Tha nhân – trọng tâm trị liệu: một cách tiếp cận thú vị khác

Thường các nhà trị liệu tâm lý rất đặc trưng trong cách làm việc với lối hỏi “nhưng giờ thì chị cảm thấy thế nào?” Song thay vì quấy rầy thân chủ khỏi câu chuyện của họ về thế giới như thế, chính người theo cách tiếp cận tha nhân- trọng tâm (Other- Centred) lắng nghe hết sức cẩn thận rồi đặt câu hỏi trái ngược về đối tác có hành vi khiến thân chủ đang phàn nàn: “nhưng điều gì mà anh ấy thích?”

Một cách ngắn gọn, cách tiếp cận này phản ánh sự dấn thân đầy ý thức với những người khác, gồm cả các quan hệ con người và tiếp xúc của chúng ta với môi trường xung quanh; là kiểu trị liệu sinh thái (ecotherapy), nó đưa các công việc trị liệu ra ngoài trời và kết nối vởi cả các loại hình nghệ thuật sáng tạo cũng như mối quan tâm xã hội.

Cụ thể hơn, phương pháp tha nhân- trọng tâm thể hiện sự khám phá tri nhận đã điều kiện hóa sẵn rồi và tái lượng giá về các mẫu hình chú ý và hành vi. Những chuyển đổi tri nhận như thế dẫn tới thay đổi tâm lý cá nhân người ta như sự định dạng thích ứng với các điều kiện mới. Phương pháp tích hợp, một mặt thẩm tra các động năng của trải nghiệm, và mặt khác, truy vấn tính xác thực của hiện thể đang tri nhận. Toàn bộ công việc diễn ra bên trong khung đạo đức, sự chú ý hợp trội, tính thấu cảm và các kỹ năng tỉnh thức (mindfulness skills).

Với bài trinh bày tại Hội thảo (2012) của mình, tác giả Caroline Brazier đã thể hiện sáng rõ cách tiếp cận trị liệu rất khác vừa nêu. Theo đó, Brazier làm nổi bật sự cân bằng giữa phát hiện cá nhân, với kết nối thể lý và các bài tập chú ý cũng như các câu hỏi giúp tri nhận dễ dàng hơn, đi kèm khung lý thuyết dựa trên cách tiếp cận của Carl Rogers, các truyền thống nhân văn- hiện sinh và con người- trọng tâm, đề cao mối quan hệ và thấu cảm như các yếu tố chính yếu quyết định trị liệu thành công, và nhà tham vấn từ căn bản tương tự dường như đạt được giá trị tối ưu khởi đi bởi các trực giác mới mẻ…; khi nền tảng được đặt để rồi, trong dạng thức nhân cách và biểu đạt thành niềm tin cá nhân, chúng ta tiến tới ‘tâm lý học Phật giáo’ với khái niệm cốt lõi là các ‘quan hệ đối vật’.

‘Định dạng quan hệ đối vật’ trong ý nghĩa tâm lý học Phật giáo hơn là cảm nhận của Phân tâm, khái niệm này biểu đạt việc “tâm trí bị điều kiện hóa bởi đối vật của sự chú ý”. Và đối vật chúng ta đang chú tâm vào (bất kỳ con người, đồ vật, trải nghiệm gì) thì không nhiều ít, hơn kém chi so với đối vật được tri nhận. Chún ta mong đợi thấy thứ gì, chúng ta thấy thứ đó, và khi thấy thứ đó rồi thì mình lại càng mong thấy nó hơn, và vì thế bị mắc kẹt. Vòng tròn tự củng cố của mong đợi và phản ứng hàm nghĩa chúng ta xây dựng xung quanh mình một bức tường tâm lý nhằm giữ cho bản thân thoát khỏi những điều mình sợ hãi và kháng cự. Và do cuộc đời vốn không dự đoán nổi, có đầy rẫy nỗi sợ hãi và vô vàn kháng cự. Chúng ta bắt đầu dựa cậy, mời gọi cấu trúc tâm thần hoặc phòng vệ này, cái gọi là ‘của tôi’: một định dạng được tạo dựng bao quanh các thói quen chúng ta thiết lập để giúp mình khỏi nhọc trí, bảo bọc bản thân, hoặc lập tức lãng quên luôn.

Sự tạo tác thế giới này, thế giới của chúng ta, hoặc ‘của tôi’, gồm nhiều đối vật khác nhau (người, các trải nghiệm) để nâng đỡ cảm nhận của mình về cái tôi và về thực tế cũng như độ an toàn của các thế giới do mình tạo tác. Chúng ta kiếm tìm các đồ vật và con người hỗ trợ phương cách mình đang muốn nhìn thấy (có thể chúng ta chỉ chọn những ai tán đồng với mình, hoặc có thể mọi người là kẻ thù). Đây là mẫu hình khá quen thuộc trong trị liệu và trong tài liệu tâm lý học, ví dụ, người bị lạm dụng thường duy trì các quan hệ mới và những gì họ thu được càng giống như trước; tựa điệp khúc, ‘làm sao tôi có thể thoát khỏi mẫu hình đó đây?’

Câu trả lời Brazier đưa ra: tập trung chú ý sâu xa vào các đối vật mà ta tri nhận như trạng thái có ý nghĩa đối với bản thân và cách nó điều kiện hóa lối mình suy nghĩ và cảm nhận. Brazier hướng chúng tới thuật ngữ Phật giáo gọi là ‘sắc’ (rupa). Từ này không chỉ mang nghĩa ‘các đối vật được tri nhận’ mà còn trỏ điều gì đó mà quyền lực của nó gây phấn khích và thu hút sự chú ý của chúng ta; có thể gọi nó là một ‘nút bấm’, ‘cú lẩy cò’, hoặc chủ đề quán xuyến khởi lên trong đời chúng ta lặp đi lặp lại, hết lần này đến lần khác.

Nhà trị liệu chú ý tới các rupas, làm bộc lộ chúng ra rồi khám phá sức mạnh của chúng. Các chiến lược khác biệt từ việc thổi phồng ‘phẩm chất rupa’ của đối tượng cho đến việc tạo nên được khoảng cách tách biệt khỏi nó, để tái dựng lại nó khác đi với đầy đủ chi tiết liên quan, trong phòng trị liệu…

Dĩ nhiên, một rupa có thể tương đối khủng khiếp vì thế cần có một sự đánh giá sâu sát về cách thức làm sao giúp thân chủ tương tác với khoảng cách an toàn, làm sao giải quyết với các hồi tưởng, và sang chấn, tạo ra các kỹ thuật nền tảng cũng như cảm nhận về sự nương tựa.

Từ những kỹ thuật dùng tâm kịch (psychodrama) với chiếc ghế trống, các đối vật có thể xem là các mỏ neo, ký ức, hoặc thành phần của tiến trình tạc tượng (sculpting), Brazier tiến tới thảo luận về “tỉnh thức” (mindfulness) với lưu ý rằng, trong khi sử dụng nó như kỹ thuật nhằm nắm bắt những gì đang diễn ra hiện tại với từng khoảnh khắc thì bà còn dùng thuật ngữ này để chỉ việc có một mối quan hệ đáng tôn trọng với thực tế, tưởng thưởng sự khác biệt của nó, và sự kiện là nó không hề diễn ra dưới sự kiểm soát của chúng ta hoặc vận hành theo ước muốn của chúng ta. Đây là điều nhắc nhở cần cởi mở với những người khác và không nên xoắn bện thực tế khớp khít với cảm nhận riêng của chúng ta về bản ngã, dù nó tích cực hoặc tiêu cực đi nữa; nó cũng nhắc nhở về chiều kích tâm linh và tính thiêng, ngay cả khi những thứ này không nên mang vào quá đặc thù trong quan hệ trị liệu.

Như thế, đối lập khá dữ dội với các nhà trị liệu khác, người tiếp cận theo phương pháp tha nhân- trọng tâm đi sâu vào các câu chuyện của thân chủ rồi xem xét chúng mang ý nghĩa ra sao với thân chủ, nhắm vào các cảm xúc và định dạng chúng như là cái làm tăng thêm vấn đề hơn là giúp ích cho thân chủ… Brazier hướng tới quan điểm là một người lành mạnh khi họ dấn thân trọn vẹn vào những gì họ đang tiến hành hoặc với người mà họ đang quan hệ, hơn là khi họ quan sát một cách có ý thức các trải nghiệm của bản thân; với cách nghĩ ấy, bà cân nhắc về vai trò của trị liệu: liệu nó đáng giá so với việc cải thiện các điều kiện vật chất trong đời sống của con người ta, để được tiếp xúc với những ai quanh mình, hoặc làm việc cho sự tồn tại mãi mãi của hành tinh, hơn là đơn giản ngồi trong phòng trị liệu để phân tích các cảm xúc của mình với một người lạ?

