Khuyết tật, trục trặc, thiếu hụt, khó khăn, và một nửa của sự hòa hợp: điều có thể hiểu không hề đơn giản ngay cả khi đã thấy sờ sờ trước mặt…

Lòng thôi tơ tưởng, sông trôi muôn hướng...
Lòng thôi tơ tưởng, sông trôi muôn hướng…

Trạng thái khuyết tật (disability) cùng vô vàn biểu hiện trục trặc, thiếu hụt, rắc rối, khó khăn, bất ổn, … là chủ đề quá dễ khiến thiên hạ chú ý nếu truyền thông cố tình khai thác. Hai vụ đình đám gần đây ở trong nướcngoại quốc càng khiến công luận bàng hoàng về những ví dụ dính dáng sâu xa tới trạng thái định kiến, phân biệt đối xử và mẫu rập khuôn.

Từ “khuyết tật” trỏ điều rõ ràng như chuyện di chuyển khó khăn hay trục trặc cảm quan kiểu bị  câm điếc, mù lòa chẳng hạn; song thực tế, khuyết tật còn bao gồm cả bệnh tiểu đường, nghe kém, rối loạn giấc ngủ, đau mạn tính hoặc viêm khớp, và kể cả rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) bởi vì tất cả các trạng thái ấy có thể quấy nhiễu, phá vỡ các hoạt động hàng ngày. Mình có thể gặp một sinh viên mắc khó khăn về đọc (learning disability) cần thêm thời gian làm bài kiểm tra đủ khiến mình tự hỏi chẳng rõ khái niệm ‘khuyết tật’ có hợp pháp không đây. Sinh viên gặp khó khăn học đường này dễ trải nghiệm mức độ hụt hẫng rất cao và kết quả học tập khá tệ nhưng lại cứ mang giả định rằng năng lực bản thân vốn thấp tè thế thôi. Một người mới tiến triển trục trặc về khả năng nghe có thể đề nghị mọi người nói to lên hoặc lặp lại câu cú song người này không kết nối với trải nghiệm là mình đang mắc mội khuyết tật; người ấy cho rằng ấy chỉ là biến thể trong lắng nghe thôi hoặc nghĩ do môi trường khiến việc nghe khó khăn…

Nếu họ chưa bộc lộ, nào ai dám chắc kẻ đấy bị một khuyết tật vô hình. Với nhiều định kiến và phân biệt đối xử ghê gớm, quyết định bộc lộ một khuyết tật vô hình với tha nhân e sẽ đè nặng tâm trí rất kinh khủng, khiến nảy sinh nhiều thách thức ghê gớm về mặt xã hội lẫn công việc; chuyện che đậy gây ảnh hưởng tiêu cực về sức khỏe  thể chất và tinh thần; ngược lại, thái độ cởi mởi giúp người trong cuộc tìm thấy rồi phát triển mạng lưới hỗ trợ xã hội với đối tượng cùng hoàn cảnh hoặc trải nghiệm.

Thực tế rõ ràng là người quản lý, thầy cô giáo, và nhiều tầng lớp khác nên nhận ra các thách thức đặc trưng liên quan với dạng thức khuyết tật vô hình. Với nhiều khuyết tật vô hình hay gặp,  thực tế đối tượng cũng chẳng hề tự quan sát thấy các triệu chứng tâm lý hoặc thể chất họ đang trải nghiệm.

Câu chuyện về người đàn ông 32 tuổi đang có vợ con Nick Vujicic chỉ ra rằng bị khuyết tật thúc đẩy chúng ta nhanh chóng thành thật với chính các cảm xúc của bản thân; vì thế,  đó lá lý do mọi người e sợ… Phải cởi mở, nỗ lực tiến hành một bước đi đặc biệt. Ấy không phải sự khiếm khuyết của người ấy biểu tỏ mà chính bản thân con người ấy đích thị thể hiện vậy.

Thấy gì qua huyền thoại ‘nhà tâm lý có thể đọc vị tâm trí kẻ khác’?

Chưa cần tốt nghiệp rồi vừa không ngừng bổ túc kiến thức lẫn kỹ năng vừa mò mẫm hành nghề, chỉ mới gặp mặt hoặc nghe nói mình học Tâm lý thôi là có vẻ dễ khiến thiên hạ hay bạn bè quen biết nghĩ ta thừa sức xem tướng, coi bói, rành chuyện này chuyện nọ hay giỏi đến mức đọc vị được tâm trí họ.

Các bình phẩm suýt xoa thường kiểu ‘Nè, nói chuyện cẩn thận nghe, vì nhà tâm lý học ở đây có thể đoán biết những gì bọn mình suy nghĩ đó’. Khởi sự ấy có thể là tấm lòng thán phục chân thành hoặc lời đùa tếu vô tư; rằng nhiều người nghĩ làm một nhà tâm lý học thì sở hữu quyền năng ghê gớm: dễ dàng khám phá những gì kẻ khác che giấu. Tin tắp lự (đáng ngờ vực vô cùng) là người này có khả năng mở cái đầu ta và nhìn thấy những gì nằm trong đó.

Điều ấy không chỉ là niềm tin sai lầm duy nhất từng nghe về công việc tâm lý học. Còn nhiều nhiều vô kể. Chúng gây phấn khích đến độ đủ khiến ta một ngày muốn nhặt nhạnh rồi đặt cái tên: những trò mèo tâm lý; dù lắm lúc dùng giải lao, buồn cười vui vẻ phết song đôi khi trở thành vấn đề quan ngại thực sự.

