qua lo lắng. Cách khác là sống nhiều hơn với thế giới ngoài kia chứ không phải bận tâm cái trong đầu, cho phép phần còn lại trong ngày giành lấy nhiều mối quan hệ khác, sau khi chỉ định một khoảng thời gian nào đó là ‘thời gian lo âu.

Lựa chọn việc tập trụng, chú ý vào hiện tại là nơi chốn mình có thể gây tác động tích cực, khiến lo âu giảm đi tác dụng trong thế giới nội tâm. Đừng nên để nỗi lo âu vật chất hóa, và nếu mình bận rộn trong lúc đợi chờ vì đoán biết trước xui rủi, bất hạnh sẽ ập đến thì mình cũng không buộc phải, nhất thiết cần trải qua đớn đau, khổ sở ở đời.

Những biểu hiện khó ngờ của trạng thái trầm cảm (2)

Khi thuốc chống trầm cảm lại là nguyên nhân gây trầm cảm thì tỉnh thức (mindfulness) càng nên được dùng như một liệu pháp để làm giảm các triệu chứng liên quan ở môi trường học đường.

Tiếp theo sự khơi mào cơn tức giận hôm nọ, giờ chúng ta thử xem xét thế hệ trẻ ngày nay có thể học hỏi được gì từ rối loạn khá quen thuộc này.

Tôi muốn theo sát chủ đề vừa nêu bởi mới đây, một cậu bạn trẻ làm trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật bất chợt thổ lộ rằng chắc chàng ta cần uống thuốc trầm cảm mất thôi (antidepressant).

Song trước khi bàn đến thuốc, liệu có ai dám quả quyết là tinh thần lạc quan sẽ phá hủy tất cả chúng ta. Dĩ nhiên, trả lời ngắn gọn một cách nghiêm túc: không.

Chẳng phải chờ đến sáng nay để đọc bài trên NYT; suy nghĩ tích cực, như chỉ trích cho thấy, kế thừa lịch sử dài lâu, đặc biệt ở Hoa Kỳ. Tại sao nó dễ khiến chúng ta phải lòng nhanh chóng quá vậy? Đơn giản vì chúng ta quá hạnh phúc (đất nước của những người bán trà đá vỉa hè cũng thừa tiền sắm Iphone 6) nên vì rứa, cả tin và bị lừa chăng? Tất cả các dạng kiểu ‘khoa học’ (trăm hoa đua nở hội thảo và chuyên đề, khóa học nọ kia) cùng tâm lý học đang không ngừng kể câu chuyện chúng ta háo hức muốn biết tường tận: hạnh phúc là điều tốt lành (hic, dính dáng vào khiến tôi cảm thấy bản thân thật tội lỗi).

Đạo Phật đã thành công dưới thương hiệu ‘tâm lý học tích cực’; theo lối nhìn thế thì lại rất thích hợp với những trào lưu phát triển hiện đại trong đạo Chúa như phái tả Phúc Âm (evangelist) chẳng hạn. Về mặt lịch sử, Công giáo (Christianity) thường được nhìn nhận là thuộc tâm lý cực kỳ tiêu cực, dựa trên việc quy rút cá nhân thành con sâu cái kiến bé nhỏ qua cái nhìn của đức Chúa nên nó dễ được hưởng hồng ân quan phòng che chở của đấng Christ, hoặc sát gần hơn, Nhà Thờ; cơ chừng đạo Chúa hiện đại đa phần từ bỏ các cách thức đun sôi sùng sục và ám ảnh bởi tội lỗi trong quá khứ. Song các dịch vụ happy-clappy của những tân Phúc Âm không hề khởi từ truyền thống cổ đại, chẳng xa hơn hậu Thanh giáo (Puritan) Hoa Kỳ.

