‘Biết dùng lời rất khó để mà nói rõ… ôi biết nói gì…’ (2)

Yêu người bởi tại thương ta, điều hay nhẽ dở làm ra cuộc đời...
Yêu người bởi tại thương ta, điều hay nhẽ dở làm ra cuộc đời…

Dĩ nhiên, I- Love- You là thứ ma thuật dễ nghe và đầy mê muội quen được sử dụng trong phim ảnh lãng mạn kẹp cùng đủ trò đùa tếu; thậm chí, bi hài không kém, nó được coi trọng rất rất nhiều nữa cơ với các mối quan hệ đời thực.

Về mặt văn hóa, dùng ILY được ghi nhận chỉ tăng lên từ đầu thế kỷ XX. “I love you” không phổ quát ở Hoa Kỳ cho mãi tới khi các sự kiện thay đổi xã hội khởi sự tán dương lối biểu đạt cảm xúc mãnh liệt hơn, với lưu ý về phong trào nữ quyền tăng cao và sự vẫy gọi réo gào “tự do luyến ái” những năm 1960.

Nghiên cứu cho biết, người Mỹ thường nói ra thành lời về người họ yêu thương so với các quốc gia khác. Họ dễ bộc bạch tận đáy lòng lớp nhân cách và thể hiện khá cao việc tự bộc lộ bản thân, trong khi các văn hóa tại quốc gia khác ngược lại hẳn vì đặc trưng chỉ bày tỏ lớp nhân cách phía ngoài; điều ấy hàm nghĩa, người Mỹ rất thoải mái giao tiếp thành lời các cảm xúc mà các nền văn hóa khác xem là chuyện riêng tư, như tình yêu.

“I love you” không phải luôn mang nghĩa theo ta vẫn hiểu về nó.  Giới chuyên gia cho biết, Anh ngữ có một từ chỉ “love” (yêu); với tiếng Phạn có 96 từ mô tả yêu với nhiều hình thức khác nhau; nên chẳng quá đáng nếu dùng Anh ngữ thì nghĩa của “I love you” thường dễ bị diễn dịch sai lạc. Phần diễn giải phụ thuộc bối cảnh, chẳng hạn, thông thường là bị ngờ vực nếu ai đó nói “I love you” trước khi làm tình lần đầu tiên. Như từng giới thiệu, sau lần làm chuyện ấy mà nói ILY thì là chỉ báo tốt hơn về cách họ đang thực sự cảm nhận, không hề có mơ hồ nào rằng họ làm điều gì ám muội khi thổ lộ thế. Nhắc không thừa rằng, dĩ nhiên, “I love you” chẳng phải ám chỉ là chiêu trò mồm mép; vấn đề nằm ở bối cảnh. Bởi vì xã hội quá chú trọng vào biểu đạt thân mật này, lần đầu đã tuyên bố rồi qua lại, càng dễ dẫn tới cảm nhận nó liên quan mạnh mẽ với sự cam kết về mặt cảm xúc.

Trường hợp lưu tâm: điều tra cho thấy lâu rồi các cặp ngừng nói ILY, ngay cả là họ vẫn tiếp tục chăm sóc nhau. Tầm 50% trong 2.071 người trưởng thành ở Anh đang quan hệ từ 2 đến 5 năm nói ILY mỗi ngày. Song chỉ 33% các cặp còn sống với nhau trên 10 năm nói ILY thường xuyên, và con số tụt xuống 18% với các cặp bên nhau trên 50 năm.

Trong lĩnh vực lãng mạn, tiến thoái lưỡng nan là người ta có khao khát một tình yêu lâu bền kéo dài suốt đời hay với nhiều mối quan hệ ngắn ngủi, mãnh liệt. Lựa chọn một tình yêu se sắt cơ chừng đáng tin cậy, tình yêu sâu xa da diết ấy bao gồm thỏa mãn đầy tràn các nhu cầu cơ bản của đối tác và khuyến khích cả hai cùng làm phồn thịnh mỗi cá nhân. Một tình yêu như thế có nhiều lợi lạc vô bờ, được tiếp nhiên liệu từ tình bồ tèo dài hạn và các hoạt động nối kết với nhau. Như người chồng  nọ thổ lộ: “Sống với vợ trên 25 năm rồi. Chúng tôi có 2 cháu. Tôi yêu thương cô ấy mỗi ngày hơn mọi điều mình có. Ý nghĩ đầu bạc răng long, trọn đời mãn kiếp với cô ấy khiến tôi cảm thấy được an ủi. Vâng, tình yêu có thể tồn còn, sống sót và phát triển!“.

