Cơn rùng mình vừa qua

Cảm giác vừa hơi run vừa vụt thoáng vui mừng vội.

Rùng mình được hiểu là trải nghiệm phấn khích tạm thời song cảm thấy rõ ràng về mặt cơ thể, thường trỏ vẻ xốn xang của lần đầu tiên.

Mỗi lần gió rét về, một lần xao xuyến khác. Cũng chẳng ớn lạnh giống nhau khi thân chủ đột ngột kết nối, liên lạc vào đêm hôm khuya khoắt.  Và nỗi niềm nhìn thấy khuôn mặt dân quê ra phố bán hàng dịp Tết chẳng thể nào khắc tạc vội vàng.

Cái buổi mai hôm ấy. Đôi chân lần đầu bước vào giảng đường đại học. Chiều nghe tiếng chuông gióng vọng về mơ hồ vì đang lỗi nhịp. Ngồi trên xe máy là liều mạng đổ đèo Hải Vân luôn. Bị điện giật khi trên đường đi tắm biển về; cận tử nghiệm…

Đừng hỏi về trạng thái mong đợi và hụt hẫng sau đó, đừng lo chuyện liệu lặp lại hay không, chớ dự đoán khả năng cuộc đời sắp sang trang rẽ ngã.

Công việc chuyên môn đích thực thì chẳng liên quan chi lắm đến sự rùng mình; nó là chuyện hiện diện và làm việc, nhằm tiếp nối biểu diễn thêm những gì đã tạo tác thuở nào chưa xa xôi lắm.

Rùng mình quả là tốt lành, vì nó nhắc nhở và bảo bọc ta. Nội dung bộc lộ thì còn quan yếu hơn thế nhiều.

Giơ tay rồi ngồi nhìn vào mắt nhau: trông thấy điều lo lắng không cân xứng

Vì người cười không khóc, lòng buông cùng cỏ cây...
Vì người cười không khóc, lòng buông cùng cỏ cây…

Thật cảm động khi có cơ hội ngồi đối diện nhìn vào mắt nhau; chắc càng tuyệt, nếu giơ thêm bàn tay vệ sinh sạch sẽ trước vấn nạn biến đổi khí hậu toàn cầu. Nghiên cứu cho thấy, chỉ cần 4 phút tiếp xúc mắt liên tục sẽ làm tăng thêm sự thân mật, thậm chí, có thể xảy ra chuyện khiến kẻ lạ phải lòng nữa. Vâng, thường thì tuổi trẻ vốn có xu hướng lãng mạn và không ngại ngần tiến hành cách mạng đủ mọi loại thứ trên đời.

Bọn ta *nên* lo lắng điều gì? (Lo lắng vì chẳng phải ai khác, chính chúng mình góp phần tạo dựng tương lai).

E chừng ấy là nỗi sợ hãi không cân xứng: sự thiếu nhất quán giữa trạng thái khách quan của khoa học với sự khinh rẻ của đám đông to mồm đó đây. Nguồn cơn khởi phát dễ tìm thấy khi cân nhắc điểm khác biệt căn bản giữa hai ‘thế giới’.

Một là thế giới của các ý tưởng mang nội dung khách quan, đặc thù khoa học như khối kiến thức gồm các lý thuyết khả thể và đích thực, sự đúng đắn hoặc có thể sai của chúng, tính có thể bác bỏ, các trắc nghiệm chấp nhận hoặc thất bại, các khẳng định tin cậy hoặc chẳng thuyết phục, các mục tiêu thỏa mãn hoặc không trả lời nổi, sự triển khai bằng chứng cốt lõi, thành tựu tiến bộ đạt được. Khoa học theo Darwin chẳng hạn, giữ vị thế cao trong thế giới này với kiến thức khách quan tựa như ‘ý tưởng duy nhất hay ho chưa từng ai sở hữu’, và chắc hẳn độc sáng trong lịch sử khoa học; tưởng chừng không thể bị thay thế, sinh học sẽ là mãi mãi theo kiểu Darwinian, vì sự chọn lọc tự nhiên có vẻ là cơ chế duy nhất thực hiện thiết kế mà không có nhà thiết kế. Và hiểu biết Darwinian về bản chất con người là sự ứng dụng trực diện với tuệ giác căn bản đó. Nỗ lực nghiêm cẩn đầu tiên khoa học vì bản thân chúng ta…

Thế giới khác là thế giới chủ quan của các trạng thái tinh thần, của con người và xã hội: suy nghĩ, niềm tin, tri giác, cảm xúc, tình cảm, hy vọng, hoài bão.

Lưu ý sự phân biệt này, chúng ta có thể ghi nhận hết sức chính xác sự mất cân đối, không tương xứng và tại sao nó lại gây lo lắng đến thế.

Nói chung, sự tiếp nhận của công luận về một lý thuyết khoa học tán thành do và đa phần nhất trí bởi việc đánh giá thế giới khách quan của các ý tưởng. Tuy nhiên, nó không giống trường hợp hiểu biết khoa học về bản chất tiến hóa của nhân loại và vượt trên tất cả, các bản chất giữa giống đực và giống cái, đàn ông và đàn bà. Nếu các tranh cãi về khoa học tiến hóa của bản chất người được thực hiện trong thế giới của các ý tưởng mang nội dung khách quan, sẽ không có cạnh tranh; lý thuyết tiến hóa sẽ thắng thật dễ dàng. Song, như một sự kiện xã hội học, giữa thị trường công khai thì khả năng nó sẽ thất bại thảm hại trước những chỉ trích om sòm.

Bằng cách nào ư? Vì trong một sự đảo chiều hoàn toàn của quan hệ khách quan giữa khoa học với những chỉ trích như thế, tất cả mọi sự bất tương xứng, không cân đối đều lật ngược. Thứ nhất, sức nặng của ‘chứng cứ’, sức nặng của lập luận được chuyển di từ những chỉ trích vào thành khoa học, nó là chủ nghĩa Darwinism vốn chờ xét xử. Các thái độ chống Darwin không buộc phải tự phòng thủ, họ được chấp nhận khỏi bị phê phán, các tiêu chí đánh giá về các quan điểm này gồm tất thảy sự sẵn sàng tín nhiệm và ngờ vực tuyệt không chút tin tưởng. Thứ đến, thêm sự sỉ nhục gây tổn thương, một trạng thái quá thừa thãi các đồ thay thế tạo tác tại gia dùng làm trò ảo thuật đặng lấp đầy khoảng cách với cái khoa học nên là. Dạng khoa học bản- thân- tự- làm- lấy này bao gồm những tuyên bố dựa trên phương pháp giả tạo vốn chỉ là tên gọi mà thôi; sự ‘vướng mắc’ không thể thay đổi giữa tự nhiên và nuôi dưỡng nhằm nêu lên bản chất đố mà hiểu thấu rốt ráo do đó, cởi bỏ ‘bản chất tinh tuyền’ để được thảo luận đầy đủ chi tiết, một kỵ sĩ không thèm đôi co với bằng chứng thực nghiệm khó khăn mới chiến thắng nổi, dù sở hữu thiên hướng động não giỏi giang; tiềm năng ma mãnh của ‘tạo mẫu rập khuôn’ và ‘các mô hình vai trò’; một quyền lực bất chấp logic để dựng lên những điều bí hiểm trong tâm lý của cái rỗng không, như trong ‘xã hội hóa’ và ‘trao quyền’; gán ghép các cơ chế mà thậm chí không mấy tin tưởng: làm nhiều việc cùng lúc, lòng tự trọng, đe dọa rập khuôn; những phàn nàn về ‘sự việc gây tranh cãi’ và ‘có dụng ý, động cơ’ tựa như khoa học xã hội đích thực nhưng thực sự thì giả dối về mặt khoa học. Chính sách thoát- ly- khoa- học kiểu như thế là do vận động hành lang, được gán cho giả thuyết ‘định kiến và rào cản’ và một sự chối bỏ tiền nghiệm về khoa học của những khác biệt giới tính chẳng hạn.

Sự rối rắm này coi thường giá trị khoa học, song nó lại không hề bị đối xử như ý kiến đối lập với khoa học; trái lại, về mặt tâm lý và xã hội học, nó có một tiếng nói cực kỳ ảnh hưởng và gây tác động mạnh mẽ hơn địa vị khách quan được đảm bảo của chính nó.

