Lý do một số thân chủ không thích nhà tâm lý học lâm sàng

Nâng đỡ, thấu hiểu, ưa thích
Nâng đỡ, thấu hiểu, ưa thích

Như mào đầu dạo nào, giờ là lúc gõ xuống về khía cạnh tế nhị và khá thông thường này trong giới hành nghề lâm sàng.

Nhiều người có mối quan hệ như thể chuyện huyền thoại với nhà trị liệu: họ cảm thấy được nâng đỡ,  thấu hiểu, yêu thích. Song cũng có một số người cảm thấy đôi chút không thoải mái, dễ chịu.

Một số tâm lý gia gặp khó khăn với người mắc bệnh tâm thần, đặc biệt khi họ được chẩn đoán là rối loạn Nhân cách ranh giới hoặc Tâm thần phân liệt.

Hầu hết người làm nghề khởi sự bằng việc lượng giá đối tượng, cái gọi là chẩn đoán. Với bản chất rất riêng, chẩn đoán nhìn vào những gì không thực thi. Hầu hết sẽ dễ tán đồng rằng đấy là điều tốt, bởi nếu không biết vấn đề nằm ở đâu thì làm sao hàn gắn, chỉnh trị nó.

Mặt khác, nhà tâm lý học cũng là con người. Giống như bạn và tôi, nhà tâm lý học có những ưa thích và ghét bỏ riêng tư; cơ chừng họ cũng không quá khác với người chủ sở dụng lao động, theo nghiên cứu, thường quyết định thuê nhân công chỉ trong vài phút gặp mặt đầu tiên.

Đây có thể là sự “không đồng nhất hóa” có liên quan đến tiến trình đặc thù hóa những người mắc bệnh tâm thần như quá dễ dàng nhận ra và khá khác biệt so với các cá nhân “bình thường” trong khi xác định bản thân là bình thường và không nhạy cảm với bệnh tâm thần. (1, 2)

Điều này tương tự với khái niệm “xa lạ, ngoại lai” ít nhiều chúng ta từng nghe rồi và thường dẫn người ta nghĩ tới chủ nghĩa vị chủng (ví dụ, “Tôi không biết mình có muốn sống ở S. không; ở đó có nhiều người T. Họ thực sự… rất khác.”)

Sự không đồng nhất hóa có thể làm củng cố thêm sự tự tôn của một người; thậm chí, có thể là thứ cảm giác nguyên thủy trong việc tạo sự xa cách giữa mình với ai đó đang “khốn khổ”, ngõ hầu dễ tránh bị “mắc dính” vào một bệnh tật. (Dĩ nhiên, đây là nói trên bình diện vô thức; rất hiếm nhà tâm lý lâm sàng giữ một suy tư phi lý như thế.)

Các nhà lâm sàng nhìn nhận bản thân chẳng đồng dạng với những ai có các dấu hiệu ranh giới và người mắc Tâm thần phân liệt. Đối tượng mang các dấu hiệu ranh giới thường được kinh nghiệm là khá nguy hiểm và ít mong muốn nhất trong số các dạng mà lâm sàng được yêu cầu đánh giá (chính bản thân họ, một thành viên cộng đồng, người mắc trầm cảm vừa phải, người mang các dấu hiệu ranh giới, và người mắc tâm thần phân liệt).

Sự không đồng nhất hóa thế gây ảnh hưởng gì? Nghiên cứu chỉ ra rằng các kiểu tri giác như vậy làm giảm giá trị trong mối quan hệ nhà trị liệu và thân chủ; có thể ngăn người ta khỏi nhu cầu tìm đến các dịch vụ trợ giúp tâm lý; gây khó khăn cho nhà trị liệu trong việc cảm thấy và biểu đạt sự thấu cảm và mối quan tâm chân thành; và có thể mô hình hóa hành vi không thích đáng.

Câu hỏi: điều ấy đến từ đâu? Nhu cầu duy trì lòng tự tôn và nỗi sợ bị “lây nhiễm” đã được lưu ý. Các nguồn khác có thể là trình độ đào tạo nghề, đặc biệt khi quá nhấn mạnh nhà tâm lý lâm sàng như một chuyên gia. Cũng có thể nói rằng việc quá chú mục vào chẩn đoán, chăm chắm quá những gì sai lạc là không hữu ích cho lắm. Hơn nữa, e chừng điều ấy khá dễ xảy ra với người non tay nghề và quá nhạy cảm.

