Mình gặp nhau bao lâu thì vừa?


Lượn lờ
Lượn quanh với đời

Theo thông lệ, hàng tháng mọi người ghé quán chay hai lần, hoặc đông lắm thì bốn lần. Thường vốn ăn mặn, giờ ghé hàng chay hẳn luôn vì lý do khá đặc biệt nào đó từ chuyện kiêng khem giữ giới, muốn thành tựu lời khấn nguyện, bất chợt đổi khẩu vị, tò mò hay gặp bữa thì thoải mái thuận theo bạn bè, đồng nghiệp…

‘Tôi nên tham gia trị liệu bao nhiêu buổi thì vừa?”

Câu hỏi í một thời dễ được xử lý theo hướng đưa ra con số cụ thể, kiểu từng tuần thì hay hơn là vài tuần/ lần chẳng hạn; vì mối quan tâm thoáng qua chủ yếu liên quan tới chi phí và thời gian. Trải nghiệm dần, chuyên sâu rồi tiếp xúc lâm sàng phong phú thì ngày càng thấm hơn tính độc sáng, rất riêng biệt ở mỗi thân chủ lẫn nhu cầu của chính chúng ta.

Nhìn chung, gặp nhiều thì thường giúp các chất liệu vô thức nhanh được trồi lên rồi nhận diện sắc sảo. Mình tình cờ ngồi cùng bàn chắc khác hẳn việc đấy là quán hàng tháng hay ghé. Nếu du lịch với bạn thì chuyện nhỏ nhặt cũng có thể thành đề tài cãi cọ; năm thì mười họa, tựu trường hoặc hội ngộ đồng hương thì hiếm khi bất mãn. Tần suất làm các cảm xúc hợp trội đủ giúp mình có thể làm việc… Gặp ai nhiều thì mức hiểu biết lẫn nhau tăng cao, mối gắn bó thêm chặt chẽ; chúng ta xây dựng niềm tin tưởng, và rồi hiểu biết, thấu tỏ. Song đừng quên nói về tần suất thế là phác thảo đại khái vậy, mỗi người có hệ thống thần kinh để xác lập kích cỡ thời gian…

Ý nghĩa cho với thân chủ và với nhà trị liệu;  cơ hội cùng thảo luận và trao đổi, cả hai quyết thời gian thân chủ đến.

Điều ấy sát hợp với trị liệu, và nó cũng kết nối với các kiểu dạng công việc. Học hỏi rồi trưởng thành là một tiến trình. Ta hay tự nhiên thoát khỏi, né tránh những gì khó nhằn và lạ lùng thay, ta bị mê hoặc mãi thôi theo các cách mà chính mình tự thuyết phục bản thân rằng mình không nên làm thế.

Tâm lý trị liệu mang tính thực hành. Và giống mọi phương thức đòi hỏi tương tự, nó chứa thể lý, cảm xúc, tâm linh; bất kỳ thực hành nào xứng đáng tốt nhất với bản thân.

Và điều tốt nhất là khi bản thân ở một mình. Một số thân chủ tới trị liệu một phiên duy nhất, và họ ổn; một số theo đuổi hàng năm trời.  Quyết định tần suất với nhà trị liệu vì thế, là công việc; đến với cái tôi và biết điều gì đó xảy đến ở chốn đó, đáng giá thời gian cùng chi phí bỏ ra…

Viết chào mời thời mới

Blog resolutions for 2016, by Russell Jackson at Draw the Public.

Năm 2016 đã trôi qua hơn 10 ngày đầu tiên rồi.

Viết chào mời Thời Mời. Cái thời mới í đã tồn tại sẵn đó, từ lâu. Như gần cội cây bàng đỏ lá và gió thổi lăn lốc đám khô vàng đầy màu sắc quá vãng chiều nay, một bà cụ móm mém, da nhăn nheo song vẫn vắt chân thong thả châm điếu thuốc lá từ cú bật lửa điệu nghệ của cậu trai kia. Như tin đưa vụ ghép đầu người sắp diễn ra lần đầu tiên vào 2017 rất dễ trở thành hiện thực, không còn là chuyện khoa học giả tưởng; vì từ 1954, người Nga đã tạo ra chó hai đầu gây sốc, và sau đó Hoa Kỳ ghép được đầu khỉ dù nó chỉ sống được vài ngày (bằng chứng về mặt kỹ thuật là có thể: 1, 2, 3 song không thoát khỏi vấn đề đạo đức y sinh liên quan sát sườn tới bản dạng và nhân cách người).

Thoải mái, thư thái mà vẫn chú tâm, tỉnh giác và ý thức với thái độ của kẻ hiểu biết, người quan sát, chỉ làm chứng cho chuyện các cảm xúc, suy tư, ký ức và tri giác đến rồi đi; chỉ nhìn ngó hơi thở, trải nghiệm về cơ thể lúc ngồi, và có thể cả âm thanh của lặng im (nền tảng của thanh âm giao thông đi lại); thái độ có mặt ở đây và ngay bây giờ này trong hiện tại là những gì gọi là ‘vun bồi, chăm nom’ luôn nhắc nhở chính bản thân mình rằng chỉ có hiện tại mà thôi.

Vì việc nhận ra cái tôi không phải là cái tôi, ý thức tinh tuyền không phải là cái tôi, không phải là con người mình; điều kiện của một bản ngã thì khởi lên rồi biến mất theo thời gian cùng nơi chốn.

Ta không phải là điều mình nghĩ. Cái gọi ‘nhân cách’ là các thói quen suy tư và sự gắn bó của tôi với ký ức, trí nhớ và chỉ là cách tôi phát triển trên bình diện cá nhân, riêng tư. Chúng giống như thói quen tựu thành, nên tựa bất kỳ thói quen nào chúng là những gì chúng là, cơ mà chúng chẳng khác hơn gì nữa… Như thế, nối kết sự ‘thư thái’ với ‘chú ý’ là khuyến khích sự chú ý rộng mở với khoảnh khắc hiện tại đang là… thời mới.

Thấy gì qua huyền thoại ‘nhà tâm lý có thể đọc vị tâm trí kẻ khác’?

Chưa cần tốt nghiệp rồi vừa không ngừng bổ túc kiến thức lẫn kỹ năng vừa mò mẫm hành nghề, chỉ mới gặp mặt hoặc nghe nói mình học Tâm lý thôi là có vẻ dễ khiến thiên hạ hay bạn bè quen biết nghĩ ta thừa sức xem tướng, coi bói, rành chuyện này chuyện nọ hay giỏi đến mức đọc vị được tâm trí họ.