… Vài chia sẻ cùng cô gái nhỏ. Bạn trai cô có thể đang phát triển cảm xúc dâng trào nhanh hơn cô và khi điều ấy xảy đến, cậu ta ‘đang yêu’ còn cô thì thuộc giai đoạn ‘bạn tốt’. Các mối quan hệ vị thành niên cũng dễ gây bối rối vì cả hai nói và nghe mấy từ ILY í lần đầu tiên, đôi khi chẳng thấu hiểu đủ đầy nghĩa nó mang chứa. Đúng như cô để ý, cảm xúc của chúng ta với ai đó có liên quan với việc họ là ai và cách họ đối xử với chúng ta, đồng thời với cả trạng thái cảm xúc, sự tung tẩy và phản ứng do bị va chạm, thậm chí đời sống gia đình chúng ta nữa. Giải pháp: nhận ra sự khác biệt giữa việc cắt đứt và giảm thiểu mối quan hệ ít căng thẳng hơn. Mức độ I- Love- You thì khá nặng nề như cô gái kể; bảo với cậu ta là cô còn đi học, nhiều dự tính trong tương lai và thời điểm này chưa sẵn sàng với kiểu quan hệ mãnh liệt thế.

Nhiều người nhìn mức độ ILY như là tăng cường trách nhiệm, bổn phận, ngay cả các ngăn cấm nọ kia. Đấy không phải chỗ dễ dàng lướt qua và nếu cô chưa sẵn sàng thì đừng ghé tới. Đưa cho cậu ta mức độ ít căng thẳng hơn kiểu ‘hẹn hò’ thay vì ‘yêu đương’. Nếu cậu ta chống kháng hoặc chối từ chấp nhận tình huống, khả năng cao là cậu ta quá thích kiểm soát việc khởi sự và rằng ILY dễ kéo theo nhiều ngăn cấm, hạn chế. Cô gái không nhất thiết trải qua năm tháng học phổ thông với chàng Mãnh Liệt. Ghi nhớ rằng, nếu mình cảm thấy không thoải mái điều gì đó thì luôn có một lý do tốt lành ẩn bên dưới. Không phải là lỗi lầm gì lớn lao cho cam để tránh một mối quan hệ  hoặc tình huống khiến bản thân thấy khó chịu. Khi một mối quan hệ là đúng đắn, dùng ba từ ấy sẽ dường như thật tự nhiên và thích hợp. Cô gái không ở trong tình huống này. Xin hãy cẩn trọng.

Lời cuối. Lắng lại với clip be bé cả về thanh âm và trường độ.

‘Tại sao kẻ kia không thấy ra vấn đề họ đang làm gì thế nhỉ?’

Quá nhiều nạn nhân trong vô vàn mối quan hệ bị lạm dụng, nhất là những ai giao kết thân thiết với các tính cách lươn lẹo chiêu trò, thường dành quá nhiều thời gian và công sức để khiến đối tác ‘nhìn ra’ các khía cạnh giời ơi, sai trái trong lối sống. Cố gắng ghê gớm trong nỗ lực buộc kẻ kia hiểu ra vấn đề, bi kịch thay, đưa nạn nhân đến trạng thái tức giận, cảm thấy hụt hẫng, và rồi sau rốt trầm uất, thất bại, tiêu tan mọi hy vọng. Họ luôn tự dằn vặt bản thân: ‘Tại sao kẻ kia không thấy ra vấn đề họ đang làm gì thế nhỉ?’

Thực tế, câu trả lời rất đắng đót: họ đã biết nhưng họ khó chịu. Ý là, hầu như các tính cách quấy nhiễu trong đời bạn từng nghe những điều tương tự liên quan đến hành vi có vấn đề của họ lần này tới lần khác từ nhiều nguồn nọ kia. Họ thường hiểu đúng ngay lập tức và chính xác những gì mình muốn họ thay đổi, các chuẩn mực và nguyên tắc chúng ta thích họ chấp nhận.

