Categories
Liên kết xã hội

Uyên áo chuyện y phục

"Y phục xứng kỳ đức." Kỳ thực chẳng đặng đừng...
“Y phục xứng kỳ đức.” Sự thực chẳng đặng đừng…

Tình cờ làm thao tác nhóm mấy vụ này đặt cạnh nhau đã thấy ra ngay áo quần không thuần túy là đồ mặc che thân; bởi đích thị, ta là một văn hóa chứ không phải ta là một (bộ đồ) y phục.

Đó là vụ học sinh trường làng may veston giống phim Hàn; ngoặt sang các ni cô “thay áo nâu sồng mặc quân phục” để biểu diễn văn nghệ trong “Ngày hội Nữ tu”; và ông nghị Dương Trung Quốc đề nghị mặc quần soóc đi làm (cập nhật tin hôm nay).

Dĩ nhiên, đọc ba câu chuyện trên, người để tâm truy tầm kiến thức chút tất dễ liên tưởng ngay tới câu tuyên xưng mang tinh thần Nho gia nổi tiếng xưa nay “y phục xứng kỳ đức” (nghịch ngợm, hỏi Google ra vài kết quả thú vị dính đến cả Ngọc Trinhquan chức các cấp).

Y phục có thể tỏ lộ một vài sự kiện thú vị về chuyện mình là ai và cách thức mình muốn người khác nhìn nhận mình. Người ghét y phục có thể phát hiện thấy họ khá trẻ con hoặc ngớ ngẩn, hoặc cái gì tương tự. Thực tế, đơn giản là họ có thể cảm thấy ngượng ngập do bộc lộ bản thân ra ngoài, hoặc có thể là nghĩ quá mức về toàn bộ tiến trình (ví dụ, người lớn tuổi tham gia thể thao dưới nước).

Khả năng, họ nhìn áo quần như dạng test phóng chiếu hoặc sự thấu hiểu với những ham muốn và nỗi sợ hãi vô thức của họ. Chẳng hạn, trong dịp thoải mái hóa trang như lễ hội Halloween chẳng hạn, mặc đồ kiểu Siêu nhân hàm ý một cảm giác mạnh mẽ của sự không tương xứng hoặc ngầm chỉ sự đối lập: một hình ảnh bản thân phô trương quá mức. Họ không thích tỏ lộ bất kỳ bí mật nào thuộc nhân cách trước đám đông xa lạ.

Ai đó ghét các bộ áo quần không đích thị ghét các bộ áo quần; họ chỉ cảm thấy rằng đồ họ mặc sẽ không bao giờ đạt tới ngưỡng đòi hỏi của sự thi thố, cạnh tranh. Một số người tìm mọi cơ hội để diện bảnh, ngay cả khi chẳng vào mùa lễ hội. Một số khác thì tìm bất kỳ cơ hội để duyệt binh hoặc đi cùng bạn bè, bằng hữu tới các địa điểm trình diễn, nhà hát; không lên sân khấu đâu có sao, họ cũng diện bảnh và tạo tư thế hơi bị ấn tượng, đặc biệt.

Cơ chừng khá ít ỏi các nghiên cứu về mối tương quan giữa nhân cách và lối phục trang, ăn mặc. Đồ rằng với ai đó nếu việc mặc y phục dần trở nên tự nhiên với bản thân thì khả năng họ có điểm số cao trên chiều kích nhân cách thuộc dạng “Cởi mở với kinh nghiệm” (OE), hàm ý họ thích vui sướng với huyễn tưởng, chơi đùa, và thi thoảng đôi khi còn lòe loẹt nữa.

Bất kể thái độ về y phục thế nào, mình đều có thể sử dụng ý tưởng ăn mặc bảnh bao như cách khám phá những gì ẩn bên dưới mặt nạ riêng, hoặc điều mà Jung gọi là “persona”.

Ăn mặc với đời sống bình thường, hàng ngày phản ánh nhiều lối cách của hình ảnh bản thân. .. Ở mức độ nào đó, chúng ta biết rằng dù tốt hay tệ, chúng ta đánh giá và được/ bị đánh giá bởi những nét vẻ ngoại diện hướng ra ngoài này.

Trong những dịp đòi hỏi mặc lễ phục (tỷ dụ, thưởng lãm phong cách của ông Cụ), nếu muốn cảm thấy thoải mái và thư thái như với những hoàn cảnh bình thường khác, hãy đảm bảo chắc chắn mình đang mặc thứ gì đó thực sự gắn khít, sát hợp với hình ảnh nội tại của chính bản thân (một môn thể thao ưa thích, bài hát, bức tranh, sở thích, hoặc nhân vật lịch sử). Sử dụng nó như phép thử tiêu chuẩn và khởi lên từ đó.

Mình đâu nhất thiết phải thắng giải cho bộ đồ sáng tạo nhất. Song nếu mình có thể chỉ ra khía cạnh bản thân theo cách ta muốn nhìn nhận chính mình thế thì thừa khả năng cho mỗi người chuyển tải một sự đủ đầy, như ý với vô vàn cơ hội:

  1. Lục tủ quần áo và tìm xem bộ đồ nào mình ưng ý, ưa thích nhất.
  2. Nghĩ về ai đó mình ngưỡng mộ như là nền tảng cho việc mặc đồ.
  3. Tuân theo các giới hạn, phạm vi của thẩm mỹ tốt.
  4. Việc mặc đồ phản ánh các sở thích của bản thân.
  5. Nhớ rằng đôi khi những người khác cũng ngượng ngập đâu kém.

Hôm nay, nhân mùa Vu Lan, tôi nhớ tới lễ chúng Tăng tự tứ, dâng y đồng thời chẳng quên ghi nhận về bị cáo mặc đồ “đồng phục”. Vâng, thiên hạ chẳng ví von rằng thánh nhân nào cũng có quá khứ và tội đồ nào cũng có tương lai.

Nhìn chung, quả thật uyên áo chuyện y phục; bởi biểu đạt chính bản thân thông qua một bộ áo quần có thể chào mời một tốc độ thay đổi nào đó từ sự thiết lập mới đầu hết sức bình thường thôi.

Categories
Cõi chênh vênh

Bao giờ trở về mái nhà xưa?

Trở về nhà là trở về nơi yên ổn khỏi trốn trong mình
Trở về nhà là trở về nơi yên ổn khỏi trốn trong mình

Ác độc, cái tôi và quan điểm cần được ngăn chặn phù hợp trên tiến trình hành diễn của sự đời; đó là những gì tôi liên tưởng khi đọc thấy câu chuyện hai cha con sống cách biệt với cộng đồng gần 40 năm.

Báo chí dùng từ “người rừng trở về“… Tự hỏi, liệu đó là sự thật nếu mái nhà dấu yêu ấy lại nằm sâu trong rừng thẳm quen thuộc, thân thiết xa kia.

Cùng với việc canh tác, vỡ hoang và gieo ngô, trồng dưa thì Robinson Crusoe, Mai An Tiêm cũng dần trở thành những kẻ- đào- hang trên mảnh đất là không- gian- mang- kích- cỡ- cái- tôi. Với một số người theo kiểu bành trướng, cái tôi của họ có thể trải rộng hàng mẫu, hectares; và dĩ nhiên, một số người khác lắm khi suốt đời chỉ quẩn quanh trong kích cỡ không gian cái tôi của chính họ mà thôi.

