Chối bỏ như một cơ chế phòng vệ

Với người nhiễu tâm (neurotics), chối bỏ (denial) là cơ chế phòng vệ vô thức bảo bọc họ chống lại trải nghiệm đớn đau không chịu đựng nổi. Với kẻ bị loạn tâm (disorderded), những gì chúng ta quen ghi nhận như các cơ chế phòng vệ vô thức (chối bỏ chẳng hạn) thường là các sách lược có tính toán nhằm khôn khéo tạo ấn tượng, diễn trò, và lảnh tránh trách nhiệm.

Dạng nhiễu tâm dùng nhiều thứ cơ chế nội tâm đặng chống giữ, che chắn trước trải nghiệm nỗi đau cảm xúc và làm khuây khỏa lo âu. Hầu hết mọi người nghe nói về các ‘cơ chế phòng vệ’ cơ bản này. Đấy là các công cụ *vô thức*, dù quyền năng song tỏ ra không thích đáng hoặc không luôn luôn cực kỳ lành mạnh tựa các cách thức giảm bớt nỗi đau cảm xúc. Các ‘triệu chứng” mà cá nhân kẻ loạn tâm khiến nhà trị liệu chú ý là kết quả lo âu sót lại hoặc nỗi đau cảm xúc vẫn còn đó sau việc dùng chẳng mấy hiệu quả một hoặc nhiều các ‘cơ chế phòng vệ’ đặc thù. Vào những dịp khác, một người dễ nhờ cậy trợ giúp bởi vì ‘các phòng vệ’ dần tăng thêm sự thiếu thích ứng hoặc bắt đầu bẻ gãy, để mặc nỗi đau cảm xúc ẩn bên dưới chúng nổi lên bề mặt.

Các tính cách loạn tâm dấn thân vào một số hành vi quá ‘tự động’ đến độ gợi ý nghĩ thực hiện chúng hoàn toàn vô thức. Thoạt nhìn, các hành vi này giống với các cơ chế phòng vệ và dễ diễn giải thành như thế, nhất là bởi các cá nhân bị ngâm quá mức trong các hệ hình truyền thống. Tuy vậy, xem xét kỹ càng hơn, các hành vi này chính xác ra phải được gọi tên là những sách lược diễn trò, mánh lới gây ấn tượng và chống kháng trách nhiệm.

Lấy ví dụ về một người phụ nữ kết hôn và sống cùng chồng 40 năm nay, và bà vừa đưa ông vào bệnh viện vì trong khi họ làm việc ngoài vườn thì ông ấy chợt nói năng khó khăn rồi trông có vẻ kiệt quệ. Các bác sĩ chẩn đoán chồng bà bị đột quỵ, giờ não đã chết và sẽ không hồi phục được. Dẫu thế, mỗi ngày bà vẫn vào bên cạnh giường ông, nắm tay và trò chuyện. Các điều dưỡng bảo ông không thể nghe thấy song bà vẫn nói với ông hàng ngày. Các bác sĩ bảo ông không hồi phục được song bà thì tự nhủ với bản thân rằng ‘tôi biết ông ấy sẽ qua khỏi, ông ấy là một người đàn ông mạnh mẽ’. Người phụ nữ này đang ở trong một trạng thái tâm lý lạ lùng: trạng thái chối bỏ. Bà rất khó khăn để tin những gì diễn ra. Mới đây thôi, bà còn ở ngoài vườn cùng ông, thích thú bên nhau làm công việc ưa thích. Trước hôm xảy đến sự cố một ngày, họ cùng nhau đến thăm gia đình một người bạn. Ông ấy cơ chừng toát lên nét vẻ thật hạnh phúc và khỏe mạnh. Ông ấy không đau ốm gì lắm khi bà đưa vào bệnh viện. Thế mà, trong chớp mắt thôi, họ đang nói rằng ông sắp chết. Nỗi đớn đau thấm đẫm cảm xúc này bà chưa từng phải chịu đựng. Bà không sẵn sàng chấp nhận việc người đàn ông đầu ấp tay gối suốt 40 năm qua sẽ không về cùng nhà với bà nữa. Bà không chuẩn bị tinh thần cho việc sống cuộc đời vắng bóng hình ông. Vì vậy, tâm trí vô thức cung cấp một phòng vệ hiệu quả (hầu như tạm thời) để bà chống lại nỗi đớn đau. Rồi dần mai một, khi bà đủ khả năng chấp nhận thực tế phiền não, sự chối bỏ của bà bị bẻ gãy, lúc ấy, nỗi đau bấy lâu tích chứa phun trào và bà sẽ xót buốt cõi lòng ghê gớm.

Một ví dụ khác về cái gọi là ‘chối bỏ’. Nam (tên giả), quen bắt nạt trên lớp, đi dạo với một trong các bạn học không nghi ngờ gì rồi tiến hành giật tung cặp sách bạn đang cầm, đá tung tóe sách vở khắp nơi dưới sàn nhà. Đúng lúc đó, giám thị hành lang bắt gặp nên nghiêm nghị hét lên “Nam!”. Cậu bé mở rộng vòng tay, làm cử chỉ ngạc nhiên và biểu tỏ vẻ mặt ngây thơ vô tội “Cô gọi gì em ạ?”. Liệu Nam đang sống một tâm trạng khác? Trạng thái thay thế này có thể giúp cậu chịu đựng nỗi đau cảm xúc? Nam không thực sự hiểu chuyện gì vừa diễn ra hay cậu ta nghĩ rằng mình nào có làm điều gì đâu cơ chứ? Cậu ta quá héo hon vì tội lỗi và/ hoặc tủi hổ vì điều mình gây ra đến độ cậu đơn giản không thể tin nổi mình thực sự đã làm chuyện khủng khiếp? Khả năng câu trả lời là Không. Nam chắc chắn quan tâm nhiều tới chuyện cậu ta có thể bị trừng phạt, kèm với lời thông báo tới bố mẹ, và thậm chí có thể bị đình chỉ học tập. Nên cậu chuẩn bị thử một chiến lược dài hơi. Cậu sẽ làm hết sức để vị nữ giám thị tin rằng không thực sự thấy những gì đôi mắt mình đã ghi nhận. Sảnh đường đông nghẹt. Có thể là ai đó khác chăng. Có thể hành động ấy chỉ là ‘tình cờ’. Nếu cậu ta thể hiện vừa đủ vẻ ngạc nhiên, ngây thơ, và sự phẫn nộ chính đáng thì biết đâu chừng, đúng là biết đâu đấy, cô giáo sẽ bắt đầu tự nghi ngờ bản thân. Cậu bé hy vọng, không giống mình, cô giáo có thể là dạng nhiễu tâm (chẳng hạn, mang lương tâm thái quá và cảm giác cực đoan về tội lỗi hoặc tủi hổ) để nghĩ rằng cô giáo có thể đánh giá nhầm tình huống, có thể cô giáo thậm chí tự mắng mỏ bản thân vì vội vàng quy kết hoặc dễ góp phần gây nên một nỗi đau cảm xúc. Sách lược này từng được việc rồi, có thể nó sẽ lại tiếp tục được việc lần nữa.

