Khi người vẫn ưa thích và chưa chán sống ở phố thị…

Dịp thành phố quê nhà kỷ niệm ngày giải phóng trôi qua lâu rồi, chắc giờ này nguồn nhiệt hứng khởi hừng hực đã vơi giảm ít nhiều. Đọng lại dấu ấn đô thị chắc là mấy từ trỏ việc làm cụ thể nay mai: phía Tây (mở rộng), sông Cổ Cò (nạo vét để du lịch đường thuỷ vào Hội An), Hoà Vang (phát triển).

Thành phố đáng sống hẳn là thành phố đảm bảo các chất lượng sống khá cao. Cả trên bình diện quốc gia, ảnh hưởng của văn hoá và xã hội lên sức khoẻ tâm trí vẫn còn là đề tài mông lung. Cần biết, tuy xã hội đặt để các quy tắc ứng xử chung song không phải mọi kỳ vọng của xã hội đều thuộc lĩnh vực đạo đức (morality); chúng ta vì thế, cần một cách thức độc lập trong việc lượng giá các tục ước (convention) nào là luân lý (ethics) và cái gì thì không. Do luân lý độc lập với các giáo lý nên nó độc lập với các tục ước xã hội. Và thường thì có 3 nơi hồi quy hành vi xã hội: cá nhân, các tục ước xã hội, và đạo đức.

Vào thời điểm mà các thành phố, trong đó có Đà Nẵng, chuẩn bị sẽ đi vào sự trải nghiệm tăng trưởng theo cấp số nhân, cùng với dân số vọt cao thì càng phải biết thấu đáo ảnh hưởng của môi trường đô thị tới hạnh phúc cùng sức khoẻ ra sao.

Ghê ta.

… Mấy đoạn trên khởi thảo đã hơn nửa năm mà giờ bài còn dang dở. Tối nay định vội vàng hoàn thành chỉ như là cách để tránh rét lúc xa nhà.

Loạn thần và Phân ly: ‘tình trong như đã’…

Trong tâm tưởng dân chúng nói chung, loạn thần cơ chừng đã là cái tên gây nhiều hoảng sợ, cặp đôi với phân ly nữa thì quá dễ làm dấy lên những nghi ngại vô cùng kinh hoàng.

Cả thập niên trôi qua rồi mà vấn đề cần sa gây loạn thần vẫn chưa thể đưa ra lời cuối dứt khoát, đủ thấy câu chuyện dây dưa khủng khiếp với nhiều hệ luỵ khó lường. Thực tiễn lâm sàng cũng ghi nhận việc người ta mắc loạn thần và thái độ kháng cự dùng thuốc. Tiếp cận loạn thần như kết quả của sang chấn và các hiện tượng tinh thần thì đối lập với chuyện chú mục vào bộ não, mô hình thực nghiệm và y khoa của căn bệnh tâm thần; và nếu thế, liên quan tới các kỹ năng học hỏi. Trải nghiệm tâm thần và phân ly trong trạng thái loạn thần cũng sẽ được trình bày ở đây.

Kỹ năng học hỏi và loạn thần

Những khác biệt rõ rệt giữa trải nghiệm ảo giác và hoang tưởng giúp giải thích tại sao các đặc trưng này có khả năng cải thiện nhờ thuốc. Lưu ý rằng, ảo giác và các trục trặc cảm xúc như hoang tưởng là các trải nghiệm nội tạng, và vì thế, chúng có thể liên quan nhiều tới hoá chất bất thường ở não mà từ đó loạn thần xuất hiện. Tuy vậy, các vấn đề nhận thức và xã hội thì lại phụ thuộc vào trải nghiệm trong các thế giới tinh thần và vật chất.

Khi trao đổi nhận thức ở một người mắc tâm thần phân liệt (TTPL), khó khăn trong tư duy của họ là hiển nhiên. Các liên kết lỏng lẻo, từ rối rắm, và câu cú nghèo nàn là vài ví dụ chứng tỏ những khó khăn nhận thức ở những người loạn thần. Một thực tế hiếm khi được xem xét là những người mắc TTPL đối phó với trải nghiệm chưa hề từng được khám phá, nó mới tinh, và không hề dễ dàng để sự nỗ lực của người mắc TTPL hiểu về mặt nhận thức sự thao túng của trải nghiệm loạn thần. Tại sao thiên hạ mong đợi người mắc TTPL có khả năng nghĩ đến những trải nghiệm không phổ biến và không theo chuẩn tắc nhỉ. Không có cơ sở thực tế, không có truyền thống tư duy đích thực đặng cho phép người mắc TTPL suy nghĩ thật hiệu quả về loạn thần.

Các yếu kém rõ ràng về mặt xã hội ở người mắc TTPL phụ thuộc vào trải nghiệm trong thế giới vật chất. Do xu hướng mắc loạn thần xuất hiện ở tuổi vị thành niên và mới lớn, có những hoạt động rất thiết yếu từ khía cạnh phát triển bị buộc phải thoả hiệp do sự chín chắn về mặt xã hội. Dùng cách diễn giải của Erikson về các giai đoạn phát triển xã hội, khi TTPL xuất hiện, cá nhân ở giai đoạn ‘bản sắc đối chọi với sự rối rắm về vai trò’, hoặc giai đoạn ‘gần gũi đương đầu với cô lập’. Loạn thần dẫn tới các trục trặc trong sự hình thành nhân cách và tha hoá liên nhân. Điều này e chừng là do trải nghiệm không chuẩn tắc và trải nghiệm kiệt quệ về mặt xã hội.