Các bình phẩm suýt xoa thường kiểu ‘Nè, nói chuyện cẩn thận nghe, vì nhà tâm lý học ở đây có thể đoán biết những gì bọn mình suy nghĩ đó’. Khởi sự ấy có thể là tấm lòng thán phục chân thành hoặc lời đùa tếu vô tư; rằng nhiều người nghĩ làm một nhà tâm lý học thì sở hữu quyền năng ghê gớm: dễ dàng khám phá những gì kẻ khác che giấu. Tin tắp lự (đáng ngờ vực vô cùng) là người này có khả năng mở cái đầu ta và nhìn thấy những gì nằm trong đó.

Điều ấy không chỉ là niềm tin sai lầm duy nhất từng nghe về công việc tâm lý học. Còn nhiều nhiều vô kể. Chúng gây phấn khích đến độ đủ khiến ta một ngày muốn nhặt nhạnh rồi đặt cái tên: những trò mèo tâm lý; dù lắm lúc dùng giải lao, buồn cười vui vẻ phết song đôi khi trở thành vấn đề quan ngại thực sự.

Chẳng hạn, nghĩ tới cách một thân chủ cảm nhận khi anh ta tiếp cận tham vấn tâm lý và nghĩ về nhà trị liệu như thể vị này đã biết tuốt các suy tư của mình đến độ không cần thiết dành nhiều thời gian kể lể, mô tả cảm xúc bản thân: ‘Quái lạ, nhà tâm lý này cứ hỏi đi rồi hỏi lại mãi. Tại sao? Chẳng phải ông này biết mọi thứ chỉ đơn giản nhìn vào mình thôi mà? Có lẽ tay nghề ông này không giỏi lắm, hoặc có thể đây chưa là dạng trị liệu xịn, hoặc tự thân cái môn tâm lý học e có vấn đề chăng! Đúng thế, tâm lý học đích thực đồ đểu giả; chỉ tổ làm tốn thời gian và tiền bạc!’

Nghiêm túc mà nói, rất quan trọng việc cần có ý tưởng thực tế những gì người ta có thể và không thể mong đợi khi làm việc với một nhà tâm lý, và đôi khi có thể bảo vệ họ khỏi cảm giác bị lừa dối. Vì vậy, phải nói to lên và rõ ràng (nếu ai đó cảm thấy quá thẳng thừng thì mong được cảm thông) rằng nếu nghĩ một nhà tâm lý biết mỗi một suy nghĩ của mình chỉ nhờ quan sát thì ta đã sai.

Làm thế nào những trò mèo tâm lý này lại có thể khởi lên rồi lớn nhanh dễ dàng đến thế? Chúng không thể sinh ra từ sự rỗng không. Hãy thử gắng tưởng tượng xem chúng từ đâu tới. Khi trò mèo về ‘nhà tâm lý thấu thị’, khả năng cao giữ vai trò lý giải ở đây là khái niệm “vô thức” (unconscious). Nhờ Freud nghiên cứu, hầu hết người làm tâm lý biết ý nghĩa của từ đó; bất chấp vài khác biệt giữa các trường phái phân tâm học, tất cả đều tán đồng rằng nó là điều trong tâm trí mà chúng ta không nhận ra được. Freud làm việc dựa trên khái niệm này; ông nghĩ một bệnh nhân có thể cải thiện sức khỏe tâm lý nhờ dần nhận biết nền tảng vô thức trong các cảm xúc của bản thân. Vậy nên ông đặt để điều ấy như là mục tiêu trị liệu và gắng giúp các bệnh nhân của mình nhìn thấy những gì nằm bên dưới bề mặt đời sống ý thức. Đấy là điều nhà phân tâm học vẫn còn làm việc cho tới ngày nay.

Chẳng nghi ngờ chuyện một người không làm tâm lý phát hiện bao điều huyền bí ở đây. Được giúp đỡ để nhìn ra điều nằm sẵn trong tâm trí mình dù nó vốn chẳng hề rành mạch gì thì nghe ra như sự bói toán vậy. Và người ta dễ nghĩ những ai có thể giải mã cảm xúc của họ giỏi đến thế khác chi thầy phù thủy có phép lạ. Kỳ thực, không bí hiểm gì cho cam; nó đơn giản là vấn đề của kỹ năng.

Các kiểu dạng công việc thảy đều cần những kỹ năng chuyên biệt. Một thợ may áo quần giỏi việc ướm đo, chọn vải, cắt và ráp vá.  Anh ta sẽ cho điều ấy là tự nhiên và không hề nghĩ rằng việc may vá là chuyện gì to tát lắm, dù với không ít cánh đàn ông ấy thật bất khả vì họ không hề có kỹ năng.

Nhà tâm lý cũng cần các kỹ năng chuyên biệt. Công việc là trợ giúp và để trợ giúp, nhà tâm lý phải giỏi giang trong việc lắng nghe và thấu hiểu mọi người tốt hơn… thường dân. Do vậy sự thật kém lãng mạn hẳn đi: các nhà tâm lý học đơn giản tập trung chú ý vào những gì nghe được và nhìn thấy, và biết các lý thuyết có thể lý giải mọi chuyện liên quan. Lý thuyết và trải nghiệm giúp nhà tâm lý học lưu ý tới các chi tiết nhỏ nhặt mà hầu hết mọi người không hay nhìn ra và thậm chí còn thấy chúng thú vị, và nhà tâm lý giúp người ta nghĩ về những ý nghĩa bị giấu kín.

Song khoan, đợi chút nhé: nếu dừng tại đây, người ta chắc đúng khi tin rằng một người được đào tạo bài bản có thể đọc vị tâm trí họ. Người ta dễ phát biểu dạng: “Ồ, chỉ là do học hành chăm chỉ và nghiên cứu thấu đáo thôi ư? Nên kẻ không nhiều trải nghiệm thật khó, còn chuyên gia được đào tạo ngọn ngành thông tỏ có thể thực sự đọc được suy tư của mình chứ nhỉ.’

Anh ta không thể đâu. Điều giảng dạy cốt lõi trong đào tạo tâm lý là không có nhà tâm lý được đào tạo hoàn hảo nhất cũng như lý thuyết tốt nhất trên thế giới thì không thể chứng thực sai sót. Sự thật, kết quả tốt nhất một nhà tâm lý giỏi có thể thành tựu là chọn lựa nhiều đầu mối rồi tìm ra một cách lý giải cung cấp vài ý nghĩa liên quan nhất.  Song sẽ luôn luôn có điều gì đó không khít khớp, phù hợp.

Con người ta vốn phức tạp, phức tạp hơn lý thuyết nhiều, và mình phải luôn sẵn sàng thay đổi các giả thuyết của bản thân. Thử làm một bước tiến xa hơn: mình không thể đưa ra bất kỳ diễn giải nào có sẵn vì chẳng những con người phức tạp mà họ còn luôn tiến hóa, thay đổi rồi phát triển theo nhiều cách thức mới mẻ nữa. Ví von khi nghĩ về điều này là đừng ‘phải lòng’ bất kỳ chẩn đoán nào, ngay các chẩn đoán sát hợp và làm ta say mê ghê gớm. Một nhà tâm lý giỏi nhất thiết phải luôn giữ một không gian tự do trong lòng để anh ta có thể khai sinh các giả thuyết mới.