Quan trọng hơn, vậy liệu bằng cách nào các nhà lâm sàng có thể tự mình nhìn nhận các thân chủ mắc bệnh tâm thần như chính họ là, chứ không phải “kẻ xa lạ”?

  • Nhà lâm sàng cần có một quan điểm toàn thể hơn về các thân chủ của mình; không chỉ quan tâm các vấn đề rối nhiễu mà cả sức mạnh của họ nữa. Tỷ dụ, cách tiếp cận nhắm vào giải pháp làm giảm thiểu việc quá chú trọng chẩn đoán và tập trung cho các giải pháp cụ thể, định hướng tương lai đã chứng thực tính hiệu quả đáng vận dụng.
  • Các chương trình đào tạo và tập huấn nên a) đặc biệt nhấn mạnh vấn đề bêu xấu và mẫu rập khuôn; và b) giúp các nhà lâm sàng thiết  lập niềm tin rằng các cá nhân mắc rối loạn tâm thần có thể đích thị phục hồi.
  • Người mắc rối loạn tâm thần có thể được xem như người huấn luyện cho các nhà tâm lý học lâm sàng.

Quý vị độc giả xin thoải mái bày tỏ quan điểm và ý kiến cá nhân.

Nói lời đúng, sử dụng chữ hay để quan hệ càng đẹp và cuộc đời thêm phần đáng sống

Mimosa đã lạ hóa những mi môi xa từng đóa...
Mimosa đã lạ hóa những mi môi xa từng thề nguyền nguyên đóa…

Khi nghe một cô gái trẻ nhắn tin riêng chia sẻ tâm tình trên mạng facebook rằng cô ấy cảm thấy “sợ hãi và bất an” khi đọc ngôn từ một blog dùng (“đáng gây chú ý”, tác giả “đứng đầu nhóm nghiên cứu tôn giáo”), thậm chí còn bị một người liên quan tới tác giả đó “gây rắc rối và nguy hiểm” khiến cô “suy sụp một thời gian” thì tôi càng thêm thấm thía cái thiết yếu, tối cần của việc chánh ngữ.

Để xã hội phát triển phù hợp, rất cần nói năng thật đúng đắn. Đáng tiếc là điều ấy quá dễ bị lãng quên trong môi trường internet. Song sự vun bồi các mối quan hệ đòi hỏi chúng ta phát ngôn hết sức trung thực, chân thành và công chính cả lúc gặp gỡ tình cờ mặt đối mặt hay khi dấn thân ở môi trường mạng điện tử.

Chẳng vì ai khác cả, trước tiên chúng ta chánh ngữ vì sự tốt lành của bản thân mình. Tính liêm chính của ta phụ thuộc vào hiện thể đích thực đối với con người đang là; dĩ nhiên, chúng ta cũng nói hết sức đúng đắn vì đối tượng phụ thuộc ta nữa. Các mối quan hệ sở hữu chắc sẽ thêm phần khó khăn– và càng không thể biện minh rõ ràng về mặt xã hội– nếu lời nói, phát ngôn chẳng đáng tin cậy.

Nói lời chân chính thể hiện trên rất nhiều bình diện. Chẳng hạn, người ta cho rằng tiến trình chính trị sơ khởi là hành động của tâm trí đến với tâm trí thông qua phát ngôn.

Phát ngôn chính trị– phát ngôn công cộng– là cách thức chúng ta điều chỉnh các mối quan hệ với ai đó khác như những công dân tuân thủ pháp luật. Thông qua phát ngôn, chúng ta gây ảnh hưởng tới tha nhân. Dối trá lừa bịp, trình bày lươn lẹo, diễn đạt xiên xẹo, hiềm khích chia rẽ, v.v… trong nói năng là phương tiện tạo tác điều tệ hại, ác độc.