Cơ bản, các kỹ năng xã hội và nhận thức yếu kém ở người mắc TTPL bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm không chuẩn tắc, và các ảo giác lẫn hoang tưởng gây hiệu ứng nhân quả tới sự nhận thức lệch lạc và thiếu hụt kỹ năng xã hội. Nếu ảo giác và hoang tưởng có thể giảm bớt ngay từ sớm trên tiến trình mắc TTPL, có thể trải nghiệm không chuẩn tắc này sẽ không gây rắc rối cho các kỹ năng xã hội và nhận thức. Rõ là, hoang tưởng và ảo giác liên quan nhân quả tới kỹ năng nhận thức và xã hội. Bất luận thế nào, hoạt động nhận thức yếu kém và kỹ năng xã hội hạn chế phụ thuộc vào trải nghiệm không chuẩn tắc trong thế giới tinh thần.

Nói gọn thì các kỹ năng xã hội và nhận thức kém cỏi là kết quả của khả năng học hỏi bị giảm sút. Tuy thế, các kỹ năng nhận thức có thể được phản ánh ở siêu nhận thức (meta-cognition) vì nó liên quan tới loạn thần. Nâng cao nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về loạn thần có thể cho phép người mắc TTPL tách rời khỏi trải nghiệm loạn thần của vị ấy. Điều này có thể chứng thực là trị liệu. Tương tự, hướng dẫn các kỹ năng xã hội có thể cũng đem tới lợi lạc trị liệu. Do những thiếu hụt trong học hỏi, các kỹ năng nhận thức và xã hội kém cỏi có năng lực đáp ứng với việc học, và đây là tương quan dương tính với thực tế là các kỹ năng xã hội và nhận thức được hình thành. (còn tiếp)

“Ly hôn sau 40 năm chung sống, nên chăng?”: gợi ý các đề mục suy tư về tác nghiệp, hành nghề tham vấn tâm lý

Người phụ nữ ấy chắc nỗ lực rất nhiều sau chừng ấy thời gian, và rốt ráo chung cuộc đã không thành tựu mỹ mãn như mong đợi nên giờ đây, bà nghĩ tới giải pháp ly hôn, muốn tách biệt đời mình khỏi cuộc sống của chồng vì “không thể chịu đựng được tính gia trưởng của ông ấy”.

Cách tiếp cận của tư vấn viên Ban Mai phụ trách chuyên mục trên tờ VietNamNet gợi cho ta bài học làm nghề thú vị, đáng bàn thảo:

 … Ở quãng thời gian đi hết gần nửa đời người, cái tuổi hôn nhân chín muồi như chị, chắc hẳn càng cần cân nhắc được mất nhiều hơn, phải lẽ, thời gian còn lại trên thế gian khá ngắn ngủi và nó rằng buộc trong mối quan hệ phức tạp hơn thời trẻ.

Bản thân chị, đã vượt qua nhiều sóng gió của cuộc hôn nhân, nhưng vết sẹo mà người chồng để lại trong lòng chị vẫn chưa nguôi ngoai, nó lúc nào cũng có thể phát tác. Điều này đưa chị tới với quyết định có nên ly hôn hay không.

Về kinh nghiệm sống, kinh nghiệm trong hôn nhân lẫn tuổi đời, hẳn chưa bằng chị, nhưng cũng xin mạo muội đưa cho chị một lời khuyên để tham khảo: thay vì chọn giải pháp ly hôn, chị hãy thử giải pháp kiên quyết ly thân để thay đổi cuộc sống, điều kiện sống. Có thể là thuê một căn nhà nhỏ để có một cuộc sống hoàn toàn độc lập… Biết đâu, khi không có chị một thời gian, ông chồng sẽ giật mình nhận ra có nhiều thứ mất. Lúc này, chị cũng cần nói chuyện với các con, để các con hiểu và ủng hộ chị…

Do quan niệm rằng mình “kinh nghiệm sống, kinh nghiệm trong hôn nhân lẫn tuổi đời, hẳn chưa bằng chị” nên mục tiêu làm việc của tư vấn viên có vẻ chỉ xoay quanh việc an ủi và đưa lời khuyên thử ly thân như giải pháp khả thi mà thôi… Chúng ta đọc thấy sự cảm thông với thân chủ do quãng thời gian kéo dài dằng dặc mấy chục năm kết hôn và chia sẻ nỗi niềm chịu đựng vì “…gia trưởng chính là một trong số những điều kìm hãm sự phát triển của xã hội, kéo lùi sự phấn đấu, vươn lên của phụ nữ. Tuy nhiên, trên thực tế, ở Việt Nam ta khi không may lấy phải một người chồng gia trưởng, dù phải trả giá đắt nhưng nhiều chị em phụ nữ vẫn chấp nhận sống chung để cho con cái có chỗ dựa êm ấm của gia đình.”

