Khi nỗi sợ biến bé thành đứa trẻ ngỗ ngược, khó ưa…

Câu hỏi của độc giả làm tôi muốn chia sẻ sâu thêm về nỗi sợ hãi có thể biến trẻ nhỏ thành đứa ngỗ nghịch, bạo ngược khó ngờ.

Hầu hết chúng ta chống chọi với nỗi sợ bằng cách này hoặc cách khác. May mắn, đa phần chúng ta học được cách sống với hoặc vượt qua chúng ở một phạm vi kiểm soát nhất định mà không bị quá nhiều ảnh hưởng nặng nề.

Song nếu nỗi sợ của người ta dễ thuộc bản chất gây tê liệt thì khi sự vụ xảy đến, sống với nỗi sợ tương tự như sống với một tên bạo chúa vậy: đòi hỏi quá mức ảnh hưởng tới mỗi một hành động. Hơn thế, thường bắt gặp các thành viên khác trong gia đình cũng cảm thấy như đời mình đang bị khống chế ghê gớm lúc người thân trải qua sức ép do nỗi sợ làm tàn tạ. Rồi khi, thông qua nỗ lực đầy ý nghĩa đặng giải quyết thật tốt lành cùng người sợ hãi, các vị khác cảm nhận việc đang sống dưới ách chuyên chế hơn lên do đã ‘cho phép’ một cách vô ý khiến nỗi sợ dai dẳng thêm hoặc thậm chí còn tiếp tục leo thang.

Trẻ em có thể đương đầu với nhiều lo âu và sợ hãi xuyên suốt thời kỳ tuổi hoa. Rất nhiều bé dường như trải qua các giai đoạn muốn thoát khỏi hoặc chiếm ưu thế đủ dạng nỗi sợ nọ kia đến độ việc chống kháng nỗi niềm sợ hãi trở thành hợp phần tự nhiên của sự phát triển.

Song lắm khi trẻ dần bị chốt khóa trong vòng kiềm tỏa của nỗi sợ gây liệt kháng khủng khiếp khiến chúng hống hách, làm chúa tể ở nhà mình. Ví dụ, trẻ đang trải qua cơn sợ côn trùng biết bay (do đó, không dám liều ra ngoài mùa sâu bọ sinh sôi) có thể dẫn đến kết cục phá vỡ chuyến đi chơi công viên của cả nhà. Trẻ sợ động vật có thể làm gia đình mất vui khi bố mẹ bố trí xem xiếc thú. Trẻ e ngại các trò cưỡi lái dễ biến ngày nghỉ du ngoạn cuối tuần thành trải nghiệm tồi tệ, nhất là với bố mẹ và người chịu trách nhiệm trông nom, vì các cơn tam bành và hành vi né tránh của chúng.

Khi nỗi sợ gây liệt kháng, hầu như mọi người liên quan đối tượng đang sợ đều bị ảnh hưởng, và đời sống chợt rắc rối với tất cả. Điều tương tự cũng xảy ra trong các gia đình khi một thành viên bị cơn nghiện vây khốn rồi cơn nghiện rốt ráo khống chế ít nhiều đời sống của mọi người trong nhà (ý nghĩa của cái gọi là ‘làm khổ lẫn nhau’/ codependency).

May thay, tin tốt lành là nỗi sợ hãi và cơn lo âu nằm trong số trục trặc tâm lý có thể trị liệu được. Hiện có nhiều cách tiếp cận ‘nỗ lực và xác thực’ mà thảy đều đem lại tỷ lệ thành công tốt đẹp; một giải pháp mỹ mãn quen thuộc là phơi nhiễm (exposure).  Để vượt thắng một nỗi sợ, mình buộc phải đối đầu rốt ráo, bất kể nỗi sợ vốn khó định hình thật thấu tỏ (vốn là điều thuộc về lo âu) hoặc nỗi sợ là điều gì đó cụ thể hay tình huống riêng biệt (ám sợ gán nhãn). Kiên trì phơi nhiễm bản thân với thứ thường né tránh và cho phép mình trải nghiệm sự kiện rằng các hậu họa ghê gớm mình quen tưởng tượng đã không xảy ra là cách hay nhất làm giảm thiểu hoặc thậm chí dần tiêu trừ đáp ứng đầy sợ hãi. Bây giờ để người ta đối đầu với những gì thích né tránh là chuyện rất thách thức, vì thế, nói chung, việc chỉ thành tựu ‘một cách có hệ thống’; dùng lối tiếp cận sao cho người ta ngày càng dễ tiến sát gần hơn với điều họ sợ nhất, để họ cảm thấy an toàn ở mỗi một bước nhỏ tiến bộ, tuần tự ‘giải mẫn cảm’ họ trước các tình huống khơi dậy nỗi niềm sợ hãi.

Các phương pháp phơi nhiễm khác dùng cách thức mãnh liệt và ngay liền hơn, như độ căng thể hiện trong kỹ thuật ‘nhâm ngúng’ (immersion) và ‘ngập tràn’ (flooding). Trong khi người lớn khá sẵn các nguồn lực để giải quyết với các cách tiếp cận mang tính đụng độ sát sườn thế, trẻ em quá nhạy cảm để rồi chúng dễ làm bản thân thân tổn thương hơn, do đó, rốt cuộc chỉ tổ làm tăng thêm nỗi niềm sợ hãi. Đứa trẻ nào cũng tự nhiên cưỡng lại bất kỳ nỗ lực phơi nhiễm, nhất là lúc ban đầu, nên quan trọng là khởi sự đơn giản thôi rồi củng cố sự già dặn dần bằng mỗi một bước nhỏ tiến tới. Có lẽ, mưu mẹo nhất để giúp trẻ vượt qua nỗi sợ là đồng thời xử lý cách thức các thành viên khác trong gia đình sơ xuất ‘gây nên’ nỗi sợ làm trẻ càng nảy bật lảng tránh khiến kéo dài thêm điều khó chịu.

Giúp trẻ đương đầu và tuần tự vượt qua sự suy yếu do nỗi sợ đòi hỏi điều nôm na ‘lòng thương yêu cứng rắn’, trong khi mình không những luôn luôn thể hiện mối quan tâm mà còn lưu ý không củng cố các ý niệm rằng thực tế có điều gì sợ hãi đang tồn tại hoặc cách an toàn là tránh tình huống làm trẻ sợ hãi. Và đó đích thị những gì xảy đến khi người trong nhà chấm dứt việc mua vui bằng việc dọa trẻ.

Trẻ em vượt thắng các nỗi sợ và ám ảnh của bản thân với lối trị liệu đúng đắn thường được hưởng nhiều lợi lạc khác. Khi tăng lên khả năng đối đầu các tình huống chúng thường quen né tránh mà không cảm thấy tê liệt, trẻ căn bản cảm thấy vừa quyền làm chủ vừa hiệu lực vào bản thân. Chúng không chỉ dần điềm tĩnh vì nỗi sợ lắng xuống mà còn tự tin hẳn. Trẻ cũng học hỏi được cách biết nhắm tiêu điểm tập trung đời mình. Không còn bị nỗi sợ kiểm soát nữa, trẻ cảm thấy cần tự chịu trách nhiệm đảm đương nhiều hơn.