Chánh ngữ, dưới quan điểm Phật giáo, là nói lời ngay thật, nói nhằm đem lại lợi lạc cho những người khác, và nói với ý định thiện lành.

Khi nói năng chân chính và đúng đắn, chúng ta mang lại cho những người khác điều tốt đẹp nhất.

Tôn trọng phẩm giá của mỗi một cá nhân và phần tinh túy, tao nhã của quan hệ riêng tư lẫn hệ thống chính trị đòi hỏi nói năng chân chính không những phải được thực hành ở chốn gặp gỡ thân mật mà cả tại các địa điểm, không gian công cộng nữa.

Nói năng không chánh ngữ, con người thiếu tự do và khó thoải mái được. Nhân loại triển nở, thịnh vượng thêm lên trong phát ngôn chân chính. Nói năng bằng những lời bất lương và thấm đầy thù hận sẽ làm trí lực cùng tâm hồn chúng ta kém cỏi hẳn đi; xã hội điêu đứng khi phát ngôn đồi bại.

Nói đúng lúc không? Dựa trên sự kiện? Lời dịu dàng hay gắt gỏng? Những từ mình dùng liệu có đem lại lợi lạc, hữu ích? Phát ngôn khởi từ một tâm hồn tử tế hoặc hiểm độc thầm kín?

… Hiện tại, môi trường truyền thông nước nhà chưa thực sự chuyên nghiệp và tinh tuyền (ví dụ tình cờ nhãn tiền gần đây nhất là cách báo chí chính thống đưa tin vụ ném con mới đẻ xuống ao, vừa phản ánh xu hướng khai thác giật gân câu khách, vừa góp phần tỏ lộ tay nghề viết kém lẫn động cơ kích động bạo lực ở người hồi đáp) càng kiến tạo cơ hội luyện tập tỉnh thức từ phía người thường xuyên lướt mạng.

Chẳng hạn, chúng ta quen thói quá dễ phóng tâm lên án ngay lập tức và tức giận rủa xả kèm vô vàn nhận xét cực kỳ cay nghiệt với kiểu hành vi như nữ sinh viên nêu trên.  Cho rằng mọi thứ đều thái quá; nếu có tốt tất có xấu nên nếu có thực sự tốt thì phải tồn tại điều thực sự xấu.

Kỳ cùng thì đấy không phải là sự thật. Con người chúng ta có thể dần trở nên tốt đẹp hơn, cho tới lúc đích thực tốt đẹp. Trong khi bất khả để trở nên tồi tệ và tồi tệ mãi cho đến lúc tất thảy không còn hối lỗi, ân hận nữa; cho tới lúc người ta dần tinh tuyền bởi vì nghiệp lực, nên thậm chí ngay điều xấu ác nhất sẽ nhận ra điều không tốt là điều không tốt để thay đổi và biến cải khác trước.

Dựa vào bằng chứng nào ư?

Vâng, nghiên cứu cho thấy, các thành viên băng đảng khi thảo luận, trao đổi về các hành động bạo lực sẽ càng làm tăng thêm mối dây gắn bó giữa đồng bọn với nhau còn hơn cả anh em ruột thịt. (Nếu quan tâm, mời đọc cập nhật vài ba kết quả phát hiện liên quan hành vi xung hấn và bạo lực trong môi trường thực hành lâm sàng y khoa, quan hệ thân mật, lý giải cơ chế diễn tiến cách hành xử hết sức tồi tệ, v.v…).

Song giới khoa học gia cũng phát hiện ra rằng các đối tượng mắc bệnh thái nhân cách (psychopaths) thực sự có năng lực thấu cảm song họ cần dự tính cảm nhận nó thì mới khởi sinh điều ấy được, rằng các tội phạm dạng này không hề thiếu hụt năng lực thấu cảm như thiên hạ tưởng nghĩ lâu nay.

Như thế, ai là kẻ “ác độc đích thực” vượt trên mọi sự cứu chuộc dù dĩ nhiên có tốt, xấu như những mặt đối lập? Người có thể trở thành tốt thì không thực sự xấu xa, kẻ có thể trở thành ác độc thì không đích thị tốt; song cơ chừng chẳng hề có một bản chất xấu ác thường hằng mà chỉ bản chất tốt lành mới đích thực tồn còn mãi mãi.