Bên trong các cách tiếp cận sẵn có, nghiên cứu cho thấy biến thể rất ý nghĩa giữa các cá nhân nhà tham vấn. Kỳ thực, bằng chứng khẳng định rằng các năng lực của cá nhân các nhà tham vấn có thể là yếu tố quan yếu trong việc xác quyết thành tựu hơn là định hướng trị liệu! Vì thế, có thể chẳng hề rõ ràng câu trả lời cho vấn đề có các định hướng trị liệu tốt hay tồi, song chắc chắn là có các nhà trị liệu tốt và nhà trị liệu tồi. Mối liên kết chốt ở đây là chính xác tại sao điều này lại vậy, chỉ ra chính xác những yếu tố kiểu gì giải thích cho biến thể trong các kết quả cá nhân là hết sức khó khăn. Bằng chứng nghiên cứu không thể khiến thân chủ hiểu biết một cách đúng đắn tại sao một nhà trị liệu có thể là tốt hoặc tồi cho họ, so với các nhà trị liệu khác. Buồn thay, chẳng có bằng chứng rằng bất kỳ các dạng bằng cấp, chứng chỉ hành nghề, số năm tháng trải nghiệm tác nghiệp của nhà tham vấn hoặc thời gian được huấn luyện, đào tạo có liên quan sâu sắc với thành tựu trị liệu.

Trong khi phẩm chất quan hệ mà một thân chủ thiết lập với một nhà tham vấn cụ thể nào đó chắc chắn đứng đầu danh sách các yếu tố đáng xem xét khi bước vào tham vấn, sự xứng hợp giữa các khung tham chiếu của cá nhân thân chủ và một kiểu dạng tham vấn đặc thù cũng vẫn rất quan trọng. Sự xứng hợp (hay không) này có thể ảnh hưởng ghê gớm tới cách thức thân chủ cảm thấy về tiến trình và quan hệ, hậu quả liên quan tới cách thức khiến thân chủ dễ dàng tiến bộ. Gần như các nghiên cứu thực nghiệm tán đồng rằng các thân chủ hưởng lợi nhiều hơn khi họ cam kết dấn thân hợp tác bên trong cách tiếp cận  trị liệu được đưa ra trong môi trường tham vấn đặc thù của họ, và một số nghiên cứu còn khẳng định các biến thuộc thân chủ chiếm hàm lượng tầm 40% sự thay đổi mang tính trị liệu, hơn bất kỳ các yếu tố nào khác. Một thân chủ nghi hoặc không rõ mô hình nhận thức có biểu đạt đúng đắn trải nghiệm của họ sẽ ít tìm thấy lợi lạc từ trị liệu nhận thức hoặc nhận thức- hành vi, trong khi một thân chủ thích nhà tham vấn đưa cho họ thật nhiều lời khuyên và hướng dẫn e chừng chẳng mấy thích hợp từ cách tiếp cận tham vấn con người- trọng tâm. Nôm na ví von, dù có khả năng việc mang giày đi bộ 5 cây số gây ra ít nhiều đau đớn lớn nhỏ hoặc bất tiện ra sao thì quyền lựa chọn giày có thể làm dễ dàng hơn để đi bộ thoải mái, thưởng thức cảnh vật dọc đường, và còn năng lượng khi kết thúc hành trình. Tương tự, nhiều kiểu giày sẽ dùng cho một cuộc đi bộ, song một số giày sẽ dễ gây tạo nên một sự cản trở thực sự. Dành thời gian xem xét các kiểu dạng tham vấn và tâm lý trị liệu trước khi khởi động cuộc hành trình trị liệu sẽ là quãng thời gian đáng giá.

Lần nữa, cần nhấn mạnh rằng về vấn đề tính hiệu quả của cá nhân nhà tham vấn thì có lẽ bài học quan trọng nhất rút ra từ nghiên cứu là các thân chủ sẽ thiết lập trong tâm trí họ dựa trên trải nghiệm họ có với nhà tham vấn, hơn là phụ thuộc hoàn toàn vào chứng thực như bằng cấp, năm tháng hành nghề, hoặc hiểu biết về kế hoạch thực hiện chuyên sâu của nhà tham vấn. Nhớ rằng phẩm chất quan hệ thân chủ có thể thiết lập với nhà tham vấn chắc chắn đứng đầu danh sách các yếu tố ảnh hưởng tới thành tựu trị liệu…

Đáp ứng mà các nhà tham vấn tỏ ra đích thị thực dụng, tiến hành làm những gì được việc, rõ ràng hết sức đáng tin cậy. Song ngay ở đây, điều khó khăn là nhìn nhận bằng cách nào một nhà tham vấn liệu có thể thực sự tiến hành làm những gì được việc mà không gặp một số khoảng cách về các trụ chống căn bản thuộc lý thuyết trong bất kỳ cách tiếp cận nào nói chung hoặc kỹ thuật thực hiện vốn ưa thích với một thân chủ cụ thể. Chắc thích hợp hơn cho thân chủ nếu bất kỳ đề nghị từ nhà tham vấn rằng mỗi cách tiếp cận cụ thể nào đó sẽ hữu ích dựa trên nền tảng của một vài quan điểm am hiểu tại sao nó được việc: đề nghị của nhà tham vấn về một cách thức làm việc đặc thù không nên được mặc định, nó nên là sự cân nhắc cẩn thận và thể hiện sự am hiểu sâu xa. Nói khác, sự thật có thể là người ta nên “tiến hành làm điều được việc” song thực hiện nó đòi hỏi một số nỗ lực hiểu biết và đánh giá cơ sở lý thuyết nằm bên dưới.