Ví dụ vừa nêu dựa vào một trường hợp có thật. Đáng lưu ý, khi ‘Nam’ nhận ra cậu ta không thể diễn trò với giám thị hành lang, cậu bất đắc dĩ ngừng việc chối bỏ và nói rằng, ‘Vâng, có thể em làm thế thật song cô giáo giám thị đã tin chắc vậy vì cô ấy luôn nói xấu về em’. Nam đang dùng một số chiêu thức khác để diễn tiếp trò sắp đặt, dẫn dắt và tạo mánh khóe gây ấn tượng; điều quan trọng nhất cần nhận ra là không giống với những gì xảy ra trong trường hợp chối bỏ tâm lý đích thực như một cơ chế phòng vệ, vụ của Nam không cho thấy nỗi thống khổ được biểu lộ và thể hiện buồn thương khi sự chối bỏ kết thúc. Lý do đơn giản là tự bản thân Nam chưa bao giờ ‘chối bỏ’ (trạng thái tâm lý). Cậu ta chỉ đang nói dối thôi, và dần cậu ta ngừng việc nói dối vì chuyện đó chẳng dẫn cậu ta đến đâu cả. Cậu ta chuyển từ việc nói dối sang xin lỗi và hành hạ nạn nhân cũng là các chiêu trò dẫn dắt và mánh khóe gây ấn tượng hiệu quả.

Không thể nhấn mạnh đủ rằng ‘chối bỏ’ của người phụ nữ lớn tuổi bất hạnh thì không giống với sự ‘chối bỏ’ của cậu bé bắt nạt bạn học tên Nam. Một là cơ chế phòng vệ, một thuộc chiêu trò dẫn dắt và lảng tránh trách nhiệm; một là cơ chế vô thức bảo bọc người ta khỏi nỗi đau khổ cảm xúc sâu thẳm, một là lời nói dối được tính toán và cân nhắc rõ ràng.

Tuy thế, thực tế nhiều vị dùng cùng thuật ngữ để mô tả các hành vi rất khác hẳn nhau này. Ít nhiều cảm thấy khó chịu khi ngay cả người hành nghề chăm sóc sức khỏe còn xem là chỉ có mỗi một dạng chối bỏ và họ thường giả định rằng hễ cứ nhắc tới chối bỏ thì bó nó vào mớ cơ chế phòng vệ phức tạp. Nghe họ nói về thân chủ cứ ngoan cố ‘phòng vệ’ thuộc hành vi có vấn đề này khác khi thực chất, họ đang mô tả thân chủ còn tiếp tục ‘nói dối và trình diễn’ như phần của trò chơi bày đặt gây ấn tượng và lảng tránh trách nhiệm. Lần nữa, ‘chối bỏ’ e là một trong các thuật ngữ sức khỏe tâm thần dễ bị dùng sai.

Thấy gì qua huyền thoại ‘nhà tâm lý có thể đọc vị tâm trí kẻ khác’?

Chưa cần tốt nghiệp rồi vừa không ngừng bổ túc kiến thức lẫn kỹ năng vừa mò mẫm hành nghề, chỉ mới gặp mặt hoặc nghe nói mình học Tâm lý thôi là có vẻ dễ khiến thiên hạ hay bạn bè quen biết nghĩ ta thừa sức xem tướng, coi bói, rành chuyện này chuyện nọ hay giỏi đến mức đọc vị được tâm trí họ.

Các bình phẩm suýt xoa thường kiểu ‘Nè, nói chuyện cẩn thận nghe, vì nhà tâm lý học ở đây có thể đoán biết những gì bọn mình suy nghĩ đó’. Khởi sự ấy có thể là tấm lòng thán phục chân thành hoặc lời đùa tếu vô tư; rằng nhiều người nghĩ làm một nhà tâm lý học thì sở hữu quyền năng ghê gớm: dễ dàng khám phá những gì kẻ khác che giấu. Tin tắp lự (đáng ngờ vực vô cùng) là người này có khả năng mở cái đầu ta và nhìn thấy những gì nằm trong đó.

Điều ấy không chỉ là niềm tin sai lầm duy nhất từng nghe về công việc tâm lý học. Còn nhiều nhiều vô kể. Chúng gây phấn khích đến độ đủ khiến ta một ngày muốn nhặt nhạnh rồi đặt cái tên: những trò mèo tâm lý; dù lắm lúc dùng giải lao, buồn cười vui vẻ phết song đôi khi trở thành vấn đề quan ngại thực sự.

Chẳng hạn, nghĩ tới cách một thân chủ cảm nhận khi anh ta tiếp cận tham vấn tâm lý và nghĩ về nhà trị liệu như thể vị này đã biết tuốt các suy tư của mình đến độ không cần thiết dành nhiều thời gian kể lể, mô tả cảm xúc bản thân: ‘Quái lạ, nhà tâm lý này cứ hỏi đi rồi hỏi lại mãi. Tại sao? Chẳng phải ông này biết mọi thứ chỉ đơn giản nhìn vào mình thôi mà? Có lẽ tay nghề ông này không giỏi lắm, hoặc có thể đây chưa là dạng trị liệu xịn, hoặc tự thân cái môn tâm lý học e có vấn đề chăng! Đúng thế, tâm lý học đích thực đồ đểu giả; chỉ tổ làm tốn thời gian và tiền bạc!’

Nghiêm túc mà nói, rất quan trọng việc cần có ý tưởng thực tế những gì người ta có thể và không thể mong đợi khi làm việc với một nhà tâm lý, và đôi khi có thể bảo vệ họ khỏi cảm giác bị lừa dối. Vì vậy, phải nói to lên và rõ ràng (nếu ai đó cảm thấy quá thẳng thừng thì mong được cảm thông) rằng nếu nghĩ một nhà tâm lý biết mỗi một suy nghĩ của mình chỉ nhờ quan sát thì ta đã sai.

Làm thế nào những trò mèo tâm lý này lại có thể khởi lên rồi lớn nhanh dễ dàng đến thế? Chúng không thể sinh ra từ sự rỗng không. Hãy thử gắng tưởng tượng xem chúng từ đâu tới. Khi trò mèo về ‘nhà tâm lý thấu thị’, khả năng cao giữ vai trò lý giải ở đây là khái niệm “vô thức” (unconscious). Nhờ Freud nghiên cứu, hầu hết người làm tâm lý biết ý nghĩa của từ đó; bất chấp vài khác biệt giữa các trường phái phân tâm học, tất cả đều tán đồng rằng nó là điều trong tâm trí mà chúng ta không nhận ra được. Freud làm việc dựa trên khái niệm này; ông nghĩ một bệnh nhân có thể cải thiện sức khỏe tâm lý nhờ dần nhận biết nền tảng vô thức trong các cảm xúc của bản thân. Vậy nên ông đặt để điều ấy như là mục tiêu trị liệu và gắng giúp các bệnh nhân của mình nhìn thấy những gì nằm bên dưới bề mặt đời sống ý thức. Đấy là điều nhà phân tâm học vẫn còn làm việc cho tới ngày nay.

Chẳng nghi ngờ chuyện một người không làm tâm lý phát hiện bao điều huyền bí ở đây. Được giúp đỡ để nhìn ra điều nằm sẵn trong tâm trí mình dù nó vốn chẳng hề rành mạch gì thì nghe ra như sự bói toán vậy. Và người ta dễ nghĩ những ai có thể giải mã cảm xúc của họ giỏi đến thế khác chi thầy phù thủy có phép lạ. Kỳ thực, không bí hiểm gì cho cam; nó đơn giản là vấn đề của kỹ năng.