Và khi truyền thông, làm ơn nhớ nguyên tắc đơn giản: Bất Hại.

Film “Thiên Nga Đen” miêu tả ‘Rối loạn Nhân cách Ranh giới’: chủ đề sức khỏe tâm thần gây ức chế và phân tán khán giả

Bộ film tuyệt hay Thiên Nga Đen (Black Swan) thì tôi đã xem chùa trên mạng không lâu hồi sau Tết rồi, lu bu tí tớn tận đẩu tận đâu nên rốt cục cho qua luôn, chẳng dành lời nào để giới thiệu về nó cả.

Thi thoảng cũng tình cờ đọc thấy đôi ba bình phẩm rên rỉ là film khó xem, ghê rợn, nặng nề, hoặc thậm chí tác giả nhiệt tình ‘nhặt sạn‘ như đánh giá mang hơi hướng học trò dễ thương dưới đây.

Có thể nhận thấy, sự đưa đẩy dữ dội giữa hiện thực, ảo giác và sự kinh dị đã khiến Thiên nga đen có gì đó thiếu hấp dẫn, làm người xem thấy mệt mỏi và nản lòng. Những cảnh cuối cùng của phim đã đem đến câu trả lời cho toàn bộ băn khoăn của khán giả. Nhưng khi ấy chắc chắn sẽ có người lại băn khoăn liệu điểm đến này có xứng đáng cho một chuyến đi quá dài.

Suy đoán chủ quan, ấn tượng của một bộ phận khán giả nước nhà về bộ film như vậy không thuần túy chỉ thuộc vấn đề sở thích, thẩm mỹ như kiểu thích dạng này chẳng mê nổi loại kia mà sâu xa, e chừng chủ yếu vì cái điệu rối loạn tâm thần được ưu tiên chú tâm phản ánh cực kỳ đậm đặc.

Diễn viên từng trải Natalie Portman- người thủ vai chính Nina- chẳng hổ danh với tấm bằng Tâm lý của đại học lừng danh Harvard, thông qua chỉ dẫn cụ thể cái gọi là rối loạn ám ảnh cưỡng bức (OCD) trong tính cách nhân vật cô hóa thân cũng như thực tiễn tác nghiệp của nghề diễn viên.

[Nói thêm, so sánh với bản gốc cuộc phỏng vấn, bài chuyển ngữ trên Vietnamnet hơi bị phóng túng; tự hỏi, đâu là ‘sự tự kỷ của nhân vật Nina‘, hơn nữa, tôn giáo và tâm linh không đồng nhất với nhau.]

Tính cách nhân vật Nina giả tưởng, song chân dung cuộc đời cô minh họa nhiều đặc trưng của một rối loạn tâm thần nghiêm trọng; đọc sách giáo khoa Tâm bệnh học của sinh viên ngành Tâm lý sẽ dễ dàng nhận ra đó là rối loạn nhân cách ranh giới (BPD), đúng như lời của nhóm viết kịch bản khi thổ lộ tiến trình chuyển Thiên Nga Đen từ sách lên film.

Do chất giằng xé gay gắt, diễn tả ngoạn mục- dưới góc độ nghệ thuật- cơn loạn thần sống động, đi kèm vài ba yếu tố hãi hùng quen thuộc (dù nó đích thị chẳng hề thuộc thể kinh dị) nên Thiên Nga Đen khá kén chọn người xem; ít nhiều cần khuyến cáo với những ai có tâm hồn ‘mong manh dễ vỡ’ hoặc cõi lòng đang muộn phiền, sứt mẻ, …

Chủ đề chính của bộ film liên quan tới độ căng thẳng tinh thần lạ thường và những diễn biến phức tạp của hành vi tự hủy hoại bản thân– vốn hay gặp ở đối tượng kiếm tìm tối đa sự toàn hảo.