Chẳng hạn, nghĩ tới cách một thân chủ cảm nhận khi anh ta tiếp cận tham vấn tâm lý và nghĩ về nhà trị liệu như thể vị này đã biết tuốt các suy tư của mình đến độ không cần thiết dành nhiều thời gian kể lể, mô tả cảm xúc bản thân: ‘Quái lạ, nhà tâm lý này cứ hỏi đi rồi hỏi lại mãi. Tại sao? Chẳng phải ông này biết mọi thứ chỉ đơn giản nhìn vào mình thôi mà? Có lẽ tay nghề ông này không giỏi lắm, hoặc có thể đây chưa là dạng trị liệu xịn, hoặc tự thân cái môn tâm lý học e có vấn đề chăng! Đúng thế, tâm lý học đích thực đồ đểu giả; chỉ tổ làm tốn thời gian và tiền bạc!’

Nghiêm túc mà nói, rất quan trọng việc cần có ý tưởng thực tế những gì người ta có thể và không thể mong đợi khi làm việc với một nhà tâm lý, và đôi khi có thể bảo vệ họ khỏi cảm giác bị lừa dối. Vì vậy, phải nói to lên và rõ ràng (nếu ai đó cảm thấy quá thẳng thừng thì mong được cảm thông) rằng nếu nghĩ một nhà tâm lý biết mỗi một suy nghĩ của mình chỉ nhờ quan sát thì ta đã sai.

Làm thế nào những trò mèo tâm lý này lại có thể khởi lên rồi lớn nhanh dễ dàng đến thế? Chúng không thể sinh ra từ sự rỗng không. Hãy thử gắng tưởng tượng xem chúng từ đâu tới. Khi trò mèo về ‘nhà tâm lý thấu thị’, khả năng cao giữ vai trò lý giải ở đây là khái niệm “vô thức” (unconscious). Nhờ Freud nghiên cứu, hầu hết người làm tâm lý biết ý nghĩa của từ đó; bất chấp vài khác biệt giữa các trường phái phân tâm học, tất cả đều tán đồng rằng nó là điều trong tâm trí mà chúng ta không nhận ra được. Freud làm việc dựa trên khái niệm này; ông nghĩ một bệnh nhân có thể cải thiện sức khỏe tâm lý nhờ dần nhận biết nền tảng vô thức trong các cảm xúc của bản thân. Vậy nên ông đặt để điều ấy như là mục tiêu trị liệu và gắng giúp các bệnh nhân của mình nhìn thấy những gì nằm bên dưới bề mặt đời sống ý thức. Đấy là điều nhà phân tâm học vẫn còn làm việc cho tới ngày nay.

Chẳng nghi ngờ chuyện một người không làm tâm lý phát hiện bao điều huyền bí ở đây. Được giúp đỡ để nhìn ra điều nằm sẵn trong tâm trí mình dù nó vốn chẳng hề rành mạch gì thì nghe ra như sự bói toán vậy. Và người ta dễ nghĩ những ai có thể giải mã cảm xúc của họ giỏi đến thế khác chi thầy phù thủy có phép lạ. Kỳ thực, không bí hiểm gì cho cam; nó đơn giản là vấn đề của kỹ năng.

Các kiểu dạng công việc thảy đều cần những kỹ năng chuyên biệt. Một thợ may áo quần giỏi việc ướm đo, chọn vải, cắt và ráp vá.  Anh ta sẽ cho điều ấy là tự nhiên và không hề nghĩ rằng việc may vá là chuyện gì to tát lắm, dù với không ít cánh đàn ông ấy thật bất khả vì họ không hề có kỹ năng.

Nhà tâm lý cũng cần các kỹ năng chuyên biệt. Công việc là trợ giúp và để trợ giúp, nhà tâm lý phải giỏi giang trong việc lắng nghe và thấu hiểu mọi người tốt hơn… thường dân. Do vậy sự thật kém lãng mạn hẳn đi: các nhà tâm lý học đơn giản tập trung chú ý vào những gì nghe được và nhìn thấy, và biết các lý thuyết có thể lý giải mọi chuyện liên quan. Lý thuyết và trải nghiệm giúp nhà tâm lý học lưu ý tới các chi tiết nhỏ nhặt mà hầu hết mọi người không hay nhìn ra và thậm chí còn thấy chúng thú vị, và nhà tâm lý giúp người ta nghĩ về những ý nghĩa bị giấu kín.

Song khoan, đợi chút nhé: nếu dừng tại đây, người ta chắc đúng khi tin rằng một người được đào tạo bài bản có thể đọc vị tâm trí họ. Người ta dễ phát biểu dạng: “Ồ, chỉ là do học hành chăm chỉ và nghiên cứu thấu đáo thôi ư? Nên kẻ không nhiều trải nghiệm thật khó, còn chuyên gia được đào tạo ngọn ngành thông tỏ có thể thực sự đọc được suy tư của mình chứ nhỉ.’

Anh ta không thể đâu. Điều giảng dạy cốt lõi trong đào tạo tâm lý là không có nhà tâm lý được đào tạo hoàn hảo nhất cũng như lý thuyết tốt nhất trên thế giới thì không thể chứng thực sai sót. Sự thật, kết quả tốt nhất một nhà tâm lý giỏi có thể thành tựu là chọn lựa nhiều đầu mối rồi tìm ra một cách lý giải cung cấp vài ý nghĩa liên quan nhất.  Song sẽ luôn luôn có điều gì đó không khít khớp, phù hợp.

Con người ta vốn phức tạp, phức tạp hơn lý thuyết nhiều, và mình phải luôn sẵn sàng thay đổi các giả thuyết của bản thân. Thử làm một bước tiến xa hơn: mình không thể đưa ra bất kỳ diễn giải nào có sẵn vì chẳng những con người phức tạp mà họ còn luôn tiến hóa, thay đổi rồi phát triển theo nhiều cách thức mới mẻ nữa. Ví von khi nghĩ về điều này là đừng ‘phải lòng’ bất kỳ chẩn đoán nào, ngay các chẩn đoán sát hợp và làm ta say mê ghê gớm. Một nhà tâm lý giỏi nhất thiết phải luôn giữ một không gian tự do trong lòng để anh ta có thể khai sinh các giả thuyết mới.