Các thành viên gia đình khác trải nghiệm lợi lạc tích cực tương tự. Không còn bị nỗi sợ hãi kiềm nén từng gây phiền phức cho trẻ nhỏ, họ thoải mái khỏi kinh qua vô vàn chiêu trò ngạo ngược của tiểu bạo chúa trong nhà.

Làm thế nào nói ra chuyện bắt nạt và sức hút chú ý tiêu cực

Nhận được câu hỏi đặt thẳng vấn đề: Các bước nhà tham vấn tâm lý tiến hành để một bé học sinh nói ra chuyện bị bắt nạt? Anh làm sao để trẻ trải lòng?

Trả lời: Đầu tiên các nhà tham vấn thiết lập mối quan hệ nâng đỡ, thấu hiểu, và trên hết, thật an toàn. Trẻ bị bắt nạt không chỉ kinh sợ việc bị bắt nạt mà còn kinh sợ các bước bố mẹ, nhà tham vấn và thầy, cô giáo có thể thực hiện nhằm chỉnh sửa tình huống. Trẻ sợ rằng sự can thiệp của người lớn có thể khiến tình huống tệ hại thêm. Dùng nhiều mưu kế liên quan tình huống để cho trẻ cảm thấy an toàn. Các ông bố thường to tiếng ra lệnh “Con nói bố nghe bạn nào đánh con để bố đến gặp bố bạn kia nói chuyện cho ra nhẽ!”; nghe tê hơn cả chuyện bị bắt nạt. Hãy giúp trẻ biết các hành vi của cô/ cậu bé chính là biểu hiện đang bị bắt nạt và tình huống đó khá thông thường khi đi học; cũng cho trẻ biết rằng có nhiều cách giải quyết tình hình và giải pháp đang tìm kiếm không gây nên thêm chuyện nữa.

Làm việc với trẻ bị bắt nạt, quan trọng cần nhớ rằng trẻ có thể không nhận ra đây là điều hay gặp ở trường lớp, hồi còn nhỏ. Chúng có thể cảm thấy cô độc, vì chẳng có giải pháp nào khả dĩ… Khi trẻ cảm thấy an toàn đủ để kể lại tình hình, đảm bảo với chúng đây là chuyện thường thôi và các chiến lược xử lý có thể sẽ triển khai tiếp theo.

Đừng quên các cậu trai bắt nhạt và hăm dọa về mặt thân xác, các cô gái thì dùng chiêu trò công kích ‘quan hệ’. Các cô gái cũng bắt nạt không kém song theo cách lây lan tin đồn, nhục mạ bằng lời nói, cho ze khỏi nhóm chơi, làm mọi người xa lánh, và bắt nạt về mặt cảm xúc các nữ sinh khác. Bé ở giai đoạn vị thành niên thường nảy sinh triệu chứng trầm cảm và các rối loạn lo âu khi bị bắt nạt. Khi phát hiện các dấu hiệu căng thẳng và bất an, cần nhấn mạnh các dấu hiệu này rồi dần tìm cách tiếp cận vấn đề khả dĩ bị bắt nạt khi trẻ cảm thấy an toàn với mình.

————-

Nếu đang kiếm tìm nguyên nhân sâu xa của hành vi sai trái ở trẻ, thu hút chú ý là điều giải thích dễ nghĩ tới. Không phải mỗi ví dụ trẻ nhỏ hành động đích thực là tiếng kêu khóc muốn được chú ý, nhiều tình huống quả vậy. Về sau, người ta sẽ cảm thấy bị đe dọa hoặc dự tính tự sát theo nỗ lực có cân nhắc để được nghe thấy.

Biết các dấu hiệu thu hút tiêu cực là một chuyện, song làm gì khi chuyện đó nhắm vào chính bản thân mình đây? Có 3 con đường lựa chọn. Thú nhất, và rất quen thuộc, trừng phạt hành động sai trái. Bố mẹ nhận ra quyền lực thúc đẩy chấp thuận và tuân thủ nhanh chóng sẽ tàn dần khi trẻ lớn lên rồi đạt được khả năng lẫn sự tự quản lý bản thân. Lờ đi tính tự trị vì nó mang lại nhiều cơ hội được chú ý nhiều hơn, trẻ có thể minh họa việc lặp đi lặp lại hành động sai trái. Với các vụ bạo hành nghiêm trọng, trừng phạt có thể là lựa chọn hợp lý.

Có thể bố mẹ trẻ bảo con cái làm ngơ chuyện bắt nạt rồi sẽ êm xuôi thôi. Chí ít, về nguyên tắc không sai. Khi mục tiêu là chú ý, lờ đi những lăng nhục nọ kia là cách khác để giảm thiểu vụ bắt nạt nếu không trừ tiệt được hành vi kiếm tìm sự chú ý; xét dưới góc độ kỹ thuật, làm hành vi xấu biến đi thông qua việc làm phần thưởng biến đi gọi là ‘tiêu hủy tất cả’. Không phải lựa chọn dễ. Trước hết, phải từ bỏ nhu cầu về công bằng, chính trực và thậm chí, trả đũa lại; thứ đến, tiến hành cái gọi là ‘cho nổ tung tanh bành hết luôn’ khiến những kẻ bắt nạt hiểu là các chiêu trò không còn tác dụng nữa, rồi chúng sẽ ôm giữ trò chơi đến lúc đủ sức tung chiêu hiệu quả lại. Chiến lược ‘thiêu hủy toàn bộ’ có thể gây phản tác dụng, và bất kỳ mất mát trong xử lý sẽ củng cố hành vi mãnh liệt hơn hẳn, và trẻ sẽ có kết cục tệ hai chứ không như mơ tưởng lúc khởi phát kế hoạch.

Con đường cuối thách đố nhất: cho kẻ gây rối điều nó muốn. Nếu muốn được chú ý thì được chú ý, dĩ nhiên, nếu cho liền sự chú ý sau các hành động tồi tệ rồi mình có thể mong chờ hành vi không tiếp diễn nữa. Chiến lược rõ ràng tỏ ra tốt hơn với một số tình huống nhất định: bạn bè và người thân gia đình nhờ đáp ứng nhu cầu chú ý là cách hay để phát triển tốt đẹp các mối quan hệ. Và khi nhu cầu chú ý được thỏa mãn, giờ đây mình sở hữu năng lực xã hội đủ để mình dạy phần, người tương tự đòi hỏi những gì chúng muốn theo cách tích cực.

Khi rành luật chơi như sự chú ý tiêu cực, hành vi từ sàn tập lên sân khấu chính sẽ cực kỳ thách thức. Nhận ra hành động đòi hỏi sự chú ý, mình có thể dùng điều đã biết để trừng phát kẻ phạm lỗi, hoặc thỏa mãn nhu cầu trong khi kến tạo một kênh giao tiếp tốt lành hơn cho những đòi hỏi trong tương lai.

Kháng cự lại sự thay đổi: ẩn dưới những nhiễu nhương, rối rắm

Trạng thái stress làm tăng lên ước muốn được tưởng thưởng chứ không phải niềm khoái sướng, nghiên cứu cho biết thế.

Thay đổi hiếm khi là tiến trình dễ dàng hoặc đơn giản; nó giúp chúng ta hiểu hơn các lý do chống kháng lại, và tôn trọng những khó khăn, phiền muộn dính dáng, liên quan.