Các kiểu dạng công việc thảy đều cần những kỹ năng chuyên biệt. Một thợ may áo quần giỏi việc ướm đo, chọn vải, cắt và ráp vá.  Anh ta sẽ cho điều ấy là tự nhiên và không hề nghĩ rằng việc may vá là chuyện gì to tát lắm, dù với không ít cánh đàn ông ấy thật bất khả vì họ không hề có kỹ năng.

Nhà tâm lý cũng cần các kỹ năng chuyên biệt. Công việc là trợ giúp và để trợ giúp, nhà tâm lý phải giỏi giang trong việc lắng nghe và thấu hiểu mọi người tốt hơn… thường dân. Do vậy sự thật kém lãng mạn hẳn đi: các nhà tâm lý học đơn giản tập trung chú ý vào những gì nghe được và nhìn thấy, và biết các lý thuyết có thể lý giải mọi chuyện liên quan. Lý thuyết và trải nghiệm giúp nhà tâm lý học lưu ý tới các chi tiết nhỏ nhặt mà hầu hết mọi người không hay nhìn ra và thậm chí còn thấy chúng thú vị, và nhà tâm lý giúp người ta nghĩ về những ý nghĩa bị giấu kín.

Song khoan, đợi chút nhé: nếu dừng tại đây, người ta chắc đúng khi tin rằng một người được đào tạo bài bản có thể đọc vị tâm trí họ. Người ta dễ phát biểu dạng: “Ồ, chỉ là do học hành chăm chỉ và nghiên cứu thấu đáo thôi ư? Nên kẻ không nhiều trải nghiệm thật khó, còn chuyên gia được đào tạo ngọn ngành thông tỏ có thể thực sự đọc được suy tư của mình chứ nhỉ.’

Anh ta không thể đâu. Điều giảng dạy cốt lõi trong đào tạo tâm lý là không có nhà tâm lý được đào tạo hoàn hảo nhất cũng như lý thuyết tốt nhất trên thế giới thì không thể chứng thực sai sót. Sự thật, kết quả tốt nhất một nhà tâm lý giỏi có thể thành tựu là chọn lựa nhiều đầu mối rồi tìm ra một cách lý giải cung cấp vài ý nghĩa liên quan nhất.  Song sẽ luôn luôn có điều gì đó không khít khớp, phù hợp.

Con người ta vốn phức tạp, phức tạp hơn lý thuyết nhiều, và mình phải luôn sẵn sàng thay đổi các giả thuyết của bản thân. Thử làm một bước tiến xa hơn: mình không thể đưa ra bất kỳ diễn giải nào có sẵn vì chẳng những con người phức tạp mà họ còn luôn tiến hóa, thay đổi rồi phát triển theo nhiều cách thức mới mẻ nữa. Ví von khi nghĩ về điều này là đừng ‘phải lòng’ bất kỳ chẩn đoán nào, ngay các chẩn đoán sát hợp và làm ta say mê ghê gớm. Một nhà tâm lý giỏi nhất thiết phải luôn giữ một không gian tự do trong lòng để anh ta có thể khai sinh các giả thuyết mới.

Lý do khác để mọi người có những niềm tin sai lầm về nhà tâm lý: các nguồn không luôn luôn đáng tin cậy. Nghĩ về cách các nhà tâm lý được mô tả trên phim ảnh và truyền hình nhiều tập thì tất rõ. Các nhà tâm lý là sự nhào trộn từ sự kiện và hư cấu; ngay cả khi lấy cảm hứng bởi công việc của một nhà tâm lý thực thì nhiều điều trong đó vẫn thừa yếu tố bịa đặt, dựng chuyện. Và mình thường quên mất một bộ phim là một bộ phim, và một bộ phim có thể không bao giờ mô tả thực tế đúng như nó là, chưa nói nhiều lúc gây phản cảm và buồn chán…

Hy vọng những câu từ trên thuyết phục ai còn mơ hồ, hoài nghi  và mong sẽ ngày càng ít đi người sẽ cảm thấy bị lột trần trước một nhà tâm lý.

Lời cuối. Chỉ nghĩ thôi sẽ buồn cười ngay chuyện có thể đoán biết trúng phóc tất cả các câu trả lời trong chương trình truyền hình Ai Là Triệu Phú nhỉ mà không phải đầu tư học hỏi, tích lũy kiến thức lẫn cóc cần ai trợ giúp téo tẹo gì cả.

Hạnh phúc lang thang như mây và tâm trí lêu bêu vô nghĩa lý…

Ca từ thoáng nhớ ra khá phù hợp với tin đưa về bảng xếp loại các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới thường niên năm 2015. Các tiêu chí đánh giá là thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ, quan hệ gia đình (có ai đó trông mong), tự do lựa chọn, tình trạng tham nhũng, và sự rộng lượng.

Nhóm tác giả của báo cáo cho biết, khát vọng chung được nuôi dưỡng bởi các thành viên; không chỉ tiền bạc mà còn nằm ở sự công bằng, chân thành, tin tưởng và sức khỏe tốt. Rằng người ta hạnh phúc hơn khi họ có thể dựa cậy vào gia đình, bạn bè và các thiết chế xã hội; cần khuyến khích các chính quyền khắp thế giới lắng nghe và đáp ứng bằng các chính sách ưu tiên cho trạng thái thân- tâm an lạc (well-being), đồng thời người ta cũng thấy quốc gia nào có tiềm lực xã hội và thiết chế vững vàng thì không chỉ trợ giúp tốt hơn trạng thái thân- tâm an lạc mà còn chóng thích nghi trước các khủng hoảng kinh tế- xã hội.

Lần nữa, rõ ràng chỉ số dính dáng hạnh phúc (happiness) thuộc phong cách Mỹ; theo tinh thần đã được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, việc theo đuổi và mưu cầu hạnh phúc là động lực phát triển niền kinh tế, cả phía khách hàng tiêu thụ lẫn nhà đầu tư. Và thực tế, nhiều người chúng ta nghĩ theo đuổi hạnh phúc là ý nghĩa sống ở đời dẫu cho nghiên cứu ngờ vực sự khôn ngoan đó.

Ý nghĩa thường được hiểu là điều gì vượt trên bản thân và hạnh phúc cá nhân của chúng ta; nó cột buộc vào điều rộng lớn so với chính mình: gia đình, quốc gia, nhân loại, sức khỏe hành tinh, kiến thức, trường trận hiểu biết con người, các tiêu chí nghệ thuật. Hạnh phúc là thuộc cảm giác tốt trong khi ý nghĩa khởi đi từ việc cống hiến cho tha nhân hoặc xã hội trong cách thức to lớn hơn. Nói chung, ý nghĩa ngang bằng với đức hạnh, trong khi hạnh phúc là những thứ người ta đạt được cái họ muốn có; nó là câu chuyện cho hơn là nhận.