Bi hài và thực trạng gì thì chí ít nó đang hiện diện. Song, dưới quan điểm dài hạn, vô tư của bản chất con người như sản phẩm của công trình chọn lọc tự nhiên, một viễn cảnh rộng lớn hơn đang mở ra. Và điều đó gây ấn tượng cho chúng ta về đặc ân được sống trong thời điểm của các giá trị Phục hưng, phương thức hiếm hoi, cục bộ, các giá trị gần đây trong lịch sử hai triệu năm cũng như đấy là các giá trị thuộc bản chất của giống loài chúng ta sẽ tiếp tục được bồi dưỡng. Đóng góp của Darwin trong sự hiểu biết của chúng ta về chính bản thân mình là điển hình cho tiến bộ nhân loại, một lý tưởng thần kỳ không chỉ của khoa học mà cả dí sản văn hóa rộng lớn hơn là các tư tưởng Phục hưng.

Hiểu biết sự phân biệt giữa tính khách quan tự trị của thế giới các ý tưởng và trạng thái hết sức khác của tâm lý và xã hội, chúng ta có thể lượng định giá trị đích thực của khoa học. Và khi ghi nhớ nằm lòng viễn tượng sâu xa ấy, chúng ta sẽ ít lo lắng hẳn đi về những nỗi sợ hãi thiếu cân đối, không tương xứng này.

Hiểu biết về nỗi đớn đau rã rời và ứ tràn cảm xúc

Đôi khi, người ta cảm thấy không còn mấy chút hào hứng với việc nỗ lực học hỏi, và họ cũng cảm giác trống rỗng tương tự trong các cuộc thảo luận, chuyện trò liên quan đến tình cảm. Để giải quyết nỗi niềm đớn đau ẩn hiện, họ có thể sử dụng chiến lược cách ly hoặc ngủ rũ về mặt cảm xúc.

Có người thì thường xuyên cảm thấy nhu cầu thôi thúc bản thân về nỗi đớn đau này bằng cách tưởng tượng mình trong một tình huống khốn cùng (ví dụ, một cuộc chia tay buốt xé, lời tâm sự thốt lên trước lúc chết, v.v…). Khó ‘thỏa mãn’ bình thường cho đến khi khóc lóc chẳng kiểm soát được, với cơn nhói đau nơi ngực rồi ngủ thiếp đi; chỉ thấy đỡ hơn hẳn sau khi thức dậy…

Khá nhiều lý thuyết tâm lý học liên quan với vấn đề nêu trên. Nhà trị liệu theo cách tiếp cận phân tâm hoặc động năng tâm lý sẽ lý thuyết hóa rằng các xung đột nội tâm lý giải nhu cầu trải nghiệm nỗi đau cảm xúc. Từ viễn tượng tâm lý ấy, khi nhận ra chính mình dấn thân vào các hành vi mang tính phá hoại bản ngã và cơ chừng vô mục đích nghĩa là chúng ta đang muốn dứt khỏi ký ức hoặc một trạng thái cảm xúc.

Nói khác, ước ao cảm thấy đau đớn cảm xúc có thể phản ánh vô thức mình nỗ lực tạo nên sự ‘chuộc tội’ về mặt tâm lý cho các hành động, xung năng hoặc tình cảm vốn khó khăn để thấy ra hoặc chấp nhận trên bình diện ý thức. Cơ chế phòng vệ này gọi là ‘phá hủy, tháo khoán’ (undoing) hướng tới hành động trong những cách đối lập với hướng mình cảm nhận ở bình diện vô thức thẳm sâu. Có lẽ phần nào cảm thấy tội lỗi, tỷ như việc muốn sống đời vui vẻ, đến độ mình thực ‘hủy xóa’ ước ao hạnh phúc này thông qua chuyện thay thế bằng các trạng thái cảm xúc khổ sở. Nghĩa là, mình dễ tự trừng phạt chính mình một cách vô thức nhằm ngăn ngừa các cảm xúc hạnh phúc ‘không thể chấp nhận nổi’ khởi lên bề mặt.

Nhà trị liệu dùng khung tham chiếu nhận thức- hành vi sẽ giải thích não trạng và các hành động khác hẳn. Lối tiếp cận này cho rằng các nguyên nhân gốc rễ của nhiều rối loạn hành vi và cảm xúc vốn bắt nguồn từ niềm tin về bản thân chúng ta, về thế giới, và về tương lai. Bên dưới hành vi, chẳng hạn, có thể là niềm tin căn cốt ‘Tôi tồi tệ và tôi đáng bị trừng phạt’.

Một nhà trị liệu nhận thức sẽ trợ giúp trong việc định dạng, và thay đổi hệ thống niềm tin góp phần hình thành nhu cầu đớn đau về mặt cảm xúc. Nhà trị liệu có thể giúp thân chủ nhận ra các nỗi sợ liên quan tới hành vi hủy hoại bản thân. Nếu các niềm tin nằm bên dưới là nguyên nhân khiến mình ngại ngần rời bỏ niềm vui và hạnh phúc chẳng hạn, nhà trị liệu sẽ giúp khớp khít với các nỗi sợ, khám phá nguồn gốc của chúng, rồi tái cấu trúc những niềm tin và suy tư liên quan đến nỗi sợ làm mình bị tắc ứ.

Một nhà trị liệu cần làm việc sát hợp với thân chủ nhằm xác quyết các gốc rễ trong nhu cầu đớn đau về mặt cảm xúc. Trước hết, nhà trị liệu sẽ muốn hiểu điều gì đem lại khoái sướng nhờ lui tới với các trạng thái đớn đau về mặt cảm xúc. Liệu tự thân trạng thái đớn đau cảm xúc đem lại niềm vui hoặc đúng ra là sự phóng thích về mặt tâm lý nhờ khóc lóc? Cảm thấy lo lắng khi tiếp nhận tâm trạng đớn đau về mặt cảm xúc, hay ngược hẳn lại, cảm thấy lo lắng nếu mình bị ngăn chặn không tiếp cận được các tâm trạng nêu trên? Một nhà trị liệu từng trải chắc sẽ dành thời gian đánh giá thân chủ và tình huống của thân chủ nhằm tích lũy thêm hiểu biết sáng rõ khía cạnh tâm lý của thân chủ. Nhờ làm thế, nhà trị liệu sẽ thêm khả năng trị liệu thân chủ và vấn đề như thân chủ mô tả. Tìm kiếm nhà trị liệu phù hợp và thoải mái giúp mình cảm thấy nhiều kết nối hơn về mặt cảm xúc và phóng thích tối đa các gánh nặng tâm lý.

Lại có thân chủ lớn lên với một người cha nghiện rượu, tuy không lạm dụng thể lý song lại hành hạ bằng lời nói; ngay từ bé, thân chủ đã ước mình bị hiếp: không phải để vui sướng mà có lẽ vì quá buồn đau. Quen nghĩ tới các kịch bản về một đời sống gia đình khốn khổ hơn, vì thân chủ cảm thấy mình không đủ xấu xa, và muốn một điều gì đó đáng để rơi lệ…

Thường chúng ta khá ngờ vực bất kỳ ai có ‘nhu cầu’ đau đớn về mặt cảm xúc, và với nhiều người, đó là nơi chốn thoải mái. Thiên hạ hay kiếm tìm các tình huống tương tự đời sống của họ, bất luận tính chất lành mạnh hay không. Điều này có vẻ là những gì đang diễn ra với thân chủ nhắc trên; nghe như người ấy đang cưỡi trên một cơn bão cảm xúc, hoặc có thể nghĩ, đang kiếm tìm các hỗn độn cảm xúc. Hỗn độn cảm xúc xảy đến khi có một rối loạn toàn diện và rối rắm trong mớ cảm xúc ứ tràn. Người trải nghiệm điều này không chắc về cách mình cảm nhận, khả năng vì có các xung đột cảm xúc và sự ghi nhận về việc mất kiểm soát. Với đống cảm xúc cuộn xoáy bao quanh, cơ thể họ dễ rơi vào trạng thái phấn khích cao độ về mặt sinh lý. Sau khi quen sống với trạng thái hỗn độn cảm xúc thế, nhiều người chạm tới điểm cảm thấy tốt lành. Họ khởi sự vui thú với kịch tính và dần tin rằng sống trong trạng thái bình lặng là quá kỳ cục và chán chường. Do vậy, bất chấp những điều tốt lành trong đời, họ kiếm tìm sự chao đảo để mong quay về trạng thái thoải mái.