Vấn đề thực chất do đó, không phải chẳng nhìn ra mà đích thị họ không có quyết định thừa nhận, chấp thuận tiêu chuẩn. Họ bào chữa về cách họ thích tiến hành mọi chuyện hơn, đổ tội cho những người khác khiến họ làm thế, hoặc dùng đủ chiêu mẹo để tránh né việc chấp nhận nhu cầu cần thay đổi. trong khi vào cuộc rất nhanh và lập tức gắng hết sức mình khả dĩ để trông chừng ấn tượng của những người khác về họ.

Điều này lý giải tại sao các nhân cách quấy nhiễu và gây rắc rối cho cảm giác có vẻ họ không học hỏi hoặc hưởng lợi được chi từ trải nghiệm. Kỳ thực, họ tom góp, tích lũy nhiều lắm. Song họ không chịu học hỏi những gì chúng ta muốn họ tiếp thu. Chúng ta muốn họ nhận ra rằng đấy không phải là lợi lạc dài hạn tốt nhất cho họ và mối quan tâm của người khác muốn họ bỏ đi các niềm tin căn cốt cũng như mẫu hình ứng xử để rồi định dạng hoặc thay thế bằng những lối suy tư, hành động mà nhiều người cho là đáng được thích ứng nhất.

Chấp thuận một nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn ứng xử, thành thật nhận lấy, rồi nội tâm hóa nó là hành động sâu xa của sự phục tùng và lòng hy sinh bản thân. Các kiểu tính cách xung hấn, như dạng buông thả (chống đối xã hội), trấn lột và lợi dụng (bệnh lý) thường có một sự thay đổi nội tại đột ngột bằng hành vi bất kỳ thậm chí nhìn bề ngoài như động tác phục tùng, phản ánh đơn giản là họ không thể ‘đào sâu’ vào vấn đề, bất luận ngay cả khi trải nghiệm dạy cho họ rằng sẽ tốt hơn về lâu về dài nếu họ làm thế. Còn các dạng tính cách ái kỷ quá mức lại nuôi dưỡng các cảm xúc tự cao tự đại và cho mình cái quyền không buộc phải hạn chế các quy tắc ứng xử, tự tung tự tác. Các tính cách gây rối này chối bỏ tiếng gọi lương tâm và tâm trí lành mạnh với các kỳ vọng mà đa phần chúng ta đều thoải mái chấp nhận.

Để xử lý thật hiệu quả người thể hiện thiếu hụt tính cách ấy, cần đầu tư thời gian và năng lượng vào nơi mình tạo được quyền lực. Chúng ta không thể kiểm soát kẻ khác, nơi chốn, sự vụ… Và chúng ta không nên dùng quyền lực để bắt ai đó phải ‘nhìn ra’. Những gì chúng ta có thể thực hiện là đặt để các ‘cam kết’ với bất kỳ sự vụ mình muốn giải quyết với những người khác, bao gồm cả những kẻ chà đạp và giẫm lên các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của chúng ta. Chúng ta có quyền lực để sắp xếp các giới hạn, củng cố các ranh giới, tạo ra rõ ràng các mong đợi, và trên hết thảy quyết định bối cảnh nào mình sẽ giải quyết sự vụ với các kẻ khác.

Những hành động kiên quyết và thể hiện nguyên tắc thế chuyển gửi thông điệp mạnh mẽ vượt trên mọi lời nói năng. Theo thời gian, chúng có thể bẻ gãy vòng tròn phá hoại của những kẻ tạo tác hành vi gây tổn thương và bộc lộ thái độ không tôn trọng chúng ta. Khi điều ấy xảy đến đủ nhất quán thông qua các tình huống và kiểu người khác nhau, ngay cả với những kẻ mang tính cách gây rối vốn đã thấy song cứ không chịu tán đồng, có thể tìm được một vài giá trị thực tiễn trong nỗ lực làm các thứ theo cách thức mới mẻ khác hẳn trước đây.