Lý do khác để mọi người có những niềm tin sai lầm về nhà tâm lý: các nguồn không luôn luôn đáng tin cậy. Nghĩ về cách các nhà tâm lý được mô tả trên phim ảnh và truyền hình nhiều tập thì tất rõ. Các nhà tâm lý là sự nhào trộn từ sự kiện và hư cấu; ngay cả khi lấy cảm hứng bởi công việc của một nhà tâm lý thực thì nhiều điều trong đó vẫn thừa yếu tố bịa đặt, dựng chuyện. Và mình thường quên mất một bộ phim là một bộ phim, và một bộ phim có thể không bao giờ mô tả thực tế đúng như nó là, chưa nói nhiều lúc gây phản cảm và buồn chán…

Hy vọng những câu từ trên thuyết phục ai còn mơ hồ, hoài nghi  và mong sẽ ngày càng ít đi người sẽ cảm thấy bị lột trần trước một nhà tâm lý.

Lời cuối. Chỉ nghĩ thôi sẽ buồn cười ngay chuyện có thể đoán biết trúng phóc tất cả các câu trả lời trong chương trình truyền hình Ai Là Triệu Phú nhỉ mà không phải đầu tư học hỏi, tích lũy kiến thức lẫn cóc cần ai trợ giúp téo tẹo gì cả.

Cô ấy yêu người có những ý nghĩ phản xã hội

Trước hết, hãy thử mở đầu bằng việc nghe lời thoại từ nhân vật The Joker trong bộ phim Kỵ sĩ Bóng Đêm (The Dark Knight, 2008):

Mày biết tại sao tao dùng dao không? Dùng súng thì nhanh quá. Mày không kịp nhấm nháp các nỗi niềm nhỏ nhặt được. Mày hiểu chứ, trong những khoảnh khắc cuối cùng, bọn chúng sẽ cho mày thấy đích thị chúng là người ra sao. Nên theo cách nào đó, tao thấu biết đám bạn mày hơn mày rất nhiều. Mày muốn biết những đứa nào trong số đó là thằng hèn hay không?

Có thời điểm nào đó ở đời, mình dễ cảm thấy thân thiện thực sự với nhiều người và lưu giữ tất cả nét tính cách của họ trong tâm trí theo cách thức được cấu trúc và tổ chức đủ để rồi ra áp dụng phân tích mỗi một thứ về mấy người ấy. Mình đo lường các mối quan hệ xã hội dựa trên giá trị mình có thể nhận lấy, và các nguồn lực mình phải trao đưa đặng quyết định xem liệu mình nên đáng dành thời gian cùng công sức cho các mối quan hệ ấy. Mình đối xử với người như các thứ đồ và công cụ bỏ đi vì mục đích che chắn an toàn cho các ước muốn lẫn mục tiêu, thông qua những lời nói dối toàn bộ và thủ đoạn hoàn hảo.

Sự quyến rũ giả tạo

Trước khi khởi động trò chuyện với một người, mình đã quyết định chính xác hơn nửa cổ mẫu nhân cách của vị này. Từ việc phối màu trong phục sức cho tới các phụ kiện trang trí đi kèm thì tất thảy đã đóng vai trò cực quan trọng để phân tích rồi.

Bởi vì hầu hết mọi người chẳng hiểu giá trị của mình nếu không đặt để ấn tượng cho họ biết mình là ai thông qua cách ta ăn mặc. Vậy nên, tủ quần áo có thể kiểm soát việc gây ấn tượng với vô vàn cơ hội xảy đến… Đó là cách quyến rũ giả tạo vì suy tư khởi đi từ ý tưởng rằng một tương tác bắt đầu bởi vấn đề bắt mắt lọt tai.

Ngôn ngữ cơ thể

Lưng thẳng, vai mở rộng thoải mái và bàn tay xuôi theo thân mình e hẳn là dấu chỉ mạnh mẽ về một người điềm tĩnh; trạng thái này phản ánh mức độ cortisol thấp và cảm giác thoải mái với xung quanh mà đến lượt nó, minh họa khả năng chiến lược hóa bất chấp áp lực khủng khiếp do các nguồn lực ngoại giới. Hơn thế, ngôn ngữ cơ thể quyền lực mang tính báo hiệu thông thường rằng quyền lực sinh ra từ dòng dõi của con người riêng có này.

Trong các loài giả nhân, con đực alpha sẽ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn các con đực khác trong nhóm. Mỗi lần một con đực alpha mới hiện diện, con đực alpha mới từng là beta của nhóm giờ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn so với phong thái trước đây. Điều này hàm ý, bất kỳ ai đều có thể biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể dễ dàng và nhanh chóng nhờ thay đổi đơn giản suy tư cũng như tư thế cơ thể ngay lập tức.

Thói cầu kỳ và quy ước mặc nhận

Khi chúng ta bắt tay, mình tiếp xúc mắt thẳng thắn để xem những người khác có muốn khởi sự quan hệ. Nếu anh ta đủ năng lực duy trì tiếp xúc mà không chớp mắt thì dễ mô tả là người quá tự tin vì anh ta buộc phải đánh giá để chống kháng với cơ xương và giọng rất mạnh mẽ của đối tác.