Người sống nội tâm, theo cách Jung giải thích trong một tiểu luận, không thể tìm thấy một chỗ đứng chắc chắn với các đối vật nằm ngoài bản thân anh ta. Thế giới của người sống nội tâm được đặt để trong nếp gấp bên trong. Khác với kẻ quen hướng về ngoại giới “chối bỏ chính mình trong sự phân tán hoàn toàn bản thân vào các đối vật”, kẻ sống đời nội tâm “sẽ theo đuổi các ý tưởng… một cách thầm kín chứ không hề phô tỏ ra ngoài.”

Vấn đề là kẻ sống nội tâm cảm thấy như thể họ dần ngừng ngắt thật chầm chậm sự tồn tại trong bất kỳ phương thức vật chất nào khi mọi nguồn năng lượng tinh thần trong họ trải hết sức mong manh băng qua bề mặt của tính xã hội. Điều này lý giải tại sao những đối tượng này muốn được rút lui, ở ẩn; cốt nhằm phác thảo một đại thể về chính mình rồi tiến tới khôi phục trở lại sự độc bạch nội tại.

Dưới viễn tượng này, Jung dường như đã đúng khi ông quan sát thấy rằng “suy tư nội tâm tiến tới thành bằng chứng cho chính hiện thể chủ quan riêng có của nó”. Và trong khi kẻ sống nội tâm có thể chắn chắn tiến hành một số cuộc đột nhập vào bối cảnh xã hội vô cùng bao la và không được che chắn, người ấy phải tuần tự rút lui cố thủ trong một góc xó nào đó rộng đủ cho một ý thức đơn độc trú ngụ, nhắm để, vâng, chọn lọc bằng chứng cho chính hiện thể chủ quan của bản thân mình; nếu không, dễ từ bỏ sự tồn tại. Hãy nghĩ về Crusoe không có hang động, An Tiêm nương thân trong mái lá suốt mùa mưa gió.

Và trong khi gia tài của kẻ sống đời nội tâm đa phần thuộc thế giới của ký ức và hoài niệm thì e chừng, người đọc những câu chuyện kể về họ vừa nhấm nháp được hương vị của sự cô độc vừa lại có thể thưởng thức bữa tiệc đông người ồn ào, náo nhiệt ý kiến ý cò nữa.

Categories
Ngôn ngữ, tư duy và văn hóa nhân loại

Bốn nhà tư tưởng định hình ngành Tâm lý học

Với vô vàn các cá nhân nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng rộng lớn và đích thực sáng giá đủ để khó khăn lựa chọn ra 4 con người tạo nên dấu ấn khó phai mờ cho khoa học Tâm lý. Đó có thể là sự vinh danh các nhà tư tưởng như Pavlov, Bandura, Zimbardo, v.v… là các vị đóng góp vĩ đại cho chuyên ngành này.

Ở đây, chỉ tập trung mô tả trước tác mang tính nền tảng của Sigmund Freud, Carl Rogers, B.F. Skinner, và Carl Jung.

Sigmund Freud

Làm thế nào mình lên danh sách các bậc thầy tâm lý gia xuất sắc mà lại không nêu tên Sigmund Freud?

Để lại sức tác động mạnh mẽ không thể chối cãi, Freud, vốn là nhà thần kinh học người Áo, sống từ 1856 tới 1939. Ông được biết đến như là người đặt nền móng cho Phân tâm học (psychoanalysis) và đã phát triển các lý thuyết căn bản về tâm trí vô thức (unsconcious mind).

Theo Freud, các nhân cách của chúng ta được cấu thành gồm 3 phần: cái ấy (the id), cái tôi (the ego), và cái siêu tôi (the superego) điều hướng các hành động và ứng xử của chúng ta.

Freud cũng phát triển các lý thuyết liên quan tới tự do liên tưởng (free association), sự tồn tại của libido, chuyển dịch (transference), đè nén (repression), và các giấc mơ (dreams) và tâm trí vô thức.

Freud xuất bản tác phẩm nổi tiếng “Giải mộng” (“The Interpretation of Dreams”) vào tháng 11.1899, và người ta còn biết đến Freud bởi các ý tưởng về sự phát triển tâm tính dục (psychosexual development).

Các lý thuyết của Freud tạo dấu ấn khủng khiếp cho ngành Tâm lý học như chúng ta biết đến nó ngày nay, và bởi vì ông, chúng ta nghe nói đến rồi sử dụng các thuật ngữ “sự nhỡ lời Freud” (Freudian slip), “đè nén”, và “chối bỏ” trong các cuộc trao đổi, trò chuyện hàng ngày.

Carl Rogers

Nhà tham vấn nổi tiếng người Mỹ này (8.1.1902- 4.2.1987) là một ông tổ của cách tiếp cận Nhân văn trong lĩnh vực Tâm lý học. Ông tin rằng cái tôi (self) thì bao gồm giá trị bản thân (self-worth), hình ảnh bản thân (self-image) và cái tôi lý tưởng (ideal self), và rằng con người ta có thể thích đáng hoặc thiếu thích đáng (uncongruence) phụ thuộc vào cách thức các khía cạnh này cân bằng với thực tế.

Carl Rogers cũng rất quan tâm tới quan niệm bản thân (self-concept) và ông tin rằng con người được thúc đẩy hướng tới sự tự hiện thực hóa bản thân (self-actualize), hoàn mãn tiềm năng và đạt tới các mức độ cao của giá trị bản thân. Ông cũng tin rằng, để con người sống với tiềm năng của họ, môi trường phải cung cấp sự chân thành (genuineness), chấp nhận (acceptance), và thấu cảm (empathy).

B. F. Skinner

Burrhus Frederic Skinner, vốn hay được biết đến dưới danh xưng B.F. Skinner, sinh 20.3.1904 và mất 18.8.1990. Ông là nhà hành vi (behaviorist), nhà tâm lý học, nhà phát minh, tác giả và triết gia xã hội.

Skinner tạo nên kiểu nghiên cứu thực nghiệm tâm lý học nổi tiếng về phân tích thực nghiệm hành vi. Ông đã phát triển cái gọi là “cái hộp Skinner”, dạng buồng điều kiện hóa thao tác (operant conditioning), rồi dùng nó cùng các công cụ và kỹ thuật khác để nghiên cứu hành vi con người và cách thức mà nó được định hình bởi các củng cố (reinforcement) tích cực và tiêu cực.

Skinner không biện hộ cho việc dùng trừng phạt để thay đổi hành vi con người mà thay vào đó, ông ủng hộ ý tưởng dùng các củng cố tích cực và tiêu cực như một phương thức hiệu quả hơn hẳn nhằm kiểm soát cũng như sắp đặt hành vi người ta.

Skinner nổi tiếng bởi các kỹ thuật điểu chỉnh tâm lý hành vi và nhiều lý thuyết của ông vẫn còn hiện diện trong tâm lý hiện đại ngày nay.

Carl Jung

Carl Jung (1875-1961) vốn là bạn bè đích thực của Sigmund Freud.

Jung trình bày đầy lôi cuốn về tâm trí vô thức chẳng kém gì Freud, song về sau chính ông lại tỏ ra nghi ngờ và chống kháng với không ít các lý thuyết do Freud tạo ra.