Kết luận rút ra là một sự mời gọi cân bằng, cho một kiểu trị liệu có nền tảng vững chắc và yếu tính của nó cởi mở với những người khác, không xem trị liệu như cái gì đặc biệt tự thân mà chỉ là một phần khác tích cực, hữu dụng của thế giới liên thuộc của chúng ta. Thân chủ cũng cởi bỏ khỏi thái độ tương tự về những gì tiền định sẽ được khám phá và vui thú…

Trị liệu và tiêu chí chẩn đoán các rối loạn tâm thần

Cả khi tiếp xúc mặt đối mặt lẫn trong thực hành trực tuyến trên mạng, cá nhân tôi chẳng hề nghĩ mình luôn luôn nên đối xử với thân chủ thông qua những biểu lộ của một hoặc nhiều các rối loạn tâm thần nhất thiết cần phải khít khớp với cách tiếp cận y khoa bệnh lý.

Không ai chỉ thuần là trường hợp của rối loạn lưỡng cực hoặc chán ăn tâm thần, một dạng ám ảnh- cưỡng bức, hoặc người mắc tâm thần phân liệt paranoia. Theo quan điểm riêng, các phân loại chẩn đoán chính thức nắm giữ vài giá trị của thông tin mang tính bối cảnh, nhưng chúng đóng vai trò ít nhiều quan trọng hơn là các hoàn cảnh đặc thù của ai đó. Nếu là thân chủ, điều trước tiên và hầu như bạn chính là cá nhân duy nhất, đặc biệt. Mang kèm theo bất kỳ nhãn mác chẩn đoán nào không nói với tôi nhiều nhất có thể về bạn và trải nghiệm bạn khả dĩ… Nó chắc chắn không kể cho tôi nghe những gì bạn ‘cần’ như ‘điều trị’ (treatment).

Dẫu sao, trải nghiệm riêng tư khi làm việc với các thân chủ từng nhận các chẩn đoán tâm thần chính thống từ các chuyên gia khác, tôi thường nhận thấy các thân chủ của mình cảm nhận là họ thiếu thông tin thích đáng mà các nhãn mác chẩn đoán kiểu đấy đích thị thể hiện ý nghĩa.

Bài này nhắm mục đích cung cấp các sự kiện cơ bản liên quan các nhãn mác chẩn đoán khác nhau ấy. Lưu ý, thông tin chẩn đoán cung cấp ở đây chỉ phục vụ các mục tiêu giáo dục và không thể thay thế lời khuyên việc dặn của một chuyên gia sức khỏe tâm thần đủ tư cách hành nghề tác nghiệp.

Dưới mô hình y khoa quen thuộc đối với đa số các nước phương Tây, khái niệm ‘chẩn đoán’ (diagnosis) hay nhắm chỉ việc định dạng bản chất và nguyên nhân của một bệnh lý, vết thương hoặc lệch lạc khác khỏi chức năng vận hành bình thường. Các đánh giá đặc trưng, trực tiếp về mặt thể lý được tiến hành nhằm thu hẹp các nguyên nhân khả thể (chẩn đoán phân biệt) giúp lý giải các triệu chứng (symptoms) quan sát thấy bởi vị bác sĩ hoặc nhờ bệnh nhân báo cáo, kể lại. Căn cốt, điều này nghĩa là một chẩn đoán y khoa không thuần túy chỉ là tập hợp các triệu chứng; một chẩn đoán y khoa thêm thông tin mới vào bức tranh lâm sàng mà nó không chắc xứng hợp từ việc gom góp các triệu chứng đặt sẵn rồi. Nó thêm thông tin mới về tính nhân quả, việc điều trị, tiên lượng bệnh lý, các biến chứng xảy đến, và phức tạp hơn nữa…

Giờ bàn tới các rối loạn tâm thần. Việc ‘chẩn đoán’ được làm rõ cùng sự hiện diện hoặc vắng bóng các triệu chứng đã quy định. Không như trường hợp các dạng tiểu đường, ví dụ vậy, không có test đường huyết đơn giản nào cho rối loạn trầm cảm hoặc chán ăn tâm thần hay rối loạn tâm thần khác. Tự định nghĩa, để mắc trầm cảm thì không phải có các dấu hiệu nào đó về mặt cơ thể; theo định nghĩa, mắc trầm cảm là chuyện ai đó trải nghiệm rất đặc trưng thông qua các mô tả tập hợp triệu chứng cụ thể (cũng thế, các test tầm soát trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác chỉ đếm kiểm một loạt các triệu chứng). Vậy một ‘chẩn đoán’ rối loạn lưỡng cực, chẳng hạn, không nói với ta điều gì mới mẻ, vượt qua và vươn ra khỏi sự hiện diện của các triệu chứng đặc thù được định sẵn trong danh sách. Đối lập, một chẩn đoán các dạng tiểu đường hoặc cường tuyến giáp cho ta biết một cái lớn lao hơn là tập hợp các triệu chứng có thể được bệnh nhân trải nghiệm.

Ý cuối, các chẩn đoán tâm thần là rỗng không về mặt lý giải, vì thế, chúng đặt để rất đúng đắn trong một lĩnh vực cực kỳ khác biệt của khoa học hơn là chẩn đoán ‘thực’ (y khoa phương Tây). Chúng có thể giúp thân chủ (và nhà trị liệu) hiểu biết bối cảnh, và chúng đưa ra các chỉ báo phù hợp mang ý nghĩa thống kê về việc có thể sử dụng các điều trị bằng thuốc, song chúng không hề giống các tiêu chí chẩn đoán chuẩn mực của y khoa phương Tây.

Nhân tiện, mời tham khảo thêm quan niệm ‘chẩn đoán’ theo cách tiếp cận của Con người- Trọng tâm trị liệu (person-centered therapy).

“Tôi không thể cho lời khuyên”

Báo chí Việt Nam luôn tạo cơ hội để tôi cảm thấy mình cần giữ tâm trạng phấn khích và ngạc nhiên mãi hoài chưa thôi. Với lối đặt tên “Kết thúc có hậu của người đàn ông ruồng rẫy vợ con để theo bồ nhí” tựa cách khai thác tin bài vô tiền khoáng hậu vậy, thiên hạ không bức xúc đến độ chỉ chực muốn nhảy chồm chồm rồi mắng mỏ nhau lia chia qua lại mới là chuyện lạ.

Và cập nhật đây nữa: Tan nát gia đình vì chuyên gia tâm lý.

Chuyên gia khuyên em hãy đi tìm người đàn ông khác để tìm hiểu vì có thể sẽ có cảm hứng, ham muốn. Vị chuyên gia kia không quan tâm chuyện gia đình bị ảnh hưởng thế nào, chỉ lo giải quyết cái vụ “chán tùm lum” của vợ tôi, kết cục gia đình tôi tan vỡ.

Nhân vật ‘chuyên gia’ này là ‘một vị cực kỳ uy tín trong ngành tâm lý’ (!?).

Mào đầu lấy cớ, chứ ở đây không nhàn rỗi thừa hơi thêm đặng dành lời bình luận say sưa cho hơi hướng cải một mớ thế.

Giờ mời đọc đoạn phát ngôn sau.

Tôi sẽ giúp chị tìm ra câu trả lời đúng đắn song tôi không thể cho lời khuyên hoặc thông tin (trừ lúc thích hợp). Tôi không thể làm cho chị lớn lên. Chị phải tìm ra câu trả lời cho riêng mình suốt các phiên và bên ngoài tiến trình trị liệu. Tôi sẽ chấp nhận chị và các hành vi của chị trong mỗi một bước đi trên hành trình. Tôi chấp nhận các giá trị của chị sẽ thường khác biệt so với giá trị của bản thân. Tôi tôn trọng mọi nền văn hóa và các định hướng phát triển, và sẽ đương đầu với bất kỳ định kiến nào nảy nở trong lòng mình.

Nói ngay, cách nhìn này đích thực thể hiện hiểu biết căn cốt về trị liệu và phản ánh tương thích với hầu hết mối quan tâm của thân chủ. Trong khi không nghi ngờ gì vô vàn khác biệt xuyên văn hóa, đa phần mọi người tìm đến trị liệu tâm lý với kỳ vọng muốn được nhà tham vấn bảo họ nên làm gì. Đấy là nguồn cơn họ cân nhắc đặng tính chuyện trả phí: lời khuyên và kiến thức tâm lý chuyên sâu của nhà tham vấn. Nếu trị liệu khởi đi từ việc đặt thân chủ vào thỏa ước chắc chắn rằng tôi sẽ không cho lời khuyên chi cả và thân chủ phải tự tìm ra các câu trả lời thì họ sẽ chủ yếu nghe ra rằng nhà tham vấn không thể trợ giúp họ và khả năng cao là họ chẳng thèm quay trở lại trong phiên kế tiếp.