Lý do khác để mọi người có những niềm tin sai lầm về nhà tâm lý: các nguồn không luôn luôn đáng tin cậy. Nghĩ về cách các nhà tâm lý được mô tả trên phim ảnh và truyền hình nhiều tập thì tất rõ. Các nhà tâm lý là sự nhào trộn từ sự kiện và hư cấu; ngay cả khi lấy cảm hứng bởi công việc của một nhà tâm lý thực thì nhiều điều trong đó vẫn thừa yếu tố bịa đặt, dựng chuyện. Và mình thường quên mất một bộ phim là một bộ phim, và một bộ phim có thể không bao giờ mô tả thực tế đúng như nó là, chưa nói nhiều lúc gây phản cảm và buồn chán…

Hy vọng những câu từ trên thuyết phục ai còn mơ hồ, hoài nghi  và mong sẽ ngày càng ít đi người sẽ cảm thấy bị lột trần trước một nhà tâm lý.

Lời cuối. Chỉ nghĩ thôi sẽ buồn cười ngay chuyện có thể đoán biết trúng phóc tất cả các câu trả lời trong chương trình truyền hình Ai Là Triệu Phú nhỉ mà không phải đầu tư học hỏi, tích lũy kiến thức lẫn cóc cần ai trợ giúp téo tẹo gì cả.

Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.

“Và chúng mình yêu nhau bắt đầu từ độ ấy”…

Yêu thương nở tại vườn tâm...
Yêu thương nở tại vườn tâm…

Một trong những nghèo nàn nhất khi biểu đạt bằng Anh ngữ là chỉ có mỗi động từ ‘love’ để diễn tả các thang bậc và chiều kích cùng sắc thái đa dạng của sự yêu thương; một từ mà định phủ trùm hết thảy đủ thứ cảm xúc rất người này, ngay dù nhiều cách thức và hình tướng của yêu thương.

Chứa toàn bộ điên rồ khi biết mình phải hy sinh bản thân cho con cái, để chăm cả cháu chắt hoặc bất cứ đứa trẻ nào máu mủ ruột rà. Làm thế nào chúng ta kiểm soát hết sức kiên định để luôn phải lòng với những sinh linh chẳng ngừng leo trèo, quậy phá, la hét ỏm tỏi và sẵn sàng nằm vạ khóc tu tu khủng khiếp nếu trái ý bất mãn để rồi chúng vắt kiệt chúng ta về mặt tài chính, thể lý, và cảm xúc? Đó hầu như là dạng kiên định nhất về tính điên rồ rất người.

Đã hết đâu… Còn có tình yêu lãng mạn, và sự thuộc về vốn là dạng điên khùng khác.

Chúng ta cũng thôi thúc phải tìm kiếm tình yêu thuần tinh thần với bạn bè thấu hiểu mình, những người yêu quý và chiều chuộng mình ngay cả khi chúng ta giống đứa trẻ, làm bộ làm tịch và bần tiện đáng khinh lại còn phát ngôn đủ thứ lố lăng nữa.

Và dĩ nhiên, khởi nguyên thì chúng ta xoắn bện với nhu cầu được đón nhận tình yêu thương của bố mẹ và người chăm nom, nuôi dưỡng. Khi thiếu hụt điều ấy từ những năm đầu đời, nó trở thành yếu tính khiến chúng ta ngụy trang để sống còn.

Tình yêu mang tính trị liệu tâm lý là sự kết nối của tất cả ba dạng ấy: tình yêu lãng mạn, tình yêu phụ mẫu, và đôi khi tình yêu ngớ ngẩn thật trẻ con. Các nhà trị liệu hiếm khi nhận ra sâu sắc sự kiện này vì nỗi e sợ thoát khỏi thân chủ và buộc phải sát gần với thực tiễn hành nghề. “Yêu thương”, cái từ mù mờ và mang tính hồi quang khó nắm bắt này mang quá nhiều ý nghĩa thật khác biệt với ai đó không giống nhau; nó không thể bị ném lung tung và buông thả. Vì vậy, chúng ta nói về nó, đôi lúc dùng thuật ngữ lâm sàng là “gắn bó” hoặc “chuyển dịch”, và khi khác đơn giản là “kết nối” hoăc “ràng buộc”.

Thực tế, khá sáo rỗng về chuyện phải lòng với nhà trị liệu. Cái mà văn hóa quần chúng hay lờ đi là sự kiện rằng các nhà trị liệu cũng phải lòng thân chủ của mình. Nếu bạn đang ở trong giai đoạn cần đến trị liệu, tôi cá là nhà trị liệu của bạn đang yêu bạn. Nhà trị liệu yêu đến rồ dại mỗi thân chủ, nếu giả sử hiếm hoi mình không yêu, điều gì đó thật là sai trái lắm. Các nhà trị liệu cũng mong đợi bạn phải lòng. Cần biết rõ, phải lòng nhà trị liệu không hề yếu đuối hoặc tội lỗi hay ngu ngốc hay dở hơi; nó là dấu hiệu đích thực cho các kỹ năng quan hệ và sức khỏe tinh thần tốt lành, đúng đắn.

Phòng trị liệu là nơi chốn ấp ủ tình yêu. Chúng ta có thể thực hành yêu thương ở phòng trị liệu bởi vì cấu trúc bao bọc nó đảm bảo an toàn cho việc này. Các phiên trị liệu khởi đầu và kết thúc đều đặn mỗi tuần. Độ bảo mật và sự thân tín cùng các quy điều đạo đức và pháp luật ngăn cấm nhà trị liệu thiết lập một quan hệ tay đôi (như kiểu bằng hữu, đối tác làm ăn, hoặc bạn tình) với một thân chủ. Chúng ta gọi cấu trúc đó là “khung trị liệu” và nó được đặt để đủ cho bạn thoải mái có bất kỳ và hết thảy cảm xúc của con người, bao gồm yêu thương và hận thù, nộ khí và tri ân, bên trong bốn bức tường yên bình ấy. Phòng trị liệu là phòng thực hành, và điều chúng ta thực hành hầu như kiên định là cảm xúc và các kỹ năng yêu thương.

Chúc Mừng Năm Mới đầy tràn hoan hỉ và an lạc, với tình yêu nhà trị liệu dành cho; mình tốt đẹp, mạnh mẽ, và cực kỳ rất dễ phải lòng.

Nguyên tắc vàng phổ quát

Đối xử với người khác như cách bản thân mình muốn được đối xử vậy là nguyên tắc vàng mang tính phổ quát.