Jung thiết lập lý thuyết về tâm lý học phân tích (analytical psychology) và ông tin rằng tâm thần con người ta (human psyche) được tạo bảo ba thành phần: cái tôi (ego), cái vô thức cá nhân (personal unconscious), và vô thức tập thể (collective unconscious).

Jung tin vô thức tập thể là sự gộp của tất cả trải nghiệm và kiến thức của toàn bộ giống người. Jung phát triển các khái niệm hướng nội (introversion) và hướng ngoại (extraversion) vẫn còn tồn tại ổn thỏa cho tới hôm nay, và lời khuyên của Jung khi trợ giúp một đối tượng đương đầu với nghiện rượu đã dẫn tới chương trình nổi tiếng AA (Alcoholics Anonymous).

Categories
Ngôn ngữ, tư duy và văn hóa nhân loại

Biểu tượng: hiện diện bốn phương – tám hướng

Chúng ta sử dụng các biểu tượng (symbols) liên tục trong đời sống trần tục hàng ngày để truyền thông các  ý tưởng. Hệ thống chữ viết (chữ cái và từ) là ví dụ rành rẽ về biểu tượng dùng chuyển tải ý nghĩa. Chủ nghĩa biểu tượng (symbolism) có thể được xem như cách dùng biểu tượng nhằm diễn giải các khái niệm (concepts).

Một số biểu tượng mang tính liên văn hóa và dường như tồn tại từ thời tiền sử trong nhiều nền văn hóa. Một trong số đó là biểu tượng mặt trời, thường trình bày như một dấu chữ thập hoặc vòng tròn.

Hầu hết mọi người trải nghiệm chủ nghĩa biểu tượng trong những giấc mơ. Thực tế, các giấc mơ thật giàu biểu tượng và thông điệp của chúng hay chỉ được hiểu khi diễn giải một cách biểu tượng.

Thiền định và thôi miên là các lĩnh vực vốn dễ bắt gặp các biểu tượng. Dường như các biểu tượng xuất hiện tự phát, hoặc được sử dụng ngõ hầu bước vào trạng thái thiền định. Việc phóng chiếu các vì sao và làm cuộc hành trình ma thuật huyền bí là những chuyến đi đậm chất chủ nghĩa biểu tượng, bởi chúng là các dạng thức căn bản của việc mơ có ý thức.

Các biểu tượng (bao gồm con người, động vật, các thực thể, thánh thần, cây cối và địa điểm) xảy đến bất chợt trong công việc thôi miên và thiền định có thể được tương tác cùng, và biến đổi dạng thức…

Điều quan trọng là hiểu yếu tính của biểu tượng trong việc thôi miên. Chẳng hạn trong Năng lượng Tinh thần, Carl Jung mô tả các biểu tượng như là “cơ chế tâm lý làm chuyển hóa năng lượng“, chỉ ra chức năng của chủ nghĩa biểu tượng đóng vai trò ra sao bên trong bộ máy tâm thần chúng ta. Roberto Assagioli, với bài báo Huấn luyện Ý chí, công phu giải thích điều này: “Các hình ảnh, các bức tranh và ý tưởng tâm thần thường có xu hướng sản sinh các trạng thái thể lý và hành động bên ngoài tương ứng với chúng. Một số nhà tâm lý học thiết lập công thức quy luật này theo các cách thức sau:  a. Mỗi hình ảnh tự thân nó có một thành phần vận động; và b. Mỗi ý tưởng là một hành động dưới trạng thái ẩn tàng.”

Khi sử dụng các biểu tượng bằng hiển thị hóa, và học hỏi chuyển hóa chúng vào các hình dạng mới thì mình đích thực đang làm việc với điều huyền diệu rất quyền năng.

Cũng nên biết rằng, trong tham vấn và trị liệu tâm lý, các cách tiếp cận khác nhau (CBT, trị liệu Nhân văn, trị liệu trần thuật, Lacan, Jung, Winnicott, Klein và Bion, Freud) đều sử dụng biểu tượng hết sức hiệu quả.

Mặc dù sự khác biệt khá rộng lớn phụ thuộc các dạng trị liệu khác nhau song các chủ đề thông thường cho thấy sự nổi bật trong quan hệ với ngôn ngữ. Tất cả các dạng trị liệu đều tập trung chú ý tới những sự truyền thông của thân chủ, thành lời hoặc ngôn ngữ cơ thể. Các từ đóng vai trò là đối tác thay đổi chính, bất kể điều này đến từ quan điểm nhận thức vốn quen dùng chúng như những công cụ hữu hiệu cho tư duy, hay một lối tiếp cận phân tâm nhìn nhận phát ngôn như một tác nhân kiềm chế và bị biến điệu.

Các từ, các biểu tượng không chỉ nói về điều gì đó; chúng còn là thành phần của trải nghiệm đang là của điều đó như một hồi tưởng, vì vậy nó xứng đáng được nói về… Đó là lý do tại sao các thân chủ được dành thời gian và không gian để vén lộ những gì chúng muốn gửi gắm.

Câu chữ kết nối thế giới nội tâm với bên ngoài, và thông qua việc đặt điều gì đó thành các từ mà chính thân chủ sẵn sàng cho sự kết nối ấy.

Nhà trị liệu tạo nên và lưu giữ môi trường an toàn để các từ được nói lên, nghe thấy và đáp ứng với…

@ Tham khảo: Words and Symbols.

Categories
Cõi chênh vênh

Tin tưởng là đang nhìn ngắm

Cuốn sách hé lộ con người của Carl Jung đang chờ lật mở…

Bức ảnh bạn chụp rãnh nước không phản ánh đích thật cũng chẳng hư ảo. Thu ở đây hiện diện bằng vẻ mờ sáng chứa thứ nắng nhạt vừa đủ lan ra chầm chậm, làm lá cây trong khu vườn nhẩn nha nhún mình nhè nhẹ.

Bao giờ cũng thế, ngoại hình cơ chừng huy hoàng mùa này cứ thích chực đánh lừa đôi mắt; song, hãy nhớ thưởng lãm vẻ đẹp từ thiên nhiên khi mà mỗi sự kết thúc, rơi rụng lại là cánh cửa hướng tới một khởi đầu mới mẻ.

Những âm thanh ồn ã của xe cộ hắt sang, tiếng người trò chuyện và réo rắt bản hòa tấu điện tử cũng thực tế đâu kém khoảng không gian chất chứa sục sôi cõi lòng? Nào nhất thiết phải hoa mỹ thiền tính rằng đi như thể đôi chân hôn mặt đất; căn bản phải cảm nhận đang bước

Vâng, luôn cần ưu tiên chứng ngộ cho mình trước đã– khi tỉnh thức ngắm nhìn.

Categories
Cõi chênh vênh

Lắng đọng tâm lý từ bi cõi trần của vị Phật Quán Thế Âm

Một tuần sau Lễ hội Quán Thế Âm

Như sơ lược, truyền thống Phật giáo Tây Tạng nhìn Avalokitesvara là vị Bồ tát (Bodhisattva: người khát khao đạt được Phật tính [Buddhahood] vì sự lợi lạc của chúng sinh; tâm Bồ đề [Bodhichitta, hay còn gọi là ‘”tâm trí tỉnh thức”: ước nguyện của một vị Bồ tát khát khao đạt được Phật tính vì sự lợi lạc của tất cả chúng sinh]) thị hiện cho lòng từ bi (compassion) của tất cả các vị Phật– hiện đã tồn tại hoặc sẽ tồn tại mãi mãi.