Cần biết thêm chút, đạo Phật bảo con người ta chịu trách nhiệm với niềm đau nỗi khổ của chính họ. Tại sao lo lắng về các điều kiện xã hội, nghèo đói, hoặc phân biệt đối xử… Điều này trái ngược với sự nhấn mạnh tới lòng từ bi (compassion) trong đạo Phật hiện đại, dù chúng ta không thể phủ nhận rằng các lực lượng mang tính ái kỷ ‘tôi và hạnh phúc của tôi’ hiện đang tồn còn và đầy quyền năng. Đúng ra, đạo Phật đích thực thì gây ấn tượng về sự cân bằng; vì mỗi tích cực có một tiêu cực…

Hễ khi nào chúng ta lý tưởng hóa hạnh phúc, chúng ta giận ghét một con người buồn bã. Vâng, các bản văn thiền định Phật giáo không những hay trình bày về hạnh phúc mà chúng còn biểu tỏ ‘trầm cảm tâm linh’ (một ví dụ so sánh) khởi lên khi lặng ngắm Pháp (dhamma) diệu kỳ mà người ta chưa từng đạt được.

Với những ai cảm thấy lạc lõng và bơ vơ trong biển cả đầy ắp các khuôn mặt cười, có rất nhiều các bản kinh làm mình phiền muộn để mà giải khuây. Và nghệ thuật đủ sức khiến ta chùng xuống và thoát khỏi các cảm xúc hạnh phúc giả tạo ghê gớm; thời buổi internet ngày nay đâu khó tìm thấy các minh họa về một bài hát quá chừng buồn luôn, một truyện ngắn đau thương, hoặc một bộ phim làm ta khóc ngất… Và nếu chưa xứng, luôn có các chương trình phim kinh dị trên TV với bản tin thời sự ‘cướp- giết- hiếp’ hàng ngày.

… Giờ chính thức chạm tới đề tài thuốc men và sự giải trí.

Để cảm thấy tốt hơn, uống một viên thuốc đi nhé.

Đó đích thị là thứ logic ẩn bên dưới việc dùng thuốc men phục vụ cho việc giải trí, tiêu khiển, đỡ đau đầu; và nó cũng là logic sát đúng với cả y khoa hiện đại.

Điểm khác biệt ở chỗ, nếu một người quyết định ý chí để uống thuốc, hoặc hút điếu, hoặc tiêm gì đó. v.v… để bản thân thấy vui vẻ thì rõ là họ biến mình thành tội đồ hư hỏng đáng bị trừng phạt (?!)… Dĩ nhiên, không phải không có khác biệt nào giữa y khoa và việc dùng thuốc cho mục đích giải trí; chắc chắn có, và chắc chắn ở đó hiện diện vai trò của các chuyên gia sức khỏe. Vấn đề là các điểm khác biệt ấy thuộc phổ dài rộng của việc sử dụng, và tần suất bao gồm các tiền chất giống nhau, rồi chưa nói các cấu trúc hợp pháp đương đại tạo nên cuộc ly dị giả vờ giữa chúng nữa cơ.

Lần nữa, về mặt lịch sử, hầu hết các loại thuốc mang tính giải khuây đều có ứng dụng y khoa theo kèm: thuốc phiện, cần sa, LSD,..; tương tự, nhiều thuốc y khoa theo toa vẫn quen dùng cho mục tiêu thông thường, bất kể được phép hay dùng lậu.

Vấn đề căn cốt hơn: việc tạo tác một thời đại hữu hiệu của uy quyền, thiết chế y khoa kiến lập một thứ văn hóa khiến người ta nồng nhiệt tin tưởng rằng uống thuốc là giải pháp cho vấn đề, và nó dẫn tới vui vẻ, hạnh phúc. Nếu đúng thế, y khoa hiện đại quy về lỗi trực tiếp lẫn gián tiếp: tạo nên quá nhiều thuốc có khả năng gây nghiện và điều kiện hóa về mặt xã hội cho việc kiếm tìm giải pháp nhờ thuốc men.

Đáp ứng hữu lý, cả sức khỏe thể chất lẫn tâm lý, là chuyển khỏi cách tiếp cận lấy thuốc men làm trọng tâm để bước sang cái nhìn tổng thể, toàn diện. Trị liệu cả con người, chứ không chỉ nhắm vào bệnh tật. Cách tiếp cận này đặc biệt thích hợp trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nơi các liệu pháp dựa vào tỉnh thức (mindfulness-based) được chứng thực là mang lại hiệu quả hơn thuốc men trong việc xử lý hàng loạt vấn đề, gồm cả rối loạn trầm cảm.