Có rất nhiều cách dẫn tới việc người ta chao đảo về mặt cảm xúc, và chuyện sống với kẻ nghiện ngập, nhất là đối tượng lạm dụng, khá sát gần đỉnh điểm đang bàn. Nghiện rượu là thứ tật kinh khiếp do lắm lý do, chứ không đơn giản là những phá hoại và tổn thương nó gây ra cho các thành viên trong gia đình.

Trẻ em sống trạng thái căng thẳng quá mức đến độ chúng có thể cảm nhận nguy hiểm và chúng lựa chọn hoặc trốn tránh hoặc đánh lạc hướng. Trẻ thường xuyên cảm thấy tức giận với bố mẹ nghiện ngập của mình song bởi vì bộc lộ sự tức giận thì không an toàn nên chúng buộc phải che giấu các cảm xúc bản thân và làm bất cứ điều gì cần thiết để sống còn. Chưa nói, trong khi con cái các bố mẹ nghiện ngập thường yêu quý bố mẹ mình, chúng không biết làm cách nào để cân bằng cảm xúc đó với sự tức giận, đau buồn và sợ hãi. Kết cục, có nhiều cảm xúc xung đột, chúng quen sống trong trạng thái sinh lý tăng cao, và ít khả năng kiểm soát; nói ngắn, chúng sống trong sự chao đảo về mặt cảm xúc.

Khi thân chủ tự hỏi đang diễn ra điều gì sai trái, nhà trị liệu đoán rằng thân chủ muốn thay đổi. Điều này có thể thực hiện tốt, nhất là nếu mình có sự trợ giúp của người làm chuyên môn được đào tạo bài bản về nghiện ngập và các hệ thống gia đình. Nhà trị liệu hầu như sẽ giúp thân chủ học hỏi cách điều chỉnh tốt hơn các cảm xúc bản thân, đặt để các ranh giới liên nhân cách, và thiết lập cảm nhận kiểm soát đời mình. Khi lốc xoáy của cơn bão cảm xúc ngừng bặt, thân chủ có thể khám phá ra rằng trạng thái ‘buồn chán’ không nhất thiết là phương thức chung sống tồi tệ.

Chối bỏ như một cơ chế phòng vệ

Với người nhiễu tâm (neurotics), chối bỏ (denial) là cơ chế phòng vệ vô thức bảo bọc họ chống lại trải nghiệm đớn đau không chịu đựng nổi. Với kẻ bị loạn tâm (disorderded), những gì chúng ta quen ghi nhận như các cơ chế phòng vệ vô thức (chối bỏ chẳng hạn) thường là các sách lược có tính toán nhằm khôn khéo tạo ấn tượng, diễn trò, và lảnh tránh trách nhiệm.

Dạng nhiễu tâm dùng nhiều thứ cơ chế nội tâm đặng chống giữ, che chắn trước trải nghiệm nỗi đau cảm xúc và làm khuây khỏa lo âu. Hầu hết mọi người nghe nói về các ‘cơ chế phòng vệ’ cơ bản này. Đấy là các công cụ *vô thức*, dù quyền năng song tỏ ra không thích đáng hoặc không luôn luôn cực kỳ lành mạnh tựa các cách thức giảm bớt nỗi đau cảm xúc. Các ‘triệu chứng” mà cá nhân kẻ loạn tâm khiến nhà trị liệu chú ý là kết quả lo âu sót lại hoặc nỗi đau cảm xúc vẫn còn đó sau việc dùng chẳng mấy hiệu quả một hoặc nhiều các ‘cơ chế phòng vệ’ đặc thù. Vào những dịp khác, một người dễ nhờ cậy trợ giúp bởi vì ‘các phòng vệ’ dần tăng thêm sự thiếu thích ứng hoặc bắt đầu bẻ gãy, để mặc nỗi đau cảm xúc ẩn bên dưới chúng nổi lên bề mặt.

Các tính cách loạn tâm dấn thân vào một số hành vi quá ‘tự động’ đến độ gợi ý nghĩ thực hiện chúng hoàn toàn vô thức. Thoạt nhìn, các hành vi này giống với các cơ chế phòng vệ và dễ diễn giải thành như thế, nhất là bởi các cá nhân bị ngâm quá mức trong các hệ hình truyền thống. Tuy vậy, xem xét kỹ càng hơn, các hành vi này chính xác ra phải được gọi tên là những sách lược diễn trò, mánh lới gây ấn tượng và chống kháng trách nhiệm.

Lấy ví dụ về một người phụ nữ kết hôn và sống cùng chồng 40 năm nay, và bà vừa đưa ông vào bệnh viện vì trong khi họ làm việc ngoài vườn thì ông ấy chợt nói năng khó khăn rồi trông có vẻ kiệt quệ. Các bác sĩ chẩn đoán chồng bà bị đột quỵ, giờ não đã chết và sẽ không hồi phục được. Dẫu thế, mỗi ngày bà vẫn vào bên cạnh giường ông, nắm tay và trò chuyện. Các điều dưỡng bảo ông không thể nghe thấy song bà vẫn nói với ông hàng ngày. Các bác sĩ bảo ông không hồi phục được song bà thì tự nhủ với bản thân rằng ‘tôi biết ông ấy sẽ qua khỏi, ông ấy là một người đàn ông mạnh mẽ’. Người phụ nữ này đang ở trong một trạng thái tâm lý lạ lùng: trạng thái chối bỏ. Bà rất khó khăn để tin những gì diễn ra. Mới đây thôi, bà còn ở ngoài vườn cùng ông, thích thú bên nhau làm công việc ưa thích. Trước hôm xảy đến sự cố một ngày, họ cùng nhau đến thăm gia đình một người bạn. Ông ấy cơ chừng toát lên nét vẻ thật hạnh phúc và khỏe mạnh. Ông ấy không đau ốm gì lắm khi bà đưa vào bệnh viện. Thế mà, trong chớp mắt thôi, họ đang nói rằng ông sắp chết. Nỗi đớn đau thấm đẫm cảm xúc này bà chưa từng phải chịu đựng. Bà không sẵn sàng chấp nhận việc người đàn ông đầu ấp tay gối suốt 40 năm qua sẽ không về cùng nhà với bà nữa. Bà không chuẩn bị tinh thần cho việc sống cuộc đời vắng bóng hình ông. Vì vậy, tâm trí vô thức cung cấp một phòng vệ hiệu quả (hầu như tạm thời) để bà chống lại nỗi đớn đau. Rồi dần mai một, khi bà đủ khả năng chấp nhận thực tế phiền não, sự chối bỏ của bà bị bẻ gãy, lúc ấy, nỗi đau bấy lâu tích chứa phun trào và bà sẽ xót buốt cõi lòng ghê gớm.

Một ví dụ khác về cái gọi là ‘chối bỏ’. Nam (tên giả), quen bắt nạt trên lớp, đi dạo với một trong các bạn học không nghi ngờ gì rồi tiến hành giật tung cặp sách bạn đang cầm, đá tung tóe sách vở khắp nơi dưới sàn nhà. Đúng lúc đó, giám thị hành lang bắt gặp nên nghiêm nghị hét lên “Nam!”. Cậu bé mở rộng vòng tay, làm cử chỉ ngạc nhiên và biểu tỏ vẻ mặt ngây thơ vô tội “Cô gọi gì em ạ?”. Liệu Nam đang sống một tâm trạng khác? Trạng thái thay thế này có thể giúp cậu chịu đựng nỗi đau cảm xúc? Nam không thực sự hiểu chuyện gì vừa diễn ra hay cậu ta nghĩ rằng mình nào có làm điều gì đâu cơ chứ? Cậu ta quá héo hon vì tội lỗi và/ hoặc tủi hổ vì điều mình gây ra đến độ cậu đơn giản không thể tin nổi mình thực sự đã làm chuyện khủng khiếp? Khả năng câu trả lời là Không. Nam chắc chắn quan tâm nhiều tới chuyện cậu ta có thể bị trừng phạt, kèm với lời thông báo tới bố mẹ, và thậm chí có thể bị đình chỉ học tập. Nên cậu chuẩn bị thử một chiến lược dài hơi. Cậu sẽ làm hết sức để vị nữ giám thị tin rằng không thực sự thấy những gì đôi mắt mình đã ghi nhận. Sảnh đường đông nghẹt. Có thể là ai đó khác chăng. Có thể hành động ấy chỉ là ‘tình cờ’. Nếu cậu ta thể hiện vừa đủ vẻ ngạc nhiên, ngây thơ, và sự phẫn nộ chính đáng thì biết đâu chừng, đúng là biết đâu đấy, cô giáo sẽ bắt đầu tự nghi ngờ bản thân. Cậu bé hy vọng, không giống mình, cô giáo có thể là dạng nhiễu tâm (chẳng hạn, mang lương tâm thái quá và cảm giác cực đoan về tội lỗi hoặc tủi hổ) để nghĩ rằng cô giáo có thể đánh giá nhầm tình huống, có thể cô giáo thậm chí tự mắng mỏ bản thân vì vội vàng quy kết hoặc dễ góp phần gây nên một nỗi đau cảm xúc. Sách lược này từng được việc rồi, có thể nó sẽ lại tiếp tục được việc lần nữa.