Bố và mẹ đưa con gái 14 tuổi tới trị liệu bởi vì cô bé không hoàn thành bài tập ở trường, và họ đặc biệt khó chịu do phòng riêng của cô gái bày biện ‘thật bê bối’. Vấn đề mới xảy ra tạo nên khủng hoảng từ cuộc cãi vã giữa mẹ và con gái khiến cô bé ném đồ đạc rồi đe dọa tự sát. Người bố đang đi làm nhận điện thoại quay về nhà đưa con vào cấp cứu ở bệnh viện. Sau đó, họ thăm khám một bác sĩ tâm thần và được chẩn đoán khả năng cao mắc rối loạn lưỡng cực type 2, cộng khả năng bị ADHD nữa (dù cô gái có thể tiêu hàng giờ đọc truyện), rồi chỉ định 2 loại thuốc. Cô gái từng uống thuốc vì bệnh hen khá nặng, và bố mẹ đòi được trị liệu vì họ muốn tránh uống thuốc thêm.

Các sự kiện tiếp diễn liên miên xoay quanh chuyện cô gái không hoàn thành bài vở ở trường và khi về nhà dễ là biểu hiện bà mẹ cứ muốn làm con gái ngộ ra các lợi ích của việc chu toàn học hành. Phản ứng từ phía cô gái sẽ cho là mình không có khả năng tập trung đủ để hoàn thành bài vở, và rằng bố mẹ cô không hiểu con gái. Trong nhiều trường hợp tương tự với vụ ai đó phải đi cấp cứu, tương tác này sẽ leo thang tới điểm ông bố có thể buộc phải can thiệp rồi làm sao cho mọi sự lắng xuống. Đây là lần đầu mà sự tương tác căng thẳng đến độ cô gái biểu đạt dự tính tự sát.

Nhà trị liệu đề xuất cách hướng dẫn bố mẹ hiệu quả dựa trên thực chứng. Ông xác định vấn đề là kết quả của việc cô gái tự nhận thấy bản thân mình thiếu khả năng và do đó, không đáp ứng được. Bố mẹ đồng ý đây là quan điểm tự đánh giá mình chẳng hay ho gì. Nhà trị liệu hỏi người mẹ rằng bà đã thắng trong cuộc tranh cãi nào với cô con gái 14 tuổi của mình chưa. Bà mẹ thừa nhận chưa bao giờ thuyết phục được con gái thay đổi. Đó là khuyến cáo bố mẹ cần đặt để thời hạn cho việc học hành ở trường hoặc dọn dẹp phòng ốc ngăn nắp. Nếu không đáp ứng thời hạn, bà mẹ nên có mặt ở phòng con gái mà không để cho con gái có các đồ chơi điện tử ưa thích cho đến khi công việc hoàn tất. Nhà trị liệu giải thích điều này sẽ truyền thông với cô gái là cô có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Bà mẹ đồng ý thử cách tiếp cận này xem sao. Ông bố, quá mệt vì phải can thiệp, nhất trí song e ngại sự leo thang của con gái sẽ đòi hỏi mình lại can thiệp.

Vào lần gặp sau đó, bà mẹ nói mình đã thử bảo con gái có trách nhiệm đưa bà vào phòng. Đứa con gái la hét, khóc ầm lên hơn cả tiếng đồng hồ, dọa sẽ chết, và rằng mình không hoàn thành công việc được. Cuối cùng, bà mẹ rời khỏi phòng với lời hứa họ sẽ làm bài tập với nhau khi cô gái bình tĩnh đã. Việc này xảy ra ba ngày trước cuộc hẹn và bài tập vẫn để đó…

Một số nhà trị liệu có thể quen đáp ứng bằng việc nói với bố mẹ là họ đang làm hư con gái do không bắt cô bé phải có trách nhiệm xử lý, hoặc đưa ra một số chỉ trích khác về hành vi của bố mẹ chống kháng đề xuất đã nêu. Tuy thế, nhà trị liệu ở đây không hề ngạc nhiên với việc bố mẹ thể hiện như thế. Ông hiểu là khi người ta khư khư với các mẫu hình hành vi, họ thường bộc lộ thế vì các nhu cầu quan trọng được thỏa mãn. Trong tình huống đang bàn, cho thấy bà mẹ ghi nhận việc con gái mình càng dễ xuất hiện cơn suyễn và mức độ trầm trọng hơn khi stress. Phó bản của nỗi sợ ẩn bên dưới này là họ kiềm chế không thể hiện quyền uy chính đáng của người làm cha làm mẹ. Nếu nhà trị liệu tỏ ra hữu ích với bố mẹ và con gái mới lớn, ông phải tìm được cách để thúc đẩy thay đổi trong khi xem xét các nỗi sợ của họ.

Ngoài sự tưởng nghĩ, chúng ta đều ngạc nhiên chân thành khi người ta tạo ra thay đổi cốt lõi trong lối sống của họ, bất kể đó là việc giảm cân, thay đổi cách làm việc như điên dại để dành thời gian nhiều hơn cho gia đình, hoặc chấm dứt chuyện ghen tuông khủng khiếp. Tất cả chúng ta biết mình nên tạo ra sự thay đổi, có lẽ cảm thấy ngu ngốc rằng mình sao không đổi thay, song gì gì thì cuối cùng mọi chuyện vẫn cứ như cũ. Thay đổi thì khó khăn đối với bất kỳ ai. Thực tế, nếu thay đổi dễ dàng thì người ta sẽ ít nhờ các nhà trị liệu trợ giúp. Điều khiến thay đổi quá khó nhọc là vì giống gia đình trên, tất cả chúng ta nhận được các nhu cầu thỏa mãn nhờ các mẫu hình hành vi mình tạo ra, và chúng ta sợ hãi (thường vô thức) mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ, hoặc chí ít không còn thoải mái như trước, nếu chúng ta tiền hành mọi thứ khác hẳn đi.

Các nhà trị liệu giỏi giang chẳng ngạc nhiên với sự kháng cự thay đổi, bởi vì họ tôn trọng và thấu hiểu người ta đang nhìn thấy các lý do cho hành vi hiện tại; chưa nói, họ hiểu cách thức người ta ngoài lúc trị liệu đôi khi vượt qua khuynh hướng giữ nguyên trạng, thói quen vi tế đến thế nào.

… Trong phiên làm việc thứ hai, nhà trị liệu trước tiên lấy làm hối tiếc vì đã không lường hết nhiệm vụ khó khăn mà bố mẹ phải đương đầu để giúp đỡ con mình. Ông đề nghị họ đưa con gái đến bác sĩ chuyên khoa điều trị bệnh hen suyễn rồi thảo luận về các nguy cơ do stress tăng lên thêm như kết quả của trị liệu. Rồi họ đi đến chọn lựa nghiêm túc về chuyện tiếp tục trị liệu.