Các nhà trị liệu tránh làm việc với những người khác niềm tin và văn hóa với mình có thể đoan chắc rằng có một nền tảng thường dựa vào để trao đổi

Làm việc với kẻ mang niềm tin khác biệt dễ là thách thức lớn lao, nhất là với ai hành nghề tâm lý trị liệu. Mỗi thân chủ tự thân không chỉ gìn giữ một số niềm tin khác biệt mà còn chứa đôi điều làm nản lòng ghê gớm thuộc các hệ thống niềm tin tôn giáo và văn hóa mã hóa sẵn rồi.

Thân chủ thường tìm nhà trị liệu có cùng nền văn hóa hoặc niềm tin, nỗi sợ (đôi khi hoàn toàn đúng đắn) rằng một nhà trị liệu ngớ ngẩn hoặc tương phản có thể ngờ vực các niềm tin căn cốt mà họ không muốn thẩm tra.

Các nhà trị liệu cũng e ngại né khỏi các thân chủ thuộc niềm tin hoặc văn hóa khác biệt, sợ rằng một sự hiểu nhầm có thể khiến thân chủ khó chịu hoăc cảm thấy bị xúc phạm, thậm chí có khả năng bị than phiền, khiếu nại. Sự thiếu tự tin thế thường không thiết lập được quan hệ tốt.

Trong khi các nhà trị liệu không thể biết hết các chi tiết liên quan đến mỗi niềm tin và văn hóa mà họ tình cờ tương tác và họ nên suy nghĩ cẩn thận trước khi nỗ lực làm việc trong các khung tham chiếu họ chẳng thể thấu tỏ rốt ráo, có một nguyên tắc thông thường đối với hầu như mọi hệ thống niềm tin: nguyên tắc vàng.

Đối xử với người khác như mình muốn họ sẽ đối xử với mình thế.// “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn, đừng làm cho người).

Một nhà trị liệu nghiêm trang sẽ không, dĩ nhiên, giả định rằng có thể đi đến tán đồng, nhất trí hoàn toàn được. Thực tế, thừa ví dụ minh họa đau đớn cho các mối hiểm họa của việc theo đuổi quá háo hức việc kiếm tìm nền tảng đặt để thông thường…

Một lời nhắc nhở luôn đáng nhớ; còn lâu mới lạc hậu hoặc thừa thãi, trong tác nghiệp.

Trải nghiệm tiến trình khởi phát cá nhân và sự triển nở tâm linh

Có rất nhiều lợi lạc lâu dài định hình được khi làm việc với tiến trình khởi phát cá nhân và sự triển nở tâm linh.

Trước hết, không tránh né bất kỳ điều gì. Hôm nọ, một nữ sinh viên hỏi tôi liệu sau tất cả những thực hành tâm linh rồi xử lý rốt ráo chuyện chuyển hóa thì đâu là thứ mình nên né tránh? Hồi đáp đã chia sẻ là không nhất thiết phải tránh né điều chi; một phần mình mong muốn trở thành, song cũng sẽ có phần khôn ngoan hơn ta cảm thấy lôi cuốn bản thân tới việc sống trong sự thật toàn thể, và đó là hành trình tâm linh.

Chúng ta học hỏi rằng mình lớn lao hơn các khó khăn, phiền muộn đang phải gánh chịu. Khi chúng khởi lên, chúng ta có thể đương đầu giải quyết chúng; không phải vì chúng ta đang hành hạ bản thân và muốn làm các thánh tử vì đạo, mà vì chúng ta biết rõ, khi giải quyết một cách trực tiếp, phương thức hiệu quả nhất thông qua nỗi khổ niềm đau. Chẳng hạn, ai đó sẽ thích làm vài ly, gầy độ nhậu nhằm gắng tránh đối diện với một vấn đề; cơ mà, lúc nào đấy họ sẽ say mèm và rồi lần nữa, vấn đề còn đó, thậm chí dễ lớn hơn lên so với nguyên trạng ban sơ.

Kết quả tiến hành công việc này với chính bản thân mình giúp chúng ta bước vào nơi chốn trong lòng tất sẽ ôm choàng thật vui tươi đời sống như nó lộ bày ra, bởi vì chuyến hành trình ấy mang lại cho chúng ta hạnh phúc, bình an, thỏa ý mãn nguyện và quyền lực sâu xa nhất. Chúng ta thôi quá vướng bận để tránh né bất kỳ điều chi thêm nữa.

Vậy sự khác biệt giữa lặng im với yên tĩnh trên tiến trình triển nở tâm linh? Đâu là trải nghiệm riêng có về sự khác biệt ấy? Liệu đúng là giữa hiểu biết với tích hợp này không giống nhau? Vẫn còn có một bước tiến lớn xung quanh lặng im và yên tĩnh?

Tôi tin, không ít người có nhiều trải nghiệm khác biệt về sự im lặng. Như ai đó từng nghĩ mình chỉ thiền tập trong khoảng 10, 15 phút để rồi cuối cùng 3 tiếng đồng hồ đã trôi qua. Hầu hết chúng ta ít rảnh rỗi để thiền tập nên với các trải nghiệm kiểu vậy về sự mở rộng thời gian và vô ngã chắc không thuần túy tạo ấn tượng mạnh mẽ.

Yên tĩnh thì dường như thuộc trạng thái tâm lý hơn là chuyện ngồi xuống và đắm mình lặng lẽ nơi này. Học hỏi để làm lòng mình lắng lại là kỹ năng đáng giá. Mình sẽ phải bắt đầu với khả năng làm bản thân chậm rãi rồi lắng đọng và tĩnh tại nhằm sống cùng những gì đang biểu tỏ trong nội tâm mình. Điều này đưa chúng ta đi sâu hơn vào im lặng. Hiện diện cùng những gì đang là trong từng khoảnh khắc một giúp chúng ta phát hiện rồi làm việc theo cách riêng hướng tới các bản ngã đích thực. Bản ngã đích thực nối kết chúng ta với những gì lớn lao hơn nhiều cái tôi lăng xăng, bé nhỏ.

Một cái nhìn thoáng qua về trạng thái im lặng sâu thẳm là khởi đầu cho lộ trình ổn định hóa trạng thái của ý thức hợp nhất. Sau trải nghiệm thống nhất làm một trong thiền tập, chúng ta có thể học hỏi để đan dệt trải nghiệm nổi trội này vào đời sống thường ngày, trong từng khoảnh khắc. Tuần tự, dần dần sự đan dệt, kết nối bắt chặt đến độ đời sống không còn phả vào chúng ta sự cách ngăn biện biệt nữa mà đó là hơi thở của sự liên hợp; nghĩa là, không còn chia tách giữa chủ thể và đối tượng.

