Hoạt động mà không hoạt động

Xem tranh Chagall, bức Cuộc Dạo Chơi, thấy cảm nhận của Daniil Granin (đã mất hôm 4.7, thọ 98 tuổi) về tình yêu như một sự vắng mặt đầy phi lý.

Bài tập cho tính hiện diện ở bất kỳ nơi nào cũng đòi hỏi sự chuyển hoá; ở đây, sự chuyển hoá của ham muốn với nhà văn Soviet quá cố (tác giả cuốn sách hồi xưa từng rất ưa kèm hệ thống tính đếm thời gian mang tên nhà bác học Alexander Lubishchev một thời ứng dụng mê mải tháng ngày: Kỳ Lạ Thế Đấy Đời Này/ This Life Strange) chứng tỏ vô cùng hiệu dụng: cuộc cách mạng nếu bùng nổ thì chẳng gì khác hơn là tự mình tuyên bố quyền che đậy các phương thức dẫn dắt và thay thế bằng một sự giáo dục chuẩn tắc mới mẻ, một trải nghiệm khác xa tính bị động.

Chính trị của việc đọc phải tương thích với sự phân tích mà việc mô tả thực hành kéo dài đã tạo nên hiệu ứng nổi bật đủ khiến các thực hành ấy có khả năng chính trị hoá, chí ít vượt ngoài quy luật thông tin. Người ta thường cần đọc trong bóng tối, dẫu có đọc ngay giữa thanh thiên bạch nhật thì sự mù mờ và mơ màng và thiếu minh bạch vẫn bao quanh cuốn sách. Người ta rất dễ tự trách mình do cứ ngồi lỳ cùng một chỗ, vì việc đọc thì không có chỗ.

Viết là nỗ lực thao tác thật nặng nhọc để mô tả thành con chữ năng lực tái khám phá các di chuyển truyền thống âm thầm của việc đọc bên trong cơ thể. Phê bình lý thuyết hoạt động.

Tầm quan trọng của nhu cầu được đáp ứng và triển nở về mặt tâm lý

Trên mạng xã hội tối qua loan tin về một bà mẹ trẻ vừa mới mất đột ngột. Thấy nhiều ấm áp cả lời lẫn hình chia sẻ tiếc thương, bồi hồi quý mến, ghi nhớ kỷ niệm, thông cảm nỗi niềm với một sự lựa chọn cuối cùng đã đi về nơi xa ấy…

Mình chắc biết thỏa mãn nhu cầu tâm lý là yếu tính cho trạng thái thân- tâm an lạc, và rằng nó nên là một trong các ưu tiên hàng đầu trong đời rồi chăng?

Y cứ lý thuyết tự quyết (Self- determination theory) thì con người ta có ba nhu cầu tâm lý căn bản: tự trị, cạnh tranh, và kết nối với nhau.

Nghiên cứu xuyên văn hóa cho thấy, thỏa mãn nhu cầu là điều cần thiết để tất cả chúng ta lành mạnh cả về sự phát triển, dấn thân, động cơ, và thân- tâm an lạc nói chung. Thỏa mãn nhu cầu thậm chí còn liên quan tới việc thành tựu tốt hơn trong công việc, giảm bớt stress, và giảm bớt hẳn các dự tính lung tung xèng; chưa nói, khi các nhu cầu không được đáp ứng (gây trở ngại), nảy sinh nhiều hậu quả tâm lý hết sức tiêu cực.

Qua các cứ liệu ghi nhận được từ nhiều nền văn hóa và bối cảnh khác nhau, lý thuyết chuyên biệt được rằng con người ta tiến hóa thay vì học hỏi các nhu cầu; nói khác đi, các nhu cầu mang tính phổ quát. Lý thuyết tự quyết xác định sự tự trị như lối hành xử do cảm nhận thuộc ý nguyện, sự tán thành, ước ao và lựa chọn; năng lực cạnh tranh  là việc lão luyện về môi trường, còn tính kết nối với nhau tựa cảm nhận liên quan với những kẻ khác theo một cách nọ kia.

Đến thời điểm này, chúng ta biết ít nhiều về bản chất của các nhu cầu tâm lý; và nên tìm ra nhiều cách thức dễ dàng hơn để thỏa mãn chúng. Thỏa mãn nhu cầu nên là một trong các ưu tiên nhằm tận dụng hiệu quả tác dụng của nó tới trạng thái an lạc thân- tâm.

Mỗi một chúng ta dễ chừng từng trải nghiệm cách thức các nhu cầu bị gây trở ngại hoặc được thỏa mãn như nào. Tỷ dụ, một số quan hệ không ngừng chịu sự kiểm soát trong khi một số khác lại mang tính nâng đỡ và tự trị. Một số trải nghiệm giảm thiểu các cảm xúc cạnh tranh, trong khi một số làm tăng thêm sự tự tin. Một số tình huống khiến nỗi niềm cô đơn lên cao, trong khi số khác kích thích cảm xúc gắn kết với nhau.

Hết thảy minh họa vừa nêu chứng tỏ tầm quan trọng của môi trường xã hội với việc thỏa mãn nhu cầu, trạng thái an lạc thân- tâm và sự phát triển bản thân:

Nếu đặt cái hom lê con vào một chậu đất, nó sẽ thành một cây lê, bởi vì đó là bản chất tất yếu của cây… [Song để điều ấy xảy ra] chúng cần ánh sáng mặt trời; cần nước tưới; và cần nhiệt độ thích hợp. Các thành phần này không trực tiếp khiến cây lớn lên, nhưng đấy là các chất dinh dưỡng cần  thiết để lê thực hiện những gì cần làm một cách tự nhiên. (tr. 98)

Kiếm tìm hạnh phúc đích thực: không có con đường tắt

Chấp nhận sống giữa cõi đời nhăng nhít này rồi thì nhỡ nảy sinh thắc mắc cắc cớ mấy cũng đừng ngượng ngùng quá thể: các đôi hạnh phúc nhất làm chi trên giường khi không làm tình nhỉ?