Thực tế, điều này minh họa một sự trái ngược khả thể: nhà tham vấn giữ vị trí quá chừng lý tưởng, rằng thân chủ buộc phải tìm tìm thấy câu trả lời cho bản thân, đồng thời nói rằng anh ta sẽ ‘tôn trọng mọi nền văn hóa’ và chấp nhận các giá trị khác biệt. Dĩ nhiên, thật hoàn hảo để nhận ra nhu cầu của thân chủ muốn được khuyên nhủ mà vẫn không đưa cho họ, song điều này đòi hỏi lối trình bày thiện xảo và quyết không chỉ là lời đầu môi chót lưỡi đi kèm với tuyên bố: “Tôi tôn trọng nhu cầu cần có thông tin của chị song tôi sẽ không cung cấp cho chị và đây là lý do tại sao”.

Trải nghiệm tác nghiệp hành nghề giúp ta phát hiện thấy vị thế của nhà tham vấn đã thay đổi theo thời gian, rằng tôi nhất thiết phải xem xét thấu đáo định kiến căn bản của mình với tư cách là một nhà tham vấn, rằng người khác “nên là” trong dòng chảy không ngừng của trải nghiệm và tôi phải rất tinh tuyền trong việc làm thuận lợi, dễ dàng sự trưởng thành, triển nở của thân chủ. Rất thường gặp trạng thái người ta không hề chạm tới được trải nghiệm đang là của bản thân khiến họ tìm đến nhà tham vấn nhờ trợ giúp, và cũng rất thường tình việc ít nhiều chân thành khi nhà tham vấn nắm giữ thông tin tích lũy có thể trợ giúp bằng chuyện xử lý những lối trình bày riêng biệt liên quan tới nỗi niềm bất mãn đó trong đời sống của thân chủ.

Tôi cho rằng, quan trọng cần nhớ, nhà tham vấn đang không truyền đạt kiến thức chuyên sâu từ trên cao. Lĩnh vực của chuyên gia ngành hẹp chẳng hề có nghĩa anh ta tổ chức việc tìm kiếm các giải pháp hoặc thực hiện mọi điều đặng giúp đỡ cho chính thân chủ, mà đó là việc tạo lập trạng thái sống cùng với thân chủ, theo nhu cầu của thân chủ đã được hai bên vạch ra trên tấm bản đồ đường đi nước bước cụ thể, và cả ước ao của thân chủ nhằm cởi bỏ áp lực tồi tệ của việc đang buộc phải làm mọi điều cho chính bản thân. Khi áp lực này bị làm dịu bớt cũng như đã bẻ gãy được sự cô độc hay tách biệt thì chính thân chủ, tự họ, dần tiến tới giải pháp ngay lập tức,

Song điều này là phương thức đòi hỏi kiên trì lâu dài, và thực tế thì khá bất khả vào giai đoạn khởi sự tham vấn ban đầu.

Cách tiếp cận trị liệu Nhân văn về Loạn thần (2)

Cố ý sắp đặt sự đời
Cố ý sắp đặt sự đời

Mục tiêu của trị liệu từ cách tiếp cận Nhân văn là tạo điều kiện để thân chủ đạt đến sự thích đáng (congruence) về cái tôi thực tế (real self) và cái tôi lý tưởng (ideal self).

Điều này có nghĩa, những gì con người là và những gì anh ta muốn là nên trở thành một khi trị liệu tiến triển. Lòng tự tin (self-esteem) thành tựu trong trị liệu sẽ cho phép thân chủ nâng cao cảm nhận về những gì anh ta là, và lòng tự tin cũng sẽ làm giảm nhẹ nhu cầu làm người tốt hơn những gì anh ta đang là. Hết sức thiết yếu, khi cái tôi thực tế càng được thân chủ chấp nhận, và lòng tự tin nổi cao tất sẽ cho phép anh ta ít thuộc một số dạng thức của cái tôi “lý tưởng” mà anh ta cảm thấy mình bị thúc ép trở thành.

Các phẩm chất của tôn trọng tích cực vô điều kiện, thấu cảm đích xác và chân thành trong nhà trị liệu Nhân văn cho phép nhà trị liệu trợ giúp thân chủ trong việc vun bồi sự thích đáng giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng từ viễn tượng của thân chủ.

Những gì mà người mắc TTPL trải nghiệm có thể gây bối rối. Rõ ràng, hầu hết các nhà trị liệu, tâm thần học và lâm sàng không thể hiểu các viễn tượng của bệnh tâm thần kéo dài mãn tính. E chừng, giá mà giới chuyên môn hiểu được những gì người mắc rối loạn tâm thần cảm nhận việc họ bị cầm tù bên trong làn da mình và một sự cô độc không kiểm soát nổi của tâm trí, với tiếng la hét của các ảo giác thì các nhà lâm sàng điều trị bệnh tâm thần sẽ thừa khả năng để thấu cảm tốt hơn với người mắc bệnh tâm thần.

Vấn đề về sự thấu cảm của nhà lâm sàng đối với bệnh tâm thần chính là quan điểm nhìn nhận người mắc bệnh tâm thần thì biệt lập và bản thân họ không có khả năng suy tư. Có lẽ, những cô độc bên trong các tâm trí của người mắc TTPL hầu như là khía cạnh đớn đau nhất của thực trạng bị mắc TTPL, thậm chí các ảo thanh có thể được thiết lập là thuộc nhóm tâm thần.

Dựa vào các tiêu chuẩn khiến họ cảm thấy không phù hợp, bệnh nhân tâm thần đáp lại với sự sỉ nhục, bêu xấu bằng việc nội tâm hóa nó. Nếu người mắc bệnh tâm thần có thể thành tựu mục tiêu thích đáng giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng, các kỳ vọng của họ hướng tới việc “họ nên là” có thể được điều hợp thành sự chấp nhận “mình đang là ai”. Khi họ hạ thấp các tiêu chuẩn cao đòi hỏi họ nên là, sự chấp nhận của người mắc bệnh tâm thần về các cái tôi thực tế có thể diễn ra hết sức tự nhiên.

Carl Rogers nói, “Khi tôi chấp nhận bản thân như tôi đang là thì rồi tôi đích thị có thể thay đổi.” Trong cách tiếp cận Nhân văn, thậm chí nhà trị liệu có thể trợ giúp một người mắc TTPL chấp nhận họ đang là ai nhờ không ngừng phản ánh sự chấp nhận cá nhân người mắc loạn thần.

Điều này có thể dẫn đến khả năng chữa khỏi được tối đa, dù có thể không phải là sự chữa lành hoàn toàn. Tuy vậy, khi người mắc TTPL ngày càng trở nên chấp nhận bản thân hơn, họ có thể thay đổi. Chấp nhận xã hội là yếu tố cơ bản để đương đầu với TTPL, và chấp nhận xã hội còn dẫn tới việc người mắc TTPL tự chấp nhận bản thân mình. Thái độ chấp nhận của nhà trị liệu có thể là thành phần căn cốt nhằm giảm thiểu các hậu quả tiêu cực do sự sỉ nhục, bêu xấu mang lại như nó không ngừng tác động tới cá nhân người mắc bệnh tâm thần.

Câu chuyện như vậy liên quan tới các điều kiện tưởng thưởng và xu hướng hiện thực hóa. “Các điều kiện tưởng thưởng” ảnh hưởng đến người mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng hơn nhiều so với các đối tượng khác. Thuần túy được chấp nhận và thấu cảm bởi một nhà lâm sàng có thể tạo nên sự chữa lành ở một phạm vi nhất định, ngay cả với bệnh tâm thần mãn tính. Nếu người mắc TTPL được phóng thích khỏi mọi điều kiện tưởng thưởng vốn bám đuôi bởi sự sỉ nhục, bêu xấu thì có lẽ khuynh hướng hiện thực hóa sẽ tự khẳng định nó theo dạng thức tích cực, vắng bóng sự bóp méo.

Theo truyền thống trị liệu theo cách tiếp cận Con người- trọng tâm, thân chủ được phép dẫn dắt cuộc trao đổi hoặc đối thoại trong các phiên trị liệu. Đây là điều lý tưởng cho cá nhân mắc loạn thần, cung cấp niềm tin cho anh ta rằng mình đang được nhà trị liệu lắng nghe. Thật rõ ràng, tâm trí nhà trị liệu sẽ phải căng ra khi họ tìm cách thấu hiểu viễn tượng chủ quan của thân chủ. Theo thuật ngữ của trị liệu Nhân văn, lý thuyết đang bàn cơ chừng áp dụng đối với tất cả cá nhân, vì nó dựa trên tâm lý thuộc mọi con người, mỗi cá thể hết sức độc sáng, đặc thù có khả năng được hưởng lợi từ cách tiếp cận này thông qua tiềm năng triển nở mà họ thừa hưởng từ chúng. Carl Rogers đem lại hy vọng, bởi nhờ phương tiện của lý thuyết, đã đem lại sự cải thiện nhất định cho các cá nhân mắc loạn thần.