Người Tây Tạng xem đức Dalai Lama như dạng hóa thân (incarnations) của Phật Quán Thế Âm (Avalokitesvara), người mà mật chú (mantra) “Om Mani Padme Hung được các Phật tử Tây Tạng khắc cốt ghi tâm, và luôn nổi bật trang trọng trên các kinh luân, cờ phướn cầu nguyện, chạm vào các viên đá mani khắp miền Trung Á.

Mật chú này mang nhiều nghĩa khác nhau, song đa phần nó dạy rằng Om diễn đạt cho thân thể, phát ngôn và tâm trí của người tu tập; Mani nghĩa là “ngọc quý” trong Phạn ngữ và biểu đạt pháp từ bi; Padme tương tự “hoa sen” (“lotus”) thuộc Phạn ngữ và thể hiện ý ‘trí huệ’ (wisdom); và Hung biểu hiện tính bất khả phân (indivisibility). Do đó, nghĩa tổng quát của Om Mani Padme Hung là tâm trí, ngôn từ và thể xác bình thường của chúng ta có thể được chuyển hóa thành thể xác, ngôn từ và tâm trí giác ngộ của vị Phật bằng con đường từ bi và trí huệ không gì cản ngăn nổi.

Theo câu chuyện, xa xưa Avalokitesvara đã bộc lộ một cảm nhận khôn cùng về lòng từ bi và trí huệ đối với tất cả mọi chúng sinh (sentient beings). Trong ngài, tẩy sạch vị kỷ và thể hiện nỗi niềm cảm hứng siêu việt của tinh thần từ bi, hỷ xả. Đến gặp vị thầy tâm linh của mình, đức Phật Amitabha (Adiđà), ngài thành khẩn nguyện rằng kể từ nay, ngài sẽ liên tục duy trì lòng từ bi và làm việc không ngừng ngõ hầu giải thoát tất cả chúng sinh khác khỏi sự khổ đau (suffering). Sâu thẳm lời nguyện, ngài tuyên bố hễ nếu còn nảy nòi một suy tư ích kỷ nào thì “cầu cho đầu con bị cắt bẻ thành mười mẩu… và cầu cho thân xác con bị chia tách muôn ngàn phần nhỏ.”

Sau thề nguyền này, ngài đã trải qua thời gian dài làm việc, những mong đem lại lợi lạc cho chúng sinh. Ngài du hành khắp nơi, ban pháp cho mọi người và nỗ lực giải thoát họ khỏi nỗi khổ đau.

Ngài dành thời gian thiền định để phát triển lòng từ bi hơn nữa, và khi nhìn ra nỗi khổ đau nơi nơi của thế giới thì lòng ngài đẫm lệ xót thương. Sau nhiều năm tinh tấn chí thành, ngài cảm thấy ”kiệt sức sau những cố gắng không ngừng”, vì thế, ngài dừng lại và “bước vào thiền định đặng hồi phục thân tâm”.

Sự kiệt sức như vậy chứng tỏ ngài đã chạm đến một giới hạn cá nhân. Tức có thể nói, ngài đặt để một ranh giới và tạm gián đoạn.

Suốt kỳ nghỉ dưỡng, cảm giác kiệt sức còn tồn đọng lại, ngài quán sát tình hình và nhận ra rằng mặc dù ngài đã trợ giúp cho rất nhiều thì hiện vẫn có vô kể chúng sinh khác đang trải qua các kiểu thức khổ đau khó tưởng tượng hết được. Khi thấu suốt sự khổ đau cực đại bất tận đến vậy, ngài thấy không thể chịu đựng…

Nhìn câu chuyện qua lăng kính tâm lý, thấy rằng lúc Avalokistesvara đang cảm nhận nỗi niềm từ bi chân thật thì một số ưu tư bản thân vẫn còn cư trú trong lòng ngài.

Điều ấy cơ chừng giống hệt hoàn cảnh hầu hết chúng ta phát hiện ở ngay chính mình. Chúng ta có thể cảm thấy một số cảm hứng từ bi, song mối quan tâm xoay quanh bản thân tiếp tục thiết lập định dạng bản chất căn cơ của những kiêu mạn (egos). Chúng ta cảm thấy lòng từ bi chân thật dành cho tha nhân, song tự sâu thẳm bản năng, những mối quan tâm xoay quanh bản thân cứ còn là những yếu tố quyết định cách thức chúng ta trải nghiệm thế giới.

Nên chi, khi tạo tác những nỗ lực từ bi mạnh mẽ thì chính vô số cơ chế đối phó và sự phòng vệ của bản ngã xô đẩy làm cho lòng từ bi bị giới hạn, và các cảm giác xoay quanh cái tôi tại phần cốt lõi của bản ngã đã bất ngờ bao phủ với quyền lực đe dọa hết sức mãnh liệt.

Xem xét tất cả những nỗi khổ đau làm tan vỡ trái tim Avalokitesvara. Cảm nhận là mọi nỗ lực của ngài không thật đủ đầy, ngài khóc than thống thiết, “Quyền năng dành để gì đây? Ta không làm được gì cả cho chúng sinh. Tốt hơn cho ta là bản thân được hạnh phúc và bình yên.”

Lời nguyền trước đây ứng nghiệm, đầu ngài chia thành mười mẩu và thân thể ngài tách ra một ngàn phần nhỏ. Hiểu một cách tâm lý, lúc này dung lượng và năng lực nội tâm của sự thực hành lòng từ bi bấy lâu trở nên xung đột với việc duy trì cốt lõi vị ngã của con người ngài. Tất cả những giới hạn và ranh giới xưa kia bị phá hủy, mở toang; lòng từ bi của ngài xé nát bản ngã cũ càng.

Thầy của ngài, đức Phật Adiđà, xuất hiện đúng lúc để làm tâm ngài yên ổn và lành lặn. Đức Phật Adiđà chuyển hóa mười mẩu của cái đầu cũ thành mười khuôn mặt mới nhìn thấu suốt mọi hướng. Như một biểu tượng cho sự thị hiện hài lòng luôn ở cùng ngài, đức Phật Adiđà cho Avalokitesvara một cái đầu thứ mười một sáng rực– là hóa thân của riêng Phật Adiđà. Thân thể mười ngàn mẩu nhỏ của Avalokitesvara được đức Phật Adiđà chuyển hóa thành một thân thể mới với một ngàn cánh tay; mỗi một cánh tay có một con mắt trong lòng bàn tay. Nơi từng chứa một bản ngã với cốt lõi quan tâm vị kỷ thì nay ngự trị thức nhận mở rộng chan hòa căn bản của lòng từ bi.

Tại thời khắc chúng ta bật lên chống lại những giới hạn bản thân và căng dài các cơ chế đối phó với điểm sụp gãy, chúng ta có một sự lựa chọn. Chúng ta có thể đặt để một ranh giới, hoặc có thể lựa chọn để đẩy bật vượt lên các giới hạn trước đây. Nếu chưa sẵn sàng, việc bật lên, vượt qua các ranh giới cũ có thể hoàn toàn gây hại. Trong trường hợp đó, các nỗ lực tâm linh hoặc đậm chất từ bi thay vì đưa tới sự rơi rụng của bản ngã lại khiến cho nguồn năng lượng vị kỷ tại trung tâm bản ngã mạnh mẽ hơn rất nhiều– so với quyền lực nội tại của lòng từ bi.