Được thôi; câu trả lời, chí ít với những cặp trẻ trung sống chung chưa kết hôn í, có ngay liền đây: đi ngủ cùng một thời gian. Wow, ngạc nhiên chưa, té ra nghiên cứu cho thấy, nếu gã trai trải qua một đêm ngon giấc thì hôm sau y sẽ ít bộc lộ tương tác tiêu cực; nói khác, nàng đi ngủ sớm hay muộn so với chàng thì mức độ thỏa mãn quan hệ thấp hơn hẳn. Đơn giản như đang giỡn thế nhỉ; dĩ nhiên, nào đã hết chuyện bởi sững sờ ghê nữa, nhiều nghiên cứu khác trước đó cũng chỉ ra điều tương tự rằng có mối liên quan giữa lịch ngủ không khớp nhau với sự xuất hiện xung đột. Tiện đây, trót thì trét thêm luôn nhé ạ là các mối quan hệ lâu dài thường do đối xử tử tế và rộng lượng; thẳng thừng nói toạc móng heo: khinh khi, xem thường là yếu tố số một khiến chúng mình hát bài ‘ta chia tay nhau từ đây’…

Tạm gác qua ba mớ vấn đề mí ý nghĩa rất dễ nảy sinh rắc rối, vì hôm nay nhân sự kiện Ngày Quốc tế Hạnh phúc, đúng hẹn lại lên, chỉ thử diễn giải duy nhất luận điểm: không có đường tắt trên hành trình truy cầu, kiếm tìm hạnh phúc.

Thưc tế, hầu hết mọi người hoặc ước ao hoặc đang tích cực kiếm tìm hạnh phúc, bình yên và hài lòng nhiều hơn. Các ước ao và kiếm tìm ấy thể hiện qua đủ dạng thức.

Chúng ta đa phần đều có thời điểm trong cuộc sống tự thuyết phục bản thân rằng nếu một chuyện gì đó xảy ra thì mình sẽ hạnh phúc mãi mãi. Chúng ta tự tin rằng sự kiện này là chìa khóa đảm bảo hạnh phúc, bình yên và hài lòng trọn đời. Dịp đặc biệt ấy dễ chừng đã tới rồi trôi đi lâu rồi thì chí ít mình cũng từng vui sướng.

Vật đổi sao dời, tình thế không giống cũ và chúng ta chẳng kéo dài cảm giác hạnh phúc, bình yên hay hài lòng. Lý do là chúng ta có thể nhận ra thứ hạnh phúc kiểu đó dựa trên hoàn cảnh bên ngoài thì phù du thiệt; bản chất cuộc đời vốn rứa.

Vậy hạnh phúc rốt ráo ở đời khởi từ đâu? Nó đến trong trạng thái hài hòa hay khi người ta thấy hợp nhất các cái tôi sâu xa hơn? Liệu mình có thể sống với sự kết nối với các cái tôi sâu xa và mọi lúc đều cảm thấy một sự yên an? Mình có tìm thấy hạnh phúc rốt ráo dài lâu đích thực không ta?

Các truyền thống tâm linh dạy rằng trên hành trình khám phá các sự thật thâm hậu nhất, chúng ta bắt đầu bởi việc lưu tâm tới những gì không phải là sự thật. Dành thời gian vén lộ và phơi bày lớp này tới lớp khác điều chi là bất hạnh; kiểu nhìn rõ “không phải cái này, không phải cái kia”. Với con đường tự khám phá, chúng ta điều nghiên rồi học hỏi những gì ngăn trở chúng ta có được hạnh phúc thực sự. Khi có thể thấy biết đó không phải là ham muốn đặc biệt hoặc một thành tựu hoàn mãn thì chúng ta cho phép bản thân thư thái với yên an và hạnh phúc rồi.

Tiến trình cắt bỏ, loại trừ này giúp chúng ta khám phá các khối chặn khiến mình không sống với các cái tôi sâu sắc hơn và vì thế, có hạnh phúc. Quá dễ duôi để thích thú kiếm tìm hạnh phúc với một căn bếp mới, ngôi nhà to hơn, nhiều trải nghiệm phong phú, lắm rượu bia và tích trữ đầy ắp thực phẩm. Tất cả chúng ta đều tin rằng giá mà mình tìm ra công thức ‘đúng đắn’ với đời sống bên ngoài thì mình sẽ có hạnh phúc, yên an và hài lòng bấy lâu khao khát.

Tất cả chúng ta thảy đều cần một số nhu cầu cơ bản và khi chưa đáp ứng được, mình gắng sức đạt tới. Kỳ thực, chúng ta không thể có khả năng sở hữu hạnh phúc với lối suy nghĩ đó. Với đa phần chúng ta, cuộc chiến đấu này mang phẩm tính tham lam vô độ chẳng bao giờ thỏa mãn nổi. Rồi chúng ta luôn luôn khao khát và tin rằng có…. (điền vào chỗ trống) sẽ làm mình hạnh phúc.

Hạnh phúc tương hợp với tất cả mọi người trong từng khoảnh khắc. Ngay lúc này, bây giờ đây. Do không tập trung đủ chứ nó luôn ở đây mọi lúc. Phụ thuộc chúng ta làm công việc cá nhân và tâm linh bên trong lòng mình cần thiết đặng đón nhận dòng chảy của Vũ trụ. Thượng đế hay bất kỳ danh xưng tôn quý nào phù hợp với truyền thống cá nhân, và kết nối nội tại với bản thân đều khả thể. Thay vì nhìn ngó đó đây kiếm tìm này nọ hoặc mò mẫm ẩn dưới ký ức, nếu có thể cởi mở với Vũ trụ, mình có thể trải nghiệm dòng chảy ngay lúc này, ở đây.