Vào phiên thứ ba, bố mẹ báo tin là bác sĩ bày vẽ cho họ xử lý trạng thái tăng thêm các cơn hen suyễn nhờ sử dụng các dụng cụ y tế thích hợp. Bác sĩ bảo họ rằng cơn hen suyễn không nên được dùng như là cái cớ tránh né trách nhiệm. Cả hai bố mẹ tuyên bố mình đã quyết lựa chọn trị liệu tiếp bất chấp gánh nặng chi phí. Nhà trị liệu khuyến cáo họ là trẻ vị thành niên đầu tiên nên được thử thách hạn chế thôi, và sự thay đổi chỉ diễn ra khi cô gái nhận thấy bố mẹ mình đã giải quyết kỳ vọng của chính họ bằng sự tôn trọng cô đích thực. Nhà trị liệu nói thêm là các đề nghị ban đầu có thể đã làm sự việc vận động quá nhanh và việc chuyển dịch hướng tới thay đổi chậm hơn sẽ khiến mọi người chịu đựng được, ngay cả nếu thời gian kéo dài ra. Rồi ông đề nghị bố mẹ dùng thời gian phạt ‘time-out’ trong phòng với việc đầu tiên chơi điện tử chỉ mỗi 30 phút thôi, rồi tuần tự tăng thời gian phạt nếu vi phạm.

Gia đình trở lại trị liệu hai tuần sau với thổ lộ là đã có tiến bộ đáng kể. Hai ngày sau chế độ phạt 30 phút, họ quyết định muốn cải thiện nhanh hơn lên và đã giữ con gái trong phòng hết cả buổi chiều bởi vì cô gái không làm xong bài tập. Mặc cho cô gái đập cửa thình thịch khoảng hai giờ đồng hồ, họ cũng không xiêu lòng. Họ quan tâm chút ít khi cô gái im tiếng, đã kiểm tra và thấy cô gái ngủ với hơi thở không quá nặng nhọc. Đêm kế tiếp họ dọa phạt cô gái tương tự, và bài tập đã được làm đầy đủ trong một tiếng đồng hồ.

… Một số độc giả có thể thắc mắc sao nhà trị liệu ban đầu nói chuyện rất ít với cô gái nhỏ. Điều ấy là cố ý. Nhà trị liệu quan niệm trẻ vị thành niên đang có quá nhiều quyền lực, và do đó, không muốn đưa cô bé vào trong các quyết định cho đến bố mẹ cô thiết lập uy quyền. Với một số tiến bộ tạo ra, nhà trị liệu tập trung quan tâm nhiều hơn vào cô gái. Ông hỏi cô gái mô tả về điều tự do mới mẻ nào cô ưa thích, khi cô gái cho thấy mình đang ngày càng tỏ ra có trách nhiệm.

Tóm lại, kháng cự là phản ứng tự nhiên và dễ đoán định trước đổi thay. Vượt qua sự kháng cự thay đổi đòi hỏi trình tự tìm ra các cách thức mới nhằm đạt được các nhu cầu căn cốt, trong khi lảng tránh các vấn đề tồn đọng. Sự tôn trọng của nhà trị liệu với tiến trình này là một hợp phần hết sức thiết yếu.

Cảm giác tội lỗi và hành động vội vàng trong vụ việc ngoại tình (2)

Việc ngoại tình có thể khiến người trong cuộc tiếp tục cảm thấy dày vò sau nhiều tháng năm đã kết thúc rồi.

Điều đấy thuộc một trong những điều lạ lùng khi tội lỗi lâu lắm chợt vừa được người vợ chân thành thú nhận, song phản ứng của chồng chỉ mới bắt đầu. Tuy thế, trải nghiệm ấy rất thông thường.

Vụ việc xưa cũ, đã chấm dứt hẳn mà phản ứng cùng các huyễn tưởng đầy hình ảnh về sự kiện chừng như mới mẻ vô cùng. Mình tưởng tượng (các ‘hình ảnh’) về kiểu dạng trong đủ trò lắm món tình huống dục lạc liên quan với chuyện ngoại tình dĩ vãng đó. Não chúng ta phản ứng thật cảm xúc với những gì mình tưởng tượng, bất kể thực hư như nào. Nếu tưởng tượng trúng vé số, ta tự động mỉm cười liền. Các huyễn tưởng về chuyện ngoại tình của cô ấy tiếp tục làm ta bức bối, và bây giờ cảm thấy bất lực. Lưu giữ hình ảnh sống động trong tâm trí, não chỉ cho phép mỗi lần một cảm xúc thôi, vì thế, nếu đang cố gắng lãng mạn và một huyễn tưởng tiêu cực nảy nòi trong tư duy, sự lãng mạn biến mất đi ngay.

Những mối ám ảnh khởi lên từ việc phản bội thuộc dạng khó khăn xử lý nhất. Bởi vì nó dính dáng sâu xa với cảm nhận toàn thể của chúng ta về sự an toàn và độ hiểu biết trong mối quan hệ, gây nên ngờ vực, lo âu, và thường tạo nên cảm nhận mất mát đến độ dẫn tới trầm uất.

Các mối ám ảnh về chuyện ngoại tình dễ quấn chặt ta và cho mình cảm thấy mất khả năng kiểm soát; chúng cũng làm mình rất khó khăn để lành lặn. Do vậy, chúng cần được giải quyết một cách trực tiếp. Một vài chiến lược từ cách tiếp cận hành vi- nhận thức gợi ý nhằm giảm thiểu các suy tư ám ảnh và giành lại cảm nhận kiểm soát:

  1. Lên danh mục các ý nghĩ gây ám ảnh, phân loại chúng theo kiểu dạng rồi đánh giá mức độ chúng khiến mình khó chịu. “Khách quan hóa” các ý nghĩ giúp đẩy đuổi khỏi mình một số nỗi đau thấm đẫm cảm xúc kết dính với chúng.
  2. Dành thời gian xem xét thật cẩn thận một vài ý nghĩ, song chỉ tí chút với mỗi suy tư thôi. Rồi, điều hướng lại ý nghĩ sang điều khác, bất kỳ điều gì khác hẳn, tốt nhất là thứ chi đem lại nhiều vui tươi và khiến mình thư thái hơn. Mình có thể cảm thấy bị thôi thúc quay về ý nghĩ ám ảnh. Nếu đơn thuần không kháng cự nổi, cho phép bản thân tiếp nhận, song lần nữa, chỉ dành chút ít thời gian thôi, rồi lại điều hướng các ý nghĩ với khoảng thời gian lâu hơn. Khá kỳ cục lắm lúc ngoài sức tưởng tượng, một chiến lược giản dị thế thực sự đủ sức giúp mình giành lại cảm xúc kiểm soát các suy tư của bản thân.
  3. Lưu ý lúc nào và ở đâu mình thường hay nảy sinh các suy tư ám ảnh. Rồi, khi các ý nghĩ trỗi lên, thay đổi bối cảnh hoặc làm điều gì đó khác biệt. Làm mình bận rộn với các hoạt động và những vụ việc bao quanh chí ít khiến mình phải bận tâm đầu tư suy nghĩ.
  4. Tự củng cố bản thân với mỗi một nỗ lực thực hiện được nhờ tiến hành các kỹ thuật nêu trên.