Cách tiếp cận Trị liệu Nhân văn về Loạn thần

Thường nhiều người vẫn cho rằng loạn thần hoặc cụ thể như Tâm thần phân liệt (Schizophrenia, TTPL) thì không thể thuyên giảm, vợi bớt đi được, ngay cả nếu có can thiệp bằng trị liệu tâm lý đi nữa.

Trong bài này muốn chỉ ra rằng ngược lại, đấy là điều mà trị liệu, đặc thù như cách tiếp cận của Nhân văn, có thể hữu ích đối với cá nhân mắc loạn thần; song, có lẽ, nhà trị liệu sẽ gặp khó khăn trong việc thấu hiểu cách trường phái này áp dụng vào các vấn đề liên quan đến loạn thần.

Dù ý kiến hiện vẫn còn thịnh hành trong xã hội chúng ta là TTPL không đáp ứng với tâm lý trị liệu, lần nữa, cần khẳng định ở đây bất kỳ nhà trị liệu nào cũng có thể quan hệ với cá nhân mắc loạn thần, và, nếu trị liệu không thành công thì sự thất bại này cơ chừng khởi từ các phẩm chất của chính nhà trị liệu chứ chẳng phải xuất phát bởi đối tượng mắc loạn thần.

Carl Rogers tạo nên lối làm việc với người mắc loạn thần như sự biểu tỏ cho các khái niệm “lý thuyết Nhân văn” và “trị liệu Con người- trọng tâm”. Cách tiếp cận lý thuyết này dựa trên nhiều ý tưởng rất quan yếu phải được thấu hiểu.

Đầu tiên, “các điều kiện xứng đáng” (“conditions of worth”) và “xu hướng hiện thực hóa” (“the actualizing tendency”). Rogers khẳng định, xã hội áp chúng ta vào các “điều kiện xứng đáng”; nghĩa là, chúng ta phải hành xử theo một số cách thức đặng nhận được các sự tưởng thưởng, và chấp nhận các sự tưởng thưởng này hàm ý chúng ta xứng đáng nếu ứng xử theo các cách thức chấp nhận được. Một ví dụ chẳng hạn, trong xã hội, chúng ta được khen thưởng bằng tiền khi mình làm việc ăn lương, tính công sá.

Trong đời sống của đối tượng mắc TTPL, các điều kiện xứng đáng nêu trên dính dáng với các hành động bêu xấu. Các cá nhân mắc loạn thần, chẳng hề cố ý, không thể hành xử theo các cách thức làm nảy sinh sự tưởng thưởng được. Có lẽ một số người tin rằng, đối tượng mắc TTPL là các động vật ăn bám vào xã hội. Lối đánh giá về sự xứng đáng như thế chỉ tổ làm tăng thêm nỗi đau đớn cùng cực hơn cho họ mà thôi; các cá nhân bị bệnh tâm thần và mắc loạn thần thực tế phải chịu đựng hết sức khốn nhục trong mọi khía cạnh xã hội, cá nhân và tài chính.

Sự bất mãn, tuyệt không tán đồng của Carl Rogers về các điều kiện xứng đáng, thậm chí thực tế, ông còn tin rằng con người và các sinh thể khác nỗ lực đạt tới sự toàn mãn các tiềm năng họ có. Phấn đấu, gắng sức này được Carl Roger định danh bằng thuật ngữ “khuynh hướng hiện thực hóa” và “thúc ép ở đời” (“force of life”). Khía cạnh tiến triển mang tính khuyến khích này là động cơ của mọi hình thức sống nhằm phát huy tối đa mọi tiềm năng riêng có. Rogers tin, bệnh tâm thần phản ánh sự bóp méo, xuyên tạc khuynh hướng hiện thực hóa, dựa trên các điều kiện xứng đáng lầm lạc, sai trái. Rõ ràng, người mắc loạn thần giải quyết các điều kiện xứng đáng hết sức tiêu cực, đầy thiên lệch, xiêu vẹo.

Bằng chứng xác thực là bệnh tâm thần có thể nhiều thành tựu trên đời hơn nếu thiên hạ không áp dụng các điều sỉ nhục, bêu xấu họ. Bệnh tâm thần làm cho đối tượng bận tâm vào chuyện tự phỉ báng, bôi bác và cấu xé chính mình đến mức tàn phá cực độ trạng thái bản ngã.

Bạo lực tâm lý nhắm vào bệnh tâm thần được hỗ trợ bởi các cá nhân không mắc rối loạn. Kiểu tự lăng mạ bản thân của các cá nhân mắc loạn thần sẽ chắc chắn giảm thiểu đi hẳn nếu việc xem là vô dụng, một cái gì xa lạ với chuẩn tắc khi mắc bệnh tâm thần không hề được củng cố, xiển dương.

Bất chấp quan điểm phổ biến rằng sử dụng tâm lý trị liệu sẽ thất bại với các cá nhân mắc loạn thần, lý thuyết và cách trị liệu từ bi của Rogers lại tuyệt chưa hề giả định nó không làm nên cơm cháo gì với bệnh tâm thần.

Các thành phần căn bản trong cách tiếp cận tâm lý trị liệu của Rogers bao gồm sự tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard), thấu cảm xác đáng (accurate empathy) và chân thành (genuineness).

Ba thành phần này được xem là phẩm chất cần thiết của nhà trị liệu thể hiện trong quan hệ với thân chủ theo quan niệm của trị liệu Nhân văn. Các phẩm chất này cũng là yếu tính cho tiến trình trị liệu theo lối tiếp cận Nhân văn.

Theo đó, sự tôn trọng tích cực vô điều kiện được hiểu là việc ai đó hoặc thân chủ cảm thấy đang được chấp nhận và đối xử ấm nồng, bất luận họ tỏ lộ như nào trên diễn trình trị liệu dính dáng với chuyện bản thân trải nghiệm hoặc gặp trục trặc về cảm xúc. Nói khác, một cá nhân trong bối cảnh tâm lý trị liệu Nhân văn hoặc trong trị liệu với tâm lý gia hoặc nhà trị liệu Nhân văn mong đợi được nhà trị liệu chấp nhận bất chấp cá nhân đó biểu tỏ ra sao với nhà trị liệu. Với bối cảnh này, nhà trị liệu sẽ chấp nhận và thấu hiểu mà không chấp vào những gì thân chủ kể cho mình nghe.

Sự thấu cảm xác đáng thể hiện hiểu biết thân chủ từ chính viễn tượng của bản thân họ; tức là, tâm lý gia hoặc nhà trị liệu Nhân văn sẽ có khả năng tri nhận thân chủ như thân chủ tri nhận bản thân mình vậy, và vì thế, nhà trị liệu sẽ cảm thấy thấu cảm cùng thân chủ kiến thức nền tảng về thực tế của thân chủ. Nhà trị liệu sẽ biết thân chủ trong cái sự biết mà các suy tư và cảm xúc của thân chủ đối với bản thân, và nhà trị liệu cảm thấy thấu cảm, từ bi với thân chủ trong sự kiện ấy.

Như một phẩm chất cần thiết khác đối với nhà trị liệu Nhân văn, sự chân thành là niềm tin tưởng, lòng thành thật hướng tới thân chủ; nó là sự tích hợp hoặc tự hiện diện như thực tế nhà trị liệu đang là. Chân tình, thành thật với một thân chủ phản ánh các phẩm chất ở nhà trị liệu đòi buộc bộc lộ ra ngoài hơn trạng thái mặc định sẵn trước như một nhà trị liệu; là một con người đích thực đáng tin cậy đối với thân chủ. Carl Rogers tin rằng, là một nhà trị liệu thì mình nên là người đích thực đáng tin cậy đồng thời cũng chứng tỏ mình là người suy nghĩ cân nhắc, cẩn trọng; tức, nhà trị liệu nên dễ là người “thật”, ngay cả khi nhà trị liệu đang nói và làm đầy tính toán theo những gì đòi hỏi đặng trợ giúp thân chủ.

[còn tiếp]

Bốn nhà tư tưởng định hình ngành Tâm lý học

Với vô vàn các cá nhân nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng rộng lớn và đích thực sáng giá đủ để khó khăn lựa chọn ra 4 con người tạo nên dấu ấn khó phai mờ cho khoa học Tâm lý. Đó có thể là sự vinh danh các nhà tư tưởng như Pavlov, Bandura, Zimbardo, v.v… là các vị đóng góp vĩ đại cho chuyên ngành này.

Ở đây, chỉ tập trung mô tả trước tác mang tính nền tảng của Sigmund Freud, Carl Rogers, B.F. Skinner, và Carl Jung.