… Dường như trải qua thời gian dài của chủ nghĩa đại khái về mặt đạo đức kèm trạng thái chấp nhận rỗng không các hệ hình liên quan đến bản chất con người đã không còn đúng đắn, nhiều người đơn giản đánh mất năng lực lượng giá thật chính xác và công bằng tính cách của các kẻ khác. Đấy là lý do tại sao nhiều người lãnh nhận hậu quả đau thương khi thiết lập các mối quan hệ trục trặc, bị lợi dụng, hoặc nguy hiểm cả thời gian dài rồi mới phát hiện sự thật.

Vẫn luôn nảy nòi ở đâu đó còn chưa bị/ được báo chí, mạng xã hội khai thác, phát hiện về hành vi vô đạo đức, lăng nhục, không còn liêm sỉ. Liên quan đến ứng xử vô trách nhiệm, có cả trường dài rộng, mênh mông và sâu thẳm các tính cách bất chính, hiểm ác đang nhiễu nhương ngoài kia. Và vì số lượng ấy không hề ít ỏi, quả thật gây bối rối cho bản thân khi đưa ra các đánh giá đơn giản về tính cách một con người. Tôi không hề nghĩ ngợi nhiều lắm về các tên tuổi đình đám xuất hiện gây bàn cãi trên các mạng mà chính các phương tiện truyền thông cũng dính dáng trách nhiệm xiển dương ít nhiều.

Không phải là quan tòa để tha thứ hay luận tội. Đây là cách tôi thử nhìn nhận: nếu chúng ta không nhận ra vấn đề đích thực hiện diện và mức độ trở thành nghiêm trọng thì làm thế nào thế giới sẽ nhìn ra rõ ràng cách chúng ta đang cứu chữa nó? Bước đầu tiên là minh bạch, sáng tỏ tâm trí các khái niệm lầm lạc đang phủ mờ đánh giá của chúng ta về tính cách. Và có một số nguyên tắc khá thẳng thắn mà hầu hết mọi người có thể đánh giá công bằng và đúng đắn về ai đó. Không ai hoàn hảo. Song khi một người có chí ít mức độ dối lừa tối thiểu trong lòng, và họ làm gì đó thực sự sai trái, họ chịu trách nhiệm vì điều đó, chấp nhận các hậu quả do hành động gây ra, và thiện ý cam kết làm tốt hơn lần tới. Xã hội có thể đặt để các ranh giới và giới hạn nó muốn. Song ước ao tôn trọng các ranh giới và giới hạn này lại là câu chuyện nỗ lực, gắng sức thuộc về mỗi một cá nhân.

Lần nữa, khi nghe nói về các vụ việc và nhân vật ì xèo, tôi nghĩ, tính cách đích thực là vấn đề. Và xã hội chắc chắn suy tàn, tồi tệ khi chúng ta lãng quên điều đó.

Con số tính cách quấy nhiễu, thiếu hụt và đáp ứng không đúng đắn đang tăng lên trong cộng đồng chúng ta; và có nhiều yếu tố văn hóa theo thời gian chịu trách nhiệm thực trạng này. Chúng ta đã cảm thấy mệt mỏi với các tính cách và vụ việc gây tai tiếng như cơm bữa chưa? Và đã đến lúc đủ để làm điều gì đó về nó?

Kết thúc một cuộc hôn nhân bị hành hạ kinh khủng và lạm dụng thê thảm

Câu chuyện tình cờ đọc thấy này khiến tôi quan tâm chủ yếu từ khía cạnh mà hình như chưa thấy cánh báo chí hoặc độc giả bàn luận thấu đáo: làm thế nào chuẩn bị cho sự kết thúc tốt đẹp một cuộc hôn nhân trải qua chịu đựng đau đớn kinh khủng và lạm dụng kéo dài thê thảm đến vậy.