Chỉ tầm 5-10 phút trò chuyện, với lượng từ vựng cho tới cách phát âm, mình có thể kể rất hiều về cách tri nhận thế giới. Cơ chừng cực kỳ quyền lực ở số đàn ông sử dụng phạm vi từ vựng rộng vì anh ta đọc nhiều và thông minh; họ sẽ dùng nhiều từ nghe chừng xa lạ hoặc khó nắm biết đối với quảng đại quần chúng. Cùng lúc, họ sẽ thể hiện thông minh về mặt xã hội để cho mình quyền lực và giá trị qua một buổi trao đổi ngắn ngủi; điều này sẽ móc chặt các cảm xúc tích cực về cuộc đối thoại và làm người ta thêm ước ao đầu tư vào mối quan hệ.

Chắc bạn từng nghe nhiều lần chuyện thắc mắc tại sao phụ nữ yêu mấy gã xấu xa… Các hành vi phản xã hội như thiếu thấu cảm, vắng lòng xót thương, quyến rũ giả tạo, và mang chất mánh khóe dẫn dắt thì dễ tìm thấy trong con người đàn ông mà phụ nữ yêu.

Tiến hóa

Nếu tìm hiểu về tâm lý học tiến hóa, nhiều trong số các hành vi tích cực được xem là hấp dẫn thực sự giới nữ có thể dõi theo về chiến lược chọn lựa tính dục bên trong loài chúng ta. Tiến hóa sẽ phục vụ cho nghiên cứu hơn nữa nét tính cách duy trì sống còn trong quá khứ khiến một số đàn ông tích lũy được các nguồn tốt đảm bảo cơ hội cho sự bảo bọc con cái họ. Các nét tính cách này tiếp tục tỏ lộ ở thời hiện đại và dễ tìm thấy nơi nhiều đàn ông quyền lực, nhất là các CEOs cao cấp và trùm Mafia.

Mánh khóe dẫn dắt

Đa phần nghĩ về sự mánh khóe như thể là điều gì khả năng nhìn thấy ở những ai cố kiếm lợi lạc từ chúng ta. Tiếc thay, hầu như mình bị dẫn dắt bởi người quá thông minh đến độ chúng ta tin rằng dự tính và hành động của họ thật chân thành và đứng đắn. Tình thế gay go ở chỗ, người này thông minh thừa khả năng thuyết phục, dụ dỗ chúng ta để làm cho họ thêm nhiều quyền lực hơn lên.

Thiếu sự thấu cảm

Lần nữa, thiếu sự thấu cảm không nhất thiết nghĩa là kẻ mánh khóe sẽ không thể hiện mối quan tâm tới cảnh ngộ của bạn. Thực tế, nếu mình đem lại nhiều lợi lạc phục vụ cho sự truy cầu của kẻ phản xã hội này, anh ta sẽ có khả năng biểu đạt sự thấu cảm với bạn một cách giả tạo nhằm chiếm được lòng tin; nhờ sự thay đổi thế, bạn sẽ cởi mở với các ý kiến rồi dần dễ dàng rung cảm với những mời mọc, mệnh lệnh của anh ta. Hầu như bạn sẽ còn chẳng đủ khả năng để kể ra những kết nối thiếu vắng cảm xúc của anh ta.

Cực kỳ quyến rũ

Nếu từng gặp một gã quyến rũ thôi rồi và mồm mép khỏi nói trong thói cầu kỳ lẫn quy ước mặc nhận của anh ta thì khả năng anh ta sẽ là một kẻ có vấn đề; các nét tính cách độc đáo đến nỗi họ thật xuất chúng và bật sáng về mặt trí năng xã hội.

Chẳng hạn, nếu anh ta có thể duy trì đối thoại rất tốt với các nhóm lớn, giữ tiếp xúc mắt với nhiều khu vực khác nhau trong đám đông, thoải mái với mọi người, nói bằng thứ ngôn ngữ hoa lá cành dù không cóc cần tuân thủ quy tắc ngữ pháp song vẫn đảm bảo sáng rõ để hiểu thì đấy là một vài dấu hiệu đáng dè dặt. Kỳ cùng, hầu hết mấy kẻ ấy vô cùng thành đạt trong bậc thang thăng tiến lãnh đạo công ty hoặc kết thúc trong nhà tù, vì không kiểm soát nổi các hành vi nguy cơ của bản thân.

Họ không bao giờ nói về chính mình

Một trong những nét tính cách tồi tệ chúng ta tin tưởng làm kẻ khác nghe theo là nói năng và thuyết phục. Thực tế, đấy đích thị cách tồi tệ để thuyết phục hoặc khiến ai đó tin tưởng. Hay nhất là cho phép người khác bộc lộ ra ngoài các ý kiến, quan điểm và cảm xúc dạt dào sẻ chia. Càng nhiều câu chuyện đậm màu cảm xúc được chia sẻ, cô ấy càng thêm phần gắn bó với sự hiện diện của anh ta. Ban thưởng tinh tế như gật đầu nhẹ hay sờ chạm nhằm củng cố các hành vi này đến mức tạo nên vòng xoáy trôn ốc đi lên của việc đầu tư thêm cảm xúc. Tuy nhiên, khi họ cất lời, nói chung nghĩa là sự chiếm đoạt ngắn gọn, sắc bén, chính xác và gây chú ý ghê gớm.

Sau rốt, dù không phải cốt thể hiện chẩn đoán hoặc phân tích chính thống về các hành vi thái nhân cách (sociopath), dường như hầu hết di truyền của mình hóa trang nhất quán bộ ba nét tính cách đen tối này. Thực sự đối xử với hầu khắp con người ta như dạng thức thực nghiệm xã hội thì tự thân nó đã tố cáo dấu chỉ của hành vi mang tính thái nhân cách rồi, dẫu khá là thành thật rằng mối quan hệ của chúng ta sẽ luôn hưởng lợi lại qua, xét từ quan điểm logic và rất hữu lý.