Sigmund Freud

Làm thế nào mình lên danh sách các bậc thầy tâm lý gia xuất sắc mà lại không nêu tên Sigmund Freud?

Để lại sức tác động mạnh mẽ không thể chối cãi, Freud, vốn là nhà thần kinh học người Áo, sống từ 1856 tới 1939. Ông được biết đến như là người đặt nền móng cho Phân tâm học (psychoanalysis) và đã phát triển các lý thuyết căn bản về tâm trí vô thức (unsconcious mind).

Theo Freud, các nhân cách của chúng ta được cấu thành gồm 3 phần: cái ấy (the id), cái tôi (the ego), và cái siêu tôi (the superego) điều hướng các hành động và ứng xử của chúng ta.

Freud cũng phát triển các lý thuyết liên quan tới tự do liên tưởng (free association), sự tồn tại của libido, chuyển dịch (transference), đè nén (repression), và các giấc mơ (dreams) và tâm trí vô thức.

Freud xuất bản tác phẩm nổi tiếng “Giải mộng” (“The Interpretation of Dreams”) vào tháng 11.1899, và người ta còn biết đến Freud bởi các ý tưởng về sự phát triển tâm tính dục (psychosexual development).

Các lý thuyết của Freud tạo dấu ấn khủng khiếp cho ngành Tâm lý học như chúng ta biết đến nó ngày nay, và bởi vì ông, chúng ta nghe nói đến rồi sử dụng các thuật ngữ “sự nhỡ lời Freud” (Freudian slip), “đè nén”, và “chối bỏ” trong các cuộc trao đổi, trò chuyện hàng ngày.

Carl Rogers

Nhà tham vấn nổi tiếng người Mỹ này (8.1.1902- 4.2.1987) là một ông tổ của cách tiếp cận Nhân văn trong lĩnh vực Tâm lý học. Ông tin rằng cái tôi (self) thì bao gồm giá trị bản thân (self-worth), hình ảnh bản thân (self-image) và cái tôi lý tưởng (ideal self), và rằng con người ta có thể thích đáng hoặc thiếu thích đáng (uncongruence) phụ thuộc vào cách thức các khía cạnh này cân bằng với thực tế.

Carl Rogers cũng rất quan tâm tới quan niệm bản thân (self-concept) và ông tin rằng con người được thúc đẩy hướng tới sự tự hiện thực hóa bản thân (self-actualize), hoàn mãn tiềm năng và đạt tới các mức độ cao của giá trị bản thân. Ông cũng tin rằng, để con người sống với tiềm năng của họ, môi trường phải cung cấp sự chân thành (genuineness), chấp nhận (acceptance), và thấu cảm (empathy).

B. F. Skinner

Burrhus Frederic Skinner, vốn hay được biết đến dưới danh xưng B.F. Skinner, sinh 20.3.1904 và mất 18.8.1990. Ông là nhà hành vi (behaviorist), nhà tâm lý học, nhà phát minh, tác giả và triết gia xã hội.

Skinner tạo nên kiểu nghiên cứu thực nghiệm tâm lý học nổi tiếng về phân tích thực nghiệm hành vi. Ông đã phát triển cái gọi là “cái hộp Skinner”, dạng buồng điều kiện hóa thao tác (operant conditioning), rồi dùng nó cùng các công cụ và kỹ thuật khác để nghiên cứu hành vi con người và cách thức mà nó được định hình bởi các củng cố (reinforcement) tích cực và tiêu cực.

Skinner không biện hộ cho việc dùng trừng phạt để thay đổi hành vi con người mà thay vào đó, ông ủng hộ ý tưởng dùng các củng cố tích cực và tiêu cực như một phương thức hiệu quả hơn hẳn nhằm kiểm soát cũng như sắp đặt hành vi người ta.

Skinner nổi tiếng bởi các kỹ thuật điểu chỉnh tâm lý hành vi và nhiều lý thuyết của ông vẫn còn hiện diện trong tâm lý hiện đại ngày nay.

Carl Jung

Carl Jung (1875-1961) vốn là bạn bè đích thực của Sigmund Freud.

Jung trình bày đầy lôi cuốn về tâm trí vô thức chẳng kém gì Freud, song về sau chính ông lại tỏ ra nghi ngờ và chống kháng với không ít các lý thuyết do Freud tạo ra.

Jung thiết lập lý thuyết về tâm lý học phân tích (analytical psychology) và ông tin rằng tâm thần con người ta (human psyche) được tạo bảo ba thành phần: cái tôi (ego), cái vô thức cá nhân (personal unconscious), và vô thức tập thể (collective unconscious).

Jung tin vô thức tập thể là sự gộp của tất cả trải nghiệm và kiến thức của toàn bộ giống người. Jung phát triển các khái niệm hướng nội (introversion) và hướng ngoại (extraversion) vẫn còn tồn tại ổn thỏa cho tới hôm nay, và lời khuyên của Jung khi trợ giúp một đối tượng đương đầu với nghiện rượu đã dẫn tới chương trình nổi tiếng AA (Alcoholics Anonymous).

Hai cách tiếp cận về Trị liệu Trò chơi

Thường, có hai cách tiếp cận chính yếu về Trị liệu Trò chơi (Play Therapy) mà hầu hết các định hướng có thể được sắp xếp, phân loại vào thành.

Đấy là các cách hoặc trực tiếp mà nhà trị liệu giả định chịu trách nhiệm của việc hướng dẫn và diễn giải các tương tác khi chơi, hoặc các cách gián tiếp mà nhà trị liệu thường có xu hướng thả bỏ trách nhiệm và định hướng của tiến trình trị liệu cho đứa trẻ.

Điểm khác biệt cơ bản giữa các cách tiếp cận trực tiếp và gián tiếp nằm ở vai trò của nhà trị liệu cầm nắm trên tiến trình.

Dưới đây sẽ giới thiệu khái quát ba lối cơ bản dùng cho trị liệu trò chơi được xem là các cách tiếp cận hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp.

Trị liệu Trò chơi theo lối Phân tâm

Trị liệu Trò chơi theo lối Phân tâm là dạng tiếp cận trực tiếp, do chơi được dùng để thiết lập sự tiếp xúc với bệnh nhân, như một phương tiện của sự quan sát, và thi thoảng, như điều gì đó làm tăng thêm việc truyền thông mang tính diễn giải.

Trị liệu Phân tâm nguyên gốc do Sigmund Freud sáng lập và phát triển từ 1909, và nó lưu giữ quan điểm rằng “chơi” (play) là phương tiện giúp cả nhà trị liệu và đứa trẻ cùng làm việc nhằm hướng tới giải quyết xung đột và đạt được mục tiêu trị liệu thường biết.

Các tác gia như Anna Freud, Margaret Lowenfeld  và Melanie Klein còn định vị tiền đề lý thuyết cho việc sử dụng trò chơi như một công cụ trị liệu, và đặt để rằng việc chơi tự nhiên của đứa trẻ có thể được sử dụng như một sự thay thế cho việc liên tưởng tự do vốn sử dụng đặc thù cho phân tâm đối tượng người trưởng thành.

Trị liệu Trò chơi theo lối Phân tâm vượt lên trên nỗi đau hoặc khó khăn tức thời đứa trẻ trải nghiệm thông qua mục tiêu làm rõ ràng cách thức đủ để phát triển tâm lý hết sức lành mạnh, mà điều đó có thể hồi phục lại nhờ sang chấn ngoại giới hoặc xung đột nội tâm được cho tạm ngừng.

Người ta cân nhắc tính hiệu quả trong việc trợ giúp đứa trẻ với những giới hạn có ý nghĩa thực tế tiến dần đến trợ giúp chúng phát triển các cách thức an toàn, thích nghi, bồi hoàn và tự chấp nhận bản thân hơn.

Trị liệu Phân tâm đòi hỏi nhà trị liệu giữ vai trò người cùng tham gia và nhà quan sát. Nhà trị liệu cho phép đứa trẻ chơi và có nhiều lúc có thể tham gia chơi cùng trẻ, song khi cần thiết họ cũng sẽ nhắm tới việc chuyển chuyện chơi dựa vào tương tác thành lời nhiều hơn với trẻ.

Nhà trị liệu Trò chơi theo lối Phân tâm chịu trách nhiệm thành tựu một sự hiểu biết rồi truyền thông ý nghĩa của việc trẻ chơi nhằm làm tăng lên nhận thức của trẻ đối với bất kỳ xung đột thích hợp tồn tại trong lòng đứa trẻ. Một sự thấu hiểu như thế được tin là giải pháp thích nghi với đứa trẻ như một đáp ứng tự nhiên trước việc nhà trị liệu truyền thông ý nghĩa đã đặt để với nó.