Ví dụ vừa nêu dựa vào một trường hợp có thật. Đáng lưu ý, khi ‘Nam’ nhận ra cậu ta không thể diễn trò với giám thị hành lang, cậu bất đắc dĩ ngừng việc chối bỏ và nói rằng, ‘Vâng, có thể em làm thế thật song cô giáo giám thị đã tin chắc vậy vì cô ấy luôn nói xấu về em’. Nam đang dùng một số chiêu thức khác để diễn tiếp trò sắp đặt, dẫn dắt và tạo mánh khóe gây ấn tượng; điều quan trọng nhất cần nhận ra là không giống với những gì xảy ra trong trường hợp chối bỏ tâm lý đích thực như một cơ chế phòng vệ, vụ của Nam không cho thấy nỗi thống khổ được biểu lộ và thể hiện buồn thương khi sự chối bỏ kết thúc. Lý do đơn giản là tự bản thân Nam chưa bao giờ ‘chối bỏ’ (trạng thái tâm lý). Cậu ta chỉ đang nói dối thôi, và dần cậu ta ngừng việc nói dối vì chuyện đó chẳng dẫn cậu ta đến đâu cả. Cậu ta chuyển từ việc nói dối sang xin lỗi và hành hạ nạn nhân cũng là các chiêu trò dẫn dắt và mánh khóe gây ấn tượng hiệu quả.

Không thể nhấn mạnh đủ rằng ‘chối bỏ’ của người phụ nữ lớn tuổi bất hạnh thì không giống với sự ‘chối bỏ’ của cậu bé bắt nạt bạn học tên Nam. Một là cơ chế phòng vệ, một thuộc chiêu trò dẫn dắt và lảng tránh trách nhiệm; một là cơ chế vô thức bảo bọc người ta khỏi nỗi đau khổ cảm xúc sâu thẳm, một là lời nói dối được tính toán và cân nhắc rõ ràng.

Tuy thế, thực tế nhiều vị dùng cùng thuật ngữ để mô tả các hành vi rất khác hẳn nhau này. Ít nhiều cảm thấy khó chịu khi ngay cả người hành nghề chăm sóc sức khỏe còn xem là chỉ có mỗi một dạng chối bỏ và họ thường giả định rằng hễ cứ nhắc tới chối bỏ thì bó nó vào mớ cơ chế phòng vệ phức tạp. Nghe họ nói về thân chủ cứ ngoan cố ‘phòng vệ’ thuộc hành vi có vấn đề này khác khi thực chất, họ đang mô tả thân chủ còn tiếp tục ‘nói dối và trình diễn’ như phần của trò chơi bày đặt gây ấn tượng và lảng tránh trách nhiệm. Lần nữa, ‘chối bỏ’ e là một trong các thuật ngữ sức khỏe tâm thần dễ bị dùng sai.

Thấy gì qua huyền thoại ‘nhà tâm lý có thể đọc vị tâm trí kẻ khác’?

Chưa cần tốt nghiệp rồi vừa không ngừng bổ túc kiến thức lẫn kỹ năng vừa mò mẫm hành nghề, chỉ mới gặp mặt hoặc nghe nói mình học Tâm lý thôi là có vẻ dễ khiến thiên hạ hay bạn bè quen biết nghĩ ta thừa sức xem tướng, coi bói, rành chuyện này chuyện nọ hay giỏi đến mức đọc vị được tâm trí họ.

Các bình phẩm suýt xoa thường kiểu ‘Nè, nói chuyện cẩn thận nghe, vì nhà tâm lý học ở đây có thể đoán biết những gì bọn mình suy nghĩ đó’. Khởi sự ấy có thể là tấm lòng thán phục chân thành hoặc lời đùa tếu vô tư; rằng nhiều người nghĩ làm một nhà tâm lý học thì sở hữu quyền năng ghê gớm: dễ dàng khám phá những gì kẻ khác che giấu. Tin tắp lự (đáng ngờ vực vô cùng) là người này có khả năng mở cái đầu ta và nhìn thấy những gì nằm trong đó.

Điều ấy không chỉ là niềm tin sai lầm duy nhất từng nghe về công việc tâm lý học. Còn nhiều nhiều vô kể. Chúng gây phấn khích đến độ đủ khiến ta một ngày muốn nhặt nhạnh rồi đặt cái tên: những trò mèo tâm lý; dù lắm lúc dùng giải lao, buồn cười vui vẻ phết song đôi khi trở thành vấn đề quan ngại thực sự.

Chẳng hạn, nghĩ tới cách một thân chủ cảm nhận khi anh ta tiếp cận tham vấn tâm lý và nghĩ về nhà trị liệu như thể vị này đã biết tuốt các suy tư của mình đến độ không cần thiết dành nhiều thời gian kể lể, mô tả cảm xúc bản thân: ‘Quái lạ, nhà tâm lý này cứ hỏi đi rồi hỏi lại mãi. Tại sao? Chẳng phải ông này biết mọi thứ chỉ đơn giản nhìn vào mình thôi mà? Có lẽ tay nghề ông này không giỏi lắm, hoặc có thể đây chưa là dạng trị liệu xịn, hoặc tự thân cái môn tâm lý học e có vấn đề chăng! Đúng thế, tâm lý học đích thực đồ đểu giả; chỉ tổ làm tốn thời gian và tiền bạc!’

Nghiêm túc mà nói, rất quan trọng việc cần có ý tưởng thực tế những gì người ta có thể và không thể mong đợi khi làm việc với một nhà tâm lý, và đôi khi có thể bảo vệ họ khỏi cảm giác bị lừa dối. Vì vậy, phải nói to lên và rõ ràng (nếu ai đó cảm thấy quá thẳng thừng thì mong được cảm thông) rằng nếu nghĩ một nhà tâm lý biết mỗi một suy nghĩ của mình chỉ nhờ quan sát thì ta đã sai.

Làm thế nào những trò mèo tâm lý này lại có thể khởi lên rồi lớn nhanh dễ dàng đến thế? Chúng không thể sinh ra từ sự rỗng không. Hãy thử gắng tưởng tượng xem chúng từ đâu tới. Khi trò mèo về ‘nhà tâm lý thấu thị’, khả năng cao giữ vai trò lý giải ở đây là khái niệm “vô thức” (unconscious). Nhờ Freud nghiên cứu, hầu hết người làm tâm lý biết ý nghĩa của từ đó; bất chấp vài khác biệt giữa các trường phái phân tâm học, tất cả đều tán đồng rằng nó là điều trong tâm trí mà chúng ta không nhận ra được. Freud làm việc dựa trên khái niệm này; ông nghĩ một bệnh nhân có thể cải thiện sức khỏe tâm lý nhờ dần nhận biết nền tảng vô thức trong các cảm xúc của bản thân. Vậy nên ông đặt để điều ấy như là mục tiêu trị liệu và gắng giúp các bệnh nhân của mình nhìn thấy những gì nằm bên dưới bề mặt đời sống ý thức. Đấy là điều nhà phân tâm học vẫn còn làm việc cho tới ngày nay.

Chẳng nghi ngờ chuyện một người không làm tâm lý phát hiện bao điều huyền bí ở đây. Được giúp đỡ để nhìn ra điều nằm sẵn trong tâm trí mình dù nó vốn chẳng hề rành mạch gì thì nghe ra như sự bói toán vậy. Và người ta dễ nghĩ những ai có thể giải mã cảm xúc của họ giỏi đến thế khác chi thầy phù thủy có phép lạ. Kỳ thực, không bí hiểm gì cho cam; nó đơn giản là vấn đề của kỹ năng.

Các kiểu dạng công việc thảy đều cần những kỹ năng chuyên biệt. Một thợ may áo quần giỏi việc ướm đo, chọn vải, cắt và ráp vá.  Anh ta sẽ cho điều ấy là tự nhiên và không hề nghĩ rằng việc may vá là chuyện gì to tát lắm, dù với không ít cánh đàn ông ấy thật bất khả vì họ không hề có kỹ năng.