… Cách tiếp cận Con người- trọng tâm (person-centred) nhìn thân chủ là người có uy quyền xứng đáng nhất về trải nghiệm của riêng họ, và rằng thân chủ là sinh thể đủ đầy năng lực hoàn mãn tiềm năng phát triển của bản thân. Nó tuy thế, ý thức rằng thành tựu được tiềm năng đòi hỏi một số thuộc tính đặc biệt và dưới một số điều kiện khắc nghiệt, các cá nhân không hề trưởng thành ổn thỏa và phát triển theo các cách thức mà lẽ ra họ có thể là. Đáng lưu tâm, khi các cá nhân bị chối từ sự chấp nhận và tưởng thưởng tích cực từ những người khác, hoặc khi sự tôn trọng tích cực là có điều kiện đòi hỏi cá nhân hành xử theo những phương thức này kia, thân chủ có thể bắt đầu đánh mất việc tiếp chạm vào những gì là trải nghiệm riêng tư mang ý nghĩa như nào đối với họ, và xu hướng nguyên khởi hướng tới trưởng thành theo một chiều kích nhất quán với ý nghĩa đó có thể bị đàn áp, kiềm chế.

Một lý do cho điều này xảy đến là các cá nhân thường đối phó với việc chấp nhận có điều kiện đưa ra cho họ thông qua việc dần tích hợp các điều kiện này vào các quan điểm họ tự nhìn nhận về chính bản thân mình. Họ có thể thiết lập một quan điểm về bản thân gồm những lối nhìn nhận chính mình như là, “Tôi thuộc loại người không bao giờ đi muộn”, hoặc “Tôi thuộc loại người luôn luôn tôn trọng người khác”, hoặc “Tôi thuộc loại người luôn luôn giữ gìn nhà cửa sạch sẽ”. Bởi vì nhu cầu căn bản để được tôn trọng tích cực từ những người khác, dễ dàng hơn nên ‘là’ loại người này, rồi ra tất nhận được sự tôn trọng tích cực, thay vì ‘là’ gì khác và gặp nguy cơ mất đi sự tôn trọng tích cực. Theo thời gian, cảm nhận nội tâm về bản dạng riêng có cũng như các lượng giá về trải nghiệm và thuộc tính giá trị của bản thân có thể bị đặt để lại bởi các tiêu chí đa phần, thậm chí hoàn toàn, do áp lực từ người khác tạo ra. Tức là, thân chủ dịch chuyển các ý nghĩa và đánh giá của bản thân theo với các ý nghĩa và đánh giá của những người khác.

Sự quấy nhiễu tâm lý xuất hiện khi ‘quan niệm bản thân’ (self-concept) của các cá nhân bắt đầu va đập ngay lập tức với trải nghiệm riêng tư; tỷ dụ, khi có bằng chứng về các cảm nhận hoặc đánh giá của riêng bản thân va đập với những gì ‘quan niệm bản thân’ bảo ‘phải, nên, hẳn là như thế’. Đau lòng ở chỗ, quấy nhiễu và phiền não cứ có cơ tiếp tục kéo dài khi cá nhân phụ thuộc vào những sự đánh giá tích cực một cách có điều kiện của người khác để họ cảm nhận về giá trị bản thân, và càng kéo dài khi cá nhân dựa cậy một quan niệm bản thân đã được thiết kế đa phần nhằm đoạt lấy các đánh giá tích cực đó. Các trải nghiệm thách thức quan niệm bản thân dễ nghiêng theo hướng bị bóp méo hoặc thậm chí bị chối bỏ hoàn toàn ngõ hầu mới bảo bọc được nó.

Cách tiếp cận Con người- trọng tâm duy trì ba điều kiện căn cốt cung cấp một bầu khí đảm bảo cho sự trưởng thành và sự thay đổi mang tính trị liệu diễn ra. Chúng trái ngược khá thẳng thắn với các điều kiện được cho là chịu trách nhiệm với sự quấy nhiễu, phiền não tâm lý đã nêu trên. Các điều kiện căn cốt đó là:

  1. Tôn trọng tích cực vô điều kiện (Unconditional positive regard)
  2. Hiểu biết thấu cảm (Empathic understanding)
  3. Thích đáng (Congruence)

Cái đầu tiên- tôn trọng tích cực vô điều kiện- nghĩa là nhà tham vấn chấp nhận thân chủ vô điều kiện và không đánh giá. Thân chủ được tự do khám phá tất cả các suy tư lẫn cảm xúc, tích cực hay tiêu cực, mà không cảm thấy nguy hiểm của sự bị loại bỏ hoặc chỉ trích. Sâu xa, thân chủ tự do khám phá và biểu đạt mà không buộc phải làm điều gì đặc biệt hoặc thỏa mãn bất kỳ các tiêu chuẩn hành vi nhất định nào để ‘đoạt lấy, đạt được’ sự tôn trọng tích cực từ nhà tham vấn. Cái thứ hai- hiểu biết thấu cảm- nghĩa là nhà tham vấn thấu hiểu hết sức chính xác các suy tư và cảm xúc của thân chủ, và các ý nghĩa theo cách riêng của thân chủ. Khi nhà tham vấn tri nhận thế giới giống như quan điểm của thân chủ, nó minh họa không chỉ quan điểm đó có giá trị mà còn chứng tỏ rằng thân chủ được chấp nhận. Cái thứ ba- thích đáng- nghĩa là nhà tham vấn đích thực, đáng tin và chân thành. Nhà tham vấn không biểu lộ như một chuyên viên xa cách mà hiện diện đích thực và trong suốt cùng với thân chủ. Không có bầu khí uy quyền hay giấu kín kiến thức đủ đầy, và thân chủ không buộc phải suy xét xem nhà tham vấn đích thị là như nào.

Kết hợp nhau, ba điều kiện căn cốt vừa nêu được cho là giúp thân chủ phát triển và triển nở theo cách riêng của họ, để vững mạnh lên và mở rộng hơn bản dạng cá nhân rồi trở thành con người họ ‘thực sự’ độc lập hoàn toàn với những áp lực từ những người khác về hành động, suy tư theo các cách riêng biệt.