Cơ chừng sống trong thế giới quá bận rộn này, chúng ta kiếm tìm cách nào nhanh nhất tiến hành các thứ. Tỷ dụ, cân nhắc ăn ba phút hay dành cho việc luyện tập 10 phút. Áp lực có X, Y, và Z cập nhật rồi đạt điều này điểm nọ. Cách tiếp cận kiếm tìm phiên bản gấp rút liền ấy khiến công việc khó triển khai trọn vẹn hay đẹp đẽ, như ý. Không đủ thời gian chờ lá trà ngấm thì sấy khô, ép cuốn cách sao để có ngay cốc trà pha sẵn.

Chỉ có 24 giờ mỗi ngày; làm sao thực hiện hết thảy? Điều mình mong muốn nhất là gì?

Hầu hết đích thị muốn hạnh phúc, bình yên và hài lòng hoặc một số nối kết mấy điều ấy lại. Hữu ích nếu học hỏi phương thức gắn các suy tư và cảm xúc nội tại cho thật sâu sắc. Kết nối này giúp mình biết điều chi sẽ làm mình ngày càng thêm thỏa mãn đầy tràn. Biết rõ kết nối này theo cách đạt tới hoàn mãn không thường là kết quả của một sự khớp vội vàng hoặc ý thích bất chợt; chúng không lưu giữ quyền lực mình đang tìm kiếm.

Khi các phương tiện truyền thông hiện đại ra đời, chúng ta nghĩ đó là thứ mình muốn lâu nay. Đa phần những gì nghe thấy chẳng khác mớ rối rắm quấy nhiễu tâm trí sẽ dẫn mình lêu bêu tùm lum nơi chốn. Hiểu biết bản thân và sống đời tốt lành đòi hỏi mình dành thời gian, sự chú tâm và nỗ lực cần thiết. Nó không xảy ra trong thời gian chờ người ta đem hộp cơm tới. Vẫn biết, chúng ta muốn cố gắng và tìm ra cách dễ dàng thực hiện nhất. Song đôi khi không đi vào tâm điểm vấn đề thì chỉ tổ mất nhiều thời gian sau này hơn thôi. Đào sâu bản chất giúp mình khỏi tốn công cứ mãi lượn vòng vòng trên bề mặt.

Theo thói quen, chúng ta tìm 10 bước nhanh chóng và dễ dàng để…… (tùy nghi điền vào). Một số dạng thông tin cô gọn vậy tỏ ra hữu ích và nó tựa miếng băng dính dán trên ngón tay bị dập xước. Mình phải xem kỹ vết thương gây đau đớn nhằm tránh phiền phức; việc ấy đưa ta tới gốc rễ vấn đề, ví von tẹo, để chữa lành hẳn. Những giải pháp băng bó vội vàng thì giống như các miếng dán. Tất nhiên, không buộc phải vào rừng để nhặt củi nấu bữa ăn hay tiêu 12 năm trị liệu tâm lý để nói về kỷ niệm bữa tiệc thảm hại hồi sinh nhật tuổi lên 10.  Điều ấy nghĩa là, nếu muốn hạnh phúc đích thực và không đặt để cho cuộc đời xoàng xĩnh, quan trọng cần nhìn sâu vào bên trong bản thân mình; nghĩa là, có thể cần trợ giúp từ ai đó thích hợp, cũng có nghĩa đòi hỏi khám phá sâu xa hơn chính mình thông qua viết nhật ký, thiền định hoặc công việc tâm linh khác.

Hãy nghĩ về khoảnh khắc lối mình thi thoảng quên lãng, hoặc không mong đợi, và gỡ miếng băng dính, rồi nhìn sâu hơn để tạo thuận lợi nhất cho việc chữa lành rốt ráo. Liệu mình biết cách có thể thách thức bản thân đặt câu hỏi sâu xa, rồi khám phá bên dưới miếng băng dính dễ tạo cảm giác lừa mị?

Né tránh tìm hiểu cội nguồn hụt hẫng và thất vọng rất người cũng như lắm nỗi niềm lo âu phiền não hàng ngày khiến mình lơ đễnh hiện tại và dễ lựa chọn phóng tâm trí về phía tương lai cùng với khát khao mơ hồ ước gì hạnh phúc:

Thật bất khả đòi hỏi phải đảm bảo tương lai sung sướng khi thưởng thức ngay liền một khoảnh khắc thú vị đang là. Chúng ta không có sự bảo chứng đó. Những dự đoán giỏi nhất vẫn thuộc về tính xác suất hơn là sự tất định, và kiến thức tuyệt vời chúng ta nắm được là mỗi một người sống trên đời rồi ra sẽ phải trải qua khổ đau và chết chóc. Vậy thì nếu khó sống hạnh phúc nổi với tương lai bất trắc, chúng ta làm sao đoan chắc thích nghi đồng cùng thế giới hữu hạn vốn luôn là nơi chốn, bất chấp các kế hoạch tốt nhất, sự cố cứ việc xảy ra và cái chết chung cuộc sẽ đến.

Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.

Quyết định đầu năm: tính sao giữ được?

Căng tròn mộng xuân tình, linh tinh đời hóng hớt...
Căng tròn mộng xuân tình, linh tinh đời hóng hớt…

Theo thói quen hí hửng trong bầu không khí khởi sự tưng bừng đầu năm mới, thiên hạ thường hay đưa ra các lời hứa, quyết định đầy tâm huyết.

Bất chấp thực tế là rất nhiều dự tính chỉ hoàn công cốc, tầm một nửa (46%) số người tuyên bố quyết tâm đầu năm đã thành tựu trái quả tốt lành xoay quanh việc thay đổi hành vi lành mạnh như mong muốn.