‘Cái tôi’: sự lừa dối trên tiến trình nhận thức

Rằm tháng Giêng rồi, nhân Ngày Thơ quốc gia, lượn lờ tình cờ mà đọc được đôi câu treo trong khuôn viên Văn Miếu- Quốc Tử Giám của một cậu trai 8X khiếm thị: “Ngoài trời còn có trời cao, trong tôi biết có tôi nào tôi hơn” (Nguyễn Việt Anh, 1982, Hà Nội).

Ai thích Toán hoặc quan tâm thống kê chắc biết luật Benford. Phần phấn khích trong câu chuyện nhỏ này là cách thức nó sát gần cũng như giải pháp nêu ra lại dính kết tới ý tưởng về ‘cái tôi’ (self) mà theo đạo Phật thì chẳng khác chi trò ảo thuật lừa mị: được tạo ra như phó sản của ‘tiến trình xử lý ký hiệu tinh thần’. Đây có vẻ giải thích luật Benford thấu tỏ nhất. Theo tiến sĩ Steven Smith, hơn 70 năm qua luật Benford đã đạt đỉnh điểm của sự sùng bái; nó mạnh mẽ tuyên bố chứng thực một số bí mật hoặc thuộc tính khá bất thường của vũ trụ.

So sánh điều ấy với cuộc đấu tranh triền miên của con người nhằm định vị ‘cái tôi bên trong hoặc ở ngoài bản thân mình, trong khi con người không ngừng nhìn/ xử lý sáu giác quan. Rõ ràng, phải có một cái tôi, self, ego, một ta phỏng ạ? Tôi có thể thấy nó. Song nó đến từ đâu rứa? Và nó là cái chi chi? Câu trả lời của Phật đối với ‘vấn đề’ mà ngài tóm tắt thành ‘avijja‘ hoặc ‘sự ngu dốt/ thiếu khôn ngoan/ vô minh’, một ảo tưởng, liệu tương tự với trả lời chúng ta có thể tìm thấy với bài toán ‘bí hiểm’ này (tức thuộc vấn đề tinh thần/ logic)?

Lần nữa, theo tác giả Steven Smith, đừng phí thời gian đặng cố thấu hiểu các ý tưởng ấy; chúng hoàn toàn đi theo vết sai lạc hẳn rồi. Không có ‘thuộc tính vũ trụ’ nào và hiện tượng này chẳng liên quan gì với các ‘đơn vị’ (units) cả. Chung cuộc, chúng ta sẽ nhận ra rằng luật Benford trông giống với một cuộc biểu diễn ảo thuật thật ngoạn mục hon là như một thuộc tính bị giấu kín của vũ trụ. Nói gọn, mẫu hình logarithm của việc dẫn dắt các con số đến từ chiêu trò thể hiện của dữ liệu (data), và không có liên quan với các mẫu hình trong các con số được xem xét…Rằng việc này làm thay đổi theo một mẫu hình dựa vào các khả năng của số 10, ví dụ thế, là phản logarithm. Không hề nhận ra rằng bộ não mình đã bí mật biểu diễn dữ liệu, mình quy mẫu hình logarithm này cho một số dấu hiệu ẩn kín nào đó của các con số độc đáo.

Từ quan điểm Phật giáo hoặc thiền định thấu tỏ, điều gì đó tương tự cũng xảy đến với tâm trí. Việc xử lý ký hiệu hoặc trải nghiệm nhận thức của tâm trí tạo nên tri giác, ý thức về cái tôi, là ‘kết quả’ của tiến trình (phó sản hoang đường) đã không hề được tìm thấy trong nội tại tiến trình cũng như là ‘yếu tính’ rốt ráo. Do vậy, ý thức, như đức Phật ghi nhận, đúng là trò lừa của ảo thuật gia:

Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm Thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, Thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong Thức được?

Với cái nhìn này, đạt được Niết Bàn (Nirvana) sẽ mang nghĩa kết thúc rốt ráo công việc nhà của người ta. Giải quyết phương trình luân hồi đòi hỏi nhiều việc phải làm (cần đọc bài viết của tiến sĩ Smith hoặc đơn giản hành thiền vài năm), mà việc thức nhận đoạn kết sẽ là một thứ ngắn gọn và sâu xa, và sẽ không nằm trong lĩnh vực của sáu giác quan. Như trường hợp giải quyết luật Benford, nó hàm ý một số hình thức bước ra khỏi rồi xem xét lại vấn đề từ quan điểm trung lập, chắc chắn người ta không quên việc tính đến tiến trình nhận thức riêng tư hơn là rơi vào các diễn giải khác nhau mà tâm trí thường hay nảy nở, tăng nhanh đưa thêm…

Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.

Trạng thái bất mãn về giới: vẫn đầy phiền muộn và còn nhiều bỏ ngỏ…

Xem cái clip nhân Ngày Mồng Tám Tháng Ba thật thú vị và đầy ý nghĩa nhắc nhở nhiệm vụ bất khả chối từ.

“Bạn nghĩ mình là nam hay nữ?”
“Em nghĩ mình là nữ ạ”

“Điều gì định nghĩa một người phụ nữ?”
“Sự thông minh, sắc đẹp và sự nữ tính”

“Theo bạn ngày 8/3 Quốc tế phụ nữ có dành cho mình không? ”
“Có ạ”

“Tại sao?”
“Vì em được gia đình và người yêu ủng hộ, sống thật với giới tính của mình”

Những nỗi niềm như dưới đây tiếp tục khẳng định mọi sự không phải lúc nào cũng được ghi nhận, thỏa ý.