Như thế, khó chối bỏ lợi lạc dài hạn khi làm việc với sự khởi phát cá nhân và tiến trình triển nở tâm linh. Thường, các trải nghiệm của chúng ta không phản ánh theo lối tiến bộ từ A tới B rồi tới C, tức không thật xác đúng với sự tiến bộ tuyến tính; thậm chí, lắm lúc chúng ta dễ nghĩ rằng chẳng điều chi xảy đến cả, dù đích thị đấy là phong cảnh nội tại trong ta đang thay đổi.

Nếu không có thời gian tiến hành đọc sách, đến phòng trị liệu, tham dự các buổi hội thảo phát triển bản thân thì thiền tập cùng các nỗ lực thử nghiệm khác trong tiến trình trở thành cái tôi tốt lành nhất, chúng ta sẽ thành công. Cần lưu ý, lúc này thành công có thể trông không hề chính xác như mình nghĩ, song nếu nó có thể giúp mình bước lùi lại và lưu tâm đến cách đời mình đã thay đổi ra sao thì chúng ta thường dễ nhận ra một sư khác biệt tích cực.

Như một nhà tâm lý trị liệu, tôi nghe đi nghe lại nhiều lần từ các thân chủ rằng họ nghĩ mọi đớn đau, khổ sở của họ sẽ biến mất ngay tắp lự nếu họ thực hiện tất cả mọi điều ‘đúng đắn’. Họ thổ lộ mình từng ghi nhớ các câu nói khẳng định, lên tinh thần, gặp người làm tham vấn tâm lý, đọc sách, áp dụng trị liệu dựa vào cảm xúc cho đời sống vợ chồng (EFT), thiền tập và cầu nguyện đủ kiểu song họ vẫn thấy buồn bã hoặc bị ruồng bỏ không ít lần. Đôi khi, tất cả chúng ta quên rằng, thời điểm ở trong nỗi đớn đau và phiền muộn thì rất khó khăn để nhìn thấy bức tranh rộng lớn hơn. Nhớ rằng, đấy là tiến bộ không hoàn hảo. Khi trưởng thành, cách định hình về nỗi khổ niềm đau (suffering) của chúng ta thay đổi và chín chắn cực kỳ. Chúng ta thực sự cảm thấy nỗi đau về mặt cảm xúc hoàn toàn khác trước. Những gì từng đẩy chúng ta rơi vào trạng thái hoảng sợ, bị kích động hoặc tê liệt thì giờ đây với một hơi thở sâu, mình cảm thấy ổn thôi…

Thân xác, như các cảm xúc, tâm trí và linh hồn, trải nghiệm các hiệu ứng cộng dồn tích cực thêm lên khi chúng ta ngày càng tích hợp, thống nhất. Ký ức thẳm sâu của sự tích hợp đó vào những thời điểm thách thức sẽ cho phép chúng ta bật tung trở lại hết sức nhanh chóng.

Một ví dụ cho việc thân xác lưu giữ các hiệu ứng cộng dồn là khi mình còn bé xíu, mình có thể nhảy múa, hát hò và diễn kịch một cách chuyên nghiệp. Bởi vì mình từng là vũ công, cơ thể đáp ứng để chóng đi vào quyết định cụ thể. Nếu quá bận để đi tập gym thì việc giữ dáng tiến hành được nhờ ký ức biết cách chuyển động và các cơ bắp biết nên như nào… Giờ già rồi, cơ thể có thể khó khăn để tìm các hiệu ứng dĩ vãng theo vài cách thức nào đó; tuy vậy, tuổi càng lớn thì mình nhận dạng cụ thể dễ dàng hơn về mặt cảm xúc và tâm linh. Nói thế, không có nghĩa chúng ta không thi thoảng gặp lắm cảm xúc rắc rối, song rốt ráo chúng ta tích lũy cơ bắp khôn ngoan khi làm việc với nội tâm.

Nếu chúng ta điều chỉnh lối đan dệt, cài đặt cuộc đời để sống đời tâm linh, không ngừng dấn tâm trí theo cùng trạng thái thách thức niềm tin và các hệ thống cảm xúc thì khả thể là chúng ta hẳn có một đời sống cân bằng và hài lòng. Làm ơn biết cho rằng thời gian đáng giá để được chúng ta sử dụng hiệu quả, hữu ích. Việc cộng dồn của thứ lợi lạc dài hạn này càng đem lại cho chúng ta nhiều bình yên, hạnh phúc và mãn nguyện.

Tự trị, một trong các nhu cầu căn bản luôn được khuyến khích khi trợ giúp, thuộc về sự lựa chọn, chưa nói là sự lựa chọn đầy ý nghĩa. Dù chắc chắn người ta thích thú với các màu sắc, hình ảnh, chân dung được tô đậm, tôn cao trong hệ thống cung cấp tin nào đó (facebook chẳng hạn) hoặc các cuộc tập huấn hô hào lên dây cót, song điều quan trọng của bảng màu này xa lắm mới có ý nghĩa bằng sự lựa chọn mang tính ý chí, ước muốn của mỗi cá nhân cụ thể.

Lựa chọn mang tính ý chí, ước muốn là khả năng đưa ra các quyết định ý nghĩa đối với chính bản thân mình; các quyết định kiểu ‘điều gì quan trọng với tôi?’, ‘giá trị của bản thân tôi là gì?’

Những ‘sứ điệp’ cá nhân thẳm sâu như thế có thể giúp ai đó dấn thân vào trạng thái trải nghiệm lớn lao và kéo dài (tựa việc thay đổi hành vi mang tính lành mạnh). Hiến dâng đời mình với mục tiêu vun bồi các quan hệ phong nhiêu hoặc lên đường khám phá, phiêu lưu có thể dẫn dắt các lưa chọn đúng đắn tức thời, phục vụ cho mục đích chung cuộc rốt ráo. Đó là lý do tại sao, như các huấn luyện viên về sức khỏe, người ta cần quan tâm sâu sắc tới việc làm sao trợ giúp thân chủ vén mở rồi tích hợp các mục tiêu cá nhân.

Đích thị, tất cả những gì các huấn luyện viên có thể làm là hướng dẫn; để chuyện ấy hiệu quả, mục tiêu phải mang tính cá nhân. Các huấn luyện viên có thể đưa cho người ta các công cụ phản ánh các giá trị và tính cách của họ, để tổng hợp những gì họ biết vào một tuyên bố rõ ràng, và lưu giữ mục đích luôn ở vị trí trung tâm trước mặt, song họ không thể tạo ra hoặc sắp đặt mục đích.

Nên thi thoảng thật buồn cười khi nghe ai đó nói về chuyện tạo ‘động lực, thúc đẩy’ ai đó. Một huấn luyện viên giỏi, thiển nghĩ, sẽ ở vai trò tấm gương soi để giúp một người nhận ra động cơ cô ấy/ anh ta đang mang chứa trong lòng.