Nghiên cứu từ thập niên trước phát hiện ra 5 chiến lược tiến hành triển khai các quyết tâm đầu năm đạt kết quả tích cực; cụ thể:

1. Ý chí

Không có gì đáng ngạc nhiên là những ai đạt được các lời hứa đầu năm ở mốc 6 tháng thì đều nói tới vai trò của ý chí.

2. Duy trì sự phấn khích

Người thành công thường để ý làm sao cho các đồ vật ở xung quanh nhắc nhở mình lưu tâm tới điều đã tuyên bố. Đây cũng là lý do tại sao dán các mảnh giấy, minh họa be bé ở tủ lạnh, đầu giường, góc tường hoặc trong nhà vệ sinh chứng tỏ hữu hiệu.

3. Né tránh

Đôi khi đơn giản là không đưa mình vào các tình huống dễ làm đổ vỡ lời hứa, kiểu muốn bỏ thuốc lá thì không tới khu vực các tay ghiền hay phì phèo. Thay vì thử thách ý chí bản thân, vấn đề sẽ được giải quyết nhờ việc lờ đi.

4. Trông chừng chuyện củng cố

Bí quyết nằm ở chỗ dùng vài ba phần thưởng nhỏ nhặt để củng cố thêm hành vi chắc vững hơn lên.

5. Suy nghĩ tích cực

Người nào giữ được quyết định đầu năm thì thường tỏ thái độ tích cực về năng lực bản thân và ước ao thay đổi các hành vi mình không ưng thích kéo dài nữa.

Nghiên cứu thượng dẫn cũng cho thấy các chiến lược khiến nhiều người thất bại, bỏ dở lời đã xác lập đầu năm mới, trong đó họ nêu bật việc tự đổ lỗi và lối tư duy dạng ước gì, giá như…

Câu hỏi làm thế nào để vận dụng tâm trí tốt nhất cho việc đạt được các lời hứa đầu năm còn chỉ ra một số mẹo mực thực hiện rất sáng giá và dẫn tới kết quả ngoạn mục. Chẳng hạn, có thể kể 5 chiêu thức cơ bản dưới đây.

1. Theo đuổi mục tiêu thôi là chưa đủ

Tâm lý học động cơ, dưới cái nhìn truyền thống, nhắm vào việc thúc đẩy người ta theo đuổi mãnh liệt các mục tiêu đã cam kết.  Nó giả định rằng người ta trông nom sao cho càng bám thật chặt các mục tiêu đã tuyên thì khả năng rất cao họ dễ chạm đến được các mục tiêu ấy.

Tuy vậy, trong 15- 20 năm gần đây, các nhà nghiên cứu khẳng định, người ta có thể làm nhiều hơn việc chỉ theo đuổi mục tiêu thôi; họ có thể dùng tâm trí để cải thiện một cách chiến lược trên tiến trình nỗ lực chiếm lấy các mục tiêu.

2. Hướng việc lập kế hoạch cho mục tiêu thành lập kế hoạch hành động dạng “nếu- thì”

Lập kế hoạch là điều tiên quyết nếu muốn đat được các quyết tâm đầu năm. Bẻ gãy hoặc kiến tạo các thói quen như bỏ thuốc lá và bắt đầu tập thể dục hàng ngày hoặc bất kỳ mục tiêu nào mình có thể tưởng tượng. Hàng trăm nghiên cứu hỗ trợ ý tưởng việc lập kế hoạch dạng ‘nếu- thì”, tức việc thực hiện và triển khai các dự tính (pp.162- 185), cũng là dạng lập kế hoạch có thể làm cho các cơ hội thành công tăng gấp đôi, gấp ba.

Khi kết nối ‘lúc nào’ với ‘ở đâu’ để biết cách vận dụng câu dạng “nếu- thì” thì mình sẽ dễ đạt được các hiệu ứng như mong đợi. Tỷ dụ, nếu muốn giảm cân, kế hoạch nếu- thì có thể là: Nếu tối muộn ở nhà tôi thấy thèm đồ ngọt thì tôi sẽ có sẵn một tách trà nóng thư thái pha với chút thìa mật ong.

3. Tạo ra hầu hết các kế hoạch dạng “nếu- thì” thể hiện sự trái ngược về tinh thần

Hình thức triển khai các dự tính tốt nhất, thông qua việc dùng một phương pháp gọi là đối lập tinh thần nhằm tìm ra các tình huống nào căn bản rồi gắn chúng với các đáp ứng mang tính công cụ tập trung vào mục tiêu.

4. Động cơ và cảm xúc làm xảy đến mọi điều

Động cơ cần có mặt đúng chỗ, nếu không việc lập kế hoạch “nếu- thì”không hiệu quả. Các mục tiêu kéo dài cả năm đòi hỏi mình phải theo dõi sát sao và không thể thiếu được động cơ thúc đẩy, tiếp thêm nhiên liệu. Tương tự, cảm xúc tích hợp trong vòng quay động cơ có thể gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới các kế hoạch “nếu- thì”, gắn với mục tiêu. Ví dụ, người phụ nữ muốn phàn nàn với quản lý về việc cô ta không muốn bị đuổi việc, vì vậy cần đảm bảo sự vụ không bị đẩy đi quá xa.

5. Nhận ra việc dùng các mục tiêu tự định hình bản thân

Dạng muốn thấy mình là ông bố tốt hoặc nhà khoa học tài ba, và với các mục tiêu này khi mô tả với người khác những gì dự tính thực hiện hoặc cần đạt được thì động cơ có thể bị hạ thấp.

Hiểu biết về nhận thức xã hội giúp mình dễ tìm cách truyền thông các dự tính mà để rồi sẽ có thể tạo nên cảm nhận hoàn thành song lại không đe dọa động cơ.