Còn có nhiều chiến lược khác có thể giúp mình phục hồi trạng thái bình thường về khả năng kiểm soát các ý nghĩ. Đạt được sự kiểm soát như vậy sẽ đích thực giúp mình giải quyết các vấn đề khác liên quan đến chính bản thân và về chồng/ vợ mình trong nỗ lực xây dựng lại mối quan hệ hôn nhân- gia đình. Một cách tự nhiên, điều cũng sẽ tốt lành không kém khi nhờ trợ giúp của nhà tham vấn tâm lý, nhất là người chuyên sâu vào các mối quan hệ, và có kinh nghiệm giúp thân chủ xử lý các ám ảnh cũng như các phản ứng đầy tràn cảm xúc thường hay kèm theo mỗi vụ việc ngoại tình cùng vô vàn các vấn đề hôn nhân khác.

*Vĩ thanh: Từ ‘ăn năn’ trong Anh ngữ có gốc tiếng La tin (contritus) mang nghĩa là ‘vò nát, tan tác’ ra thành trăm ngàn mảnh nhỏ. Ăn năn, do vậy, là sự giằng xé của cái tôi kiêu hãnh dưới sức nặng khủng khiếp của tội lỗi và nỗi niềm ô nhục. Nó tương tự những gì các thành viên tham gia các chương trình cai nghiện 12 bước diễn đạt ‘chạm tới đáy cùng cực’. Người ăn năn là kẻ bị gãy đổ, vỡ vụn, gập ghềnh…

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…

Tập trung vào con người mình muốn trở thành, hay nhắm tới con người mình không thích?

Một giải pháp chỉ có thể đạt được bởi người đã khuất thì chắc chắn chẳng hề khiến đớn đau hoặc nảy sinh hiều cảm xúc khủng khiếp; thoạt tiên, dường như một vài thành tựu thật dễ thương, song kỳ thực chúng không đem lại lợi lạc gì mấy.

Cách thường để cảm thấy dễ dàng hơn là lưu ý những điều mình không muốn thay vì tiến tới với chuyện mình thích làm. Khá bi hài, chúng ta quen tiêu quá nhiều thời gian nghĩ đủ thứ điều mình không muốn (ví dụ, tôi không muốn làm người xấu) mà rốt ráo. tôi không tin nó trợ giúp gì mình lắm đâu.

Lý do nêu thế vì chúng ta không thể luôn luôn thay đổi điều mình không muốn (ví dụ, trường hợp mắc các khuyết tật mãn tính) dù chúng ta có khả năng, và dần ít nhiều trở thành con người mình muốn là.

Khi tiếp chạm với điều mình thú vị, chúng ta cũng dễ thích đạt được nó. Tưởng tượng đang tiến sát gần hơn con người mình mong đợi trong quãng đời còn lại, tỷ dụ giảm thiểu nhất khoảng cách giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng.

Nếu thấy khó khăn định dạng những gì mình muốn, thử tưởng tượng tình huống sau vốn hay được gọi là câu hỏi huyền nhiệm:

“Giả tưởng điều huyền diệu xảy ra trong khi mình đi ngủ, và tất cả các vấn đề biến mất sạch, đại khái thế. Song mình không biết nó đã xảy ra, do mình đang ngủ. Khi thức dậy sáng hôm sau và sống trọn ngày, làm thế nào mình nhận biết rằng điều kỳ diệu từng xảy ra rồi? Đâu là điểm khác biệt về mình hoặc về kẻ khác? Liệu người khác khi trông thấy điều huyền diệu ấy thì sẽ mô tả những gì về chúng?” (Westbrook và cs., p.236)

Nếu định dạng được mình muốn thành con người như thế nào, hãy viết nó xuống. Giờ đây, bạn bước xa hơn trên tiến trình phát triển con người. Bạn có thể bắt đầu thay đổi cách mình nghĩ về bản thân. Nhằm tạo các kế hoạch cụ thể về cách trở thành con người mình muốn, bạn cần biết con người đó cụ thể ra sao.

Nghiên cứu chứng tỏ, người ta có xu hướng tin rằng họ rời xa khỏi các cái tôi lý tưởng của chính mình hơn, so với những kẻ khác (William & Gilovic, 2008). Dĩ nhiên, cần nỗ lực để trở thành cái tôi lý tưởng, song bạn không rời xa hơn mục tiêu so với tha nhân, ngay cả khi bạn có thể nghĩ thế thật.

Thông điệp ở đây đơn giản: chúng ta nên dành nhiều thời gian để suy tư cách thức mình có thể trở thành con người mong muốn, thay vì nghĩ về con người mình không thích. Thiển nghĩ, điều ấy cơ chừng càng giúp bản thân thêm “năng sản”.

Bạn cảm nhận chuyện này như thế nào?

J. Soi (16): Mê tín vì may mắn không bị trừng phạt

Hình như, đối với mỗi một cá thể ít nhiều đều có những nghi thức bí mật chứa chất mê tín nào đó.

Trên bình diện quốc gia, chuyện mê tín trở thành nỗi niềm bi hài vừa cực kỳ thế tục vừa vô cùng rối rắm tâm linh. Khi mang tầm vĩ mô, sự vụ giời ơi đất hỡi không còn thuần túy thỏa mãn lợi lạc riêng tư hoặc nhắm tới ý đồ phục vụ cộng đồng rộng lớn.

Các nghi thức là phương cách nhằm làm cho sự hỗn độn, bấn loạn bớt đi sự khủng khiếp, kinh hoàng. Bởi tưởng chừng là ngớ ngẩn song hàng triệu triệu người tiến hành các nghi thức tương tự ngõ hầu có được may mắn.

Tin tưởng hết sức mãnh liệt vào những điều phi lý; đa phần con người ta khi đương đầu với vô cùng thách thức quan trọng và bất định thì sự mê tín cung cấp cho họ ảo giác kiểm soát tình hình. Việc thực hành mê tín, do vậy, có thể đem lại lợi lạc tâm lý. Rõ ràng, các nghi thức mê tín dễ khiến độ căng thẳng suy yếu và tạo nên cảm giác rằng mình đang làm những điều hữu ích.

Chưa nói, hầu hết các mê tín là vô hại; dù một số để lại lắm hậu quả nghiêm trọng. Các niềm tin mê tín đem về may mắn từng dây dưa khốn khổ trong đam mê cờ bạc, và niềm tin vào các kỹ thuật y khoa thay thế tân thời so với lối điều trị truyền thống có thể dẫn đến căn bệnh trầm trọng thêm.

Bất chấp nọ kia, mê tín căn bản vẫn lành mạnh, và một số tài năng xuất chúng ở mức độ toàn cầu cũng mê tín đáo để khỏi nói luôn; cứ xem các ví dụ liên quan đến thao tác thu lượm may mắn trước mỗi trận đấu thể thao tất hiểu.

Các loài động vật làm đủ thứ kỳ cục khi được trừng phạt hoặc ban thưởng ngẫu nhiên. Hãy nhớ nhà Tâm lý học Hành vi nổi tiếng F. Skinner từng vứt thức ăn bất chợt cho bồ câu, và các con chim ấy phát triển những hành vi lặp lại buồn cười. Các con bồ câu này thể hiện hành vi như dạng khiêu vũ là lạ: xoay xoay các vòng, thúc thúc cái mỏ vào góc lồng, hoặc hất hất cái đầu hết lần này đến lần khác. Skinner gọi đấy là hành vi mê tín liên quan đến cử chỉ nhảy nhót. Các con bồ câu dở hơi tăng thêm trò nhảy nhót mê tín, ngay cả khi việc nhảy nhót của chúng chẳng được thưởng bằng thức ăn. Skinner khẳng định rằng, con người cũng thể hiện các hành vi mê tín tương tự chẳng hề liên quan chi tới những sự tưởng thưởng– đấy là các nghi thức dính dáng sự may mắn.