Em là gã đàn ông 34 tuổi đã lập gia đình và có một em bé rồi. Em từng có một bí mật là thích ăn mặc áo quần con gái hồi mới là nhóc con 5 tuổi; em nhớ mình cảm thấy thật tuyệt vời và sung sướng quá độ. Em tự trấn an rằng các cảm giác kiểu đó sẽ biến mất khi em lớn lên; khủng khiếp thay, các cảm xúc này lại phát triển thành ước ao là một người phụ nữ đích thực. Làm thế nào để em có thể cảm thấy giống như một người đàn ông bình thường? Việc này có cần điều trị gì không ạ?

Chia sẻ trên dễ gợi ý về cái mà giới chuyên môn trợ giúp gọi là sự không hài lòng, bất mãn, khó chịu về giới (gender dysphoria, GD). Thực tế, nhiều người vẫn bắt gặp các cảm giác vốn xuất hiện từ thời thơ ấu này; họ có thể thấy khá khổ sở, căng thẳng ghê gớm về mặt lâm sàng hoặc thiếu hụt trong nghề nghiệp, giao tiếp xã hội, các khía cạnh đời sống khác.

Hiểu cơ bản, lúc còn bé con, chúng ta thường nghe các nhóc nhiều lần thổ lộ ao ước mình là giới kia, hoặc thậm chí không ngừng tin tưởng mình đúng là như thế thật. Chúng hay mặc áo quần khác giới cũng như thích chơi trò, giữ vai tương ứng với giới kia; ngoài ra, các biểu tỏ còn có thể là sự chối bỏ mạnh mẽ các loại đồ chơi đặc thù hay trang phục dành riêng cho giới đó. Cũng có thể là sự ghét bỏ cơ thể và bộ phận sinh dục của chính mình. Khi bước vào giai đoạn vị thành niên, các triệu chứng này thể hiện thành ao ước là người thuộc giới kia, được đối xử như giới kia, và thậm chí sống ở ngoài thực như người thuộc giới kia; giai đoạn vốn phức tạp này sẽ làm cho trẻ như thế càng cảm thấy khổ sở thêm khi buộc phải đương đầu với các cảm giác và vấn đề bản dạng ấy. Cả người trưởng thành lẫn vị thành niên đều nảy sinh nhu cầu khát khao giải thoát mình khỏi các đặc trưng giới tính ban đầu và thứ phát rồi thường thêm đoan chắc rằng mình được sinh ra với giới tính sai lạc hẳn rồi. Ý nghĩ về chuyện mình cảm nhận về bản thân từ bên trong không hề sát khớp với cái nhìn bên ngoài có thể gây nên nỗi niềm đau đớn với không ít người; họ tìm đến sự khuây khỏa nhờ liệu pháp thay thế hormone (HRT), phẫu thuật và các thủ tục phức tạp nhằm thay đổi ngoại hình (tham khảo). Một số chỉ thấy thoải mái khi sống ngoài đời đúng như là người của giới kia, số khác thì thích tiếp tục với bản dạng giới tính đã được ấn định từ hồi mới chào đời.

Trạng thái bất mãn về giới từng được gọi là rối loạn bản dạng giới (Gender Identity Disorder, GID), có người thì quen dùng thuật ngữ là đối tượng chuyển đổi giới tính (transsexuals); hiện tại, có vẻ ‘những người không theo chuẩn về giới” (gender noncomforming) là thuật ngữ tốt hơn nhiều vì nó chỉ cho cả những ai không cảm thấy mình thuộc về bản dạng nam hay bản dạng nữ.

Nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới cho biết họ muốn mình ‘cảm nhận như một người đàn ông bình thường’ hoặc ‘cảm nhận như một phụ nữ bình thường’ tương thích với định hướng hoặc bản dạng giới họ từng được nuôi dưỡng. Tuy thế, mục tiêu của trị liệu không phải là thay đổi các ý nghĩ này mà bắt đầu trợ giúp người ấy quản lý ác các cảm xúc này tốt hơn. Trị liệu không nên nhắm vào việc mình nên cảm thấy hoặc hành động ‘như một người đàn ông” mà thay vào đó, giúp mình hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra cũng như hỗ trợ mình trong những lựa chọn mình ra quyết định (ví dụ, sống ngoài đời như một bản dạng giới đàn ông hoặc phụ nữ, hoặc có lẽ là giới tính lưng chừng, mơ hồ (‘genderqueer’). Tiếc thay, nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới bị trầm uất và lo âu khi cố gắng hoài giải và quản lý các cảm xúc kiểu thế. Đáng lưu ý, thường xuất hiện nguy cơ khá cao muốn tự sát với nhóm này. May mắn là hiện có rất nhiều tổ chức và nhóm hội sẵn sàng trợ giúp các bạn giải quyết các cảm xúc vướng mắc.

Các cá nhân chuyển giới có nhu cầu lớn lao cho những đổi thay về các khía cạnh xã hội, nghề nghiệp và luật pháp. Chắc chắn, vẫn còn định kiến dai dẳng và nặng nề liên quan với chuyện đang bàn, và bước chuyển thay đổi chẩn đoán từ GID sang GD là hướng đi đúng đắn. Tuy vậy, nếu không có các điều kiện ‘mang tính chẩn đoán’ thì lại dễ gây khó khăn cho những ai muốn tiếp cận dịch vụ chăm sóc ý tế khi họ cần thay đổi trong giao dịch về bảo hiểm, dù thực tế nó còn là câu chuyện chưa ngã ngũ.