Sự yếu đuối của ý chí có thể được xử lý, điều chỉnh trên tiến trình đạt được các quyết định đầu năm; góp phần giúp người ta thànhh tựu tích cực nhờ trực tiếp nhắm vào các thách thức và cơ hội…

Trong muôn trùng xô đẩy…

Vui thay việc sống giữa đời- Điều may cùng chọn, tiệc lời họa sa…- Chốn nào cũng nước non nhà- Lòng yêu rải khắp ta bà mới thôi!–

Vắng thiếu dấu ấn sinh học (biological marker), chẩn đoán đương đại về tâm thần phân liệt (schizophrenia) cũng như việc điều trị chủ yếu hiện vẫn dựa vào các bảng hỏi thăm dò lâm sàng; không ngạc nhiên lắm là tỷ lệ đáp ứng chưa được thỏa mãn, đặc biệt sau nhiều nỗ lực điều trị hỗn hợp, ngoài ra sự tái phát thì thường gặp với người mắc TTPL ngưng sử dụng thuốc.

Dẫu vậy, chúng ta cũng đang hưởng thụ lợi lạc nhờ vào các thành tựu nghiên cứu liên quan, tỷ dụ cụ thể như việc hướng dẫn dùng thuốc chống loạn thần chẳng hạn.

1. Chúng chỉ được chỉ định cho những ai có biểu hiện loạn thần sớm (hoang tưởng, ảo giác hoặc buồn vui thất thường).

2. Một khi chỉ định rồi thì cần được giám sát rất chặt chẽ.

3. Hiếm lắm mới chỉ định dùng cùng lúc 2 loại hoặc hơn.

4. Không nên tiếp tục ưu tiên lựa chọn với cơn mất ngủ dai dẳng.

5. Không dùng chỉ vì mỗi lý do ‘khó kiểm soát về mặt hành vi’ ở trẻ nhỏ là con cái người đã già cả.

6. Có một số bằng chứng lâm sàng để dùng cho người mắc Tự kỷ (autism).

Thêm nữa, với việc cần sa (marijuna) dần dần được chấp nhận dùng rộng rãi hơn cho mục đích y tế, rõ ràng cấm sử dụng nó với người đã dễ bị tổn thương do các trạng thái loạn thần rồi. Thực tế, với trạng thái gọi là “spiceophrenia” làm tăng tốc hơn các trạng thái tiền loạn thần đồng thời khiến việc theo dõi lâm sàng thêm phần thách thức. Bằng chứng này được khẳng định chắc chắn.

Về khía cạnh bệnh nguyên học, rối loạn TTPL cơ chừng đa yếu tố cả từ việc tạo hậu quả lẫn các biểu hiện bệnh lý. Hầu hết những gì chúng ta nghĩ mình biết về TTPL chủ yếu thuộc lý thuyết với rất ít bằng chứng lâm sàng chẳng đáng kể bao nhiêu.

Và cuối cùng, các cách can thiệp y- sinh như sốc điện (ECT), kích hoạt sóng từ cực đại (TMS), phẫu thuật tâm lý (psychosurgery), và trị liệu gene thì có ít hoặc không thể hiện bao nhiêu hiệu quả. Đa phần các rối loạn liên quan đến hành vi lành mạnh được xem là đa gene và khá không đồng nhất trong việc bộc lộ cũng như điều trị chúng.

Tóm lại, còn cả con đường dài phía trước trong nỗ lực quản lý TTPL về mặt lâm sàng theo cách thức thật an toàn và hiệu quả.

J. Soi (41): Khởi đi từ nơi chốn nào…

Như những con người, chúng ta có ao ước từ thuở ban sơ là thuộc về. Ai đó thì có thể gọi đấy là trạng thái lãnh thổ, địa hạt; một cảm giác sở hữu, hoặc kiểm soát…

Mình bước vào giường và nằm ở tư thế quen thuộc, hoặc dàn xếp một chỗ ngồi ưa thích nơi góc phòng rồi nảy sinh cảm nhận “Mình (cho là) đang ở đây”; cái gì đấy rất thoải mái và yên an về thứ cảm nhận kiểu vậy. Mình ở đúng nơi cần thiết và thích thú có mặt, đích thị thuộc về chốn đấy.

Và dù mọi quan hệ đều trống không tự bản chất, người ta thường đi tham vấn để chia sẻ cảm giác bơ vơ của sự cô đơn, không chỉ cảm giác chẳng ai xung quanh mà sự lẻ loi mang tính hiện sinh, cảm giác ‘mình rốt ráo đơn chiếc trên cuộc đời này’… Dĩ nhiên, có nhiều cách biểu đạt và cảm nhận: do hiểu biết sai lạc, vì chia ly, từ việc lớn lên; tất thảy chúng ta đều bắt gặp ít nhiều khoảnh khắc ngậm ngùi pha chút thảng thốt ấy, ngay cả bao quanh là cả trăm người yêu thương thì cũng vẫn cứ cảm nhận tựa vậy.

Nếu đúng là người ta cảm thấy cô đơn mọi lúc, và đơn giản vì sự kiện ấy thì nó là ý tưởng xứng đáng được nhấn mạnh đúng mức. Lý trí quả là điều đẹp đẽ, có một phương thức quỷ quái về cái khó tưởng bàn cặn kẽ song chúng ta có thể chia sẻ nó.

Wow, làm sao đương đầu với cảm giác cô đơn đó đây? Một ý tưởng ứng dụng thiết thực: vun bồi, hoặc quay về, hướng tới các nơi chốn mình cảm thấy thuộc về. Cảm nhận về nơi chốn dễ tạo nên quyền năng lớn lao. Tỷ dụ, chỉ cần cân nhắc khác biệt giữa ngôi nhà của người bạn và tổ ấm của riêng mình. Hoặc đỉnh núi cao thân quen so với vỉa hè chung đụng đầy người xa lạ. Các nơi chốn rót đổ vào lòng chúng ta nguồn năng lượng sinh động, tưởng tượng năng lượng mình có thể đón nhận từ một nơi chốn mình thực sự như ở nhà.