Thân chủ mang một thôi thúc mãnh liệt hướng tới chiều kích muốn khám phá các cảm xúc và chính bản thân mình, là người đề cao trách nhiệm cá nhân có thể đặc biệt bị hấp dẫn với cách tiếp cận Con người- trọng tâm. Những ai thích nhà tham vấn đưa cho mình lời khuyên bao quát, muốn nhà tham vấn chẩn đoán các vấn đề của họ, hoặc phân tích trạng thái tâm lý mình sẽ dễ cảm thấy cách tiếp cận Con người- trọng tâm kém hữu ích. Thân chủ thích nhấn mạnh các thói quen tâm lý riêng tư hoặc các mẫu hình tư duy đặc thù có thể tìm thấy ở cách tiếp cận Con người- trọng tâm đôi chút lợi lạc, vì các phong cách trị liệu cá nhân của nhà tham vấn theo trường phái Con người- trọng tâm rất đa dạng nên một số thân chủ sẽ cảm thấy phù hợp hơn để dấn thân rất trực tiếp với các kiểu dạng lợi lạc có liên quan này.

… Tất cả những gì trình bày khái lược dễ khiến không ít người trong cuộc cảm thấy tiếp chạm tuyến tính với quan điểm hành nghề, tác nghiệp của riêng họ. Với một số, nghiên cứu khoa học gì gì chẩng liên quan cho lắm, và thậm chí nếu vài ba lợi lạc nào đó từ một cách tiếp cận đã được thực nghiệm chứng nhận thì họ cũng sẽ thích duy trì định hướng trị liệu tinh tuyền lâu nay của riêng mình và cách thức riêng biệt họ xử lý cá nhân với các thân chủ. Một cách đón nhận bất chấp độ căng thẳng ra sao với quan điểm này là câu hỏi đặt ra với bất kỳ nhà tham vấn nào: điều gì chứng tỏ cho anh/ chị biết rằng mình đang tiếp cận với một thân chủ theo cách sai lạc rồi? Do thân chủ nói với anh/ chị? Một nghiên cứu khoa học nào đó? Thân chủ nói với anh/ chị nhiều lần? Có nhiều nghiên cứu khoa học bảo thế? Đặt câu hỏi thay thế khác hẳn: điều gì sẽ thuyết phục anh/ chị rằng thân chủ được nhiều lợi lạc hơn từ cách làm khác so với những gì anh/ chị đang tiến hành?

Các câu hỏi trên chắc chắn sẽ được mỗi một nhà tham vấn/ trị liệu tâm lý trả lời hoàn toàn khác nhau. Nên chi, một phổ các lựa chọn có thể nghĩ tới: chỉ cần an ủi, dựa trên mỗi kinh nghiệm cá nhân hoặc đưa ra lời khuyên bao quát là thử ly thân xem sao, hay dành thời gian tập trung chỉ ra những gì người phụ nữ ấy nên ưu tiên quan tâm trong tình thế hiện tại và điều bà mong đợi trong những năm tháng thu vàng sắp đến, cùng bàn bạc với bà về tiến trình và mọi điều có thể xảy đến khi lựa chọn ly hôn (hoặc không ly hôn), về nhân cách có vấn đề của ông chồng có thể tác động cụ thể ra sao đến suy tư lẫn cảm nhận lâu nay của thân chủ hoặc/ và khả năng gây rắc rối như thế nào cho chính bản thân cùng với các thành viên gia đình khác khi bà lựa chọn ly hôn, v.v…

Rõ ràng, nắm lấy lựa chọn nào không thuần túy chỉ là câu chuyện ngẫu hứng bất chợt, phụ thuộc duy mỗi độ tuổi hay trải nghiệm sống mà còn đòi hỏi ít nhiều am tường chuyên môn đích thực cũng như thấu hiểu sâu sắc nền tảng, lý do tại sao mình lại tiến hành, thực hiện điều mình tin là được việc và hiệu quả như thế.

“Tôi không thể cho lời khuyên”

Báo chí Việt Nam luôn tạo cơ hội để tôi cảm thấy mình cần giữ tâm trạng phấn khích và ngạc nhiên mãi hoài chưa thôi. Với lối đặt tên “Kết thúc có hậu của người đàn ông ruồng rẫy vợ con để theo bồ nhí” tựa cách khai thác tin bài vô tiền khoáng hậu vậy, thiên hạ không bức xúc đến độ chỉ chực muốn nhảy chồm chồm rồi mắng mỏ nhau lia chia qua lại mới là chuyện lạ.

Và cập nhật đây nữa: Tan nát gia đình vì chuyên gia tâm lý.

Chuyên gia khuyên em hãy đi tìm người đàn ông khác để tìm hiểu vì có thể sẽ có cảm hứng, ham muốn. Vị chuyên gia kia không quan tâm chuyện gia đình bị ảnh hưởng thế nào, chỉ lo giải quyết cái vụ “chán tùm lum” của vợ tôi, kết cục gia đình tôi tan vỡ.

Nhân vật ‘chuyên gia’ này là ‘một vị cực kỳ uy tín trong ngành tâm lý’ (!?).

Mào đầu lấy cớ, chứ ở đây không nhàn rỗi thừa hơi thêm đặng dành lời bình luận say sưa cho hơi hướng cải một mớ thế.

Giờ mời đọc đoạn phát ngôn sau.