Những gã giống như chồng của người phụ nữ mang đặc trưng của dạng được gọi là các rối loạn nhân cách (personality disorders). Trong khi họ thảy đều có các lịch sử cuộc đời và nền tảng xuất thân khác biệt, hành vi của họ lại khá tương tự nhau. Các cá nhân này lạm dụng, hăm dọa, hạ mình, kiểm soát và đòi hỏi như một nhân cách ghê gớm. Quan trọng nhất, hành vi cá nhân của người phụ nữ ít bộc lộ ra nhiều với cách thức mình được đối xử trong hôn nhân. Người phụ nữ có thể là người bạn đời tốt nhất, và sự đối xử của họ vẫn như thế thôi.

Như một nạn nhân, quan hệ với kẻ lạm dụng chứa sự kiệt sức khủng khiếp về mặt cảm xúc. Họ cố tình nỗ lực tối đa để hủy hoại sự tự tôn của người vợ. Tình yêu và hội chứng Stockholm quen thuộc miêu tả tại sao người bình thường lại hay duy trì các mối quan hệ bị lạm dụng.

Khi bỏ qua một lịch sử hôn nhân bị lạm dụng, chúng ta muốn nhắm tới tình tiết sự vụ giải quyết của chuyện ly dị/ tách ra chứ không phải mối quan hệ. Một kẻ hăm dọa muốn tập trung khai thác các chủ đề anh ta từng quen dùng trong quá khứ: chỉ trích cá nhân, đe dọa, lăng nhục, v.v… Cũng lão luyện rành nghề trong chuyện diễn xuất, các kẻ này dùng hàng loạt hăm dọa vốn phi thực tế và khi không khả thi, họ thường dùng mặc cảm tội lỗi hoặc lời hứa hẹn thay đổi, hay “anh muốn được giúp đỡ”. Người phụ nữ nên nhắm vào tiến trình giải quyết. Một trò giải trí kinh điển của đối tượng là gọi cho đứa con, hỏi năm đầu ba sợi rồi tìm cơ hội để tấn công lòng tự tôn của bà vợ. Khi điều ấy xảy đến, họ sẽ nói đại khái kiểu như “Cuộc gọi này vì con, chứ không phải cho anh”, rồi gác máy. Người phụ nữ không nên tán đồng nói về thời xưa cũ hồi nào. Lưu ý người thân trong nhà và cảnh báo về chuyện diễn xuất hoặc đe dọa. Người phụ nữ đừng quên rằng lý do để gã này thù địch vì bà vợ thụ hưởng lợi thế hợp pháp vào thời điểm hiện tại. Các kẻ kiểm soát rất cáu gắt và tức giận khi sự kiểm soát một tình huống (giống như một cuộc hôn nhân vậy) bị đẩy tới đầy thách thức hoặc bị thay đổi theo bất kỳ cách nào. Hồ sợ ly hôn cho người phụ nữ quyền đặt mình vào sự kiểm soát, điều khiến đối tượng dễ thấy rất rối ren.

Khuyến cáo làm tham vấn tâm lý khi người phụ nữ trải qua giai đoạn khó khăn này. Nếu đang thấy các dấu hiệu trầm cảm, người phụ nữ nên xin ý kiến bác sĩ gia đình hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần. Sự vụ đòi hỏi hỗ trợ từ người thân, bà con và giới chuyên môn để giúp người phụ nữ quay về với đời sống bình thường mà cô xứng đáng được như thế.

… Cho dẫu dự tính ly thân, cơ chừng vấn đề của người phụ nữ thường không phải là đang muốn bỏ đi…; đó là chuyện sức chịu đựng và độ bền bỉ cho việc tách biệt. Lần nữa, cần định hình kẻ thất bại trong quan hệ và hội chứng Stockholm khi yêu thương. Gã chồng minh họa việc sử dụng các kỹ thuật thể hiện một kẻ lạm dụng, kiểm soát và “gây độc hại”. Cần có các khuyến cáo người phụ nữ tạo ra một kế hoạch thoát ra và cách thức không dính mắc chi với các vấn đề nhỏ nhặt; hội chứng Stockholm mô tả các kết nối chúng ta thường có với bạn đời lạm dụng và phương thức thay đổi lối sống để chung đụng, sống được với kẻ lạm dụng.