Không ác cảm cũng chẳng dính bám với bất kỳ thứ gì, nơi chốn nào thái quá. Bởi há chẳng phải mối quan tâm chủ yếu của chúng ta là dẫm chân, đặt thân vững vàng trong thực tế, vào những gì chúng ta có thể nhìn thấy, nhận ra. Chúng ta khó thỏa mãn với kiểu dạy dỗ các nguyên tắc căn bản không những vô tri mà còn chẳng thể tưởng bàn được. Đấy là lý do tại sao chúng ta vun bồi sự hài lòng: đơn giản sống hạnh phúc cùng những gì đang là, ở đây và ngay bây giờ. Dựa vào thực tế của hiện tại, không vào tương lai tưởng nghĩ nào đó. Nếu học hỏi để hài lòng ngay lúc này, mình có thể mang theo cùng nó đến bất cứ chốn nao.

Nghiên cứu gần đây nhất vén lộ chút bí mật về cội nguồn của các tế bào đầu tiên hàng tỉ năm về trước thông qua tìm hiểu quá trình trao đổi chất: sự sống cơ chừng khởi đi từ chỗ không có gì.

Đâu là nơi, bạn và tôi, chúng ta thuộc về?

Nỗi sợ cam kết không phải là điều duy nhất hết hoặc sẽ từ bỏ mãi mãi thôi

Như muôn trùng chùng ý, buông hờ trên duyên ta, nền nhà tựa vào lá, yêu đương dễ nhạt nhòa...
Như muôn trùng chùng ý, buông hờ trên duyên ta, nền nhà vương đầy lá, yêu đương cùng nhạt nhòa…

Thật kỳ lạ và xa xót, em đang cố gắng giúp bạn gái mới yêu nhau được 4 tháng vượt qua nỗi sợ cam kết và gắn bó. Bạn gái em từng thể hiện thái độ tương tự với hai mối quan hệ trước đây. Yêu nhau một thời gian chưa lâu là cô ấy cảm thấy lo lắng, sợ bị lừa dối hoặc xô ngã và việc cố chịu đựng trong các mối quan hệ mấy cũng đến hồi kết thúc. Bạn gái em lớn lên ở vùng nông thôn, từ bé khó cảm thấy gần gũi với bố mẹ. Bạn gái em cam đoan là không bao giờ lừa dối em song đôi khi cô ấy bảo với em là không muốn có bất kỳ mối quan hệ nào, ngày khác lại nói em là ‘duy nhất’ và có cái nhìn thuần khiết về tình yêu. Cả hai đứa em đều đầu tư nhiều cảm xúc trong mối tình này nên em không muốn tuột mất nó. Em không tin bạn gái mình nghĩ khác thế. Em đã thử kiểm soát bản thân, lùi ra xa và nói chuyện với cô ấy như một người bạn muốn giải quyết vấn đề này. Được vài ngày, rồi cô ấy lại như quay về cái tôi tiêu cực. Khi bọn em nói về chuyện này, cô ấy bảo hành vi mang tính muốn đẩy đuổi, lừa dối, v.v… ấy như một cơ chế phòng vệ chống kháng lại việc gìn giữ quan hệ.

Em đã cố gắng:

  • nói với bạn gái về cảm xúc trong quá khứ của cô ấy,
  • hỏi cô ấy nhiều câu để dẫn đến tìm hiểu vấn đề về tương quan giữa bố mẹ và mối quan hệ tiêu cực trong quá khứ, và
  • hướng cô ấy tới ý tưởng cần xem xét là các quan hệ thì khác nhau và không phải đều có kết quả giống nhau.

Khi bọn em ở cạnh nhau, cô ấy hành động như thể điều duy nhất có ý nghĩa trên đời này là mỗi mình em thôi. Bọn em gặp nhau hai tuần một lần, vì gia đình rất quan trọng cũng như công việc và sự thăng tiến nghề nghiệp là điều thu hút tâm trí cô ấy rất nhiều. Bạn gái em là kỹ sư xây dựng và cô ấy khá yếu mềm giữa nơi chốn toàn đàn ông, nhất là với độ tuổi cô ấy. Bọn em khá tương đồng nhau về mặt tư duy logic và quan điểm xã hội. Bọn em chủ yếu nói chuyện say sưa qua điện thoại. Nề nếp gia phong và văn hóa của bạn gái em rất vững vàng, cô ấy đã sống ở Hà Nội 4 năm nay. Tình dục không phải là điều đem lại cảm xúc, có thể nó chỉ thuần là chuyện phóng thích và cô ấy không nghĩ có vấn đề gì về lối nhìn nhận như vậy.

Em đã thử suy nghĩ mọi thứ rồi tìm đoc các trang tâm lý học Tây, ta trên mạng. Liệu chuyên gia có thể đưa ra ý tưởng giúp em, nếu không giữ được tình yêu này thì cũng là bất kỳ quan hệ giúp đỡ nào trong tương lại như một người bạn với cô ấy cũng được, vì em cảm thấy bạn gái em đang đi trên con đường không mấy có tính chất xây dựng?

Trả lời:

Điều rõ ràng từ lá thư là cậu dành thật nhiều thời gian lẫn tâm trí của bản thân để suy nghĩ về người yêu, những sự lựa chọn của cô ấy, cuộc đời của bạn gái, và dĩ nhiên cả nỗi sợ hãi cam kết, gắn bó của cô ấy nữa.

Tôi không chắc mình hiểu nghĩa của từ ‘tiêu cực’ mà cậu mô tả, song nếu hàm ý ở đây là cơ chừng bản thân cậu hay cô bạn gái của mình đang ở trong bất kỳ tình trạng nguy hiểm nào về mặt thể lý thì tôi mong cậu sẽ tìm kiếm sự tư vấn của chuyên gia để nói rõ trực tiếp. Trả lời trên mạng chỉ thuần chứa yếu tố thông tin chứ không mang nghĩa cung cấp lời khuyên, đặc biệt nếu an toàn là điều các bạn quan tâm.