Tôi sẽ giúp chị tìm ra câu trả lời đúng đắn song tôi không thể cho lời khuyên hoặc thông tin (trừ lúc thích hợp). Tôi không thể làm cho chị lớn lên. Chị phải tìm ra câu trả lời cho riêng mình suốt các phiên và bên ngoài tiến trình trị liệu. Tôi sẽ chấp nhận chị và các hành vi của chị trong mỗi một bước đi trên hành trình. Tôi chấp nhận các giá trị của chị sẽ thường khác biệt so với giá trị của bản thân. Tôi tôn trọng mọi nền văn hóa và các định hướng phát triển, và sẽ đương đầu với bất kỳ định kiến nào nảy nở trong lòng mình.

Nói ngay, cách nhìn này đích thực thể hiện hiểu biết căn cốt về trị liệu và phản ánh tương thích với hầu hết mối quan tâm của thân chủ. Trong khi không nghi ngờ gì vô vàn khác biệt xuyên văn hóa, đa phần mọi người tìm đến trị liệu tâm lý với kỳ vọng muốn được nhà tham vấn bảo họ nên làm gì. Đấy là nguồn cơn họ cân nhắc đặng tính chuyện trả phí: lời khuyên và kiến thức tâm lý chuyên sâu của nhà tham vấn. Nếu trị liệu khởi đi từ việc đặt thân chủ vào thỏa ước chắc chắn rằng tôi sẽ không cho lời khuyên chi cả và thân chủ phải tự tìm ra các câu trả lời thì họ sẽ chủ yếu nghe ra rằng nhà tham vấn không thể trợ giúp họ và khả năng cao là họ chẳng thèm quay trở lại trong phiên kế tiếp.

Thực tế, điều này minh họa một sự trái ngược khả thể: nhà tham vấn giữ vị trí quá chừng lý tưởng, rằng thân chủ buộc phải tìm tìm thấy câu trả lời cho bản thân, đồng thời nói rằng anh ta sẽ ‘tôn trọng mọi nền văn hóa’ và chấp nhận các giá trị khác biệt. Dĩ nhiên, thật hoàn hảo để nhận ra nhu cầu của thân chủ muốn được khuyên nhủ mà vẫn không đưa cho họ, song điều này đòi hỏi lối trình bày thiện xảo và quyết không chỉ là lời đầu môi chót lưỡi đi kèm với tuyên bố: “Tôi tôn trọng nhu cầu cần có thông tin của chị song tôi sẽ không cung cấp cho chị và đây là lý do tại sao”.

Trải nghiệm tác nghiệp hành nghề giúp ta phát hiện thấy vị thế của nhà tham vấn đã thay đổi theo thời gian, rằng tôi nhất thiết phải xem xét thấu đáo định kiến căn bản của mình với tư cách là một nhà tham vấn, rằng người khác “nên là” trong dòng chảy không ngừng của trải nghiệm và tôi phải rất tinh tuyền trong việc làm thuận lợi, dễ dàng sự trưởng thành, triển nở của thân chủ. Rất thường gặp trạng thái người ta không hề chạm tới được trải nghiệm đang là của bản thân khiến họ tìm đến nhà tham vấn nhờ trợ giúp, và cũng rất thường tình việc ít nhiều chân thành khi nhà tham vấn nắm giữ thông tin tích lũy có thể trợ giúp bằng chuyện xử lý những lối trình bày riêng biệt liên quan tới nỗi niềm bất mãn đó trong đời sống của thân chủ.

Tôi cho rằng, quan trọng cần nhớ, nhà tham vấn đang không truyền đạt kiến thức chuyên sâu từ trên cao. Lĩnh vực của chuyên gia ngành hẹp chẳng hề có nghĩa anh ta tổ chức việc tìm kiếm các giải pháp hoặc thực hiện mọi điều đặng giúp đỡ cho chính thân chủ, mà đó là việc tạo lập trạng thái sống cùng với thân chủ, theo nhu cầu của thân chủ đã được hai bên vạch ra trên tấm bản đồ đường đi nước bước cụ thể, và cả ước ao của thân chủ nhằm cởi bỏ áp lực tồi tệ của việc đang buộc phải làm mọi điều cho chính bản thân. Khi áp lực này bị làm dịu bớt cũng như đã bẻ gãy được sự cô độc hay tách biệt thì chính thân chủ, tự họ, dần tiến tới giải pháp ngay lập tức,

Song điều này là phương thức đòi hỏi kiên trì lâu dài, và thực tế thì khá bất khả vào giai đoạn khởi sự tham vấn ban đầu.

‘Con người- trọng tâm’: Lướt qua ba kỹ thuật trị liệu cơ bản

Chiều tối nay, tình cờ được mời xem rồi trao đổi với một bạn đang dựng phim tài liệu phản ánh tâm lý người già và cách giao tiếp trong gia đình trước thực trạng thuyên giảm sức chú ý, trí nhớ và năng lực tư duy,… của đối tượng.

Câu chuyện kỹ thuật phim ảnh và chia sẻ cảm nhận về thông điệp của nữ tác giả lần hồi dẫn tôi tới việc trình bày sơ lược cách tiếp cận Con người- trọng tâm…

Các kỹ thuật dùng trong trị liệu Con người- trọng tâm (person-centered therapy) thường được phân biệt so với việc áp dụng kỹ thuật ở các kiểu trị liệu khác: các kiểu trị liệu này chú mục tới điều gì đó thân chủ có thể làm xuyên suốt phiên trị liệu, còn kỹ thuật thực hiện trong trị liệu con người- trọng tâm do nhà trị liệu tiến hành nhằm kiến tạo nên một môi trường trợ giúp dễ dàng hơn cho tiến trình tự nhận thức (self-awareness).