Đó là nơi ánh sáng của tia lửa bùng lên, nó dễ làm khởi phát tiến trình cá nhân và sự triển nở tâm linh đồng vọng…

Chẳng có chi phải lo ngại khi không nói gì…

Khi nhất thiết phải mở mồm và cất tiếng thì quả thật khó khăn biết bao nếu chẳng nói gì cả. Kỹ năng bộc lộ được đẩy mạnh thêm nhờ sự cho phép không cất lời chính là câu chuyện của kiểm soát, như một vấn đề thuộc quyền lực.

Thực tế, tình huống trị liệu từ ban đầu đã bất công; tuy nhiên, thấm thía với tư cách là nhà tham vấn tâm lý cho thân chủ quyền lực để điều hướng tiến trình của riêng họ, mình buộc phải nhận ra rằng đang nắm giữ tất cả kiến thức về tình huống, các chuẩn mực và ranh giới thuộc văn hóa trị liệu, và những kỳ vọng lẫn trải nghiệm cá nhân. Cảm xúc nắm giữ hết thẩy thế của nhà trị liệu dễ khiến một số thân chủ nảy sinh trạng thái bất an, và họ có thể muốn giữ rịt các câu chuyện cho riêng mình để bám chặt một vài kiểm soát nhất định.

Thường người thực hành tâm lý được dạy rằng phiên đầu tiên dành cho các thủ tục ký tá nọ kia, phiên thứ hai mới khởi sự nói về ‘vấn đề đích thực’ nên cũng dễ xảy ra chuyện nếu được phép ngấm ngầm, như dấu chỉ chân thành của lòng tôn trọng từ nhà tham vấn, để bộc lộ toàn bộ tình huống của họ ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ.

Quan điểm trị liệu ẩn bên dưới thông điệp vừa nêu rõ ràng khẳng định rằng thân chủ nợ nhà tham vấn việc cung cấp thông tin, trong đó thổ lộ tự thân nó là mục tiêu, có vẻ là sự dựa cậy quyền lực chẳng mấy hữu ích. Ở đâu bất công về quyền lực, ở đấy sẽ là xung đột. Thiển nghĩ, ý tưởng thân chủ cần ‘đưa cho’ nhà tham vấn câu chuyện đời mình hoặc các cái tôi để nhà tham vấn ‘làm điều gì đó’ với chúng nào khác gì hơn nỗi sợ hợp pháp mà thân chủ có thể sở hữu, điều nhà tham vấn có thể nỗ lực xua đi dứt khoát xuyên suốt phiên làm việc đầu tiên.

Bất kể thân chủ đến với ước muốn chân tình đi thẳng vào ‘vấn đề’ hoặc họ không cảm thấy an toàn để làm điều đó và cần xây dựng sự tin tưởng trước đã, trường hợp nào thì phiên đầu tiên là cơ hội để cả hai bên để ý lẫn nhau rồi thương lượng công việc tương lai dưa trên nên tảng công bằng nhất khả dĩ. Công việc giá trị có thể cũng hoàn thành ngay ở đây và bây giờ giữa thân chủ và nhà trị liệu hoặc trong lòng thân chủ mà không nhất thiết đang nhắc đến ‘câu chuyện’ hay ‘vấn đề’.

Kiểu phiên làm việc như này cũng chứa đựng thông điệp rằng đúng cả khi nói hoặc không cất tiếng gì cả. Nhiều nhiều vấn đề hay ho mang tầm quan trọng sống động có thể đã không hề được thảo luận. Song các thân chủ, một khi họ cảm thấy an toàn, được tự do dùng không gian và các mối quan hệ như họ muốn. Họ không nợ nhà trị liệu điều chi, và nhà trị liệu không hề nghĩ mình bị chơi khăm nếu họ nhận ra tất cả những gì là sự kiện và cảm xúc thích hợp, liên quan.

Bài học nằm ở chuyện tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để không gây áp lực thúc đẩy những người khác bộc lộ, và truyền thông sự vắng bóng áp lực hết sức rõ ràng âu là công cụ hữu ích cho mọi kiểu dạng quan hệ; gợi nhớ ví dụ mẹ liên tục hỏi con kể cho bà nghe những gì xảy ra ở trường trong thời gian đi học xa nhà, hoặc tình huống cô vợ rập khuôn khẩn khoản chồng nói cho mình hay về cảm xúc trong lòng cậu ấy…

Khi cảm thấy được chấp nhận bất kể mình là ai, nói nhiều ít tùy thích, rồi thường hơn là cảm giác an toàn cùng tin tưởng tạo lập nên trong quan hệ, và mình có thể nói nhiều như mình cần thiết và mong muốn bộc lộ. Mình được thoải mái chọn lựa. Và sự chấp nhận tự thân nó đủ xúc tiến, làm tăng lên trạng thái triển nở và thân- tâm an lạc.

Ranh giới trong trị liệu tâm lý: làm thế nào tái xác lập và vận dụng thành công

Chủ đề ‘ranh giới’ trong trao đổi mang tính trị liệu tâm lý thường hay bị thân chủ lờ đi ở nét chính yếu nhất: các sắc thái tạo nên thành phần căn cốt cho một đời sống lành mạnh.

Vượt trên những ước ao, thảng hoặc người ta xác định (các) ranh giới như là điều ‘công bằng’ hoặc ‘đúng đắn’. Ngay cả khi các ranh giới tốt lành hòa hợp với những gì thuộc công chính và chắc thực về mặt đạo đức, mọi thứ được cho là công chính và chắc thực về mặt đạo đức ấy lại không tất yếu thành ra một ranh giới như ý được. Với nhiều kẻ khác, ranh giới là ‘điều tôi muốn’. Lần nữa, các ranh giới nào khiến mình đạt nhu cầu thì thường là ranh giới tốt lành, song có thể chúng ta đề cao giá trị của nguyên tắc vàng thì chưa chắc rằng người khác luôn tường tận cách chúng ta muốn được đối xử cũng như khó giả định tha nhân lưu giữ các mối quan tâm, lợi lạc tốt nhất của ta trong tâm trí họ.

Thi thoảng, một nữ thân chủ sẽ nói “cô ấy nên tôn trọng các ranh giới của tôi chứ”, như thể người kia phải có khả năng đọc tâm trí mình vậy. Khi các phi hành gia lần đầu tiên mạo hiểm bước vào không gian, họ cảm thấy ấn tượng bởi nhận ra rằng các ranh giới chính trị chằng chịt trở nên chẳng nghĩa lý gì nữa đối với quả đất. Cùng nghĩa, nhiều người mong đợi các ranh giới của họ được tự chứng thực cho dẫu kẻ khác cóc thèm lưu tâm hoặc tôn trọng chúng.