Tuy vậy, tất cả mọi người muốn được sống thật hạnh phúc. Nghịch lý xoay quanh hạnh phúc, như xoay quanh Tỉnh thức, là nó quá dễ đánh lừa. Tâm lý gia Viktor Frankl, tác giả Logotherapy, từng viết rằng ‘hạnh phúc không thể theo đuổi được; nó phải sinh ra’; ông cũng ghi rõ là ‘mỗi một theo đuổi hạnh phúc sẽ gây cản trở hạnh phúc’.

Vấn đề được phát hiện là mọi người ‘đặt tầm quan trọng nhất’ để được hạnh phúc thì ít thưởng thức ‘các cảm xúc tích cực’ 50%, có 35% kém ‘thỏa mãn’ và khốn khổ bởi 75% do trầm cảm và 17% thiếu hụt ‘thân – tâm an lạc về mặt tâm lý’, so với người đặt các ưu tiên vượt trên hạnh phúc bản thân.

Nghiên cứu tìm thấy các nguy cơ sức khỏe khi thiếu vắng ý nghĩa ở người hạnh phúc thể hiện ở đáp ứng hệ thống miễn dịch tương tự những người đang phải vật lộn với các khắc nghiệt kéo dài như đau buồn vì mất mát người thân; kiểu như cơ thể họ chuẩn bị đối kháng với sự nhiễm khuẩn vậy. Một hệ thống miễn dịch trong trạng thái này do kéo dài giai đoạn dễ làm tăng lên nguy cơ mắc bệnh ung thư và tim mạch, vì cơ thể sẽ ở trong trạng thái không ngừng bị viêm nhiễm.

Thôi thúc ngắn hạn để đạt hạnh phúc sẽ tạo ngay kết quả: các đối tượng cố ý nhắm tới thông qua một bài tập thể dục tức thời để đạt giá trị vui sướng trong môi trường thực nghiệm, rồi lập tức hướng về một sự kiện tích cực như xem một bộ phim hài thường thưởng thức sự kiện tích cực kém hơn những ai hướng tới các giá trị khác.

Ý nghĩa, về phần nó, tương quan với khả năng cải tiến sự phục hồi là khả năng chịu va đập vượt qua các tai ương nghịch cảnh. Nghiên cứu gần đây chỉ ra tương quan bản ngã và sự siêu việt tâm linh xét từ khả năng phục hồi.

Sự khác biệt giữa việc theo đuổi hạnh phúc và theo đuổi ý nghĩa mang lại nhiều cuộc tranh luận triết học nảy lửa, góp phần định hình trạng thái văn minh hóa của Tây phương trải qua 2000 năm, về bản chất của đời sống tốt lành.

Nguồn gốc của khổ đau là do khát khao thèm muốn. Lưu ý, với Đức Phật, hạnh phúc không phải là vấn đề; thực tế, hạnh phúc (sukha) đối lập với khổ đau (dukkha), với tiền tố ‘su’ và ‘du’ mang nghĩa ‘tốt’ và ‘xấu’. Khao khát hạnh phúc là vấn đề, lý do tại sao hạnh phúc hầu như bất khả theo đuổi thành công, ngoại trừ khoảnh khắc phù du ngắn ngủi khi, như kết quả của hành hạ dằn vặt do đói khát, một nhu cầu được thỏa mãn tạm thời.

Một cách tuyệt đối, chúng ta bước vào con đường hướng tới Tỉnh Thức, cho chúng ta một ý nghĩa siêu việt mang tính chất sử thi anh hùng ca và dẫn đến sự hoàn hảo trong tính cách con người như vị tha đầy lý tưởng, từ bi, thanh thản và khôn ngoan.

Ngoài ra, trong khi suy nghĩ thông thường hay nhìn nhận đức hạnh và việc theo đuổi hạnh phúc cá nhân như cách thế đối lập thì quy luật nhân quả đối xử ngang bằng trạng thái thân- tâm an lạc cá nhân với sự diễn bày đức hạnh và siêu việt bản ngã. Bài học từ các nghiên cứu tâm lý không chỉ là hạnh phúc chẳng thể kiếm tìm, truy cầu một cách hiệu quả mà còn rằng việc sinh ra từ chuyện mưu cầu những gì ý nghĩa nhất vượt trên cái tôi. Đuổi theo ham muốn bản thân, bị dẫn dắt bởi tham lam, thù hận và vô minh là nghiệp xấu.

Qua kết quả nghiên cứu của đại học Harvard dựa trên ứng dụng Track Your Happiness với 2500 người trên toàn cầu nhằm hỏi những gì người ta nghĩ và làm vào khoảng rảnh dừng ngẫu nhiên, cho thấy tâm trí lêu bêu hầu như là trạng thái mặc định quen thuộc, chiếm khoảng 46,9% thời gian; không đáng ngạc nhiên chi khi người vui nhất là người làm tình, song nghiên cứu này nhấn mạnh một trong các lý do tại sao sex giá trị thế vì rằng tâm trí chúng ta đỡ lang thang hẳn khi làm chuyện ấy.

Một tâm trí lêu bêu là một tâm trí bất hạnh; hạnh phúc của một người ít phụ thuộc vào hoạt động mà nằm nhiều hơn ở mức độ tỉnh thức xuyên suốt hoạt động. Nói theo ý tác giả nghiên cứu Dan Gilbert, tâm trí lêu bêu dự báo vượt trội về hạnh phúc của người ta; tâm trí dễ dàng rời bỏ hiện tại biết bao và nơi chúng đến là chỉ báo khá tốt về hạnh phúc so với các hoạt động ta dấn mình vào.

Bất luận hão huyền và viễn vông ra sao, hạnh phúc cứ khởi sinh. Và vì thế, gợi ý của tâm lý gia Viktor Frankl thật đáng ghi nhớ trên hành trình kiếm tìm ý nghĩa đời sống: tạo ra một công việc hoặc tiến hành một hành động; trải nghiệm chuyện gì đó hoặc tình cờ gặp gỡ người khác; chọn lựa thái độ trước nỗi khổ niềm đau (suffering) không thể né tránh.

Cô ấy yêu người có những ý nghĩ phản xã hội

Trước hết, hãy thử mở đầu bằng việc nghe lời thoại từ nhân vật The Joker trong bộ phim Kỵ sĩ Bóng Đêm (The Dark Knight, 2008):

Mày biết tại sao tao dùng dao không? Dùng súng thì nhanh quá. Mày không kịp nhấm nháp các nỗi niềm nhỏ nhặt được. Mày hiểu chứ, trong những khoảnh khắc cuối cùng, bọn chúng sẽ cho mày thấy đích thị chúng là người ra sao. Nên theo cách nào đó, tao thấu biết đám bạn mày hơn mày rất nhiều. Mày muốn biết những đứa nào trong số đó là thằng hèn hay không?

Có thời điểm nào đó ở đời, mình dễ cảm thấy thân thiện thực sự với nhiều người và lưu giữ tất cả nét tính cách của họ trong tâm trí theo cách thức được cấu trúc và tổ chức đủ để rồi ra áp dụng phân tích mỗi một thứ về mấy người ấy. Mình đo lường các mối quan hệ xã hội dựa trên giá trị mình có thể nhận lấy, và các nguồn lực mình phải trao đưa đặng quyết định xem liệu mình nên đáng dành thời gian cùng công sức cho các mối quan hệ ấy. Mình đối xử với người như các thứ đồ và công cụ bỏ đi vì mục đích che chắn an toàn cho các ước muốn lẫn mục tiêu, thông qua những lời nói dối toàn bộ và thủ đoạn hoàn hảo.