Nhân vật chính Nina chịu sự khuynh loát, áp lực từ người mẹ rất muốn cài cắm ý tưởng vào đầu đứa con gái của bà rằng, chỉ thực sự an toàn cho Nina khi cô duy trì quan hệ gần gũi, gắn bó mật thiết với mẹ mình; thế giới bên ngoài đầy hiểm nguy, đe dọa. Nhằm gắng sức đạt tới sự toàn hảo, Nina cắt cứa thân xác và tự bỏ đói, cố súc xả mọi thứ ra ngoài khi ăn uống, cũng như hóa bối rối đâu là cảnh thật đâu là ảo ảnh…

Đối tượng mắc BPD hay sa vào những quan hệ mãnh liệt, bất ổn. Các cá nhân như thế có xu hướng nhìn mọi thứ hoặc trắng hoặc đen, rất dễ chung chiêng giữa yêu thương và ghét bỏ, cảm nhận điều gì đó tốt tất hoặc xấu tuốt. Họ thường thấy trống rỗng bên trong và truy cầu vô cùng gấp gáp các cách thức lấp đầy bản thân, lảng tránh cảm nhận bị ruồng bỏ. Hậu quả, họ quen thói lạm dụng chất (rượu chè, ma túy) và dính líu các rối loạn liên quan tới ăn uống.

Đa phần người mắc BPD học hỏi là thế giới không chút an toàn. Dẫu vậy, họ lại không được dạy các kỹ năng làm thế nào để điều hướng đời mình. Quan hệ cực kỳ xung khắc giữa Nina và bà mẹ trong Thiên Nga Đen thể hiện tương đối đặc trưng kiểu cá nhân đớn đau bởi BPD. Các cá nhân mắc BPD cũng có xu hướng biểu đạt về một hình ảnh cái tôi không chắc chắn. Họ thường xuyên nghĩ mình bị đối xử bất công, tàn nhẫn và gặp khó khăn khi phải gánh chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân.

Một số triệu chứng khác thuộc BPD:

  • Cảm thấy trống rỗng và buồn chán
  • Thường xuyên biểu lộ sự tức giận không chính đáng
  • Bị thôi thúc quá đáng vào chuyện tiền nong, lạm dụng chất và các quan hệ tình dục
  • Không chịu đựng nổi trạng thái cô đơn
  • Nguy cơ ngẫm nghĩ và dự tính tự sát rất cao, đồng thời còn có một số hành vi tự hủy hoại bản thân khác nữa.

Điều trị BPD khá khó khăn, đòi hỏi thời gian lâu dài. Một cách chăm chữa tên là Trị liệu Hành vi Biện chứng (DBT) được nhà tâm lý học, TS. Marsha Linehan khai triển, đã chứng thực độ thành công rất cao trong việc giảm thiểu nhiều hành tự hủy hoại bản thân.

DBT sử dụng một số kỹ thuật trợ giúp các cá nhân tìm ra con đường mới để giải quyết với những cảm xúc quá mạnh mẽ; bao gồm trị liệu nhận thức, thiền định và các kỹ thuật thư giãn.

Đối tượng tham gia trị liệu học hỏi được rằng, dù vẫn còn có các suy nghĩ tự sát hoặc hành hạ bản thân này nọ thì họ không buộc phải hành động theo chúng. Họ biết nếu dùng các kỹ thuật khác thì mình sẽ chống chọi, vượt qua ‘cơn bão lòng’. Trị liệu nhóm thường giữ vai trò hết sức quan trọng trong DBT. Thuốc men có thể hỗ trợ các cá nhân đương đầu hiệu quả với những cảm nhận trầm cảm và sợ hãi. Song điều chính yếu đáng quan tâm phải là sự thay đổi cách thức cá nhân tri nhận và đáp ứng với các sự kiện diễn ra trong đời.

Đây cũng là nội dung mà TS. Marsha Linehan, người vừa mới dũng cảm tâm sự câu chuyện riêng tư trên New York Times về những cuộc đấu tranh bà kiên trì tiến hành để chống lại rối loạn tâm thần khắc nghiệt.

Chia sẻ chân thành về khoảng thời gian nằm viện lòng thòng và những ý nghĩ lẫn dự tính tự sát của bà đem lại hy vọng tràn trề rằng, rối loạn tâm thần không thể ngăn cản người ta muốn sống một cuộc đời tốt lành.