Thực tế, có rất nhiều người như thế, những người thúc đẩy bản thân họ đi quá xa và quá sớm trong thực hành thiền định, trong những bài luyện tập tâm linh khác, hoặc trong công việc họ muốn giúp đỡ tha nhân. Sau khi bị lấn át hẳn và ngập tràn bởi các trải nghiệm tiêu cực của sự thiếu sót, suy nhược thì họ buông thả luôn niềm cảm hứng từng có. Nhằm tránh thoát khỏi việc tái lập trải nghiệm tiêu cực ấy, họ chọn một cách tiếp cận bảo thủ và hạn chế hơn rất nhiều.

Avalokitesvara không bao giờ trải nghiệm thêm lần nào nữa sự thiếu sót, suy nhược vừa nêu, dù theo một cách thức hết sức khác biệt. Ngài đã không tỏ ra quá bức bách hoặc non nớt trong việc đẩy bật nhằm vượt qua giới hạn của bản thân. Một khi đã nỗ lực đủ lâu dài công việc nội tâm nhằm phát triển lòng từ bi, quyền năng do lòng từ bi chân thật mang ngài vượt qua chính mình. Cũng đừng quên chuyện ngài đã thực tập dưới sự hướng dẫn của người thầy Amitabha. Khi chạm tới điểm sắp vượt qua các ranh giới trước đây, điều quan trọng là có những sự trợ giúp từ bên ngoài phù hợp nhằm đưa mình băng qua những khổ nạn, khốn khó…

Khi chạm tới giới hạn và chưa tích lũy đủ các nguồn lực nội tại hoặc có được những sự trợ giúp bên ngoài nhằm siêu việt trên giới hạn đó, quan trọng là cần đặt để một ranh giới và chờ đợi cho đến lúc chúng ta đã sẵn sàng vượt qua nó. Các quyền năng tại trung tâm bản ngã thật đáng giá, và chúng ta phải chuẩn bị để đáp ứng cùng chúng. Khi sẵn sàng rồi, việc đối đầu với những giới hạn bấy lâu cung cấp một cơ hội đầy sức mạnh cho chuyện chuyển hóa tích cực. Quan điểm bản ngã thực tế thì tựa quan điểm về vũ trụ từng được nhìn nhận phổ quát trước Copernicus. Chúng ta tưởng tượng và cảm thấy rằng mình là trung tâm của mọi thứ. Trong những khoảnh khắc đấy, khi chúng ta cho phép lòng từ bi mang chúng ta vượt qua những ranh giới do bản ngã đặt để, chúng ta thả bỏ, rời đi khỏi viễn tượng này.

Viễn tượng chúng ta thu lượm được chính là sự biểu tượng hóa thông qua thân thể mới của Avalokitesvara. Khi chấm dứt cắm chốt vào viễn tượng riêng có của bản thân, chúng ta có thể nhìn thấy nhiều điều từ các quan điểm khác nhau. Thay vì cứng nhắc cực đoan, cách tiếp cận của chúng ta trở nên uyển chuyển và linh động.

Mười khuôn mặt mới của Avalokitesvara thoảng hoặc được xem như là biểu tượng hóa cho năng lực của ngài trong việc nhìn hết sức thấu cảm, đầy tràn lòng từ bi tất cả mọi nỗi khổ niềm đau ở mỗi chiều kích, phương hướng mà không bị đè bẹp, áp đảo. Khuôn mặt thứ mười một của ngài biểu tượng hóa tâm trí đã giác ngộ mà nó hồi quy sự thấu cảm về với sự khôn ngoan, trí huệ. Hàng ngàn con mắt của ngài chứng tỏ năng lực từ bi chứa đựng sự thức nhận mênh mông. Khi chúng ta không giới hạn cách tiếp cận của mình khuôn theo duy mỗi viễn tượng bản thân, chúng ta có khả năng để nhìn nhận sự vật, điều chuyện từ các viễn tượng khác. Thân thể với rất nhiều cánh tay biểu tượng năng lực to lớn đủ giúp tha nhân hết sức bao quát trong bất kỳ cách thức cần thiết nào. Hàng ngàn con mắt trong lòng bàn tay của ngài khẳng định sự trợ giúp này là không thể chia lìa hoặc được nâng đỡ ngay lập tức do khởi đi từ sự thấu thị đầy từ bi của ngài.

Câu chuyện về Avalokitesvara cũng có thể được nhìn nhận như tính biểu tượng hóa của những gì xảy đến mỗi lần chúng ta bật lên rất từ bi vượt qua ranh giới thâm căn cố đế.

Mỗi lần chúng ta phờ phạc, bức bối quá mức, hụt hẫng, kiệt sức, hoặc cảm thấy bị áp đảo nặng nề, chúng ta có thể tạm dừng lại vào mỗi khoảnh khắc đó để nhận ra rằng chúng ta có một sự lựa chọn.

Chúng ta có thể để mặc bản thân mình dính mắc vào, kéo lùi sâu bên trong thế giới của cái tôi, thậm chí giữ khoảng cách giữa mình với những người khác và cho phép các cảm xúc tiêu cực như giận dữ, tuyệt vọng, không xứng đáng, hoặc tự thương hại nắm quyền kiểm soát.

Hoặc trong khoảnh khắc ấy, chúng ta có thể tạo nên quyết định tâm lý để lựa chọn sự từ bi. Chúng ta có thể lựa chọn để giữ cho trái tim mình luôn mở rộng và không ngừng thấu cảm với những người khác.

Như câu chuyện về Bồ tát Quán Thế Âm chứng thực, tạo nên lựa chọn đấy không hề làm mọi thứ đột nhiên chuyển biến dễ dàng liền. Chúng ta có thể vẫn còn tiếp tục thất bại, trượt rớt. Song rồi chính tự thân sự thất bại, trượt rớt, yếu kém ấy trở thành hành trình của sự tiến bộ, triển nở trong việc nhìn nhận tha nhân và thế giới dưới những con mắt của lòng từ bi.

Nhân tiện, cũng nên biết rằng, con đường trở thành bậc Bồ tát thường được xem trọng bậc nhất trong truyền thống đạo Phật. Từ khía cạnh tâm lý học của Carl Jung, Bồ tát có thể được nhìn nhận như dấu hiệu, nhân vật giải quyết những đối nghịch giữa đời sống tâm linh và đời sống vật chất vốn được biểu đạt trong nghịch lý Puer (tuổi trẻ vĩnh cửu; một cấu trúc tâm lý mang chất mẫu rập khuôn) / Senex (nguyên tắc nam tính thâm căn cố đế mang chất mẫu rập khuôn) hoặc Puella (dạng thức nữ tính của Puer)/ Seneca (dạng thức nữ tính của Senex).

Trên hành trình bồ tát, người ta thay vì tìm cách siêu việt trên thực tiễn của thế giới vật chất thì vẫn ở vậy bên trong nó ngõ hầu phục vụ những người khác. Trong đạo Phật, trực giác thấu triệt bản chất tinh túy là sự hóa thân vào thế giới bằng mỗi một hành động mang tính sáng tạo.