Nhà trị liệu sẽ thường định hướng cuộc trao đổi về các vấn đề cơ bản thông qua việc hỏi đứa trẻ không ngừng các câu hỏi mở. Điều này cho phép đứa trẻ nói về mặt biểu tượng hơn là theo nghĩa đen. Điều quan trọng là đứa trẻ có thể không sẵn sàng diễn đạt chính xác các suy tư này thành lời, hoặc việc ở tuổi chúng chưa đủ lượng từ vựng có thể gây nên sự khó khăn, hạn chế cho việc bộc lộ chính xác thành lời nhiều vấn đề và khó khăn đang phải đương đầu.

Trị liệu Trò chơi theo kiểu của Jung

Một cách trị liệu Trò chơi khác được Carl Jung phát triển năm 1912; theo đó, nhà trị liệu giữ vai trò chủ động của người làm dễ dàng, thuận tiện hơn cho đứa trẻ chơi chứ không phải dẫn dắt, bày vẽ nó.

Jung tin rằng tâm trí của đứa trẻ có thể biết cần thiết đến đâu, và do đó, công việc của nhà trị liệu là cho phép nó ở đó hơn là điều hướng nó. Trị liệu Trò chơi theo kiểu Jung phụ thuộc phần lớn vào việc nhà trị liệu tạo dựng nên sự tin tưởng với đứa trẻ và thảo luận hết sức nhạy cảm với đứa trẻ về việc chơi của chúng.

Điều này khiến có thể nghĩ rằng Trị liệu Trò chơi theo kiểu Jung nghiêng theo hướng không định hướng hơn.

Trị liệu Trò chơi theo lối Thân chủ- trọng tâm

Virginia Axline (1969, 1971) đã triển khai một lối trị liệu trò chơi cho trẻ dựa trên các nguyên tắc cơ bản thuộc cách tiếp cận con người- trọng tâm.

Cách tiếp cận của bà được biết đến như trị liệu trò chơi không định hướng. Cách tiếp cận con người- trọng tâm do Carl Rogers khởi nguồn, đặt để sự quan tâm chủ yếu vào mối quan hệ giữa nhà trị liệu và thân chủ dựa trên sự chân thành, chấp nhận và tin tưởng.

Axline sáng chế một lý thuyết Trò chơi rõ ràng và nền tảng dựa trên cùng các ý tưởng vừa nêu, và định dạng thành 8 nguyên tắc trị liệu trò chơi cơ bản từ lối tiếp cận này:

  1. Nhà trị liệu phải phát triển một quan hệ nồng ấm và thân thiện với đứa trẻ nhằm tạo nên sự hòa hợp tốt đẹp.
  2. Nhà trị liệu chấp nhận đứa trẻ như nó là.
  3. Nhà trị liệu thiết lập một mối quan hệ để đứa trẻ thoải mái biểu đạt hoàn toàn các cảm xúc của chúng.
  4. Nhà trị liệu tỉnh thức nhận ra các cảm xúc đứa trẻ đang trải nghiệm và phản ánh lại với đứa trẻ theo cách thức cho phép nó đạt được sự thấu hiểu về hành vi của bản thân.
  5. Nhà trị liệu duy trì một sự tôn trọng sâu xa năng lực của đứa trẻ trong việc giải quyết các vấn đề của riêng chúng. Đứa trẻ chịu trách nhiệm cho chuyện lựa chọn và tiến hành sự thay đổi.
  6. Đứa trẻ dẫn dắt cách thức chơi. Nhà trị liệu không định hướng hành động hoặc cuộc trao đổi của đứa trẻ dưới bất kỳ dạng thức nào.
  7. Nhà trị liệu không buộc phải vội vã với diễn biến của trị liệu. Nhà trị liệu nhận ra rằng trị liệu trò chơi là một tiến trình tuần tự.
  8. Nhà trị liệu chỉ thiết lập các giới hạn khi cần thiết nhằm giúp trẻ nhận ra các trách nhiệm của bản thân chúng.

Mục tiêu chủ chốt của Trị liệu Trò chơi theo lối không định hướng thân chủ- trọng tâm là khuyến khích sự thay đổi và triển nở do đứa trẻ tự mình thực hiện. Tiến trình này xảy đến thông qua việc khám phá các cảm xúc của đứa trẻ nhờ trò chơi, ngõ hầu làm tăng thêm cảm nhận về giá trị bản thân của đứa trẻ.

Tự định hướng sự trưởng thành, triển nở được làm thuận lợi, dễ dàng nhờ nhà trị liệu chỉ cho đứa trẻ thấy chúng được hiểu trong khi chuyển tải tới đứa trẻ về tiềm năng của sự tự triển nở. Guerney (1983) lưu ý rằng, trị liệu thân chủ – trọng tâm vun bồi trạng thái chín chắn của đứa trẻ nhờ cho chúng cơ hội để tự khám phá bản thân. Bên trong  bầu không khí cởi mở và chấp nhận của phòng chơi, người ta tin rằng đứa trẻ sẽ dần nhận ra quyền năng của nó cho việc tự định hướng sự trưởng thành của bản thân.

Mục tiêu của nhà trị liệu do đó, là thiết lập một môi trường an toàn cho việc chơi, đứa trẻ có thể tự do biểu đạt các cảm xúc, dễ dàng cho việc ra quyết định, có được một cảm nhận về sự kiểm soát, và nói lên thành lời trải nghiệm của chúng (Landreth, 1993).

Cách tiếp cận này khẳng định, vai trò của nhà trị liệu là tạo tác nên điều kiện đúng đắn nhằm nâng cao các thành tựu trị liệu xứng đáng.

Có 3 điều kiện được xem là yếu tính căn cốt để nhà trị liệu cạnh tranh nhằm gây chất xúc tác đạt được các thành tựu đáng giá với đứa trẻ qua cách tiếp cận này:

1. Chân thành và tính xác thực: một năng lực để thực tế và là chính mình nhằm phân biệt với việc giữ một vai trò hoặc tư thế mang tính phòng vệ.

2. Sự nồng nhiệt không sở hữu: một thái độ chăm sóc và dấn thân do mối quan tâm thắm tình bằng hữu mà không trở thành sự thể hiện quá mức về mặt cảm xúc hoặc đưa ra sự trợ giúp khởi từ các lý do phục vụ cho chính bản thân mình mà thôi.

3. Thấu cảm đích đáng: năng lực cảm nhận và bộc lộ sự kết khớp các cảm xúc này theo một cách thức trợ giúp đứa trẻ cảm nhận là nó được thấu hiểu, nhờ đó cũng giúp trẻ đạt được sự thấu hiểu về các cảm xúc của chính mình.

Như thế, nhà trị liệu phải chấp nhận đứa trẻ hoàn toàn vô điều kiện mà chẳng chút xíu đánh giá, định kiến hoặc rập khuôn theo mẫu nào cả– khởi từ hành vi hoặc lịch sử trị liệu cùng trẻ.

Trong Trị liệu Trò chơi không định hướng thân chủ- trọng tâm, trách nhiệm và định hướng nằm trong tay trẻ, không giống như Trị liệu Hướng dẫn nhà trị liệu được giả định là chịu trách nhiệm dẫn dắt và diễn giải chiều hướng cũng như cuộc trao đổi.

Đặc trưng của các phiên trị liệu theo cách tiếp cận này là bầu không khí nồng nhiệt, mang tính nâng đỡ, hết sức thân thiện và chấp nhận mà nhờ thế có thể xây dựng sự hòa hợp. Nhà trị liệu có mục tiêu tạo lập trong mắt trẻ rằng phòng chơi là một nơi chốn đặc biệt riêng tư cho trẻ, nơi chúng có thể chơi đùa với bất kỳ cách thức nào nó thích.

Tự đọa đày vướng mắc, chấp nhận, và ôm choàng sự thay đổi

Nghe mọi người tranh cãi, bàn luận về việc ‘chấp nhận’ và ‘chấp nhận người khác’, tôi thường cảm thấy như thể họ đang ủng hộ cho một thứ chủ nghĩa tương đối khá lười biếng– tất cả mọi quan điểm đều đúng đắn như nhau, tất cả mọi ý kiến luôn xứng đáng, tất cả mọi thực hành và niềm tin thì vượt xa hẳn những lời chỉ trích.

Bản thân từng chống kháng ý tưởng này về sự chấp nhận bởi vì nó đổ xuống quá phẳng phiu, trơn láng bề mặt của thực tế.

Trong một số tình huống, mình có thể bất đồng với ai đó khi nhìn nhận các giá trị bộc lộ qua khẳng định của họ, hoặc chấp nhận rằng  họ có những trải nghiệm và phương thức sống riêng có. Nhiều lần khác, cái kiểu ‘chấp nhận’ này khởi đi từ thói quen biếng nhác, không đích thị thành thực và vô cảm, và dễ dẫn tới lắm vấn đề tồi tệ nếu người ta dùng nó như lời cáo lỗi hoặc lờ tịt những tạo tác phá hoại, hủy diệt gây ra.