Không đơn giản hẳn là một sự thỏa thuận, rất nhiều lần người ta sẽ phát ngôn kiểu ‘Tôi muốn thiết lập ranh giới với Hùng’. Và điều này chỉ ra đâu là nghĩa mà người khác đòi hỏi các bản sao tương tự câu hỏi của họ, dạng ‘nên như nào thì mới công bằng?’, ‘liệu anh sẽ chấp nhận chuyện gì?’, hoặc ‘cô muốn chi?’. Tất cả các câu hỏi dễ thương này giúp người ta hiểu biết mối quan hệ, song khi chạm tới các ranh giới, rốt ráo đấy không phải là các câu hỏi đúng. Các ranh giới được xác định bởi các cá nhân cụ thể, bởi chính họ, vì bản thân họ.

Người giỏi giang về chuyện chiêu trò thường thách thức năng lực hoặc quyền lợi của chúng ta liên quan đến đặt để ranh giới, nhằm phục vụ các ước muốn riêng có của chính họ. Khi đối đãi với loại người ấy, hãy làm việc với các suy tư trong ta, về phần mình, đến mức thậm chí căn cơ tốt nhất. Các ranh giới của mình phải thỏa mãn quy điều đạo đức và hỗ trợ việc đáp ứng các nhu cầu của mình, chứ không nhất thiết của họ. Sự phân biệt này chính xác là điều mà một bậc thầy chiêu trò muốn mình lờ đi trong tranh cãi nảy lửa. Các ranh giới rất cần thay đổi khi hoàn cảnh đổi thay, song thường thì không hề chóng vánh hoặc phản ánh bản chất, thực tế.

Các ranh giới cần được xác định. ‘Thiết lập ranh giới’ là tiến trình trải qua nhiều giai đoạn, khởi từ việc đặt ranh giới cho bản thân chứ không phải cho đầu kia. Nhờ tôi thiết lập sớm sủa, các ranh giới tốt lành tạo nên khung tham chiếu cho đạo đức và tính công chính, đúng như tôi hiểu biết chúng. Các ranh giới cũng hỗ trợ mình đáp ứng được nhu cầu riêng tư. Những niềm tin và nhu cầu của mình khác biệt với người, cho nên chẳng hề chần chừ thiết lập một ranh giới không giống ranh giới của gia đình, bạn bè mình. Tuy nhiên, bất luận ranh giới lựa chọn, mình sẽ cần thông báo với người thích hợp trong đời.

Các ranh giới cần được công khai. Tương tự, bất kể ranh giới lựa chọn, mình sẽ cần công khai chúng với người thích hợp. Công khai các ranh giới thường đòi hỏi chí ít một sự dũng cảm nhất định. Mình đang đặt người có quan hệ lưu tâm những gì mình sẽ và không chịu đựng được. Thường các đòi hỏi này làm thay đổi hành vi mà thường họ không mấy ưa thích. Nhớ rằng, đây là một lời tuyên bố, không phải sự thỏa hiệp. Thật dễ thương để lắng nghe phản hồi song cũng cần dè chừng việc sẽ bị thuyết phục thu hồi quyết định mà mãi về sau, đến lượt mình mới kịp nhận ra nó đã bị vượt qua.

Các ranh giới là câu chuyện phòng thủ. Không phải vì mình xác lập, tuyên bố về nó mà ranh giới sẽ khiến những người khác tôn trọng nó. Giống như các ranh giới trong lĩnh vực chính trị đòi hỏi các tường rào, cổng ngõ, lính canh phòng ngự, các ranh giới cá nhân đòi hỏi việc lập kế hoạch chính xác điều phải tiến hành khi ai đó cố gắng xâm phạm ranh giới. Việc mô tả đảm bảo mình duy trì ranh giới. Thực tế, nếu thiết lập ranh giới rồi nhận ra ta không đủ khả năng củng cố nó theo ý riêng, mình sẽ cần suy nghĩ lại về tự thân ranh giới hoặc cách thức mình ước ao thực hiện để bảo vệ nó.

Căn cốt, các ranh giới chỉ tốt lành khi có các kỹ năng và việc giải quyết được xác lập, tuyên bố rồi bảo vệ chúng.

(còn tiếp)

Vài lưu ý về các ranh giới trong tham vấn tâm lý

Ranh giới là khía cạnh chủ yếu của bất kỳ mối quan hệ hiệu quả nào giữa thân chủ và nhà tham vấn tâm lý. Chúng đặt để cấu trúc mối quan hệ và cung cấp một khung tham chiếu nhất quán cho tiến trình tham vấn. Một vài ranh giới là rõ ràng. Hầu hết nhà tham vấn biết rằng nó là vấn đề thuộc đạo đức, ví dụ, để tham vấn cho người yêu cũ bởi vì mối quan hệ trước đây làm suy giảm tính khách quan và hạ thấp mối quan hệ mang phẩm chất chuyên nghiệp. Thực tế việc phác họa các ranh giới không phải lúc nào cũng rành mạch, sáng tỏ; các tình huống này rơi ra ngoài khuôn mẫu, quy điều đạo đức và nằm trong khoảng vùng mờ xám.

Rồi chẳng hạn, một nhà tham vấn chạm mặt thân chủ ở nơi công cộng (như khách sạn, buổi chiêu đãi, hoặc sàn tập thể hình của địa phương) thì có tán gẫu vui vẻ hay rời bỏ ngay lập tức? Nhà tham vấn và thân chủ cả hai cùng phục vụ chung trường hoặc tham gia trong một ban từ thiện mà không hề làm lệch lạc mối quan hệ trị liệu giữa họ? Liệu nhà tham vấn từng hỗ trợ nhiều năm trời có đảm bảo đúng đạo đức khi tham dự đám cưới của thân chủ? Một nhà tham vấn có thể biểu tỏ bằng một cái ôm đầy lòng trắc ẩn với thân chủ đang quẫn trí sau một phiên trị liệu hết sức đau đớn?

Các câu trả lời, với nhiều nhà tham vấn, phụ thuộc các thuyết phục và nhân cách mang tính lý thuyết cá nhân khi khởi lên mỗi nghịch lý. Các yếu tố khác nhà tham vấn cần xem xét là nhân cách, sự chín chắn trong thấu hiểu và cảm xúc của thân chủ. Đó là lý do tại sao một số nhà tham vấn sẽ uống chén trà với thân chủ trong phiên trị liệu, và một số khác lại không. Một số nhà tham vấn thích treo ảnh gia đình nơi làm việc còn một số khác thì chẳng bao giờ làm thế. Một số nhà tham vấn sẽ tham gia một cuộc gặp tình cờ với thân chủ trong khi một số khác sẽ rời bữa tiệc nhanh nhất lúc thấy thân chủ băng ngang qua phòng.

Với các thân chủ đang đương đầu với các ranh giới mù mờ, câu hỏi phải đặt để quan trọng nhất trong tâm trí là “Liệu điều này có phục vụ cho các mối quan tâm mang tính trị liệu của thân chủ không?”