Bồ tát còn có thể liên quan tới khả năng nắm bắt, xử lý áp lực căng thẳng giữa hai thế giới: thế giới khát vọng tâm linh và những đòi hỏi của đời sống vật chất thông thường. Nhờ hạnh trực giác thấu triệt thấm sâu vào bản chất sáng tạo, vị Bồ tát khai thác nguồn lực hiệu nghiệm của tầm nhìn và năng lượng sống còn. Một vị Bồ tát lựa chọn sống với nghịch lý của việc hiểu biết sâu sắc bản chất ảo ảnh của thế giới đang chung đụng, song vẫn ước ao nỗ lực tồn tại ở trong nó…

Lời cuối. Về tâm lý của sự từ bi. Các nền văn hóa truyền thống phương Đông xem từ bi là cốt tủy để giải phóng tâm trí chúng ta khỏi quyền lực của những thứ xúc cảm phá hoại như sợ hãi, giận dữ, ghen tỵ và thù hận (Goleman, 2003).

Từ bi không chỉ là một tiến trình làm cột trụ chống đỡ cho việc xây dựng các quan hệ củng cố xã hội với những người khác mà còn có tiềm năng lớn lao trong việc chữa lành tâm trí và thân xác chúng ta. Từ bi thuộc về cách thế sống cởi mở đối với nỗi khổ đau của chính mình và những ngước khác, theo một phương thức không phòng vệ và không đánh giá. Từ bi cũng bao hàm một ham muốn làm giảm nhẹ khổ đau, những nhận thức hướng tới am hiểu nguyên nhân gây khổ đau, và những hành vi, ứng xử– hành động với lòng từ bi. Do vậy, nó là một sự nối kết, tập hợp của các động cơ, cảm xúc, suy tư và ứng xử phơi bày nổi bật tình thương yêu và sự tử tế.

Phát triển mô hình từ bi liên kết giữa các khái niệm hóa từ đạo Phật về tâm trí con người với khoa học thần kinh hiện đại, nhiều công trình nghiên cứu của tâm lý học phương Tây chỉ ra rằng chúng ta tất thảy đều là những sinh thể tương thuộc nhau rất mãnh liệt, trên tiến trình không ngừng của việc cùng điều chỉnh với nhiều mức độ phức tạp; khám phá vai trò cốt tủy của sự tha thứ và tội lỗi trong sự từ bi, chỉ ra bằng cách nào mà những điều này có thể dính dáng trong các vấn đề tâm lý; rằng, từ bi cho chính mình và với những người khác có thể thực sự khó khăn nếu không có các quan hệ mang tính trợ giúp từ nhỏ ngõ hầu đem lại độ hiệu lực về mặt cảm xúc và cung cấp các khung tham chiếu lẫn sự hướng dẫn để hiểu biết, tích hợp và điều chỉnh tình cảm– những cơ hội học hỏi này có thể được tái thiết lập trong trị liệu bởi một tiến trình hữu hiệu thông qua những cảm xúc của bệnh nhân, đặc biệt với những đối tượng thiếu vắng sự chỉ dẫn và nâng đỡ của bố mẹ…

——————————————–

* Nguồn trích dẫn:

1. Gilbert, Paul. (ed) (2005). Compassion: Conceptualisations, Research and Use in Psychotherapy. New York, USA: Routledge

2. Ladner, Lorne. (2004). The Lost Art of Compassion: Discovering the Practice of Happiness in the Meeting of Buddhism and Psychology. New York, USA: HarperCollins

3. Preece, Rob. (2006).The Wisdom of Imperfection: The Challenge of Individuation in Buddhist Life. New York, USA: Snow Lion Publications.

Categories
Cõi chênh vênh

Khoảng giữa không gian

Ngoài ý tưởng về sự cứu rỗi bên trên, triển lãm cá nhân mang tên “Những nơi chốn tinh thần”– đã mở lặng lẽ tại nhà riêng, trong cơn mưa nhè nhẹ hồi tối nay– còn cho thấy nhiều điều thú vị bất ngờ khác nữa. Đó là miền đất hạnh phúc; con đường về nhà; cuộc gặp thượng đỉnh; nghỉ hưu;…

Số lượng tranh treo không nhiều, cách bài trí giản tiện, thậm chí những tay cầm máy quay tác nghiệp ghi hình, phát sóng còn đông tương đương khách đến dự. Cái không khí thân tình, tự nhiên như thế khiến công việc nghệ thuật đích thị thật đáng giá.

Rất thường, cứ mỗi dịp nghĩ về cộng đồng các cá nhân là ta tưởng tượng họ chỉ như một tập hợp tụ hội lại thôi. Kỳ thực, hành vi đám đông vượt xa hơn tổng cộng hành vi của các cá nhân; vốn là kết quả của sự tương tác giữa những người í với nhau.  

Phương thức hình mẫu khác biệt hẳn khi một hành vi được đặt nền tảng ở xã hội so với những sự lựa chọn độc lập.

…Tất cả, tựu trung đều góp phần chỉ ra tầm quan trọng của khoảng giữa không gian– nơi chốn khiến cho món thứ, chất liệu, vấn đề sáng tạo thực sự xảy đến.

Và đó là câu chuyện của Bóng Râm (Shadow), tiềm thức, cổ mẫu và những giấc mơ nọ kia xuyên suốt chiều dài tiến hóa của nhân loại.

Xem tranh tác giả ngoại quốc, nhấm nháp chút rượu vang nồng đượm, trên tầng lầu này nhìn thấy qua cửa sổ ao nước gần hồ Tây, rồi nghe một chàng trai trẻ thắc mắc da diết  “Ta là ai?” thì quả chẳng uổng phí thời gian gặp gỡ.

Linh hồn, tinh thần như tâm thức tập thể cơ chừng hoan hỉ trong dịp nhìn ngắm thực tế của một không- thời gian… Nhớ Carl Jung và biết thiên hạ từng bảo, để hiểu thì phải tin; không tin, không hiểu được.

Categories
Ngôn ngữ, tư duy và văn hóa nhân loại

Bắt chước, được nhiều mật thiết

Lúc bắt đầu gặp gỡ và khởi sự chuyện trò, thường chúng ta khá khác biệt, nói với nhịp điệu không giống nhau, ít hoặc nhiều sinh khí đi kèm với việc sử dụng các từ ngữ có thể vô cùng xa lạ…

Rồi sau đôi ba khoảnh khắc trao đổi, dần chúng ta thấy mình dùng tốc độ phát ngôn tương tự, ngả người nghiêng về hướng đối tượng hơn, thậm chí còn hào hứng ví von xài lại câu chữ của phía bên kia…

Theo nghiên cứu về sự bắt chước, điều này xảy ra hoàn toàn tự động giữa các cá nhân. Sao cóp những lối biểu đạt, cách thể hiện riêng này nọ, hoặc ngôn ngữ đặc thù của người khác dễ khiến cho việc giao tiếp trở nên thuận lợi hơn và chứng tỏ mình chia sẻ sự tương đồng, phổ biến.

Kết quả, mọi người thích nhau hơn.