Sự quyến rũ giả tạo

Trước khi khởi động trò chuyện với một người, mình đã quyết định chính xác hơn nửa cổ mẫu nhân cách của vị này. Từ việc phối màu trong phục sức cho tới các phụ kiện trang trí đi kèm thì tất thảy đã đóng vai trò cực quan trọng để phân tích rồi.

Bởi vì hầu hết mọi người chẳng hiểu giá trị của mình nếu không đặt để ấn tượng cho họ biết mình là ai thông qua cách ta ăn mặc. Vậy nên, tủ quần áo có thể kiểm soát việc gây ấn tượng với vô vàn cơ hội xảy đến… Đó là cách quyến rũ giả tạo vì suy tư khởi đi từ ý tưởng rằng một tương tác bắt đầu bởi vấn đề bắt mắt lọt tai.

Ngôn ngữ cơ thể

Lưng thẳng, vai mở rộng thoải mái và bàn tay xuôi theo thân mình e hẳn là dấu chỉ mạnh mẽ về một người điềm tĩnh; trạng thái này phản ánh mức độ cortisol thấp và cảm giác thoải mái với xung quanh mà đến lượt nó, minh họa khả năng chiến lược hóa bất chấp áp lực khủng khiếp do các nguồn lực ngoại giới. Hơn thế, ngôn ngữ cơ thể quyền lực mang tính báo hiệu thông thường rằng quyền lực sinh ra từ dòng dõi của con người riêng có này.

Trong các loài giả nhân, con đực alpha sẽ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn các con đực khác trong nhóm. Mỗi lần một con đực alpha mới hiện diện, con đực alpha mới từng là beta của nhóm giờ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn so với phong thái trước đây. Điều này hàm ý, bất kỳ ai đều có thể biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể dễ dàng và nhanh chóng nhờ thay đổi đơn giản suy tư cũng như tư thế cơ thể ngay lập tức.

Thói cầu kỳ và quy ước mặc nhận

Khi chúng ta bắt tay, mình tiếp xúc mắt thẳng thắn để xem những người khác có muốn khởi sự quan hệ. Nếu anh ta đủ năng lực duy trì tiếp xúc mà không chớp mắt thì dễ mô tả là người quá tự tin vì anh ta buộc phải đánh giá để chống kháng với cơ xương và giọng rất mạnh mẽ của đối tác.

Chỉ tầm 5-10 phút trò chuyện, với lượng từ vựng cho tới cách phát âm, mình có thể kể rất hiều về cách tri nhận thế giới. Cơ chừng cực kỳ quyền lực ở số đàn ông sử dụng phạm vi từ vựng rộng vì anh ta đọc nhiều và thông minh; họ sẽ dùng nhiều từ nghe chừng xa lạ hoặc khó nắm biết đối với quảng đại quần chúng. Cùng lúc, họ sẽ thể hiện thông minh về mặt xã hội để cho mình quyền lực và giá trị qua một buổi trao đổi ngắn ngủi; điều này sẽ móc chặt các cảm xúc tích cực về cuộc đối thoại và làm người ta thêm ước ao đầu tư vào mối quan hệ.

Chắc bạn từng nghe nhiều lần chuyện thắc mắc tại sao phụ nữ yêu mấy gã xấu xa… Các hành vi phản xã hội như thiếu thấu cảm, vắng lòng xót thương, quyến rũ giả tạo, và mang chất mánh khóe dẫn dắt thì dễ tìm thấy trong con người đàn ông mà phụ nữ yêu.

Tiến hóa

Nếu tìm hiểu về tâm lý học tiến hóa, nhiều trong số các hành vi tích cực được xem là hấp dẫn thực sự giới nữ có thể dõi theo về chiến lược chọn lựa tính dục bên trong loài chúng ta. Tiến hóa sẽ phục vụ cho nghiên cứu hơn nữa nét tính cách duy trì sống còn trong quá khứ khiến một số đàn ông tích lũy được các nguồn tốt đảm bảo cơ hội cho sự bảo bọc con cái họ. Các nét tính cách này tiếp tục tỏ lộ ở thời hiện đại và dễ tìm thấy nơi nhiều đàn ông quyền lực, nhất là các CEOs cao cấp và trùm Mafia.

Mánh khóe dẫn dắt

Đa phần nghĩ về sự mánh khóe như thể là điều gì khả năng nhìn thấy ở những ai cố kiếm lợi lạc từ chúng ta. Tiếc thay, hầu như mình bị dẫn dắt bởi người quá thông minh đến độ chúng ta tin rằng dự tính và hành động của họ thật chân thành và đứng đắn. Tình thế gay go ở chỗ, người này thông minh thừa khả năng thuyết phục, dụ dỗ chúng ta để làm cho họ thêm nhiều quyền lực hơn lên.

Thiếu sự thấu cảm

Lần nữa, thiếu sự thấu cảm không nhất thiết nghĩa là kẻ mánh khóe sẽ không thể hiện mối quan tâm tới cảnh ngộ của bạn. Thực tế, nếu mình đem lại nhiều lợi lạc phục vụ cho sự truy cầu của kẻ phản xã hội này, anh ta sẽ có khả năng biểu đạt sự thấu cảm với bạn một cách giả tạo nhằm chiếm được lòng tin; nhờ sự thay đổi thế, bạn sẽ cởi mở với các ý kiến rồi dần dễ dàng rung cảm với những mời mọc, mệnh lệnh của anh ta. Hầu như bạn sẽ còn chẳng đủ khả năng để kể ra những kết nối thiếu vắng cảm xúc của anh ta.

Cực kỳ quyến rũ

Nếu từng gặp một gã quyến rũ thôi rồi và mồm mép khỏi nói trong thói cầu kỳ lẫn quy ước mặc nhận của anh ta thì khả năng anh ta sẽ là một kẻ có vấn đề; các nét tính cách độc đáo đến nỗi họ thật xuất chúng và bật sáng về mặt trí năng xã hội.

Chẳng hạn, nếu anh ta có thể duy trì đối thoại rất tốt với các nhóm lớn, giữ tiếp xúc mắt với nhiều khu vực khác nhau trong đám đông, thoải mái với mọi người, nói bằng thứ ngôn ngữ hoa lá cành dù không cóc cần tuân thủ quy tắc ngữ pháp song vẫn đảm bảo sáng rõ để hiểu thì đấy là một vài dấu hiệu đáng dè dặt. Kỳ cùng, hầu hết mấy kẻ ấy vô cùng thành đạt trong bậc thang thăng tiến lãnh đạo công ty hoặc kết thúc trong nhà tù, vì không kiểm soát nổi các hành vi nguy cơ của bản thân.