Không những cần thể hiện trên một thang đo vĩ mô như chuyện ô nhiễm môi trường, chấp nhận cũng hết sức trọng yếu khi triển khai ở tầng mức vi tế hơn như biết bao trục trặc thuộc các mối quan hệ đôi lứa hàng ngày.

Hiện bị hối thúc đương đầu với vô vàn nan giải về tài chính khủng hoảng, mong sao rất nhiều gia đình bắt đầu ôm choàng cuộc đời và quan hệ họ đang có, hơn là cầm nắm, giữ rịt ý tưởng làm thế nào điều ấy ‘giá mà’… E chừng họ sẽ giảm thiểu việc làm tổn thương nhau như những bạn tình đầu ấp tay gối, gắng tạo nên nỗ lực bớt chỉ trích và đòi hỏi, có nhiều mối quan tâm hơn và chú mục vào quan hệ, thay vì phấn khích do khát khao sở hữu những tài vật phù du: nhiều tiền, nhiều bạn bè, đất cát lủ khủ, nhà cửa tân thời, xe cộ đời mới,…

Bởi vì, rốt ráo chấp nhận khiến mỗi một sinh mệnh đối diện với cảnh trí bất tận khôn lường của sự thật vô thường (impermanence). Như nó là thế, và hoàn hảo theo cách đó.

Năm mươi năm trước, nhà tâm lý học lừng danh Carl Rogers đã xây dựng một triết lý sâu xa về tiềm năng của con người xoay quanh ý tưởng đơn giản này: “Thật kỳ cục nghịch lý là khi tôi chấp nhận chính mình như tôi hiện thế, rồi thì tôi có thể thay đổi.

Đọc Tiến Trình Thành Nhân (On Becoming A Person), ngay từ chương thứ nhất, tác giả đã nêu ra vấn đề về sự chấp nhận:

Tôi nghĩ đó là mẫu hình thông dụng ngày càng tăng lên trong nền văn hóa chúng ta vì ai cũng cho rằng, “Mỗi một người khác kia phải cảm nhận, suy tư và tin tưởng giống y chang như tôi vậy.”

Và sau đấy một vài dòng là diễn đạt rõ ràng hơn:

Mỗi cá nhân là hòn đảo tự thân– với một cảm nhận hết sức thực tiễn; và anh ta chỉ có thể bắc các cây cầu sang những hòn đảo khác nếu trước tiên nhất anh ta thật ao ước muốn là bản thân anh ta và cho phép mình được là chính mình. Vậy nên tôi phát hiện thấy, khi tôi có thể chấp nhận người khác, đặc biệt là chấp nhận các cảm xúc, thái độ và niềm tin rằng anh ta là một thực thể sống động rồi thì ra chính tôi đang trợ giúp anh ta trên tiến trình thành nhân: và điều ấy với tôi dường như mang một ý nghĩa lớn lao.

Tách chuyển khỏi hẳn chủ nghĩa tương đối biếng lười đã nêu, sự chấp nhận mô tả ở đây có vẻ nhắm tới việc nhận ra rằng, các cảm xúc/ niềm tin/ v.v… của người ta là đích thực và chắc thật với bản thân họ. Nó chứa đựng ý nghĩa đối với họ theo nhiều cách thức.  Có thể là chúng ta hoàn toàn bất đồng với những gì họ đang biểu đạt hoặc chúng ta nhận ra nó đáng ghét, song chúng ta chấp nhận nó là thực tế đối với họ.

Chúng ta vốn có một xu hướng ghê gớm trong việc làm mất hiệu lực kẻ khác bằng lối tảng lờ rằng những gì họ suy nghĩ hoặc cảm nhận là không thực tế (“Bạn không thể nghiêm túc được,” chúng ta nói thế, hoặc “Không ai suy nghĩ kiểu thế bao giờ” hoặc “Bạn đang nói dối”); thậm chí, chúng ta tô điểm đủ trò bao biện để quyết khống chế (“Bạn đích thị mệt mỏi rồi, bạn không thực sự cảm nhận giống như thế” hoặc “Bạn đang bất ổn, cảm tính, năm nóng năm lạnh…”).

Carl Rogers bày tỏ, khi ông trở nên “cởi mở hơn các thực tế trong lòng mình và ở trong lòng người khác”, ông thường dễ dàng nghiêng theo hướng lắng nghe và cố gắng thấu hiểu, thay vì ngay lập tức vội vàng nhảy ùm “hàn sửa điều này điều nọ” hoặc gập cong, uốn lượn người ta theo cách thức riêng mình đang nhìn nhận thế giới.

Tôi nghĩ, kiểu chấp nhận này nói chung là cách tiếp cận tốt; nó giảm thiểu các dịp mình áp chế võ đoán ai đó theo những suy tư của bản thân, điều khiển họ và bảo với họ cực kỳ chính xác những gì họ đang cần suy tư/ cảm nhận.

Nó cũng đồng vọng với những gì tôi đọc được về thực tập tỉnh thức (mindfulness) và chấp nhận khoảnh khắc hiện tại như nó đang là, với tất thảy các phẩm chất tiêu cực lẫn tiêu cực vốn có (chứ chẳng phải, tránh né thực tế hay thêu dệt nó bằng những suy tư cá nhân nên giống thế nọ thế kia).

Thêm lần nữa, những gì chúng ta tiến hành khi chúng ta muốn thay đổi chính mình hoặc khi những hành vi, cảm xúc và suy tư của kẻ khác đang tàn phá chính họ và hủy diệt tha nhân? Chúng ta có thể chấp nhận rằng những gì mình đang làm là thực tế và phục vụ một số nhu cầu tâm lý thiết yếu… song giả sử họ muốn thay đổi và đề nghị trợ giúp, làm thế nào chúng ta có thể giúp họ?

Câu trả lời tuyệt không hề đơn giản chút nào, nhưng chí ít lúc này, Rogers viết ngay trong chương thứ nhất rằng nó là một nghịch lý:

Khía cạnh nghịch lý với trải nghiệm của bản thân là khi tôi càng đơn giản ước muốn được là chính mình, trong tất cả tính phức tạp này của đời sống và khi tôi càng ước muốn thấu hiểu và chấp nhận các thực tế trong con người mình và trong kẻ khác thì càng khơi động không ngừng sự thay đổi.

Cách cởi bỏ sự đánh giá và mong đợi như thế có thể truyền dẫn đời sống thực tế hàng ngày với cảm giác về sự dễ chịu, hài hước và thanh thản. Vô cùng tréo ngoe, việc chấp nhận mình đích thực đang là và sự vụ như thế có thể cài đặt trạng thái cho sự thay đổi diễn tiến dễ dàng.

Dĩ nhiên, nghịch lý của sự chấp nhận này cũng là cánh cửa hướng tới một sự thay đổi đã và đang tỏ ra là một mô hình hợp trội thật hiệu quả đối với các cặp đôi nữa. Áp lực phải thay đổi hoặc khác biệt chuyển tải thông điệp cơ bản rằng, có điều gì đó sai lạc với mình, bất luận “mình” đây là nền văn hóa lãng phí, một cuộc hôn nhân, người tình, hoặc ngay cả là… chính mình.

… Hôm nay, trời trở lạnh từ buổi trưa, và khách ngồi xe bus chặng gần cuối ngày đã có người tranh thủ cặm cụi đôi tay thoăn thoắt đan len làm khăn choàng cổ. Trở về nhà, trước lúc đi ngủ, tôi còn đọc được quan sát của nhà sinh học tiến hóa E.O. Wilson về trạng thái loài người vào thế kỷ XXI thật ấn tượng:

Nhân loại bây giờ tựa như kẻ mơ mộng cứ mải miết lêu bêu, tranh thủ bắt chụp giữa những huyễn tưởng của cơn ngái ngủ và sự hỗn độn nhốn nháo trong thế giới hiện thực… Chúng ta đang tạo tác một nền văn minh dạng Chiến tranh Giữa Các Vì sao, với thứ cảm xúc của Thời kỳ Đồ đá, các thiết chế hồi Trung cổ, và công nghệ như thần như thánh í…

‘Con người- trọng tâm’: Lướt qua ba kỹ thuật trị liệu cơ bản

Chiều tối nay, tình cờ được mời xem rồi trao đổi với một bạn đang dựng phim tài liệu phản ánh tâm lý người già và cách giao tiếp trong gia đình trước thực trạng thuyên giảm sức chú ý, trí nhớ và năng lực tư duy,… của đối tượng.