Nhà tâm lý cũng cần các kỹ năng chuyên biệt. Công việc là trợ giúp và để trợ giúp, nhà tâm lý phải giỏi giang trong việc lắng nghe và thấu hiểu mọi người tốt hơn… thường dân. Do vậy sự thật kém lãng mạn hẳn đi: các nhà tâm lý học đơn giản tập trung chú ý vào những gì nghe được và nhìn thấy, và biết các lý thuyết có thể lý giải mọi chuyện liên quan. Lý thuyết và trải nghiệm giúp nhà tâm lý học lưu ý tới các chi tiết nhỏ nhặt mà hầu hết mọi người không hay nhìn ra và thậm chí còn thấy chúng thú vị, và nhà tâm lý giúp người ta nghĩ về những ý nghĩa bị giấu kín.

Song khoan, đợi chút nhé: nếu dừng tại đây, người ta chắc đúng khi tin rằng một người được đào tạo bài bản có thể đọc vị tâm trí họ. Người ta dễ phát biểu dạng: “Ồ, chỉ là do học hành chăm chỉ và nghiên cứu thấu đáo thôi ư? Nên kẻ không nhiều trải nghiệm thật khó, còn chuyên gia được đào tạo ngọn ngành thông tỏ có thể thực sự đọc được suy tư của mình chứ nhỉ.’

Anh ta không thể đâu. Điều giảng dạy cốt lõi trong đào tạo tâm lý là không có nhà tâm lý được đào tạo hoàn hảo nhất cũng như lý thuyết tốt nhất trên thế giới thì không thể chứng thực sai sót. Sự thật, kết quả tốt nhất một nhà tâm lý giỏi có thể thành tựu là chọn lựa nhiều đầu mối rồi tìm ra một cách lý giải cung cấp vài ý nghĩa liên quan nhất.  Song sẽ luôn luôn có điều gì đó không khít khớp, phù hợp.

Con người ta vốn phức tạp, phức tạp hơn lý thuyết nhiều, và mình phải luôn sẵn sàng thay đổi các giả thuyết của bản thân. Thử làm một bước tiến xa hơn: mình không thể đưa ra bất kỳ diễn giải nào có sẵn vì chẳng những con người phức tạp mà họ còn luôn tiến hóa, thay đổi rồi phát triển theo nhiều cách thức mới mẻ nữa. Ví von khi nghĩ về điều này là đừng ‘phải lòng’ bất kỳ chẩn đoán nào, ngay các chẩn đoán sát hợp và làm ta say mê ghê gớm. Một nhà tâm lý giỏi nhất thiết phải luôn giữ một không gian tự do trong lòng để anh ta có thể khai sinh các giả thuyết mới.

Lý do khác để mọi người có những niềm tin sai lầm về nhà tâm lý: các nguồn không luôn luôn đáng tin cậy. Nghĩ về cách các nhà tâm lý được mô tả trên phim ảnh và truyền hình nhiều tập thì tất rõ. Các nhà tâm lý là sự nhào trộn từ sự kiện và hư cấu; ngay cả khi lấy cảm hứng bởi công việc của một nhà tâm lý thực thì nhiều điều trong đó vẫn thừa yếu tố bịa đặt, dựng chuyện. Và mình thường quên mất một bộ phim là một bộ phim, và một bộ phim có thể không bao giờ mô tả thực tế đúng như nó là, chưa nói nhiều lúc gây phản cảm và buồn chán…

Hy vọng những câu từ trên thuyết phục ai còn mơ hồ, hoài nghi  và mong sẽ ngày càng ít đi người sẽ cảm thấy bị lột trần trước một nhà tâm lý.

Lời cuối. Chỉ nghĩ thôi sẽ buồn cười ngay chuyện có thể đoán biết trúng phóc tất cả các câu trả lời trong chương trình truyền hình Ai Là Triệu Phú nhỉ mà không phải đầu tư học hỏi, tích lũy kiến thức lẫn cóc cần ai trợ giúp téo tẹo gì cả.

Hạnh phúc lang thang như mây và tâm trí lêu bêu vô nghĩa lý…

Ca từ thoáng nhớ ra khá phù hợp với tin đưa về bảng xếp loại các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới thường niên năm 2015. Các tiêu chí đánh giá là thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ, quan hệ gia đình (có ai đó trông mong), tự do lựa chọn, tình trạng tham nhũng, và sự rộng lượng.

Nhóm tác giả của báo cáo cho biết, khát vọng chung được nuôi dưỡng bởi các thành viên; không chỉ tiền bạc mà còn nằm ở sự công bằng, chân thành, tin tưởng và sức khỏe tốt. Rằng người ta hạnh phúc hơn khi họ có thể dựa cậy vào gia đình, bạn bè và các thiết chế xã hội; cần khuyến khích các chính quyền khắp thế giới lắng nghe và đáp ứng bằng các chính sách ưu tiên cho trạng thái thân- tâm an lạc (well-being), đồng thời người ta cũng thấy quốc gia nào có tiềm lực xã hội và thiết chế vững vàng thì không chỉ trợ giúp tốt hơn trạng thái thân- tâm an lạc mà còn chóng thích nghi trước các khủng hoảng kinh tế- xã hội.

Lần nữa, rõ ràng chỉ số dính dáng hạnh phúc (happiness) thuộc phong cách Mỹ; theo tinh thần đã được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, việc theo đuổi và mưu cầu hạnh phúc là động lực phát triển niền kinh tế, cả phía khách hàng tiêu thụ lẫn nhà đầu tư. Và thực tế, nhiều người chúng ta nghĩ theo đuổi hạnh phúc là ý nghĩa sống ở đời dẫu cho nghiên cứu ngờ vực sự khôn ngoan đó.

Ý nghĩa thường được hiểu là điều gì vượt trên bản thân và hạnh phúc cá nhân của chúng ta; nó cột buộc vào điều rộng lớn so với chính mình: gia đình, quốc gia, nhân loại, sức khỏe hành tinh, kiến thức, trường trận hiểu biết con người, các tiêu chí nghệ thuật. Hạnh phúc là thuộc cảm giác tốt trong khi ý nghĩa khởi đi từ việc cống hiến cho tha nhân hoặc xã hội trong cách thức to lớn hơn. Nói chung, ý nghĩa ngang bằng với đức hạnh, trong khi hạnh phúc là những thứ người ta đạt được cái họ muốn có; nó là câu chuyện cho hơn là nhận.

Tuy vậy, tất cả mọi người muốn được sống thật hạnh phúc. Nghịch lý xoay quanh hạnh phúc, như xoay quanh Tỉnh thức, là nó quá dễ đánh lừa. Tâm lý gia Viktor Frankl, tác giả Logotherapy, từng viết rằng ‘hạnh phúc không thể theo đuổi được; nó phải sinh ra’; ông cũng ghi rõ là ‘mỗi một theo đuổi hạnh phúc sẽ gây cản trở hạnh phúc’.

Vấn đề được phát hiện là mọi người ‘đặt tầm quan trọng nhất’ để được hạnh phúc thì ít thưởng thức ‘các cảm xúc tích cực’ 50%, có 35% kém ‘thỏa mãn’ và khốn khổ bởi 75% do trầm cảm và 17% thiếu hụt ‘thân – tâm an lạc về mặt tâm lý’, so với người đặt các ưu tiên vượt trên hạnh phúc bản thân.

Nghiên cứu tìm thấy các nguy cơ sức khỏe khi thiếu vắng ý nghĩa ở người hạnh phúc thể hiện ở đáp ứng hệ thống miễn dịch tương tự những người đang phải vật lộn với các khắc nghiệt kéo dài như đau buồn vì mất mát người thân; kiểu như cơ thể họ chuẩn bị đối kháng với sự nhiễm khuẩn vậy. Một hệ thống miễn dịch trong trạng thái này do kéo dài giai đoạn dễ làm tăng lên nguy cơ mắc bệnh ung thư và tim mạch, vì cơ thể sẽ ở trong trạng thái không ngừng bị viêm nhiễm.

Thôi thúc ngắn hạn để đạt hạnh phúc sẽ tạo ngay kết quả: các đối tượng cố ý nhắm tới thông qua một bài tập thể dục tức thời để đạt giá trị vui sướng trong môi trường thực nghiệm, rồi lập tức hướng về một sự kiện tích cực như xem một bộ phim hài thường thưởng thức sự kiện tích cực kém hơn những ai hướng tới các giá trị khác.