Họ không bao giờ nói về chính mình

Một trong những nét tính cách tồi tệ chúng ta tin tưởng làm kẻ khác nghe theo là nói năng và thuyết phục. Thực tế, đấy đích thị cách tồi tệ để thuyết phục hoặc khiến ai đó tin tưởng. Hay nhất là cho phép người khác bộc lộ ra ngoài các ý kiến, quan điểm và cảm xúc dạt dào sẻ chia. Càng nhiều câu chuyện đậm màu cảm xúc được chia sẻ, cô ấy càng thêm phần gắn bó với sự hiện diện của anh ta. Ban thưởng tinh tế như gật đầu nhẹ hay sờ chạm nhằm củng cố các hành vi này đến mức tạo nên vòng xoáy trôn ốc đi lên của việc đầu tư thêm cảm xúc. Tuy nhiên, khi họ cất lời, nói chung nghĩa là sự chiếm đoạt ngắn gọn, sắc bén, chính xác và gây chú ý ghê gớm.

Sau rốt, dù không phải cốt thể hiện chẩn đoán hoặc phân tích chính thống về các hành vi thái nhân cách (sociopath), dường như hầu hết di truyền của mình hóa trang nhất quán bộ ba nét tính cách đen tối này. Thực sự đối xử với hầu khắp con người ta như dạng thức thực nghiệm xã hội thì tự thân nó đã tố cáo dấu chỉ của hành vi mang tính thái nhân cách rồi, dẫu khá là thành thật rằng mối quan hệ của chúng ta sẽ luôn hưởng lợi lại qua, xét từ quan điểm logic và rất hữu lý.

‘Cái tôi’: sự lừa dối trên tiến trình nhận thức

Rằm tháng Giêng rồi, nhân Ngày Thơ quốc gia, lượn lờ tình cờ mà đọc được đôi câu treo trong khuôn viên Văn Miếu- Quốc Tử Giám của một cậu trai 8X khiếm thị: “Ngoài trời còn có trời cao, trong tôi biết có tôi nào tôi hơn” (Nguyễn Việt Anh, 1982, Hà Nội).

Ai thích Toán hoặc quan tâm thống kê chắc biết luật Benford. Phần phấn khích trong câu chuyện nhỏ này là cách thức nó sát gần cũng như giải pháp nêu ra lại dính kết tới ý tưởng về ‘cái tôi’ (self) mà theo đạo Phật thì chẳng khác chi trò ảo thuật lừa mị: được tạo ra như phó sản của ‘tiến trình xử lý ký hiệu tinh thần’. Đây có vẻ giải thích luật Benford thấu tỏ nhất. Theo tiến sĩ Steven Smith, hơn 70 năm qua luật Benford đã đạt đỉnh điểm của sự sùng bái; nó mạnh mẽ tuyên bố chứng thực một số bí mật hoặc thuộc tính khá bất thường của vũ trụ.

So sánh điều ấy với cuộc đấu tranh triền miên của con người nhằm định vị ‘cái tôi bên trong hoặc ở ngoài bản thân mình, trong khi con người không ngừng nhìn/ xử lý sáu giác quan. Rõ ràng, phải có một cái tôi, self, ego, một ta phỏng ạ? Tôi có thể thấy nó. Song nó đến từ đâu rứa? Và nó là cái chi chi? Câu trả lời của Phật đối với ‘vấn đề’ mà ngài tóm tắt thành ‘avijja‘ hoặc ‘sự ngu dốt/ thiếu khôn ngoan/ vô minh’, một ảo tưởng, liệu tương tự với trả lời chúng ta có thể tìm thấy với bài toán ‘bí hiểm’ này (tức thuộc vấn đề tinh thần/ logic)?

Lần nữa, theo tác giả Steven Smith, đừng phí thời gian đặng cố thấu hiểu các ý tưởng ấy; chúng hoàn toàn đi theo vết sai lạc hẳn rồi. Không có ‘thuộc tính vũ trụ’ nào và hiện tượng này chẳng liên quan gì với các ‘đơn vị’ (units) cả. Chung cuộc, chúng ta sẽ nhận ra rằng luật Benford trông giống với một cuộc biểu diễn ảo thuật thật ngoạn mục hon là như một thuộc tính bị giấu kín của vũ trụ. Nói gọn, mẫu hình logarithm của việc dẫn dắt các con số đến từ chiêu trò thể hiện của dữ liệu (data), và không có liên quan với các mẫu hình trong các con số được xem xét…Rằng việc này làm thay đổi theo một mẫu hình dựa vào các khả năng của số 10, ví dụ thế, là phản logarithm. Không hề nhận ra rằng bộ não mình đã bí mật biểu diễn dữ liệu, mình quy mẫu hình logarithm này cho một số dấu hiệu ẩn kín nào đó của các con số độc đáo.

Từ quan điểm Phật giáo hoặc thiền định thấu tỏ, điều gì đó tương tự cũng xảy đến với tâm trí. Việc xử lý ký hiệu hoặc trải nghiệm nhận thức của tâm trí tạo nên tri giác, ý thức về cái tôi, là ‘kết quả’ của tiến trình (phó sản hoang đường) đã không hề được tìm thấy trong nội tại tiến trình cũng như là ‘yếu tính’ rốt ráo. Do vậy, ý thức, như đức Phật ghi nhận, đúng là trò lừa của ảo thuật gia:

Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm Thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, Thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong Thức được?

Với cái nhìn này, đạt được Niết Bàn (Nirvana) sẽ mang nghĩa kết thúc rốt ráo công việc nhà của người ta. Giải quyết phương trình luân hồi đòi hỏi nhiều việc phải làm (cần đọc bài viết của tiến sĩ Smith hoặc đơn giản hành thiền vài năm), mà việc thức nhận đoạn kết sẽ là một thứ ngắn gọn và sâu xa, và sẽ không nằm trong lĩnh vực của sáu giác quan. Như trường hợp giải quyết luật Benford, nó hàm ý một số hình thức bước ra khỏi rồi xem xét lại vấn đề từ quan điểm trung lập, chắc chắn người ta không quên việc tính đến tiến trình nhận thức riêng tư hơn là rơi vào các diễn giải khác nhau mà tâm trí thường hay nảy nở, tăng nhanh đưa thêm…

Kiếm tìm hạnh phúc đích thực: không có con đường tắt

Chấp nhận sống giữa cõi đời nhăng nhít này rồi thì nhỡ nảy sinh thắc mắc cắc cớ mấy cũng đừng ngượng ngùng quá thể: các đôi hạnh phúc nhất làm chi trên giường khi không làm tình nhỉ?

Được thôi; câu trả lời, chí ít với những cặp trẻ trung sống chung chưa kết hôn í, có ngay liền đây: đi ngủ cùng một thời gian. Wow, ngạc nhiên chưa, té ra nghiên cứu cho thấy, nếu gã trai trải qua một đêm ngon giấc thì hôm sau y sẽ ít bộc lộ tương tác tiêu cực; nói khác, nàng đi ngủ sớm hay muộn so với chàng thì mức độ thỏa mãn quan hệ thấp hơn hẳn. Đơn giản như đang giỡn thế nhỉ; dĩ nhiên, nào đã hết chuyện bởi sững sờ ghê nữa, nhiều nghiên cứu khác trước đó cũng chỉ ra điều tương tự rằng có mối liên quan giữa lịch ngủ không khớp nhau với sự xuất hiện xung đột. Tiện đây, trót thì trét thêm luôn nhé ạ là các mối quan hệ lâu dài thường do đối xử tử tế và rộng lượng; thẳng thừng nói toạc móng heo: khinh khi, xem thường là yếu tố số một khiến chúng mình hát bài ‘ta chia tay nhau từ đây’…

Tạm gác qua ba mớ vấn đề mí ý nghĩa rất dễ nảy sinh rắc rối, vì hôm nay nhân sự kiện Ngày Quốc tế Hạnh phúc, đúng hẹn lại lên, chỉ thử diễn giải duy nhất luận điểm: không có đường tắt trên hành trình truy cầu, kiếm tìm hạnh phúc.