Xin lưu ý giúp là tôi không nghe cậu chia sẻ nhiều về bản thân, ngoại trừ chi tiết hai bạn tương đồng nhau về logic và xã hội. Thiển nghĩ, hầu hết trục trặc trong quan hệ được mô tả tốt nhất từ cả hai phía chứ không phải chỉ do một bên. Tôi đang tự hỏi về chính cậu, các nhu cầu của cậu, cách thức mối quan hệ này (hoặc sự thiếu hụt cam kết) đang ảnh hưởng tới cậu như thế nào. Cậu đang ở tình huống khó khăn vì muốn nhiều hơn ở một người với những gì hiện cô ấy đang trao tặng, cho đi. Giông giống sự mâu thuẫn yêu ghét cô bạn gái cậu thể hiện trong quan hệ, khá lửng lơ việc diễn giải mình là ‘duy nhất’ rồi ngoặt sang ý cô ấy không muốn có bất kỳ quan hệ nào hết. Mâu thuẫn vừa yêu vừa ghét ở một người thật hết sức rối rắm, bởi vì nó có thể lôi kéo họ muốn thuyết phục, tán tỉnh, hoặc khiến người kia tin tưởng để mà cam kết. Hoặc trong trường hợp của cậu, nghe như thể cậu muốn khớp khít, xử lý các vấn đề của bạn gái để cô ấy cam kết với cậu.

Với một số trường hợp, ‘nỗi sợ cam kết’ là nỗi sợ của việc lựa chọn một người đi liền với nguy cơ bỏ lỡ, đánh mất các cơ hội tiềm năng hoặc người yêu khác; ngoài ra, nỗi sợ cam kết còn liên quan với nỗi sợ thân mật, có thể mô tả như là nỗi sợ quen biết ai đấy sâu xa, gắn bó mật thiết. Cuối cùng, đôi khi người ta dùng nỗi sợ thân mật đặng tránh né thảo luận nỗi bất mãn thực chất hoặc các vấn đề khó chịu bên trong một mối quan hệ riêng tư.

Khi ai đó thực sự sợ cam kết hoặc thân mật, cậu ta/ cô ta thường buộc phải dấn tới chỗ tất cần thấu hiểu và đương đầu với với những nỗi niềm sợ hãi này thông qua quá trình khám phá và chữa lành. Tôi không biết hiện bạn gái của cậu đang ở thời điểm cô ấy muốn hoặc sẵn sàng để tiến hành điều đó chưa. Dù tình hình gì đi nữa, đấy không phải là điều người ta thực hiện vì kẻ khác.

Cậu nhấn mạnh rằng mình thích giúp đỡ cô người yêu như một người bạn, bất kể kết cục mối quan hệ giữa hai người như nào. Tôi tin (có thể vì tôi là nhà trị liệu!), một trong các món quà tặng lớn lao nhất chúng ta có thể trao tặng cho ai đó là tất cả lòng mình sâu thẳm, sự lắng nghe và thấu hiểu từ bi nhất. Nếu người yêu cậu muốn nói chuyện về văn hóa, trải nghiệm, gia đình, hoặc những nỗi sợ hãi của cô ấy về quan hệ, cậu có thể trợ giúp tốt lành nhờ việc lắng nghe mà không đánh giá (hoặc tối thiểu nhất có thể).

Vấn đề là hiếm ai có thể lắng nghe không hề đánh giá chi khi mà mối quan hệ riêng tư của cậu ta hoặc cô ta đang bị đặt cược! Dường như cậu sẽ không thể đủ khả năng ngay lập tức để vừa là một người bạn hữu ích vừa là một người yêu cam kết hết sức mãnh liệt vốn muốn có mối quan hệ gần gũi, độc chiếm người phụ nữ này.

Vậy, có thể cậu cơ chừng là người yêu hoặc là người bạn trợ giúp, song chắc chắn khó giữ tròn cả hai vai. Nếu là bạn trai, cậu sẽ nhận ra rằng điều ấy kích hoạt mối quan hệ về những gì cậu chú tâm mang tới và tất cả cách thức cậu cảm nhận về điều ấy. Nếu muốn là một người bạn/ người trợ giúp, gợi ý của tôi là cậu nên nêu ra dự tính ấy rồi bảo cho cô ấy biết những gì lợi lạc nhất cô ấy có thể nhận được từ nó.

Bất luận ra sao, tôi hy vọng tự cậu sẽ nhanh chóng nhận ra đích thực chính bản thân mình trong mối quan hệ với một phụ nữ đoan chắc về cậu như cậu đoan chắc về cô ấy.

Về một sự nghiện ngập mềm dịu

Thường nhắc đến sự nghiện ngập, đa phần chúng ta nghĩ về các chất như cocaine, heroin, và bia rượu. Những thứ này là loại nghiện ngập chắc cứng. Song quá nhiều người không hề cho rằng các hành vi mềm dịu mang tính nghiện ngập có thể tạo nên vô vàn rắc rối cũng như gây ra nhiều phiền nhiễu khiến chúng ta mất đi bản tính cao quý.

Các loại nghiện ngập mềm dịu có thể là hành vi như lướt mạng, chơi game, xem TV, đọc sách, mua sắm, làm việc bất kể ngày đêm, phàn nàn, buôn dưa, trì hoãn lần lữa, và nhiều thứ khác mà chúng ta hay thực hiện quá mức.

Tất cả chúng ta lao mình vào các dạng nghiện ngập mềm dịu với sắc thái, tầng mức khác nhau, thậm chí một số chúng là tích cực; một số thứ là lớn lao song mặt khác nếu tiến hành trong trạng thái cưỡng bức, cực đoan thì có thể tàn phá chúng ta.