Các hướng dẫn về ranh giới mang tính đạo đức hành nghề dựa trên những nguyên tắc căn bản của bộ quy điều đạo đức dành cho người thực hành/ tham vấn tâm lý. Từ lâu, Corey (1996) đã tóm tắt ngắn gọn 5 nguyên tắc cốt lõi:

  1. Từ tâm: một nhà tham vấn phải chấp nhận trách nhiệm đề cao những gì là tốt lành cho thân chủ với mong đợi rằng thân chủ sẽ hưởng lợi từ các phiên làm việc.
  2. Không ác ý: “làm điều bất hại”. Nhà tham vấn phải tránh bất cứ lúc nào, hành động gì (thậm chí vô tình) hoặc tình huống ra sao cùng thân chủ mà có thể là nguyên nhân tạo nên mối quan tâm mâu thuẫn.
  3. Tự trị: trách nhiệm đạo đức của nhà tham vấn là khuyến khích thân chủ độc lập trong suy nghĩ và ra quyết định, và ngăn cản tất cả các dạng thức phụ thuộc vào mình ở thân chủ.
  4. Công chính: nhà tham vấn cam kết cung cấp dịch vụ đúng đắn và đàng hoàng với mọi thân chủ mà không phân biệt tuổi tác, giới tính, sắc dân, tộc người,văn hóa, khuyết tật, và địa vị kinh tế- xã hội.
  5. Trung thực: thành thật với thân chủ và nhà tham vấn thiệt tình cam kết vinh danh sự tiến bộ của thân chủ.

Nguyên nhân xáo trộn, rối rắm bởi các ranh giới từng được Corey (1996) mô tả tốt nhất như một biến thiên, trải dài từ việc gỡ thoát hẳn ra (các nguyên tắc chỉ đạo/ ranh giới cố chấp, cứng rắn) cho tới chuyện vướng víu (uyển chuyển đến độ phát tán lung tung) với một vùng xám mù mờ ở giữa mà hiển nhiên gây nhập nhằng và phụ thuộc nhà tham vấn, tình huống và các hoàn cảnh cũng như các nhu cầu không ngừng thay đổi của thân chủ. Để là nhà tham vấn hiệu quả, người ta không thể tách biệt với thân chủ đến mức chẳng thấu cảm nổi. Đó quyết không phải mục tiêu tham vấn và gây phản tác dụng với mối quan hệ trị liệu.

Tuy nhiên, nhà tham vấn không ước muốn thấu cảm đến mức họ ôm hôn thân chủ mỗi khi gặp mặt hoặc chửi rủa thân chủ om sòm trong lúc biểu đạt sự tức giận với nhau. Nhà tham vấn cũng không nên ghé thăm gia đình thân chủ vì tiện đường từ nơi làm việc về nhà, bởi đó là hành vi của một người bạn. Nếu làm thế, ranh giới sẽ bị xâm phạm. Trong tham vấn, các ranh giới nhập nhằng thường dễ khởi lên song nhà tham vấn cần nghiêm ngặt nhận lãnh trách nhiệm xác lập các giới hạn liên quan đến tính bảo mật của thân chủ. Dạng thông tin kiểu ấy đặt để với thỏa thuận được thân chủ tán đồng và là quyền lợi cơ bản của thân chủ.

Dưới đây là minh họa tham khảo.

Trong giai đoạn vẫn tiếp tục làm việc với nhà tham vấn X. hai năm nay, Y. đột ngột phải nhập viện để phẫu thuật khẩn cấp. Nghe giọng Y. quá bấn loạn và lo sợ qua điện thoại, X. hứa mai sẽ đến ngay bệnh viện thăm cô. Y. đau đớn khủng khiếp, và X. ngồi trên chiếc ghế đặt cạnh giường Y. nằm, nắm lấy tay cô khi Y. chìa tay ra… X. hỏi han bệnh tình, an ủi rồi sau khi biết chắc gia đình Y. sắp vào thăm, X. nhanh chóng rời bệnh viện.

Y. biết đây là tình huống ngoại lệ với các phiên tham vấn vẫn quen gặp X. và điều đó sẽ không lặp lại. Việc X. ghé bệnh viện thăm Y. được hiểu đơn giản là nhà tham vấn quan tâm đến sức khỏe của thân chủ, thấy rõ ràng và sâu sắc cơn đau cũng như cảm giác bị khủng hoảng của Y. Vào phiên đầu tiên sau khi Y. xuất viện, X. tranh thủ ít phút nhắc lại cuộc viếng thăm của mình để đoan chắc là Y. hoàn toàn hiểu rõ ý nghĩa của nó đặt trong bối cảnh của mối quan hệ trị liệu.

Một số nhà tham vấn có thể sẽ không ghé bệnh viện thăm Y., họ cho rằng chỉ nên hạn chế mối quan hệ trị liệu trong văn phòng và hành vi của nhà tham vấn khá dễ bị thân chủ hiểu nhầm. Một số nhà tham vấn khác lại tin rằng một quyết định đưa ra thì phải dựa cụ thể vào các tình huống cá nhân cũng như tính đặc thù, riêng biệt trong mỗi mối quan hệ với từng cá nhân thân chủ.

Cách thức chuyên nghiệp mà bản thân X. tiến hành khi ghé bệnh viện thăm thân chủ Y.cho phép X. vận hành cùng với các ranh giới sát hợp lương năng chức trách của nhà tham vấn đàng hoàng. X. không hề có ý định nịnh đầm, chiều chuộng phụ nữ khi ghé bệnh viện thăm Y., hơn thế, X. suy nghĩ thấu đáo về chuyến thăm, cân nhắc các khả năng xảy đến cũng như lợi lạc cho thân chủ. Hành vi của X. thích đáng như người làm việc chuyên nghiệp, trong bối cảnh chuyên nghiệp, đã chẳng tạo ra suy diễn sai lầm rằng chuyến thăm và cả hình ảnh bản thân của mình giống như một người bạn. Rồi, sớm nhất có thể, X. đã trao đổi với thân chủ thật rõ ràng về ý nghĩa chuyến thăm đồng thời cắt bỏ bất kỳ khả năng nào gây nhập nhằng hoặc ám chỉ bóng gió.

Các nhà tham vấn làm việc hữu hiệu nhận ra ngay rằng những cảm xúc mãnh liệt khá dễ khởi lên trong phiên trị liệu và chúng thường thách thức cả các ranh giới cá nhân lẫn chuyên nghiệp của chính nhà tham vấn. Nhà tham vấn nào am hiểu quyền năng tác động của bản thân và mức độ dễ bị thân chủ diễn dịch sai trái thì cũng rất nghiêm túc nắm lấy các ranh giới thuộc tham vấn tâm lý chuyên nghiệp. Họ cũng thận trọng khi lựa chọn thái độ uyển chuyển trong các ranh giới quan hệ và càng không lơ là về khả năng rẽ nhánh, chia luồng khi uyển chuyển cùng thân chủ.