Thưc tế, hầu hết mọi người hoặc ước ao hoặc đang tích cực kiếm tìm hạnh phúc, bình yên và hài lòng nhiều hơn. Các ước ao và kiếm tìm ấy thể hiện qua đủ dạng thức.

Chúng ta đa phần đều có thời điểm trong cuộc sống tự thuyết phục bản thân rằng nếu một chuyện gì đó xảy ra thì mình sẽ hạnh phúc mãi mãi. Chúng ta tự tin rằng sự kiện này là chìa khóa đảm bảo hạnh phúc, bình yên và hài lòng trọn đời. Dịp đặc biệt ấy dễ chừng đã tới rồi trôi đi lâu rồi thì chí ít mình cũng từng vui sướng.

Vật đổi sao dời, tình thế không giống cũ và chúng ta chẳng kéo dài cảm giác hạnh phúc, bình yên hay hài lòng. Lý do là chúng ta có thể nhận ra thứ hạnh phúc kiểu đó dựa trên hoàn cảnh bên ngoài thì phù du thiệt; bản chất cuộc đời vốn rứa.

Vậy hạnh phúc rốt ráo ở đời khởi từ đâu? Nó đến trong trạng thái hài hòa hay khi người ta thấy hợp nhất các cái tôi sâu xa hơn? Liệu mình có thể sống với sự kết nối với các cái tôi sâu xa và mọi lúc đều cảm thấy một sự yên an? Mình có tìm thấy hạnh phúc rốt ráo dài lâu đích thực không ta?

Các truyền thống tâm linh dạy rằng trên hành trình khám phá các sự thật thâm hậu nhất, chúng ta bắt đầu bởi việc lưu tâm tới những gì không phải là sự thật. Dành thời gian vén lộ và phơi bày lớp này tới lớp khác điều chi là bất hạnh; kiểu nhìn rõ “không phải cái này, không phải cái kia”. Với con đường tự khám phá, chúng ta điều nghiên rồi học hỏi những gì ngăn trở chúng ta có được hạnh phúc thực sự. Khi có thể thấy biết đó không phải là ham muốn đặc biệt hoặc một thành tựu hoàn mãn thì chúng ta cho phép bản thân thư thái với yên an và hạnh phúc rồi.

Tiến trình cắt bỏ, loại trừ này giúp chúng ta khám phá các khối chặn khiến mình không sống với các cái tôi sâu sắc hơn và vì thế, có hạnh phúc. Quá dễ duôi để thích thú kiếm tìm hạnh phúc với một căn bếp mới, ngôi nhà to hơn, nhiều trải nghiệm phong phú, lắm rượu bia và tích trữ đầy ắp thực phẩm. Tất cả chúng ta đều tin rằng giá mà mình tìm ra công thức ‘đúng đắn’ với đời sống bên ngoài thì mình sẽ có hạnh phúc, yên an và hài lòng bấy lâu khao khát.

Tất cả chúng ta thảy đều cần một số nhu cầu cơ bản và khi chưa đáp ứng được, mình gắng sức đạt tới. Kỳ thực, chúng ta không thể có khả năng sở hữu hạnh phúc với lối suy nghĩ đó. Với đa phần chúng ta, cuộc chiến đấu này mang phẩm tính tham lam vô độ chẳng bao giờ thỏa mãn nổi. Rồi chúng ta luôn luôn khao khát và tin rằng có…. (điền vào chỗ trống) sẽ làm mình hạnh phúc.

Hạnh phúc tương hợp với tất cả mọi người trong từng khoảnh khắc. Ngay lúc này, bây giờ đây. Do không tập trung đủ chứ nó luôn ở đây mọi lúc. Phụ thuộc chúng ta làm công việc cá nhân và tâm linh bên trong lòng mình cần thiết đặng đón nhận dòng chảy của Vũ trụ. Thượng đế hay bất kỳ danh xưng tôn quý nào phù hợp với truyền thống cá nhân, và kết nối nội tại với bản thân đều khả thể. Thay vì nhìn ngó đó đây kiếm tìm này nọ hoặc mò mẫm ẩn dưới ký ức, nếu có thể cởi mở với Vũ trụ, mình có thể trải nghiệm dòng chảy ngay lúc này, ở đây.

Cơ chừng sống trong thế giới quá bận rộn này, chúng ta kiếm tìm cách nào nhanh nhất tiến hành các thứ. Tỷ dụ, cân nhắc ăn ba phút hay dành cho việc luyện tập 10 phút. Áp lực có X, Y, và Z cập nhật rồi đạt điều này điểm nọ. Cách tiếp cận kiếm tìm phiên bản gấp rút liền ấy khiến công việc khó triển khai trọn vẹn hay đẹp đẽ, như ý. Không đủ thời gian chờ lá trà ngấm thì sấy khô, ép cuốn cách sao để có ngay cốc trà pha sẵn.

Chỉ có 24 giờ mỗi ngày; làm sao thực hiện hết thảy? Điều mình mong muốn nhất là gì?

Hầu hết đích thị muốn hạnh phúc, bình yên và hài lòng hoặc một số nối kết mấy điều ấy lại. Hữu ích nếu học hỏi phương thức gắn các suy tư và cảm xúc nội tại cho thật sâu sắc. Kết nối này giúp mình biết điều chi sẽ làm mình ngày càng thêm thỏa mãn đầy tràn. Biết rõ kết nối này theo cách đạt tới hoàn mãn không thường là kết quả của một sự khớp vội vàng hoặc ý thích bất chợt; chúng không lưu giữ quyền lực mình đang tìm kiếm.

Khi các phương tiện truyền thông hiện đại ra đời, chúng ta nghĩ đó là thứ mình muốn lâu nay. Đa phần những gì nghe thấy chẳng khác mớ rối rắm quấy nhiễu tâm trí sẽ dẫn mình lêu bêu tùm lum nơi chốn. Hiểu biết bản thân và sống đời tốt lành đòi hỏi mình dành thời gian, sự chú tâm và nỗ lực cần thiết. Nó không xảy ra trong thời gian chờ người ta đem hộp cơm tới. Vẫn biết, chúng ta muốn cố gắng và tìm ra cách dễ dàng thực hiện nhất. Song đôi khi không đi vào tâm điểm vấn đề thì chỉ tổ mất nhiều thời gian sau này hơn thôi. Đào sâu bản chất giúp mình khỏi tốn công cứ mãi lượn vòng vòng trên bề mặt.