Chia sẻ động dung khuôn mặt có thể còn làm tăng thêm sự đồng cảm– giúp người ta hiểu mình đang cảm thấy ra sao

Điều hơi đáng tiếc sẽ khiến cho hiệu ứng này hạn chế phát huy, như nghiên cứu gần đây chỉ ra, nếu các  cơ mặt bị hỏng hóc, suy kém (ví dụ, tiêm Botox): các cơ mặt ngăn cản việc lây nhiễm hoặc biểu lộ cảm xúc.  Nói khác, khả năng diễn tả khuôn mặt người khác hết sức quan trọng để hiểu anh ấy/ cô ta đang cảm thấy thế nào.

Bắt chước, tất nhiên, cũng được ứng dụng trong giao tiếp văn bản. Nghiên cứu cho thấy, người ta nắm bắt thật tự nhiên phong cách viết lách của kẻ khác.

Tỷ như, khi đáp ứng với một câu hỏi văn bản, những người tham gia hầu như hay dùng tương tự các tình từ, giới từ, v.v…

Đi xa hơn, giới nghiên cứu xem xét các cứ liệu lịch sử là thư từ trao đổi giữa các nhà tâm lý học nổi tiếng như Sigmund Freud và Carl Jung, hoặc giữa các thi sĩ lừng danh như Elizabeth Barrett Browning và Robert Browning.

Với những cặp đôi này, nét tương đồng trong viết lách được tìm thấy nhiều lần thể hiện sự tương giao hài hòa và hạnh phúc giữa họ.

Lần tới, xin cố gắng bắt chước cho thật tốt, thay vì chỉ đơn giản thể hiện dạng thức xu nịnh, tâng bốc; bởi nó thậm chí, còn có thể cải thiện quan hệ của ta nữa đấy.

Categories
Cõi chênh vênh

Nhân Noel, cần mừng sinh nhật Cái Tôi

Ngày Chúa hài đồng ra đời cũng có thể xem là biểu tượng sinh nhật của Cái tôi (Self). Nhận Jesus ở thành Nazareth như vị cứu tinh (Hy Lạp: Christ), đạo Công giáo tồn tại đã hơn hai ngàn năm, và nền nghệ thuật Thiên Chúa vẫn hiển nhiên sáng giá nơi những tòa nhà công cộng rộng rãi lẫn chốn phòng the riêng tư…

Giáng sinh. Niềm tin vào sự ra đời của Jesus, vào cuộc sống và cái chết của ngài, là cội rễ của đạo Công giáo (Christianity). Do đó, những hình ảnh minh họa Christ hằng sống trên cõi trần gian- như một con người- là nền tảng của nghệ thuật Thiên Chúa.

Đấng Christ  là vị Thầy (teacher) và Nhà Thuyết pháp (preacher), Người Chữa lành (healer), Người Phán xử (judge), đồng thời cũng là một Hài đồng (new-born baby) và Chứng nhân khổ nạn (dead man).

Tập trung vào những hình ảnh tử biệt của đấng Christ và cơ thể khổ nạn của ngài đem lại sự hiểu biết đặc thù về nghệ thuật Thiên Chúa.

Tuy vậy, ở đây chủ yếu xoay quanh hình ảnh của đấng Christ như là biểu tượng của Cái Tôi.

Bài báo trên trang Psychology Today bàn luận thật sắc sảo về chủ đề vừa nêu. Theo đó, tác giả dẫn lời Car Jung rằng, Christ là “sự tương cận gần gũi nhất chúng ta có được về Cái Tôi và ý nghĩa của nó“.

Jung giải thích tiến trình Cái tôi xuất hiện:

Nếu vô thức có thể được ghi nhận như yếu tố cùng quyết định với ý thức, và nếu chúng ta có thể sống theo lối xem xét hết mức khả dĩ các yêu cầu của vô thức và ý thức thì trung tâm của lực hấp dẫn về toàn bộ nhân cách sẽ chuyển dời vị trí. Nó chẳng còn ở thành phần tâm thần ego nữa- vốn chỉ giữ vai trò trung tâm ý thức- mà sẽ là điểm giả định giữa ý thức và vô thức. Trung tâm mới này có thể gọi là Cái Tôi.

Qua lối diễn dịch lại ý tưởng của tác gia tiếp tục trích dẫn trong bài, tiến trình hiện hữu khác biệt (individuation) cũng được Jung quan niệm rõ ràng.

Mục tiêu nhắm tới tiến trình hiện hữu khác biệt là xu hướng của cái gọi là “Toàn thể” hoặc “Tích hợp“: trạng thái mà tất tật các thành phần của tâm thần, bao gồm cả ý thức và vô thức, đều cố kết lại với nhau. Người thành tựu được điều đó sở hữu “một thái độ vượt thoát trên mọi vướng víu cảm xúc và những rối loạn kinh hoàng– một ý thức rời khỏi mối gắn bó với thế giới“.

Mời bạn đọc tự mình nghiền ngẫm thêm bản văn thú vị, chứa nhiều ý tưởng sáng giá liên quan tới Cái Tôi.

Dĩ nhiên, Cái Tôi và đấng Christ đã thu hút sự quan tâm của những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tôn giáo lẫn tâm lý học.

Chẳng hạn, Sharn Waldron cho rằng, trên tiến trình hiện hữu khác biệt của cá nhân thì việc thức nhận về Cái Tôi, hình ảnh Christ, vốn treo lơ lửng lằn ranh thống khổ giữa hai tên trộm đã diễn tả thích đáng độ căng giữa điều thiện lành và tội lỗi, giữa ý thức và vô thức.

Jung viết, “Bất kỳ người nào mặc nhiên nhận mình là một toàn thể lớn lao hơn chính bản thân thì kẻ đó dễ có cơ là biểu tượng của Cái Tôi…”

Jung cũng khẳng định rằng, không phải hình ảnh nào cũng đủ đầy, tương xứng. Với ông, hình ảnh Jesus Christ không phải là một biểu tượng toàn thể vì nó thiếu vắng sự ác độc (evil) và tội lỗi (sin); hơn nữa, nhục hình Christ phải chịu dưới tay của xã hội tập thể mang ý nghĩa một hình ảnh khổ nạn (the suffering) nên chi thành phần tâm thần ego phải trải qua ở mức nhọc công tốn sức của vô thức– trên tiến trình hiện hữu khác biệt.

Việc bắt chước, noi gương (imitation) Christ không hề cần thiết nhất quán với việc rập khuôn gánh vác sứ mệnh nặng nề của Jesus mà chỉ là phương tiện hầu cùng trải nghiệm đời thánh Jesus hằng sống– phương thức hiện hữu khác biệt.

Đấy là điều lớn lao và phóng khoáng của bất kỳ nhân cách chân thành nào; anh ta tự nguyện hy sinh bản thân cho chức nghiệp, ơn gọi (vocation) và phiên chuyển đầy ý thức vào thực tiễn cá nhân của mình, nếu không nó sẽ bị phá hủy khi sống thật vô thức bởi bầy đàn, nhóm hội (group).

Sự hóa thân (incarnation) của Christ là Thượng Đế (God) thành một con người là sự chuyển ngoặt (the breaking) từ vô thức sang thế giới ý thức, một sự thống hợp, ngang bằng (integration) người này với kẻ kia.

Với Jung, biểu tượng Christ là một phần của biểu tượng Tam Vị Nhất Thể (Trinity) lớn hơn. Tam vị Nhất Thể biểu tượng hóa tiến trình phát triển của vô thức xảy ra trong cá nhân và cộng đồng tập thể xuyên suốt nhiều thế hệ.