Lời cuối. Bản dạng giới thì không phải là bản dạng tính dục (sexual idnetiy). Người gặp trạng thái bất mãn giới có thể ổn thỏa trong việc thích hoặc yêu người có cùng hoặc khác giới với họ. Với đa phần chúng ta không phải rơi vào trạng thái bất mãn giới, cần hiểu cả loạt vấn đề mà các bạn bất mãn giới phải đương đầu, giải quyết như dùng đại từ nhân xưng nào gọi mình, mang một cái tên không tương thích với giới của bản thân, quyết định vào phòng vệ sinh nào cảm thấy thoải mái hơn, điền đúng vào ô khi khai các mẫu đơn thư và giấy tờ, thủ tục hành chính thường nhật, v.v…

‘Giới tính theo quy chuẩn’ có thể quen được sử dụng để mô tả cách mình nhìn nhận và cảm thấy về bản thân và về hành vi của mình tương thích với bản dạng giới. Song không phải mọi người ai cũng đều được hưởng đặc quyền tưởng chừng đơn giản như vậy.

Tên giết người, kẻ cười biếm và sự chế nhạo tế vi sinh tử: trong nỗi khổ đau chung đụng

Thế giới của những chỉ trích lại qua cao độ càng dễ làm tăng thêm mức nguy hiểm âm ỉ từ nỗi niềm hận thù tích chứa khó lường trong lòng. Vụ thảm sát ở Paris vừa qua chắc khó khiến người ta ngoác miệng nhìn nhau hỉ hả được, bất chấp tranh luận trong ngoài hiện vẫn còn tiếp diễn dây dưa…

Ai quan tâm tìm hiểu văn học- nghệ thuật Pháp chẳng khó nắm bắt các sắc thái châm biếm, trào phúng khác nhau qua các thời đại, với phong vị Rabelaisian hay khí chất kiểu Voltairean. Khởi từ thời nổi loạn ấn tượng 5- 6.1969, các bức tranh biếm họa của tờ báo ra hàng tuần Charlie Hebdo mang cả lối đả kích chính trị hồi Charles de Gaulle trộn lẫn kiểu minh họa dung dị Charlie Brown.

Nếu biếm họa quả là một truyền thống Pháp thì càng dễ hiểu cơn cớ người ta cố bảo vệ quyền tự do biểu đạt, và tính cách ấy góp phần lý giải tại sao cần gìn giữ khả năng gây sốc của nghệ thuật.

Vấn đề đáng tìm hiểu nghiêm túc: liệu các biếm họa mang quyền năng hơn hẳn nghệ thuật đích thực? Và thật phi lý khi giới truyền thông toàn cầu lờ các vụ thảm sát ở lục địa đen Phi châu và sẵn lòng hừng hực đương đầu khi sự cố chết người xảy đến ở châu Âu già cỗi? Lần cuối cùng một nghệ sĩ thị giác bị giết bởi một tác phẩm gây tranh cãi là khi nào, hay các điểm khác biệt giữa nghệ thuật bình dân với hội họa, mỹ thuật?

Không chỉ tranh biếm họa, phim ảnh cũng từng trở thành đối tượng để các kẻ cực đoan sát hại tác giả. Và lần nữa, lich sử nghệ thuật vẫn sẵn có ví dụ về sắp đặt được mua với giá $20.000 và ngay cả khi bị cho là ‘gớm chết’ thì khi khởi kiện, phía Bảo tàng vẫn thắng, bất chấp đề tài chạm tới các biểu tượng tôn kính của Công giáo La Mã.

Dĩ nhiên, đó không phải là câu chuyện nhắm tới ý khoan dung tôn giáo; kỳ thực, người làm chuyên môn có thể nảy sinh nhu cầu phân biệt giữa biếm họa và mỹ thuật. Kiểu biếm họa (cartoon) thì vẽ liền ngay, dễ xem, và thường được khởi thảo để trêu tức, khiêu khích; nghệ thuật (art) thì thường dự tính, mang ý định tạo vết cắt buốt chầm chậm về sau, nó đề xuất nhiều vấn đề và câu trả lời. Các nhà vẽ tranh biếm họa biết họ dễ bị đưa lên giá chữ thập:

Vẽ tranh biếm họa là tay cực tối giản, và những kẻ chuyên quyền, bạo chúa cũng tối giản đâu kém… Vì thế, họ hiểu quyền lực của biếm họa. Những người vẽ biếm họa thường rất giỏi chuyện chưng cất, tinh luyện, họ đánh thức theo cách hết sức dễ hiểu… và đó là lý do tại sao các bức tranh thật đáng sợ.

Và sự sinh, sinh sự nên tất xuất hiện ý kiến “tự do báo chi không có nghĩa thoát khỏi mọi phê bình” đi kèm với nhận định rằng nghệ thuật không coi trọng quá tính thiêng.

Thực tiễn nhân loại chỉ ra, duy mỗi con người trong các tạo vật trần gian mới có thể suy tư, nói năng, và làm ra các tác phẩm; trầm tư rồi nhận thấy tính Vô hạn; rằng nghệ thuật nhân loại, như nghệ thuật thần thánh bao gồm cả hai mặt của các khía cạnh định rõ và không xác lập nổi, cả cần thiết lẫn tự do, gồm trạng thái run rẩy lẫn niềm vui thú.

Nghệ thuật thế tục do vậy, được phân biệt với nghệ thuật của tính thiêng: trong nghệ thuật tính thiêng (sacred art) những gì đặt định sẵn vượt qua mọi thứ là nội dung và việc sử dụng tác phẩm, còn với nghệ thuật thế tục (profane art) những cái đó chỉ là cớ cho việc nảy nở niềm vui sáng tạo…

Chắc chắn, đấy là cuộc chung đụng bất khả chối bỏ, chẳng ít tai ương và đầy đau khổ.