Các kiểu nhảy nhót của bồ câu mê tín thì thuộc dạng gây cười, vui vẻ. Các con chó tuyệt vọng lại không phải thế. Khi các con chó bị sốc điện không thể thoát được, đầu tiên chúng chạy quanh đặng gắng trốn khỏi. Sốc điện tiếp tục và ngắt đi tình cờ mà không liên quan chi tới những gì các con chó tiến hành. Dần dần, các con chó từ bỏ, chúng nằm dài, và chỉ còn biết rên rỉ khi điện được kích hoạt. Tồi tệ hơn, nếu con chó được đặt vào một tình huống mới, nơi nó có thể trốn thoát sự sốc điện, nó vẫn từ chối bỏ chạy. Con chó học hỏi sự tuyệt vọng. Tâm lý gia Martin Seligman và các cộng sự khẳng định, con người thể hiện sự học hỏi tuyệt vọng trong nhiều tình huống. Nếu sự trừng phạt là không thể thoát tránh, con người từ bỏ sự cố gắng như các con chó đáng thương nêu trên vậy.

Sự tuyệt vọng được học hỏi có thể xảy đến trong các tình huống xã hội và cả lĩnh vực học thuật. Người ta cố gắng làm điều này điều nọ, ứng xử thế lọ thế chai rồi thì buông tay bất kể vấn đề như thế nào. Họ dần từ bỏ hẳn và thôi cố gắng làm bất kỳ điều gì nữa cả.

Vậy đấy, nơi cõi trần gian, thiên hạ nói chung và các vị chức sắc hoặc thầy cô giáo đã bị trừng phạt ngẫu nhiên và không thể tránh khỏi, bởi vì sự trừng phạt không phụ thuộc vào việc họ làm. Nghịch lý nằm ở chỗ, không việc nào họ làm cho phép họ thoát khỏi sự trừng phạt.

Khi ta 40: Một minh họa khủng hoảng tuổi trung niên

Một chút xíu vui tươi ngoài lề trước khi xem xét một trường hợp cần tham vấn tâm lý. Rằng, nghiên cứu cho thấy đàn ông khốn khổ nhất ở độ tuổi 35-44; và đôi khi, quả là ấn tượng nếu mình vẫn còn trai tân ở độ tuổi “tứ thập”

Nhân vật Y, 42 tuổi, trong câu chuyện sắp bàn ở đây không thực sự hiểu cơn cớ chi mà chị X vợ anh lại khó chịu đến vậy, dù chị ấy nghĩ rằng chồng mình đang trải qua “khủng hoảng tuổi trung niên“.

Dưới đây sẽ tóm tắt ý chính các phiên tham vấn; và để cho gọn câu chữ, nhà tham vấn được gọi tắt là “C”.

Phiên tham vấn đầu tiên

Trong phiên đầu tiên, “C” tập trung vào việc thiết lập một sự hiểu biết rõ ràng về sự trình bày các mối quan tâm, trước khi bàn tính và trao đổi dài hơi hơn nhiều chuyện sâu xa cùng thân chủ.

Y vô cùng khó khăn lúc cố giải thích các chi tiết liên quan tới tình huống hiện tại và tại sao vợ mình dường như quan tâm Y thái quá thế.

Căn bản, anh không nhìn nhận nhiều về một vấn đề nào và đơn giản chỉ muốn cố gắng làm điều gì đó mới mẻ, bởi vì anh cảm thấy buồn chán và bồn chồn. “Điều ấy đâu có nghĩa là tôi đang lung tung, ngoại tình cơ chứ”, anh khẳng định.

Từ lần đầu tiên này, “C” có khả năng rút ra thông tin nền tảng hữu ích và bắt đầu xây dựng mối quan hệ hòa hợp và tin tưởng hết sức cần thiết thêm nữa với Y khi anh hoàn toàn ngờ vực các lợi lạc của chuyện tham vấn.

Thông tin chủ yếu về trường hợp

Y thuộc nét nhân cách kiểu A, với các nhu cầu từ trung bình tới mạnh mẽ cho việc tự nhận thức bản thân.

Anh kết hôn đã 19 năm và cho đến gần đây vẫn thấy mình có một mối quan hệ hạnh phúc với vợ là X.

“Dĩ nhiên, chúng tôi có chuyện này chuyện nọ giống như mọi cặp vợ chồng khác thôi”, Y giải thích, “song vượt qua mọi thứ, rốt cục vẫn ổn thỏa cả”.

Y nhận thấy không dễ để mô tả xích mích ở đây là gì và tuyên bố đơn giản là “X tin là tôi đang bỏ bê, thiếu trách nhiệm với gia đình và cô ấy nói rằng tôi dường như xa cách cũng như có vẻ thiếu quan tâm đến cô ấy và mấy đứa con trai”.

Y có hai con trai, B (13 tuổi) và M (15). Y mô tả hai cậu con trai nói chung là ngoan, biết tự phát huy lấy sở thích riêng và anh cảm thấy chúng không cần đến anh nhiều nữa. Anh tin là chúng thích đàn đúm với bọn bạn cùng trang lứa hơn là “lão bố già”. Cậu trai đầu M gần đây tự đưa mình vào việc khá phiền lụy, bỏ học một vài ngày, tạo xích mích với bạn học khi đến lớp và còn vài lần bị bắt vì tội ăn cắp đồ trong cửa hàng. Y giảm nhẹ hành vi này như “chuyện vặt trẻ con” và nghĩ rằng vợ anh đã phản ứng thái quá. Anh chỉ cho rằng “Rồi M sẽ bỏ qua và lớn lên thôi”.

Khi “C” khuyến khích Y thảo luận tình huống với M nhiều hơn, Y tuyên bố là anh có nhiều điều quan trọng hơn để phải lo nghĩ. Rồi anh giải thích rằng mình làm nghề bán thịt và chăm nom một cửa hàng bán đồ ăn sẵn. Công việc đang bị chậm lụt lại, anh e ngại các cửa hàng lớn ở khu vực anh sống đang gây khó cho việc làm ăn của mình. Y không thảo luận các bận tâm tài chính với vợ hoặc những bất mãn trong việc cảm thấy mình không bao giờ đạt tới được ước mơ cháy bỏng là mở rộng quy mô cửa hàng thêm vài cái nữa ở khu vực xung quanh. Anh đã dự tính nhượng lại cửa hàng và đang nghĩ chuyện đưa gia đình rời khỏi thành phố.

Y tiếp tục giải thích khi cô vợ X phát hiện anh đang tìm người mua cửa hàng, cô X điên tiết bởi không hiểu tại sao chồng đầu tiên là không thèm bàn bạc gì với mình, thứ nữa đấy là tiền dành dụm, tích lũy của cô trong việc chung lưng góp vốn cùng Y để mở cửa hàng lúc mới khởi sự, ngoài ra cô nhớ là anh Y trước đây luôn hỏi ý kiến cô mỗi khi quyết định những chuyện hệ trọng.