Đặc thù có ba kỹ thuật trị liệu rất dễ bắt gặp theo cách tiếp cận con người- trọng tâm: trung thực; tôn trọng tích cực, vô điều kiện; và thấu cảm.

Trung thực (congruence)

Trung thực là chuyện nhà trị liệu chân thành và đáng tin hay không trong những gì nói và làm. Thông lệ, nếu nhà trị liệu đang nói một đằng song ngôn ngữ cơ thể phản ánh một nẻo thì các thân chủ nhận ra ngay và điều ấy có thể tác động tới sự tín nhiệm và cởi mở trong quan hệ trị liệu.

Ví dụ, một nhà trị liệu có thể nói “Tôi hiểu những gì cô đang nói và cách thức cô đang cảm nhận” đối với một thân chủ, nhưng lại có một cái nhìn dò hỏi trên khuôn mặt cô này. Thân chủ có thể nhìn thấy sự mập mờ í và cảm thấy không thoải mái với việc biểu đạt các cảm xúc từ thời điểm ấy trở đi.

Do đó, vai trò thiết yếu của các nhà trị liệu là nhận thức về ngôn ngữ cơ thể của bản thân và những gì họ đang nói đúng như sự tồn còn trong khoảnh khắc hiện tại. Nếu sự mập mờ nổi lên, nhà trị liệu cần có khả năng nhấn mạnh điều này với thân chủ.

Quay trở lại ví dụ nêu trên. Khi nhà trị liệu tuyên bố hiểu biết và có cái nhìn dò hỏi, nhà trị liệu lưu ý thân chủ nhìn không thoải mái sau bình luận về sự hiểu biết và tiến tới giải thích cho thân chủ tại sao và bằng cách nào mình hiểu về câu phát ngôn. Điều này làm thân chủ dễ chịu và bảo đảm tiếp tục duy trì sự tin tưởng.

Tôn trọng tích cực vô điều kiện (Unconditional positive regard)

Tôn trọng tích cực vô điều kiện thể hiện sự chấp nhận, tôn trọng và quan tâm tới thân chủ. Điều này không có nghĩa nhà trị liệu đồng ý với mọi điều thân chủ nói hay làm; tuy thế, nhà trị liệu nên nhìn thân chủ như người đang tiến hành những gì tốt nhất cô í có thể và bày tỏ mối quan tâm hơn là sự bất đồng với cô í. Tôn trọng tích cực vô điều kiện cho phép thân chủ biểu đạt cách thức họ đang suy tư mà không cảm thấy bị đánh giá, và khiến làm thuận lợi cho tiến trình trình thay đổi nhờ chỉ ra họ dễ dàng được chấp nhận.

Thấu cảm (Empathy)

Thấu cảm là kỹ năng nhà trị liệu Con người- trọng tâm dùng để chứng tỏ hiểu biết về các cảm xúc của thân chủ. Thấu cảm thì khác biệt với đồng cảm (sympathy) ở chỗ: đồng cảm thường được nhìn nhận như cảm xúc hối tiếc, lấy làm buồn cho thân chủ, trong khi thấu cảm chỉ ra sự hiểu biết và cho phép thân chủ cởi mở hơn.

Một ví dụ minh họa như dưới đây.

Thân chủ: Tôi cảm thấy như thể không có ai quan tâm đến mình hết và tôi hoàn toàn cô độc.

Đáp ứng thấu cảm: Vậy, lúc này cô đang cảm thấy cô độc và không có ai quan tâm tới cô cả.

Đáp ứng đồng cảm: Tôi lấy làm tiếc là cô cảm nhận theo cách ấy.

Wow. Chỉ là đôi dòng gõ xuống nhanh vội trước khi kết thúc một ngày.

Biểu tượng: hiện diện bốn phương – tám hướng

Chúng ta sử dụng các biểu tượng (symbols) liên tục trong đời sống trần tục hàng ngày để truyền thông các  ý tưởng. Hệ thống chữ viết (chữ cái và từ) là ví dụ rành rẽ về biểu tượng dùng chuyển tải ý nghĩa. Chủ nghĩa biểu tượng (symbolism) có thể được xem như cách dùng biểu tượng nhằm diễn giải các khái niệm (concepts).

Một số biểu tượng mang tính liên văn hóa và dường như tồn tại từ thời tiền sử trong nhiều nền văn hóa. Một trong số đó là biểu tượng mặt trời, thường trình bày như một dấu chữ thập hoặc vòng tròn.

Hầu hết mọi người trải nghiệm chủ nghĩa biểu tượng trong những giấc mơ. Thực tế, các giấc mơ thật giàu biểu tượng và thông điệp của chúng hay chỉ được hiểu khi diễn giải một cách biểu tượng.

Thiền định và thôi miên là các lĩnh vực vốn dễ bắt gặp các biểu tượng. Dường như các biểu tượng xuất hiện tự phát, hoặc được sử dụng ngõ hầu bước vào trạng thái thiền định. Việc phóng chiếu các vì sao và làm cuộc hành trình ma thuật huyền bí là những chuyến đi đậm chất chủ nghĩa biểu tượng, bởi chúng là các dạng thức căn bản của việc mơ có ý thức.