Lực thúc đẩy đằng sau mọi nghiện ngập, kể cả nghiện ngập mềm dịu, là sự truy cầu để tê liệt, lờ đi, vượt thoát, hoặc đè nén các suy tư lẫn cảm xúc khó chịu. Rồi chúng ta dùng các hoạt động này một cách xung hấn, lặp đi lặp lại không ngừng để khiến chính mình bị xao nhãng hoặc lảng tránh các cảm xúc, suy tư vô thức/ ý thức. Điều này có thể mang lại một cảm nhận phấn khích, gây phóng thích chất endorphin, và tạo ra một sự sự trốn thoát tạm thời nỗi đau đớn trong lòng.

Song ở tầm mức nhất định, hành vi như thế làm đời sống càng khó khăn hơn, tạo nên kháng cự và chi phối, phá hủy và thỏa hiệp với nhiều khía cạnh khác nhau trong đời; bao gồm công việc, các mối quan hệ, và trạng thái thân- tâm an lạc, cũng như các hoạt động khác và một cuộc sống xác quyết đầy niềm vui, hoan lạc. Chúng ta trả giá cho các dạng nghiện ngập bằng tiền bạc và thời gian, làm chết điếng đời sống nội tâm, và khóa tắt luôn ý thức của bản thân. Đặc biệt, đáng chú ý không kém, các hành vi nghiện ngập kéo chúng ta ra khỏi việc sống hoàn mãn, tràn đầy như nó vốn có.

Điều hữu ích nhất mình có thể tiến hành khi đang đương đầu với bất kỳ loại nghiện ngập nào là thấu biết đời sống nội tâm chính mình: nhận ra và sống cùng với các suy tư, cảm xúc của bản thân. Với một số người, đấy có thể là chuyện khá khủng khiếp, đe dọa họ khi thoáng nhìn mù mờ về đời sống nội tâm bí ẩn cùng với mớ rối rắm của các suy tư, ý nghĩ hỗn độn.

Để thấu hiểu sâu sắc các cảm xúc lẫn suy tư ẩn bên dưới đã dẫn dắt hành vi nghiện ngập, cần định hình và làm việc không ngừng nghỉ với thói quen lập trình cá nhân đang níu giữ, giam hãm mình; được thế, chắc chắn sẽ tạo nên một bước tiến bộ vượt bậc.

Có rất nhiều nguồn lực trợ giúp chúng ta trên tiến trình. Huấn luyện, hướng đạo, tâm lý trị liệu, các chương trình 12 bước, thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation), chữa lành năng lượng, và các loại sách tự trợ (self-help books)…

Tập trung vào con người mình muốn trở thành, hay nhắm tới con người mình không thích?

Một giải pháp chỉ có thể đạt được bởi người đã khuất thì chắc chắn chẳng hề khiến đớn đau hoặc nảy sinh hiều cảm xúc khủng khiếp; thoạt tiên, dường như một vài thành tựu thật dễ thương, song kỳ thực chúng không đem lại lợi lạc gì mấy.

Cách thường để cảm thấy dễ dàng hơn là lưu ý những điều mình không muốn thay vì tiến tới với chuyện mình thích làm. Khá bi hài, chúng ta quen tiêu quá nhiều thời gian nghĩ đủ thứ điều mình không muốn (ví dụ, tôi không muốn làm người xấu) mà rốt ráo. tôi không tin nó trợ giúp gì mình lắm đâu.

Lý do nêu thế vì chúng ta không thể luôn luôn thay đổi điều mình không muốn (ví dụ, trường hợp mắc các khuyết tật mãn tính) dù chúng ta có khả năng, và dần ít nhiều trở thành con người mình muốn là.

Khi tiếp chạm với điều mình thú vị, chúng ta cũng dễ thích đạt được nó. Tưởng tượng đang tiến sát gần hơn con người mình mong đợi trong quãng đời còn lại, tỷ dụ giảm thiểu nhất khoảng cách giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng.

Nếu thấy khó khăn định dạng những gì mình muốn, thử tưởng tượng tình huống sau vốn hay được gọi là câu hỏi huyền nhiệm:

“Giả tưởng điều huyền diệu xảy ra trong khi mình đi ngủ, và tất cả các vấn đề biến mất sạch, đại khái thế. Song mình không biết nó đã xảy ra, do mình đang ngủ. Khi thức dậy sáng hôm sau và sống trọn ngày, làm thế nào mình nhận biết rằng điều kỳ diệu từng xảy ra rồi? Đâu là điểm khác biệt về mình hoặc về kẻ khác? Liệu người khác khi trông thấy điều huyền diệu ấy thì sẽ mô tả những gì về chúng?” (Westbrook và cs., p.236)

Nếu định dạng được mình muốn thành con người như thế nào, hãy viết nó xuống. Giờ đây, bạn bước xa hơn trên tiến trình phát triển con người. Bạn có thể bắt đầu thay đổi cách mình nghĩ về bản thân. Nhằm tạo các kế hoạch cụ thể về cách trở thành con người mình muốn, bạn cần biết con người đó cụ thể ra sao.

Nghiên cứu chứng tỏ, người ta có xu hướng tin rằng họ rời xa khỏi các cái tôi lý tưởng của chính mình hơn, so với những kẻ khác (William & Gilovic, 2008). Dĩ nhiên, cần nỗ lực để trở thành cái tôi lý tưởng, song bạn không rời xa hơn mục tiêu so với tha nhân, ngay cả khi bạn có thể nghĩ thế thật.

Thông điệp ở đây đơn giản: chúng ta nên dành nhiều thời gian để suy tư cách thức mình có thể trở thành con người mong muốn, thay vì nghĩ về con người mình không thích. Thiển nghĩ, điều ấy cơ chừng càng giúp bản thân thêm “năng sản”.

Bạn cảm nhận chuyện này như thế nào?