Jung thừa nhận, khi Tam Vị Nhất Thể mang tính biểu tượng cho tiến trình hiện hữu khác biệt thì nó không làm biểu tượng của tiến trình kia– sự thức nhận về Cái Tôi.

Sâu thẳm tiến trình này, Đức Chúa Cha (God the Father) đại diện cho trạng thái vô thức của giai đoạn ấu thơ (childhood); tại giai đoạn phát triển ấy, đứa trẻ sống theo thói quen và luật lệ sắp sẵn. Việc Giáng Trần (Incarnation) khởi đi khi Đức Chúa Con (the Son) thâu tóm quyền hành (taking over) từ Cha.

Điều ấy không phản ánh trạng thái phát triển của ý thức, bởi vì các phong tục cũ vẫn được duy trì. Những điều khác biệt và sự phát triển của ý thức xảy đến khi cá nhân bắt đầu phản ánh (reflect), xét đoán và chịu đau khổ vì kết cục mâu thuẫn đạo đức của sự tự do thoát vòng luật lệ.

Việc nhập thể (advent) của Thánh Thần (Holy Ghost) thể hiện sự hồi quy hoạt phục của Đức Chúa Cha và sự tái thống hợp của ngài với Đức Chúa Con. Ý thức nhận ra vô thức là một thứ thống trị lớn hơn, vượt trên quyền lực của lý trí.

Tuy thế, Jung vẫn xác quyết một biểu tượng của Cái Tôi đòi hỏi dạng thức ôm choàng cả điều thiện lành lẫn sự dữ, tính nam và tính nữ. Jung cho là cả sự dữ và tính nữ đều bị tiêu biến, lạc mất trong Tam Vị Nhất Thể.

Jung nhấn mạnh vấn đề trong Tâm lý học và Tôn giáo phương Tây:

Hình ảnh Thượng Đế (God-image) không phải là điều gì đó được sáng tạo ra, nó là một thứ trải nghiệm xảy đến với ai kia hoàn toàn tự phát… Hình ảnh Thượng Đế mang tính vô thức do vậy, có thể làm thay đổi (alter) trạng thái ý thức, ngay khi ý thức có thể xác định hình ảnh Thượng Đế mỗi lần nó trở nên ý thức hơn.

Jung cho rằng, gộp niềm tin Đức Mẹ Maria Đồng Trinh (the doctrine of the Assumption of Maria) vào hình ảnh Thượng Đế sẽ làm nó càng dễ thỏa mãn về mặt tâm lý.

Là sự quy hồi nhất quán và logic của tình huống mẫu tổ (archetypal situation), nên việc xiển dương vị thế Đức Mẹ Maria tỏ lộ tính hàm ẩn và do đó phải trở thành một ‘kết luận tinh gọn’ trên diễn trình thời gian.

Sự hóa thân không ngừng của Thượng Đế thông qua Thánh Thần vào loài người diễn tả tiến trình hiện hữu khác biệt. Mức độ tột đỉnh của khái niệm về biểu tượng tính bốn chiều kích (quaternity) là sinh nhật của Cái Tôi.

Với Jung, Jesus vừa là vừa không phải là biểu tượng của Cái Tôi. Ông trước tác vào giai đoạn mà một trong những vấn đề trung tâm của Thần học và các học giả Kinh thánh còn tranh luận là sự khác biệt nhau giữa Jesus mang tính lịch sử và những lớp bồi trong trần thuật sự kiện của các bản Phúc Âm.

Từ viễn tượng này, Christ trở thành đối tượng đương đại về những kỳ vọng thuộc vô thức tập thể (collective unsconcious expectations) của Jung, dẫn đến sự phóng chiếu (projection) tính thần thánh (divinity) nói chung vào hình ảnh Christ.

Khi phản ánh mang tính ý thức xác định hình ảnh thượng đế, cảm nhận của chúng ta về bản sắc chủ yếu dựa trên những khuôn mẫu của sự hoàn hảo thay cho việc dựa trên sự đầy đủ của tâm thần, và hình ảnh vọt ra khỏi nó.

Chính là từ cấu trúc này mà Jung có khả năng phân biệt giữa hình ảnh thượng đế như là sự lầm lẫn biểu kiến của vô thức và hình ảnh thượng đế như một toàn thể, nắm giữ độ căng của những trái ngược và nhờ thế, tạo ra sự hóa giải, điều hợp (reconciliation) cho tâm thần.

Imago Dei‘ là tiếng Latin của ‘hình ảnh Thượng Đế”, một niềm tin thần học căn bản đối với đạo Do Thái, Thiên chúa giáo và đạo Hồi biểu thị mối quan hệ của loài người với Thượng Đế, đồng thời với tất cả các sinh thể khác.

Dựa trên truyền thống, chỉ loài người mới là hình ảnh của Thượng Đế, và với tư cách như thế con người là những tạo vật có đạo đức và tâm linh (moral and spiritual creatures).

Vì hình ảnh Thượng Đế là yếu tính tuyệt đối của bản chất người, nên nó được dùng trong lịch sử một cách không thích đáng để làm căn cứ cho chủ nghĩa phân biệt sắc tộc (racism) và giới tính (sexism).

Theo Jung, khi những hình ảnh về thượng đế của chúng ta là sự phóng chiếu  của vô thức thì điều quan trọng là đừng nhầm lẫn hình ảnh thượng đế với quyền năng siêu việt (transendent power) mà mọi hình ảnh cho thấy và ám chỉ.

Khi tính cá nhân và tinh thần tập thể hướng chúng ta tới sự hiện hữu khác biệt thì hình ảnh thượng đế– khó tránh khỏi– sẽ biến hình chuyển dạng thật tương hợp song song với thực tiễn tâm thần.

Những sự quá độ về hình ảnh thượng đế phản ánh tiến trình này. Dẫu thế, sự khác biệt tất yếu giữa hình ảnh thượng đế là cấu trúc của lý trí với hình ảnh thượng đế biểu thị vô thức siêu việt và vượt trên khả năng tri nhận thì rốt cục chỉ có thể hiểu được thông qua tri giác mang tính ý thức của chúng ta.

Tri giác mang tính ý thức này về hình ảnh Jesus và hình ảnh thượng đế là sự phản ánh hành trình của tâm thần chúng ta. Nó là hồi quang của hình ảnh chúng ta có về Cái Tôi.

Cơn cớ chi chúng ta thù ghét nhau. Đến hẹn lại lên… Mùa Noel, điểm qua vài nghiên cứu về tôn giáo.

Bình yên, an lành trong bầu không khí thanh sạch se lạnh một chiều cuối năm!

——————————–

Tài liệu tham khảo:

David A. Leeming, et al. (2010). Encyclopedia of Psychology and Religion. USA: Springer Science & Business Media LLC

Maggie Hyde & Michael McGuinness (2006) (10th rpt.). Introducing Jung. Singapore: Tien Wah Press Ltd

J. Wentzel Vrede van Huyssteen (ed.). (2003) (2nd edn). Encyclopedia of Science and Religion. USA: Macmillan Reference

Beth Williamson (2004). Christian Art– A Very Short Introduction. New York: Oxford University Press Inc.