Các biểu tượng (bao gồm con người, động vật, các thực thể, thánh thần, cây cối và địa điểm) xảy đến bất chợt trong công việc thôi miên và thiền định có thể được tương tác cùng, và biến đổi dạng thức…

Điều quan trọng là hiểu yếu tính của biểu tượng trong việc thôi miên. Chẳng hạn trong Năng lượng Tinh thần, Carl Jung mô tả các biểu tượng như là “cơ chế tâm lý làm chuyển hóa năng lượng“, chỉ ra chức năng của chủ nghĩa biểu tượng đóng vai trò ra sao bên trong bộ máy tâm thần chúng ta. Roberto Assagioli, với bài báo Huấn luyện Ý chí, công phu giải thích điều này: “Các hình ảnh, các bức tranh và ý tưởng tâm thần thường có xu hướng sản sinh các trạng thái thể lý và hành động bên ngoài tương ứng với chúng. Một số nhà tâm lý học thiết lập công thức quy luật này theo các cách thức sau:  a. Mỗi hình ảnh tự thân nó có một thành phần vận động; và b. Mỗi ý tưởng là một hành động dưới trạng thái ẩn tàng.”

Khi sử dụng các biểu tượng bằng hiển thị hóa, và học hỏi chuyển hóa chúng vào các hình dạng mới thì mình đích thực đang làm việc với điều huyền diệu rất quyền năng.

Cũng nên biết rằng, trong tham vấn và trị liệu tâm lý, các cách tiếp cận khác nhau (CBT, trị liệu Nhân văn, trị liệu trần thuật, Lacan, Jung, Winnicott, Klein và Bion, Freud) đều sử dụng biểu tượng hết sức hiệu quả.

Mặc dù sự khác biệt khá rộng lớn phụ thuộc các dạng trị liệu khác nhau song các chủ đề thông thường cho thấy sự nổi bật trong quan hệ với ngôn ngữ. Tất cả các dạng trị liệu đều tập trung chú ý tới những sự truyền thông của thân chủ, thành lời hoặc ngôn ngữ cơ thể. Các từ đóng vai trò là đối tác thay đổi chính, bất kể điều này đến từ quan điểm nhận thức vốn quen dùng chúng như những công cụ hữu hiệu cho tư duy, hay một lối tiếp cận phân tâm nhìn nhận phát ngôn như một tác nhân kiềm chế và bị biến điệu.

Các từ, các biểu tượng không chỉ nói về điều gì đó; chúng còn là thành phần của trải nghiệm đang là của điều đó như một hồi tưởng, vì vậy nó xứng đáng được nói về… Đó là lý do tại sao các thân chủ được dành thời gian và không gian để vén lộ những gì chúng muốn gửi gắm.

Câu chữ kết nối thế giới nội tâm với bên ngoài, và thông qua việc đặt điều gì đó thành các từ mà chính thân chủ sẵn sàng cho sự kết nối ấy.

Nhà trị liệu tạo nên và lưu giữ môi trường an toàn để các từ được nói lên, nghe thấy và đáp ứng với…

@ Tham khảo: Words and Symbols.

Không giống nhau song đích thị lại chẳng có gì cách biệt

Đâu nhất thiết đấy là một trải nghiệm thú vị, khi chúng ta băng qua một nhóm người không giống mình.

Túi khôn dân gian vẫn bảo đại khái, thích hấp dẫn thích (chứ ai nỡ thù ghét nhau) nên chi thường là khi họ không thích chúng ta đó chính bởi vì họ không giống chúng ta.

Thay vì nhìn nhận sự việc một cách riêng tư, chúng ta để họ được là bản thân họ, chấp nhận mỗi người chúng ta được phép có những khía cạnh và ý kiến khác biệt. Khi chúng ta trao cho những kẻ khác sự tự do đó, chúng ta cũng tuyên bố nó với chính mình, phóng thích bản thân khỏi nhu cầu được sự tán đồng của họ đủ để mình có thể cống hiến năng lượng hướng tới các cuộc kiếm tìm đáng giá hơn.

Nếu thân mật là sự sát gần về mặt cảm xúc thì mọi cuộc giao tiếp mang tính thân mật đều chất chứa sâu đậm, dài rộng yếu tố học hỏi hòa trộn cả khám phá, tôn trọng, khiêm cung, sáng tạo và hợp quần.

Và việc biểu đạt của tình yêu ở đây được hiểu là thứ tình yêu của lòng từ bi, niềm vui đùa, tính thanh thản, và sự tử tế. Nó cho tiến trình tương tác giữa chúng ta với nhau một cơ hội ngõ hầu làm mới lại và tái tuyên bố các thành tố thâm trầm nhất trong chính cách chúng ta ứng xử, và các yếu tố kín đáo tối hậu bất ngờ của mối kết nối và chữa lành rất hiệu quả.

Rốt ráo, chúng ta nhất thiết phải dũng cảm thả bỏ các vai trò, thời khóa biểu, kỹ thuật, chẩn đoán, hoặc bất kỳ thứ gì che mờ chúng ta khỏi những người khác.

Viễn tượng mời gọi chúng ta hết sức hấp dẫn: một năng lực thấu cảm tâm linh là một năng lực cảm nhận rằng không giống nhau song đích thị lại chẳng có gì cách biệt; rằng đó là cảm nhận về tình yêu vô điều kiện, một biểu đạt vị tha, của tình yêu độ lượng ôm choàng sự thật gắn bó tất cả mọi người trong vòng tròn sinh tử: vô thường, bất toại nguyện và vô ngã.