Ý nghĩa, về phần nó, tương quan với khả năng cải tiến sự phục hồi là khả năng chịu va đập vượt qua các tai ương nghịch cảnh. Nghiên cứu gần đây chỉ ra tương quan bản ngã và sự siêu việt tâm linh xét từ khả năng phục hồi.

Sự khác biệt giữa việc theo đuổi hạnh phúc và theo đuổi ý nghĩa mang lại nhiều cuộc tranh luận triết học nảy lửa, góp phần định hình trạng thái văn minh hóa của Tây phương trải qua 2000 năm, về bản chất của đời sống tốt lành.

Nguồn gốc của khổ đau là do khát khao thèm muốn. Lưu ý, với Đức Phật, hạnh phúc không phải là vấn đề; thực tế, hạnh phúc (sukha) đối lập với khổ đau (dukkha), với tiền tố ‘su’ và ‘du’ mang nghĩa ‘tốt’ và ‘xấu’. Khao khát hạnh phúc là vấn đề, lý do tại sao hạnh phúc hầu như bất khả theo đuổi thành công, ngoại trừ khoảnh khắc phù du ngắn ngủi khi, như kết quả của hành hạ dằn vặt do đói khát, một nhu cầu được thỏa mãn tạm thời.

Một cách tuyệt đối, chúng ta bước vào con đường hướng tới Tỉnh Thức, cho chúng ta một ý nghĩa siêu việt mang tính chất sử thi anh hùng ca và dẫn đến sự hoàn hảo trong tính cách con người như vị tha đầy lý tưởng, từ bi, thanh thản và khôn ngoan.

Ngoài ra, trong khi suy nghĩ thông thường hay nhìn nhận đức hạnh và việc theo đuổi hạnh phúc cá nhân như cách thế đối lập thì quy luật nhân quả đối xử ngang bằng trạng thái thân- tâm an lạc cá nhân với sự diễn bày đức hạnh và siêu việt bản ngã. Bài học từ các nghiên cứu tâm lý không chỉ là hạnh phúc chẳng thể kiếm tìm, truy cầu một cách hiệu quả mà còn rằng việc sinh ra từ chuyện mưu cầu những gì ý nghĩa nhất vượt trên cái tôi. Đuổi theo ham muốn bản thân, bị dẫn dắt bởi tham lam, thù hận và vô minh là nghiệp xấu.

Qua kết quả nghiên cứu của đại học Harvard dựa trên ứng dụng Track Your Happiness với 2500 người trên toàn cầu nhằm hỏi những gì người ta nghĩ và làm vào khoảng rảnh dừng ngẫu nhiên, cho thấy tâm trí lêu bêu hầu như là trạng thái mặc định quen thuộc, chiếm khoảng 46,9% thời gian; không đáng ngạc nhiên chi khi người vui nhất là người làm tình, song nghiên cứu này nhấn mạnh một trong các lý do tại sao sex giá trị thế vì rằng tâm trí chúng ta đỡ lang thang hẳn khi làm chuyện ấy.

Một tâm trí lêu bêu là một tâm trí bất hạnh; hạnh phúc của một người ít phụ thuộc vào hoạt động mà nằm nhiều hơn ở mức độ tỉnh thức xuyên suốt hoạt động. Nói theo ý tác giả nghiên cứu Dan Gilbert, tâm trí lêu bêu dự báo vượt trội về hạnh phúc của người ta; tâm trí dễ dàng rời bỏ hiện tại biết bao và nơi chúng đến là chỉ báo khá tốt về hạnh phúc so với các hoạt động ta dấn mình vào.

Bất luận hão huyền và viễn vông ra sao, hạnh phúc cứ khởi sinh. Và vì thế, gợi ý của tâm lý gia Viktor Frankl thật đáng ghi nhớ trên hành trình kiếm tìm ý nghĩa đời sống: tạo ra một công việc hoặc tiến hành một hành động; trải nghiệm chuyện gì đó hoặc tình cờ gặp gỡ người khác; chọn lựa thái độ trước nỗi khổ niềm đau (suffering) không thể né tránh.

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Trạng thái bất mãn về giới: vẫn đầy phiền muộn và còn nhiều bỏ ngỏ…

Xem cái clip nhân Ngày Mồng Tám Tháng Ba thật thú vị và đầy ý nghĩa nhắc nhở nhiệm vụ bất khả chối từ.

“Bạn nghĩ mình là nam hay nữ?”
“Em nghĩ mình là nữ ạ”

“Điều gì định nghĩa một người phụ nữ?”
“Sự thông minh, sắc đẹp và sự nữ tính”

“Theo bạn ngày 8/3 Quốc tế phụ nữ có dành cho mình không? ”
“Có ạ”

“Tại sao?”
“Vì em được gia đình và người yêu ủng hộ, sống thật với giới tính của mình”

Những nỗi niềm như dưới đây tiếp tục khẳng định mọi sự không phải lúc nào cũng được ghi nhận, thỏa ý.

Em là gã đàn ông 34 tuổi đã lập gia đình và có một em bé rồi. Em từng có một bí mật là thích ăn mặc áo quần con gái hồi mới là nhóc con 5 tuổi; em nhớ mình cảm thấy thật tuyệt vời và sung sướng quá độ. Em tự trấn an rằng các cảm giác kiểu đó sẽ biến mất khi em lớn lên; khủng khiếp thay, các cảm xúc này lại phát triển thành ước ao là một người phụ nữ đích thực. Làm thế nào để em có thể cảm thấy giống như một người đàn ông bình thường? Việc này có cần điều trị gì không ạ?

Chia sẻ trên dễ gợi ý về cái mà giới chuyên môn trợ giúp gọi là sự không hài lòng, bất mãn, khó chịu về giới (gender dysphoria, GD). Thực tế, nhiều người vẫn bắt gặp các cảm giác vốn xuất hiện từ thời thơ ấu này; họ có thể thấy khá khổ sở, căng thẳng ghê gớm về mặt lâm sàng hoặc thiếu hụt trong nghề nghiệp, giao tiếp xã hội, các khía cạnh đời sống khác.

Hiểu cơ bản, lúc còn bé con, chúng ta thường nghe các nhóc nhiều lần thổ lộ ao ước mình là giới kia, hoặc thậm chí không ngừng tin tưởng mình đúng là như thế thật. Chúng hay mặc áo quần khác giới cũng như thích chơi trò, giữ vai tương ứng với giới kia; ngoài ra, các biểu tỏ còn có thể là sự chối bỏ mạnh mẽ các loại đồ chơi đặc thù hay trang phục dành riêng cho giới đó. Cũng có thể là sự ghét bỏ cơ thể và bộ phận sinh dục của chính mình. Khi bước vào giai đoạn vị thành niên, các triệu chứng này thể hiện thành ao ước là người thuộc giới kia, được đối xử như giới kia, và thậm chí sống ở ngoài thực như người thuộc giới kia; giai đoạn vốn phức tạp này sẽ làm cho trẻ như thế càng cảm thấy khổ sở thêm khi buộc phải đương đầu với các cảm giác và vấn đề bản dạng ấy. Cả người trưởng thành lẫn vị thành niên đều nảy sinh nhu cầu khát khao giải thoát mình khỏi các đặc trưng giới tính ban đầu và thứ phát rồi thường thêm đoan chắc rằng mình được sinh ra với giới tính sai lạc hẳn rồi. Ý nghĩ về chuyện mình cảm nhận về bản thân từ bên trong không hề sát khớp với cái nhìn bên ngoài có thể gây nên nỗi niềm đau đớn với không ít người; họ tìm đến sự khuây khỏa nhờ liệu pháp thay thế hormone (HRT), phẫu thuật và các thủ tục phức tạp nhằm thay đổi ngoại hình (tham khảo). Một số chỉ thấy thoải mái khi sống ngoài đời đúng như là người của giới kia, số khác thì thích tiếp tục với bản dạng giới tính đã được ấn định từ hồi mới chào đời.

Trạng thái bất mãn về giới từng được gọi là rối loạn bản dạng giới (Gender Identity Disorder, GID), có người thì quen dùng thuật ngữ là đối tượng chuyển đổi giới tính (transsexuals); hiện tại, có vẻ ‘những người không theo chuẩn về giới” (gender noncomforming) là thuật ngữ tốt hơn nhiều vì nó chỉ cho cả những ai không cảm thấy mình thuộc về bản dạng nam hay bản dạng nữ.

Nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới cho biết họ muốn mình ‘cảm nhận như một người đàn ông bình thường’ hoặc ‘cảm nhận như một phụ nữ bình thường’ tương thích với định hướng hoặc bản dạng giới họ từng được nuôi dưỡng. Tuy thế, mục tiêu của trị liệu không phải là thay đổi các ý nghĩ này mà bắt đầu trợ giúp người ấy quản lý ác các cảm xúc này tốt hơn. Trị liệu không nên nhắm vào việc mình nên cảm thấy hoặc hành động ‘như một người đàn ông” mà thay vào đó, giúp mình hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra cũng như hỗ trợ mình trong những lựa chọn mình ra quyết định (ví dụ, sống ngoài đời như một bản dạng giới đàn ông hoặc phụ nữ, hoặc có lẽ là giới tính lưng chừng, mơ hồ (‘genderqueer’). Tiếc thay, nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới bị trầm uất và lo âu khi cố gắng hoài giải và quản lý các cảm xúc kiểu thế. Đáng lưu ý, thường xuất hiện nguy cơ khá cao muốn tự sát với nhóm này. May mắn là hiện có rất nhiều tổ chức và nhóm hội sẵn sàng trợ giúp các bạn giải quyết các cảm xúc vướng mắc.

Các cá nhân chuyển giới có nhu cầu lớn lao cho những đổi thay về các khía cạnh xã hội, nghề nghiệp và luật pháp. Chắc chắn, vẫn còn định kiến dai dẳng và nặng nề liên quan với chuyện đang bàn, và bước chuyển thay đổi chẩn đoán từ GID sang GD là hướng đi đúng đắn. Tuy vậy, nếu không có các điều kiện ‘mang tính chẩn đoán’ thì lại dễ gây khó khăn cho những ai muốn tiếp cận dịch vụ chăm sóc ý tế khi họ cần thay đổi trong giao dịch về bảo hiểm, dù thực tế nó còn là câu chuyện chưa ngã ngũ.

Lời cuối. Bản dạng giới thì không phải là bản dạng tính dục (sexual idnetiy). Người gặp trạng thái bất mãn giới có thể ổn thỏa trong việc thích hoặc yêu người có cùng hoặc khác giới với họ. Với đa phần chúng ta không phải rơi vào trạng thái bất mãn giới, cần hiểu cả loạt vấn đề mà các bạn bất mãn giới phải đương đầu, giải quyết như dùng đại từ nhân xưng nào gọi mình, mang một cái tên không tương thích với giới của bản thân, quyết định vào phòng vệ sinh nào cảm thấy thoải mái hơn, điền đúng vào ô khi khai các mẫu đơn thư và giấy tờ, thủ tục hành chính thường nhật, v.v…

‘Giới tính theo quy chuẩn’ có thể quen được sử dụng để mô tả cách mình nhìn nhận và cảm thấy về bản thân và về hành vi của mình tương thích với bản dạng giới. Song không phải mọi người ai cũng đều được hưởng đặc quyền tưởng chừng đơn giản như vậy.

Vụt thấy khoảng tối thoáng qua của tâm lý học

Một người quen đến khám bệnh, bác sĩ cho cậu ta dùng một loại thuốc được dặn trước là có thể khiến hệ thống miễn dịch suy giảm rồi dần nhiễm virus lây lan. Không có chuyện đùa tếu gì ở đây cả. Bác sĩ giải thích rằng thuốc ấy là thứ đầu tiên làm bệnh nhân dễ tổn thương và cơ thể anh ta sẽ có nhiều khả năng chống kháng các vi khuẩn trong tương lai khi hồi  phục căn bệnh. Một cơ chế phòng vệ tự động được kích hoạt nhằm chống lại sự lây nhiễm vi khuẩn.

Giống như đang đến điểm tập thể hình và luyện tập thật chăm chỉ. Mình sẽ cảm thấy khô họng, mỏi mệt rã rời vài ngày tới rồi các cơ bắp theo thời gian săn chắc hơn lên, tự điều chỉnh từ từ và sẽ càng có thêm khả năng nâng nhiều vật lớn nặng.

Đây chính xác tựa cách các bác sĩ tâm thần có khả năng chữa lành những rối rắm cũng như đưa ngược trở lại các chức năng thân- tâm an lạc.

Trong cuốn sách về tâm lý của sự thuyết phục, tác giả thảo luận về làm sao chúng ta có thể tạo đòn bẩy bằng các kỹ thuật tâm lý giúp khách hàng mua sản phẩm mình đang chào bán. Không chỉ dùng trong thương mại, các kỹ thuật ấy còn được sử dụng nhằm thuyết phục và gây ảnh hưởng cho bất kỳ sự đấu thầu hay mệnh lệnh nào chúng ta mong muốn.

Bộc lộ những sai lầm, khiếm khuyết

Một cách để giành được sự tin tưởng của tha nhân là thay vì thể hiện sức mạnh thì nên bộc lộ những sai lầm, khuyết thiếu. Khi mình có khả năng chấp nhận những lầm lạc và sai sót, người sẽ lập tức thoải mái với sự hiện diện của ta vì họ cảm thấy siêu việt hơn. Hầu hết mọi người ghen tỵ với những ai thành công hơn họ, đặc biệt với bạn bè thân thiết.

Nếu mình là nhân viên bán hàng, trước tiên nên luôn lộ ra các khiếm khuyết của sản phẩm nhằm giảm thấp sự phòng vệ của khách mua. Hầu hết nhân viên quá chăm chắm bán các ưu điểm của sản phẩm đến độ làm cho khách cảnh giác rằng nhân viên đang cố đi đến việc kết thúc cho nhanh chóng.

Luôn dành lời nói tốt đẹp về người khác

Đừng bao giờ nói xấu sau lưng. Ai đó đồn thổi với ta về những sai sót của kẻ khác thì chẳng mấy chốc, chính mình lại có thể trở thành đối tượng bị đồn thổi. Điều ấy sẽ thúc mình phòng vệ với kẻ này.

Mình nên luôn dành lời nói tốt đẹp về ai đó vắng mặt. Điều này khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi có mặt mình và sẽ tin mình vì họ biết mình dễ thương với phát ngôn tích cực. Nếu khó chịu với ai đó, mình phải đối chất ngay để khỏi giấu che sự bực bội.

Có qua có lại

Nếu cần một sự quý mến từ tha nhân, đầu tiên mình nên đề cao giá trị của họ. Tỷ dụ, đang trên tiến trình giới thiệu và rao bán sản phẩm thì mình uống nước. Ngay lập tức mình đưa một chai nước đóng sẵn khác với lời mời lịch sự, điều này sẽ nảy sinh nhu cầu qua lại khi khách cảm thấy mang ơn. Vì thế, lúc đề nghị thỏa thuận giá cả, họ sẽ cảm thấy nhu cầu đáp lại điều được nhận; làm tăng thêm xác suất họ lựa chọn mua hàng.

Vậy nếu cần sự ghi nhận quý mến, hãy thử cung cấp cho người ta trước tiên một giá trị nội tại mềm mại nhằm đào sâu nhu cầu có qua có lại về sau…

Sự kiểm chứng của xã hội

Khi số đông đang thể hiện một hoạt động đặc thù, nó tạo điều kiện cho chúng ta bước vào việc quyết định với một kịch bản soạn sẵn. Giả dụ mình đang làm việc tại một hội chợ khuyến mãi tưng bừng náo nhiệt và nhịp điệu diễn ra rất nhanh thì mình có thể chứng thực được cách thức làm sao tận dụng sự kiểm chứng về mặt xã hội để hưởng đặc ân. Công ty mình lo cài đặt các thiết bị âm thanh cho dân cư trong vùng, rồi không ngừng mở rộng và tăng cao thêm sự kiện là ngày càng có nhiều người đứng xếp hàng khi rất đông đang mua sản phẩm đặc biệt này.

Điều ấy thôi thúc khán giả đang nghe mình bước vào kịch bản tự động của việc quyết định mua ngay.

Trạng thái hiếm hoi

Dẫu có đông khách hàng, mình phải bảo họ rằng số lượng sản phẩm không dồi dào nhằm kích hoạt phản ứng lựa chọn mua hàng trong tâm trí họ. Biết sản phẩm sẽ loáng cái hết sạch, khách hàng sẽ không chần chừ ra quyết định đặt hàng. Với người đang lưỡng lự  hoặc phân vân xem thêm sản phẩm của đối tác cạnh tranh, sử dụng kỹ thuật này có thể khiến họ thay đổi dự tính.