“C” minh bạch cùng Y rằng đây đích thị là điều đúng đắn, rằng trong quá khứ cả hai vợ chồng cùng thảo luận nhiều quyết định quan trọng và đi đến một sự thỏa thuận. Y hồi đáp, “vâng, đúng thế thật”.

Vài tuần sau chuyện cãi nhau với vợ, Y bắt đầu thu mình với gia đình nhiều hơn nhằm hy vọng tránh gây ra xung đột thêm, anh lu bu với các chi tiết cuối cùng cho việc bán lại cửa hàng (Y đi đến quyết định này, bất chấp sự phản đối quyết liệt của chị X) và sắp xếp các kế hoạch dự trù khác. Y không thấy hành vi lảng tránh như vậy đích thực chỉ tạo xung đột hơn thôi và đơn giản khẳng khái rằng “X sẽ bàn tới bàn lui tùm lum khi cô ấy biết ý định này”. Chị X đe dọa ly dị Y và tuyên bố sẽ không để yên cho chuyện anh Y muốn lôi bọn trẻ khỏi bạn bè ở trường và gia đình.

Y ôm ấp ý nghĩ rằng có lẽ đời sẽ đơn giản hơn nếu anh làm nó một mình, thoát khỏi mọi trách nhiệm liên quan và tiến hành những gì mình muốn thực hiện. “Đâu đã quá muộn”, anh nói, “Tôi hãy còn trẻ đủ để sung sướng bản thân”. Tuy vậy, Y biết rằng anh vẫn yêu thương vợ lắm và một sự ly dị sẽ dễ làm anh cảm thấy nó như một sự thất bại khủng khiếp hơn.

Hiển nhiên, “C” thấy khá rõ lượng căng thẳng tinh thần mà Y trải qua và sự kiện anh không chia sẻ những nỗi sợ hãi, lo lắng với bất kỳ ai càng làm tăng thêm cảm giác anh phải chịu đựng.

Kết luận cho phiên làm việc đầu tiên, “C” khởi động một vài kỹ thuật thư giãn với Y mà anh có thể triển khai được liền ngõ hầu giúp anh thuyên giảm một vài triệu chứng stress.

Cũng rõ ràng là Y cần truyền thông với vợ và hai cậu con trai, tuy thế, “C” sẽ định thử dạy cho anh một số kỹ năng truyền thông hiệu quả trong phiên trị liệu tiếp theo. Lý do là vì khi Y bắt đầu giao tiếp với vợ, chuyện đấy nên thể hiện tính tích cực hơn là gây đổ vỡ.

Trong khi chờ đợi, tạm thời “C” khuyến khích Y dành nhiều thời gian hơn cùng gia đình thay vì tạo sự xa cách với họ. Điều ấy không buộc phải là chuyện gì quá ghê gớm, “C” giải thích, đơn giản chỉ như chuyện xem TV cùng hai cậu con trai hoặc chơi bóng khi chúng rời trường về nhà, thậm chí, hỏi han X về một ngày làm việc sẽ cho gia đình thấy là anh quan tâm đến họ.

Xuyên phiên trị liệu thứ hai, “C” tập trung vào việc dạy Y một số kỹ năng truyền thông hiệu quả. “C” bắt đầu giúp Y chuyển tải các suy tư và cảm xúc của bản thân mà không phóng chiếu sự chế nhạo hoặc đổ lỗi, để lắng nghe thật cởi mở và không ngắt lời, và quan trọng nhất, “C” giúp Y bắt đầu hiểu ra rằng mọi chuyện ổn thỏa lúc anh biểu đạt các mối bận tâm và những bất an chất chứa trong lòng.

Với Y, các ý tưởng mới mẻ này là sự thay đổi mà anh buộc phải làm quen đúng lúc do nó trái ngược với sự học hỏi trước đây anh biết. Y giải thích, anh không muốn thảo luận mọi thứ với vợ vì anh cảm thấy nó như là một sự thất bại. Bố anh từng dạy anh rằng một người đàn ông thì không được tỏ ra bất kỳ dấu hiệu nào của sự yếu đuối, nếu không người ta sẽ đánh mất sự tôn trọng mình. “C” nhận thấy thái độ này cần thiết phải xem xét kỹ càng khi nó là một trong các nguyên nhân ẩn bên dưới lý giải cho các khó khăn mà anh Y gặp phải lúc giao tiếp với vợ, con của anh.

Y e ngại nói chuyện với vợ mình, và cơ chừng sự giao tiếp khó khăn là một trong những nguyên nhân gây rắc rối cho đời sống hôn nhân. “C” dành một số thời gian để thảo luận với Y cách thức truyền thông có thể cải thiện mối quan hệ và rằng, nói về những nỗi sợ hãi, lo lắng có thể đích thực làm tăng thêm sự thân mật vợ chồng. Thông tin mới này giúp Y nhìn thấy chuyện truyền thông được nâng lên thì có thể giúp san bằng các trục trặc giữa họ với nhau.

“C” đã giúp Y tạo nên sự quyết đoán với chính bản thân anh khi Y bắt đầu thấy mình quay lại lối suy nghĩ cũ là “nói chẳng có tác dụng gì sất và anh tự chịu trách nhiệm cho mọi chuyện rắc rối mình gây ra”. Thay vì thế, Y có thể nói với chính mình rằng “Tôi là một người truyền thông hiệu quả” hoặc/ và “Mình thoải mái chia sẻ các suy tư và cảm xúc với vợ, con mình”.

Sau đấy, Y thổ lộ rằng những quyết đoán đó làm anh thấy dễ hơn khi nói chuyện với chị X và hai cậu con trai, anh cũng cho biết là sự căng thẳng của mình khi ở nhà giảm hẳn.

“C” đưa ra những lời nâng đỡ và ngợi khen. Củng cố là chuyện cực kỳ quan trọng đặng đạt được sự thay đổi hành vi rốt ráo, và “C” thường xuyên đề nghị Y thảo luận sự tiến bộ anh nhìn thấy trong gia đình khi anh đón nhận với thái độ mới. Trong một dịp, Y lưu ý là chị X rất thích thái độ mới “cởi mở” của anh và thực sự biết ơn anh vì đã dám cho chị biết những gì anh đang cảm nhận hơn là bảo chị câm miệng đi.

[Còn tiếp]

Trạng thái loạn thần dưới cái nhìn của lý thuyết tâm lý học

Thường dựa trên cam kết của tâm lý trị liệu theo lối tiếp cận nhận thức – quan hệ và thuốc men định hướng sinh học như là cách xử lý hiệu quả tiến trình loạn thần thì cả lý thuyết lẫn thực tiễn lâm sàng đều chứng tỏ tính phức tạp ghê gớm mới có thể định dạng, bàn tính tới hiện tượng loạn thần.

Theo thuật ngữ Phân tâm học, tư duy nói chung được kinh qua như sự liên tưởng tự do của nhận thức hoặc các ý nghĩ. Một cá nhân bị loạn thần trải nghiệm các ý nghĩ một phần sở hữu bởi “cái tôi” (“the self”), một phần bởi “tha nhân” (“the other”). Người mắc loạn thần có thể dấn tới thể hiện tính khách quan (objectification) trong thế giới tâm trí, do đó trải nghiệm một phần tâm trí thuộc của riêng anh ta, trong khi một số phần vốn trội hơn hẳn của tâm trí anh ta– thuộc về những người khác– mọi thứ này đều cho là của cá nhân mắc loạn thần.