Câu chuyện kỹ thuật phim ảnh và chia sẻ cảm nhận về thông điệp của nữ tác giả lần hồi dẫn tôi tới việc trình bày sơ lược cách tiếp cận Con người- trọng tâm…

Các kỹ thuật dùng trong trị liệu Con người- trọng tâm (person-centered therapy) thường được phân biệt so với việc áp dụng kỹ thuật ở các kiểu trị liệu khác: các kiểu trị liệu này chú mục tới điều gì đó thân chủ có thể làm xuyên suốt phiên trị liệu, còn kỹ thuật thực hiện trong trị liệu con người- trọng tâm do nhà trị liệu tiến hành nhằm kiến tạo nên một môi trường trợ giúp dễ dàng hơn cho tiến trình tự nhận thức (self-awareness).

Đặc thù có ba kỹ thuật trị liệu rất dễ bắt gặp theo cách tiếp cận con người- trọng tâm: trung thực; tôn trọng tích cực, vô điều kiện; và thấu cảm.

Trung thực (congruence)

Trung thực là chuyện nhà trị liệu chân thành và đáng tin hay không trong những gì nói và làm. Thông lệ, nếu nhà trị liệu đang nói một đằng song ngôn ngữ cơ thể phản ánh một nẻo thì các thân chủ nhận ra ngay và điều ấy có thể tác động tới sự tín nhiệm và cởi mở trong quan hệ trị liệu.

Ví dụ, một nhà trị liệu có thể nói “Tôi hiểu những gì cô đang nói và cách thức cô đang cảm nhận” đối với một thân chủ, nhưng lại có một cái nhìn dò hỏi trên khuôn mặt cô này. Thân chủ có thể nhìn thấy sự mập mờ í và cảm thấy không thoải mái với việc biểu đạt các cảm xúc từ thời điểm ấy trở đi.

Do đó, vai trò thiết yếu của các nhà trị liệu là nhận thức về ngôn ngữ cơ thể của bản thân và những gì họ đang nói đúng như sự tồn còn trong khoảnh khắc hiện tại. Nếu sự mập mờ nổi lên, nhà trị liệu cần có khả năng nhấn mạnh điều này với thân chủ.

Quay trở lại ví dụ nêu trên. Khi nhà trị liệu tuyên bố hiểu biết và có cái nhìn dò hỏi, nhà trị liệu lưu ý thân chủ nhìn không thoải mái sau bình luận về sự hiểu biết và tiến tới giải thích cho thân chủ tại sao và bằng cách nào mình hiểu về câu phát ngôn. Điều này làm thân chủ dễ chịu và bảo đảm tiếp tục duy trì sự tin tưởng.

Tôn trọng tích cực vô điều kiện (Unconditional positive regard)

Tôn trọng tích cực vô điều kiện thể hiện sự chấp nhận, tôn trọng và quan tâm tới thân chủ. Điều này không có nghĩa nhà trị liệu đồng ý với mọi điều thân chủ nói hay làm; tuy thế, nhà trị liệu nên nhìn thân chủ như người đang tiến hành những gì tốt nhất cô í có thể và bày tỏ mối quan tâm hơn là sự bất đồng với cô í. Tôn trọng tích cực vô điều kiện cho phép thân chủ biểu đạt cách thức họ đang suy tư mà không cảm thấy bị đánh giá, và khiến làm thuận lợi cho tiến trình trình thay đổi nhờ chỉ ra họ dễ dàng được chấp nhận.

Thấu cảm (Empathy)

Thấu cảm là kỹ năng nhà trị liệu Con người- trọng tâm dùng để chứng tỏ hiểu biết về các cảm xúc của thân chủ. Thấu cảm thì khác biệt với đồng cảm (sympathy) ở chỗ: đồng cảm thường được nhìn nhận như cảm xúc hối tiếc, lấy làm buồn cho thân chủ, trong khi thấu cảm chỉ ra sự hiểu biết và cho phép thân chủ cởi mở hơn.

Một ví dụ minh họa như dưới đây.

Thân chủ: Tôi cảm thấy như thể không có ai quan tâm đến mình hết và tôi hoàn toàn cô độc.

Đáp ứng thấu cảm: Vậy, lúc này cô đang cảm thấy cô độc và không có ai quan tâm tới cô cả.

Đáp ứng đồng cảm: Tôi lấy làm tiếc là cô cảm nhận theo cách ấy.

Wow. Chỉ là đôi dòng gõ xuống nhanh vội trước khi kết thúc một ngày.

Tham vấn tâm lý và kỹ năng lắng nghe

Kinh nghiệm cho thấy, bất luận mức độ khó khăn, trục trặc đến thế nào trong vấn đề người trẻ đang trình bày thì việc lắng nghe đích thực luôn là phương thức trợ giúp xác đáng, tất yếu nên làm.

Với bối cảnh học đường, cá nhân tôi tin rằng lắng nghe chân thành, không đánh giá (genuine non-judgemental listening) hơi khá hiếm hoi; do vậy, quả thật dễ thương vô cùng khi phát hiện ra phẩm tính ấy ở cái nơi vốn tràn đầy cảm xúc này.

Việc sử dụng các kỹ năng tham vấn (gồm lắng nghe) không nên bị nhầm lẫn sang tham vấn tâm lý (counseling)– một điều khác hẳn và là một hoạt động nhiều chuyên biệt hơn, với các tiến trình và ranh giới hết sức đặc thù.

Tham vấn tâm lý đặt để hợp đồng cụ thể giữa nhà tham vấn (counselor) được đào tạo và huấn luyện với người biết rõ họ đang là thân chủ (client).

Lắng nghe tốt có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm tương thích và ở tại nơi nào phù hợp. Tham vấn tâm lý, trái lại, thường hay diễn tiến cùng một chỗ, đa phần sắp xếp lịch gặp hàng tuần cùng khoảng thời gian xác định chặt chẽ.

Dựa vào mô hình sử dụng, nhà tham vấn sẽ làm việc theo cách thức riêng, vận hành lý thuyết đáng tin cậy và các ý tưởng gắn với mô hình mang tính lý thuyết đặc thù đó; cũng rõ ràng là công việc của nhà tham vấn mang bản chất trị liệu.

Thầy, cô giáo và các thành viên khác trong nhà trường thường dẫu chẳng được đào tạo bài bản về tham vấn tâm lý thì vẫn có thể triển khai, khoanh vùng phạm vi và thao tác các kỹ năng tham vấn để tạo tác động như ý, đúng đắn.

Vậy, những gì thiết lập sự lắng nghe tốt?

Carl Rogers (1902-1987)– nhà tham vấn và tâm lý trị liệu Nhân văn— đã chỉ ra rõ ràng các thành phần mà ông gọi là ‘điều kiện căn cốt” (“core conditions”) là yếu tính cho bất kỳ một mối quan hệ mang tính trị liệu (therapeutic relationship).

Có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài trong thế giới tham vấn, song các ý tưởng của Carl Rogers cũng được vận dụng bởi những đối tượng không chuyên do chúng xác lập nền tảng để lắng nghe tốt.

Ba điều kiện căn cốt đó là:

  • thích đáng (congruence). Đây là quan hệ chân thật nhất giữa cảm nhận nội tại với những gì biểu lộ ra bên ngoài của người ta. Thích đáng, do đó, không phải là ‘diễn trò, đóng vai’ mà đích thị mình đang chính thực (real), chân thành (genuine) và trong suốt (transparent).
  • tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard). Điều này mang nghĩa, hiến tặng một sự quan tâm, chú ý đủ đầy mà không hề đánh giá hay lượng định (evaluation).
  • thấu cảm (empathy). Liên quan tới việc nhìn thế giới thông qua đôi mắt của kẻ khác và chấp nhận các tri giác cùng cảm xúc ‘như nó là’ với người ta, và tuyệt không làm mất đi những ranh giới cũng như cảm nhận của cái tôi tách biệt.

Với các điều kiện căn cốt vừa nêu, Carl Rogers tin là sẽ trợ giúp người ta tự tìm thấy đường hướng, xác định giải pháp và lớn lên rất riêng.

Đúng là thật dễ dàng nói ra, thậm chí chẳng khó viết xuống, về các điều kiện hiện diện tinh tế nhất thuộc kỹ năng truyền thông liên nhân cách. Song chỉ khi mình thực sự trải nghiệm thì mới có khả năng hiểu cảm nhận của người được lắng nghe ra sao…

Tiếc thay, các thầy, cô giáo cơ chừng ít khi chú tâm tới kiểu lắng nghe này, dù thực tế chẳng có lý do nào để họ không thể hiện nổi.

Nhằm hỗ trợ cho việc lắng nghe hiệu quả, cần nắm biết các trở ngại, cản ngăn nào hay xuất hiện. Đó cũng là nội dung blog Tâm Ngã dự tính trình bày vào lần tới.

Xin thoải mái để lại ý kiến, trao đổi; tạm biệt và hẹn gặp lại.