Theo thói quen, chúng ta tìm 10 bước nhanh chóng và dễ dàng để…… (tùy nghi điền vào). Một số dạng thông tin cô gọn vậy tỏ ra hữu ích và nó tựa miếng băng dính dán trên ngón tay bị dập xước. Mình phải xem kỹ vết thương gây đau đớn nhằm tránh phiền phức; việc ấy đưa ta tới gốc rễ vấn đề, ví von tẹo, để chữa lành hẳn. Những giải pháp băng bó vội vàng thì giống như các miếng dán. Tất nhiên, không buộc phải vào rừng để nhặt củi nấu bữa ăn hay tiêu 12 năm trị liệu tâm lý để nói về kỷ niệm bữa tiệc thảm hại hồi sinh nhật tuổi lên 10.  Điều ấy nghĩa là, nếu muốn hạnh phúc đích thực và không đặt để cho cuộc đời xoàng xĩnh, quan trọng cần nhìn sâu vào bên trong bản thân mình; nghĩa là, có thể cần trợ giúp từ ai đó thích hợp, cũng có nghĩa đòi hỏi khám phá sâu xa hơn chính mình thông qua viết nhật ký, thiền định hoặc công việc tâm linh khác.

Hãy nghĩ về khoảnh khắc lối mình thi thoảng quên lãng, hoặc không mong đợi, và gỡ miếng băng dính, rồi nhìn sâu hơn để tạo thuận lợi nhất cho việc chữa lành rốt ráo. Liệu mình biết cách có thể thách thức bản thân đặt câu hỏi sâu xa, rồi khám phá bên dưới miếng băng dính dễ tạo cảm giác lừa mị?

Né tránh tìm hiểu cội nguồn hụt hẫng và thất vọng rất người cũng như lắm nỗi niềm lo âu phiền não hàng ngày khiến mình lơ đễnh hiện tại và dễ lựa chọn phóng tâm trí về phía tương lai cùng với khát khao mơ hồ ước gì hạnh phúc:

Thật bất khả đòi hỏi phải đảm bảo tương lai sung sướng khi thưởng thức ngay liền một khoảnh khắc thú vị đang là. Chúng ta không có sự bảo chứng đó. Những dự đoán giỏi nhất vẫn thuộc về tính xác suất hơn là sự tất định, và kiến thức tuyệt vời chúng ta nắm được là mỗi một người sống trên đời rồi ra sẽ phải trải qua khổ đau và chết chóc. Vậy thì nếu khó sống hạnh phúc nổi với tương lai bất trắc, chúng ta làm sao đoan chắc thích nghi đồng cùng thế giới hữu hạn vốn luôn là nơi chốn, bất chấp các kế hoạch tốt nhất, sự cố cứ việc xảy ra và cái chết chung cuộc sẽ đến.

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.

Tên giết người, kẻ cười biếm và sự chế nhạo tế vi sinh tử: trong nỗi khổ đau chung đụng

Thế giới của những chỉ trích lại qua cao độ càng dễ làm tăng thêm mức nguy hiểm âm ỉ từ nỗi niềm hận thù tích chứa khó lường trong lòng. Vụ thảm sát ở Paris vừa qua chắc khó khiến người ta ngoác miệng nhìn nhau hỉ hả được, bất chấp tranh luận trong ngoài hiện vẫn còn tiếp diễn dây dưa…

Ai quan tâm tìm hiểu văn học- nghệ thuật Pháp chẳng khó nắm bắt các sắc thái châm biếm, trào phúng khác nhau qua các thời đại, với phong vị Rabelaisian hay khí chất kiểu Voltairean. Khởi từ thời nổi loạn ấn tượng 5- 6.1969, các bức tranh biếm họa của tờ báo ra hàng tuần Charlie Hebdo mang cả lối đả kích chính trị hồi Charles de Gaulle trộn lẫn kiểu minh họa dung dị Charlie Brown.

Nếu biếm họa quả là một truyền thống Pháp thì càng dễ hiểu cơn cớ người ta cố bảo vệ quyền tự do biểu đạt, và tính cách ấy góp phần lý giải tại sao cần gìn giữ khả năng gây sốc của nghệ thuật.

Vấn đề đáng tìm hiểu nghiêm túc: liệu các biếm họa mang quyền năng hơn hẳn nghệ thuật đích thực? Và thật phi lý khi giới truyền thông toàn cầu lờ các vụ thảm sát ở lục địa đen Phi châu và sẵn lòng hừng hực đương đầu khi sự cố chết người xảy đến ở châu Âu già cỗi? Lần cuối cùng một nghệ sĩ thị giác bị giết bởi một tác phẩm gây tranh cãi là khi nào, hay các điểm khác biệt giữa nghệ thuật bình dân với hội họa, mỹ thuật?

Không chỉ tranh biếm họa, phim ảnh cũng từng trở thành đối tượng để các kẻ cực đoan sát hại tác giả. Và lần nữa, lich sử nghệ thuật vẫn sẵn có ví dụ về sắp đặt được mua với giá $20.000 và ngay cả khi bị cho là ‘gớm chết’ thì khi khởi kiện, phía Bảo tàng vẫn thắng, bất chấp đề tài chạm tới các biểu tượng tôn kính của Công giáo La Mã.

Dĩ nhiên, đó không phải là câu chuyện nhắm tới ý khoan dung tôn giáo; kỳ thực, người làm chuyên môn có thể nảy sinh nhu cầu phân biệt giữa biếm họa và mỹ thuật. Kiểu biếm họa (cartoon) thì vẽ liền ngay, dễ xem, và thường được khởi thảo để trêu tức, khiêu khích; nghệ thuật (art) thì thường dự tính, mang ý định tạo vết cắt buốt chầm chậm về sau, nó đề xuất nhiều vấn đề và câu trả lời. Các nhà vẽ tranh biếm họa biết họ dễ bị đưa lên giá chữ thập:

Vẽ tranh biếm họa là tay cực tối giản, và những kẻ chuyên quyền, bạo chúa cũng tối giản đâu kém… Vì thế, họ hiểu quyền lực của biếm họa. Những người vẽ biếm họa thường rất giỏi chuyện chưng cất, tinh luyện, họ đánh thức theo cách hết sức dễ hiểu… và đó là lý do tại sao các bức tranh thật đáng sợ.

Và sự sinh, sinh sự nên tất xuất hiện ý kiến “tự do báo chi không có nghĩa thoát khỏi mọi phê bình” đi kèm với nhận định rằng nghệ thuật không coi trọng quá tính thiêng.

Thực tiễn nhân loại chỉ ra, duy mỗi con người trong các tạo vật trần gian mới có thể suy tư, nói năng, và làm ra các tác phẩm; trầm tư rồi nhận thấy tính Vô hạn; rằng nghệ thuật nhân loại, như nghệ thuật thần thánh bao gồm cả hai mặt của các khía cạnh định rõ và không xác lập nổi, cả cần thiết lẫn tự do, gồm trạng thái run rẩy lẫn niềm vui thú.

Nghệ thuật thế tục do vậy, được phân biệt với nghệ thuật của tính thiêng: trong nghệ thuật tính thiêng (sacred art) những gì đặt định sẵn vượt qua mọi thứ là nội dung và việc sử dụng tác phẩm, còn với nghệ thuật thế tục (profane art) những cái đó chỉ là cớ cho việc nảy nở niềm vui sáng tạo…

Chắc chắn, đấy là cuộc chung đụng bất khả chối bỏ, chẳng ít tai ương và đầy đau khổ.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.