Nguyên tắc vàng phổ quát

Đối xử với người khác như cách bản thân mình muốn được đối xử vậy là nguyên tắc vàng mang tính phổ quát.

Các nhà trị liệu tránh làm việc với những người khác niềm tin và văn hóa với mình có thể đoan chắc rằng có một nền tảng thường dựa vào để trao đổi

Làm việc với kẻ mang niềm tin khác biệt dễ là thách thức lớn lao, nhất là với ai hành nghề tâm lý trị liệu. Mỗi thân chủ tự thân không chỉ gìn giữ một số niềm tin khác biệt mà còn chứa đôi điều làm nản lòng ghê gớm thuộc các hệ thống niềm tin tôn giáo và văn hóa mã hóa sẵn rồi.

Thân chủ thường tìm nhà trị liệu có cùng nền văn hóa hoặc niềm tin, nỗi sợ (đôi khi hoàn toàn đúng đắn) rằng một nhà trị liệu ngớ ngẩn hoặc tương phản có thể ngờ vực các niềm tin căn cốt mà họ không muốn thẩm tra.

Các nhà trị liệu cũng e ngại né khỏi các thân chủ thuộc niềm tin hoặc văn hóa khác biệt, sợ rằng một sự hiểu nhầm có thể khiến thân chủ khó chịu hoăc cảm thấy bị xúc phạm, thậm chí có khả năng bị than phiền, khiếu nại. Sự thiếu tự tin thế thường không thiết lập được quan hệ tốt.

Trong khi các nhà trị liệu không thể biết hết các chi tiết liên quan đến mỗi niềm tin và văn hóa mà họ tình cờ tương tác và họ nên suy nghĩ cẩn thận trước khi nỗ lực làm việc trong các khung tham chiếu họ chẳng thể thấu tỏ rốt ráo, có một nguyên tắc thông thường đối với hầu như mọi hệ thống niềm tin: nguyên tắc vàng.

Đối xử với người khác như mình muốn họ sẽ đối xử với mình thế.// “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn, đừng làm cho người).

Một nhà trị liệu nghiêm trang sẽ không, dĩ nhiên, giả định rằng có thể đi đến tán đồng, nhất trí hoàn toàn được. Thực tế, thừa ví dụ minh họa đau đớn cho các mối hiểm họa của việc theo đuổi quá háo hức việc kiếm tìm nền tảng đặt để thông thường…

Một lời nhắc nhở luôn đáng nhớ; còn lâu mới lạc hậu hoặc thừa thãi, trong tác nghiệp.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.

Trong muôn trùng xô đẩy…

Vui thay việc sống giữa đời- Điều may cùng chọn, tiệc lời họa sa…- Chốn nào cũng nước non nhà- Lòng yêu rải khắp ta bà mới thôi!–

Vắng thiếu dấu ấn sinh học (biological marker), chẩn đoán đương đại về tâm thần phân liệt (schizophrenia) cũng như việc điều trị chủ yếu hiện vẫn dựa vào các bảng hỏi thăm dò lâm sàng; không ngạc nhiên lắm là tỷ lệ đáp ứng chưa được thỏa mãn, đặc biệt sau nhiều nỗ lực điều trị hỗn hợp, ngoài ra sự tái phát thì thường gặp với người mắc TTPL ngưng sử dụng thuốc.

Dẫu vậy, chúng ta cũng đang hưởng thụ lợi lạc nhờ vào các thành tựu nghiên cứu liên quan, tỷ dụ cụ thể như việc hướng dẫn dùng thuốc chống loạn thần chẳng hạn.

1. Chúng chỉ được chỉ định cho những ai có biểu hiện loạn thần sớm (hoang tưởng, ảo giác hoặc buồn vui thất thường).

2. Một khi chỉ định rồi thì cần được giám sát rất chặt chẽ.

3. Hiếm lắm mới chỉ định dùng cùng lúc 2 loại hoặc hơn.

4. Không nên tiếp tục ưu tiên lựa chọn với cơn mất ngủ dai dẳng.

5. Không dùng chỉ vì mỗi lý do ‘khó kiểm soát về mặt hành vi’ ở trẻ nhỏ là con cái người đã già cả.

6. Có một số bằng chứng lâm sàng để dùng cho người mắc Tự kỷ (autism).

Thêm nữa, với việc cần sa (marijuna) dần dần được chấp nhận dùng rộng rãi hơn cho mục đích y tế, rõ ràng cấm sử dụng nó với người đã dễ bị tổn thương do các trạng thái loạn thần rồi. Thực tế, với trạng thái gọi là “spiceophrenia” làm tăng tốc hơn các trạng thái tiền loạn thần đồng thời khiến việc theo dõi lâm sàng thêm phần thách thức. Bằng chứng này được khẳng định chắc chắn.

Về khía cạnh bệnh nguyên học, rối loạn TTPL cơ chừng đa yếu tố cả từ việc tạo hậu quả lẫn các biểu hiện bệnh lý. Hầu hết những gì chúng ta nghĩ mình biết về TTPL chủ yếu thuộc lý thuyết với rất ít bằng chứng lâm sàng chẳng đáng kể bao nhiêu.

Và cuối cùng, các cách can thiệp y- sinh như sốc điện (ECT), kích hoạt sóng từ cực đại (TMS), phẫu thuật tâm lý (psychosurgery), và trị liệu gene thì có ít hoặc không thể hiện bao nhiêu hiệu quả. Đa phần các rối loạn liên quan đến hành vi lành mạnh được xem là đa gene và khá không đồng nhất trong việc bộc lộ cũng như điều trị chúng.

Tóm lại, còn cả con đường dài phía trước trong nỗ lực quản lý TTPL về mặt lâm sàng theo cách thức thật an toàn và hiệu quả.