Đối tượng ấy trải nghiệm một sự tha hóa (alienation) đầy ý nghĩa, dễ chừng được giả định rằng sự tha hóa bao gồm cả nguyên nhân xô đẩy và tác động có thật của sự phóng chiếu (projection) của kiểu dạng này nằm bên trong tâm trí người ta. Điều này cơ chừng làm vơi bớt nỗi cô đơn để tri nhận những ảo giác (hallucinations) là “thật”.

Bởi vì cuộc trạm chán với những ảo giác của cá nhân mắc loạn thần thường hay dựa trên sự diễn bày của các cuộc trò chuyện có liên quan với “tha nhân”, đối lập với trạng thái thoải mái của các mệnh giá (entities) bên trong tâm trí, nên cũng có thể nói rằng người mắc loạn thần trải nghiệm một trạng thái thân mật hết sức trơ trẽn với “tha nhân” được phóng chiếu, một sự thân mật tri nhận là trần truồng về mặt tâm lý. Tri giác thân mật này hoàn trả lại các tiến trình loạn thần vốn được thiết lập như để trừng phạt người mắc loạn thần vậy.

Tình huống phóng chiếu lên trên lãnh địa tâm trí dù có thể gây hậu quả làm bối rối tựa một mối quan hệ mang tính ác liệt giữa cái tôi và đối tượng khách quan, nó được người mắc loạn thần tri nhận, thậm chí ngay cả khi nó làm thuyên giảm, dịu bớt mức độ tha hóa và đơn độc.

[Hơi uể oải, tạm dừng đây vì đã muộn giờ, và vài bữa sẽ viết thêm đặng nhanh chóng kết thúc bài]

Bỏ thuốc lá: vì sao hứa đi rồi hứa lại biết bao lần… (2)

Lần trước, vừa nói xong cột thứ nhất: tại sao hút thuốc lá. Giờ gõ xuống ở cột thứ hai giải thích lý do muốn bỏ thuốc lá.

1. Các lý do sức khỏe

– Tôi như hết hơi khi chỉ mới vận động nọ kia chút ít thôi. Đẩy máy hút bụi làm sạch nhà cũng đã khiến tôi thở hổn hển, mệt bã và buộc phải nghỉ giữa chừng.

– Chân tôi thường xuyên tê lạnh. Điều này có thể là do huyết áp cao và tuần hoàn máu liên quan với vụ hút xách.

– Tôi dễ gặp cơn cảm cúm và quá thường xuyên phải thông mũi. Nước nhầy tiết ra từ phản ứng của cơ thể đối với mọi sự nhiễm độc và hóa chất trong khói thuốc lá và cơ chừng là tiền triệu cho căn bệnh viêm phổi nguy hiểm. Ngay cả nếu không bị ung thư thì tôi chẳng muốn mình là một trong các đối tượng phải kè kè chai túi đựng dưỡng khí ở khắp mọi nơi.

– Tôi luôn mỏi mệt. Có thể đấy là vì cơ thể tôi phải dùng hết năng lượng ngõ hầu hạn chế các chất độc hại từ những điếu thuốc lá?

2. Các lý do màu mè, phù phiếm

– Hút thuốc lá là nguyên nhân làm mình chóng già và da khô. Tôi không muốn mình trông như trái cây héo hon, nhăn nheo.

– Các móng tay, đầu ngón tay và hàm răng vàng xỉn vì ám khói thuốc lá. Thật tởm! Làm sao mà ăn nằm với ai được đây.

– Khi tôi bước vào cầu thang sau khi làm vài hơi tranh thủ, mọi người bịt mũi và khịt khịt tỏ vẻ rất khó chịu, dường như họ cố tránh xa vì toàn thân tôi toàn mùi hăng hắc. Tôi cảm thấy mình như kẻ khốn cùng,  bị bỏ rơi. Thật đáng sợ vì mình luôn là “con vật kinh tởm” trong cầu thang máy. Tôi cảm thấy giống như mình không kiểm soát được bản thân.

– Hơi thở của tôi phả mùi thật ghê. Hôn tôi như hôn cái gạt tàn thuốc lá. Biết bao tiêu tốn cho việc đầu tư các loại viên ngậm làm át mùi mồm miệng.

3. Các lý do tài chính

– Tất cả khoản tiền dành dụm được đã chi hết vào khoản thuốc lá có thể đủ cho tôi đi du lịch vô tư tới bất kỳ đâu.

– Tôi từng phải sử dụng tiền mặt khi cạn sạch thẻ tài khoản.

– Giá mà tôi phước sương tiền bạc cho cho các tổ chức từ thiện đáng tin cậy hoặc tài trợ cho một đứa trẻ; tiền tiêu hút thuốc có thể làm cho thế giới tốt đẹp hơn.

4. Các lý do liên quan tới gia đình

– Cả nhà không ngừng lo lắng, càu nhàu về tôi.

– Vợ tôi sẽ tìm đủ cơ hội để móc ngoáy, ám chỉ xa gần tới tôi. Xưa rồi Diễm; anh xin chừa!

– Con tôi sẽ tự hào về ông bố và hy vọng chúng không bao giờ bắt chước để khởi sự hút thuốc khi nhìn thấy trước mặt một thói quen bẩn thỉu đến như thế.

5. Các lý do hướng về sự sạch sẽ

– Tường nhà, văn phòng cần được giữ gìn trắng sạch. Bây giờ trông chúng trông ngả màu nâu đục nhuôm nhoam. Tôi cần sơn lại… lần nữa.

– Tôi bốc mùi, xe ô tô của tôi bốc mùi, căn nhà tôi ở bốc mùi, mọi thứ tôi sở hữu đều đầy hơi hướm mùi khói thuốc. Thậm chí, tôi chẳng thể mượn bạn bè để đọc một cuốn sách vì họ không chịu nổi mùi thuốc lá bốc lên từ các trang giấy vốn thơm tho.

Bạn có bắt gặp chính mình ít nhiều dính dáng tới các thứ, điều nêu trên?

Bạn có thể tìm thêm bất kỳ lý do nào phù hợp với hoàn cảnh bản thân. Tìm thấy các lý do càng mang tính ép buộc, cưỡng bức và thấm tràn cảm xúc trong việc theo đuổi việc từ bỏ thuốc lá để bạn có thể ngẫm nghĩ rồi viết chúng xuống hết.

Muốn bỏ thuốc lá, bạn cần tìm ra lý do của CHÍNH MÌNH thì mới đá văng thói quen hút thuốc lá bay đi mất tiêu được.

Nếu có thể đào luyện lại tâm trí mình khi biết rằng hút thuốc lá là trò vớ vẩn, ngu ngốc và tự làm hại bản thân thì rồi bạn rất dễ có cơ thành công lớn. Và nếu bạn cần đôi bàn tay bận bịu gì đó, thay vì ngậm tẩu hoặc mân mê điếu thuốc lá thì hãy thử tập… hí hoáy đan len chẳng hạn.