Chẳng hạn, có thể bảo với khách hàng rằng công ty chỉ còn lô hàng cuối trong kho sẽ khiến khách hàng muốn vồ lấy.

Nối kết các điểm trên và mình sẽ cải tiến, hoàn thiện hơn mối quan hệ với bạn bè, người yêu cũng như thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Thực tế, không ai sẽ thiết tha gắn bó và yêu mến mình lắm nếu mối quan hệ quá dễ dàng đạt được. Cách tiếp cận lý tưởng là tạo cho tha nhân nhu cầu làm việc vì sự chu đáo, ân cần của mình. Như cách săn việc trong một công ty danh giá với vòng trong vòng ngoài đầy người để được lựa chọn. Thậm chí, nếu mức chi trả có ít ỏi và kém cỏi, sự bất hòa về mặt nhận thức sẽ xuất hiện và khiến chúng ta hợp lý hóa cách thức suy nghĩ rằng đây là cơ hội tuyệt vời, bởi vì mình phải tốn nhiều công sức và thi thố nên mới được vào.

Những biểu hiện khó ngờ của trạng thái trầm cảm (2)

Khi thuốc chống trầm cảm lại là nguyên nhân gây trầm cảm thì tỉnh thức (mindfulness) càng nên được dùng như một liệu pháp để làm giảm các triệu chứng liên quan ở môi trường học đường.

Tiếp theo sự khơi mào cơn tức giận hôm nọ, giờ chúng ta thử xem xét thế hệ trẻ ngày nay có thể học hỏi được gì từ rối loạn khá quen thuộc này.

Tôi muốn theo sát chủ đề vừa nêu bởi mới đây, một cậu bạn trẻ làm trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật bất chợt thổ lộ rằng chắc chàng ta cần uống thuốc trầm cảm mất thôi (antidepressant).

Song trước khi bàn đến thuốc, liệu có ai dám quả quyết là tinh thần lạc quan sẽ phá hủy tất cả chúng ta. Dĩ nhiên, trả lời ngắn gọn một cách nghiêm túc: không.

Chẳng phải chờ đến sáng nay để đọc bài trên NYT; suy nghĩ tích cực, như chỉ trích cho thấy, kế thừa lịch sử dài lâu, đặc biệt ở Hoa Kỳ. Tại sao nó dễ khiến chúng ta phải lòng nhanh chóng quá vậy? Đơn giản vì chúng ta quá hạnh phúc (đất nước của những người bán trà đá vỉa hè cũng thừa tiền sắm Iphone 6) nên vì rứa, cả tin và bị lừa chăng? Tất cả các dạng kiểu ‘khoa học’ (trăm hoa đua nở hội thảo và chuyên đề, khóa học nọ kia) cùng tâm lý học đang không ngừng kể câu chuyện chúng ta háo hức muốn biết tường tận: hạnh phúc là điều tốt lành (hic, dính dáng vào khiến tôi cảm thấy bản thân thật tội lỗi).

Đạo Phật đã thành công dưới thương hiệu ‘tâm lý học tích cực’; theo lối nhìn thế thì lại rất thích hợp với những trào lưu phát triển hiện đại trong đạo Chúa như phái tả Phúc Âm (evangelist) chẳng hạn. Về mặt lịch sử, Công giáo (Christianity) thường được nhìn nhận là thuộc tâm lý cực kỳ tiêu cực, dựa trên việc quy rút cá nhân thành con sâu cái kiến bé nhỏ qua cái nhìn của đức Chúa nên nó dễ được hưởng hồng ân quan phòng che chở của đấng Christ, hoặc sát gần hơn, Nhà Thờ; cơ chừng đạo Chúa hiện đại đa phần từ bỏ các cách thức đun sôi sùng sục và ám ảnh bởi tội lỗi trong quá khứ. Song các dịch vụ happy-clappy của những tân Phúc Âm không hề khởi từ truyền thống cổ đại, chẳng xa hơn hậu Thanh giáo (Puritan) Hoa Kỳ.

Cần biết thêm chút, đạo Phật bảo con người ta chịu trách nhiệm với niềm đau nỗi khổ của chính họ. Tại sao lo lắng về các điều kiện xã hội, nghèo đói, hoặc phân biệt đối xử… Điều này trái ngược với sự nhấn mạnh tới lòng từ bi (compassion) trong đạo Phật hiện đại, dù chúng ta không thể phủ nhận rằng các lực lượng mang tính ái kỷ ‘tôi và hạnh phúc của tôi’ hiện đang tồn còn và đầy quyền năng. Đúng ra, đạo Phật đích thực thì gây ấn tượng về sự cân bằng; vì mỗi tích cực có một tiêu cực…

Hễ khi nào chúng ta lý tưởng hóa hạnh phúc, chúng ta giận ghét một con người buồn bã. Vâng, các bản văn thiền định Phật giáo không những hay trình bày về hạnh phúc mà chúng còn biểu tỏ ‘trầm cảm tâm linh’ (một ví dụ so sánh) khởi lên khi lặng ngắm Pháp (dhamma) diệu kỳ mà người ta chưa từng đạt được.

Với những ai cảm thấy lạc lõng và bơ vơ trong biển cả đầy ắp các khuôn mặt cười, có rất nhiều các bản kinh làm mình phiền muộn để mà giải khuây. Và nghệ thuật đủ sức khiến ta chùng xuống và thoát khỏi các cảm xúc hạnh phúc giả tạo ghê gớm; thời buổi internet ngày nay đâu khó tìm thấy các minh họa về một bài hát quá chừng buồn luôn, một truyện ngắn đau thương, hoặc một bộ phim làm ta khóc ngất… Và nếu chưa xứng, luôn có các chương trình phim kinh dị trên TV với bản tin thời sự ‘cướp- giết- hiếp’ hàng ngày.

… Giờ chính thức chạm tới đề tài thuốc men và sự giải trí.

Để cảm thấy tốt hơn, uống một viên thuốc đi nhé.

Đó đích thị là thứ logic ẩn bên dưới việc dùng thuốc men phục vụ cho việc giải trí, tiêu khiển, đỡ đau đầu; và nó cũng là logic sát đúng với cả y khoa hiện đại.

Điểm khác biệt ở chỗ, nếu một người quyết định ý chí để uống thuốc, hoặc hút điếu, hoặc tiêm gì đó. v.v… để bản thân thấy vui vẻ thì rõ là họ biến mình thành tội đồ hư hỏng đáng bị trừng phạt (?!)… Dĩ nhiên, không phải không có khác biệt nào giữa y khoa và việc dùng thuốc cho mục đích giải trí; chắc chắn có, và chắc chắn ở đó hiện diện vai trò của các chuyên gia sức khỏe. Vấn đề là các điểm khác biệt ấy thuộc phổ dài rộng của việc sử dụng, và tần suất bao gồm các tiền chất giống nhau, rồi chưa nói các cấu trúc hợp pháp đương đại tạo nên cuộc ly dị giả vờ giữa chúng nữa cơ.

Lần nữa, về mặt lịch sử, hầu hết các loại thuốc mang tính giải khuây đều có ứng dụng y khoa theo kèm: thuốc phiện, cần sa, LSD,..; tương tự, nhiều thuốc y khoa theo toa vẫn quen dùng cho mục tiêu thông thường, bất kể được phép hay dùng lậu.

Vấn đề căn cốt hơn: việc tạo tác một thời đại hữu hiệu của uy quyền, thiết chế y khoa kiến lập một thứ văn hóa khiến người ta nồng nhiệt tin tưởng rằng uống thuốc là giải pháp cho vấn đề, và nó dẫn tới vui vẻ, hạnh phúc. Nếu đúng thế, y khoa hiện đại quy về lỗi trực tiếp lẫn gián tiếp: tạo nên quá nhiều thuốc có khả năng gây nghiện và điều kiện hóa về mặt xã hội cho việc kiếm tìm giải pháp nhờ thuốc men.

Đáp ứng hữu lý, cả sức khỏe thể chất lẫn tâm lý, là chuyển khỏi cách tiếp cận lấy thuốc men làm trọng tâm để bước sang cái nhìn tổng thể, toàn diện. Trị liệu cả con người, chứ không chỉ nhắm vào bệnh tật. Cách tiếp cận này đặc biệt thích hợp trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nơi các liệu pháp dựa vào tỉnh thức (mindfulness-based) được chứng thực là mang lại hiệu quả hơn thuốc men trong việc xử lý hàng loạt vấn đề, gồm cả rối loạn trầm cảm.