Thiển nghĩ, để thoát ra yên an nhất, người phụ nữ cần một kế hoạch ra đi đã; có thể phải tốn nhiều tháng trời để xây dựng lại sự tự tôn, chuẩn bị cho đoạn kết của quan hệ vợ chồng, và rà soát, xem xét các trạng thái tài chính, pháp lý và xã hội. Thật hữu ích nếu diễn tập các kịch bản cho chuyện ly hôn; với mỗi thứ, trạng thái độc hại của quan hệ và sự bất mãn của người phụ nữ sẽ thu hút sự chú ý của gã chồng. Trong khi anh ta không hề thay đổi đáng ghi nhận hành vi lạm dụng, các ý nghĩ về một cuộc ly dị hoặc kết thúc hôn nhân sẽ không phải là toàn bộ cú sốc đối với anh ta.

Người phụ nữ đừng gửi đi các thông điệp mập mờ và đan xen kiểu “Tôi muốn ly dị dù vẫn còn yêu anh ấy” hoặc dạng muốn ly thân song không tố cáo gã chồng. Khi người vợ tách ra, anh ta sẽ làm cho cô ấy lưu tâm tới chuyến hành trình cảm xúc đầy khổ sở, dằn vặt song người phụ nữ có thể báo cho anh ta biết rõ ràng rằng bất chấp mọi nỗ lực, những sự xa cách, v.v… không có điều chi cải thiện được tình hình. Cô ấy có thể đưa ra một hy vọng cho kết thúc êm thấm mối quan hệ theo cách làm tổn hại thấp nhất đôi bên và những ai liên quan. Nhấn mạnh khía cạnh cảm xúc của cuộc hôn nhân đã không còn và các quyết định đưa ra về cách thức kết thúc chỉ là chuyện sự vụ, thủ tục mà thôi. Nếu được, người phụ nữ muốn làm việc với một nhà tham vấn tâm lý như một phần kế hoạch vượt thoát; hữu ích trong việc định dạng các thái độ, hành vi về phần người phụ nữ quen biểu lộ, suy tư để chịu đựng cuộc hôn nhân đã bị ngộ độc theo thời gian với người chồng “nghiện rượu và vũ phu” (dĩ nhiên, không nhất thiết tiến hành lúc này hoặc là nguyên nhân gây rắc rối cho tương lai).

Đáng lưu ý, ngoài biểu hiện tượng cẳng chân hạ cẳng tay dễ thấy, người lạm dụng kẻ khác về mặt ngôn từ không chỉ thấy hành vi của họ đích đáng (“Cô ta đáng bị như vậy”) mà họ còn đổ tội sang lỗi cho những người khác về các cơn tức giận bùng phát và cảm nhận về quyền được làm thế nữa. Vì lý do ghê gớm vậy, sẽ không hiệu quả để thảo luận tới lui về chuyện lạm dụng nói năng. Người phụ nữ không cần thiết lên danh sách các giai đoạn nhằm chứng thực việc ra đi là đúng đắn; cùng lúc, chẳng cần gã kia thấu hiểu tại sao mối quan hệ giữa họ đang đầu độc người vợ. Một số kẻ lạm dụng đáp ứng kiểu “Anh không hiểu tại sao vợ chồng mình lại không tiến hành việc này” khi đương đầu với một cuộc ly dị hoặc ly thân. Đó thực sự là sự trì hoãn có ý đồ chiến lược, cho phép họ có thêm thời gian lại cãi cọ và ngược đãi về sự tự tôn của người phụ nữ trong khi gã ta tìm kiếm thêm các chiến thuật và chiêu trò mới.

Cầu chúc người phụ nữ mọi điều tốt lành khi cô ấy quyết tâm muốn thay đổi và sống một cuộc đời khác.

Một câu hỏi quen thuộc: làm thế nào tôi biết mình đang cảm nhận điều gì đây?

Những câu hỏi ấy, vào một lúc nào đó trong đời, sẽ bất chợt xuất hiện hết sức mãnh liệt: “Làm thế nào tôi biết những gì mình đang suy nghĩ và cảm nhận là đúng đắn đây? Có thể ai đó khác mới đúng thì sao? Tôi nghĩ mình biết những gì mình đang suy nghĩ rồi ai đó đến và bảo điều khác biệt cơ, và tôi lập tức tin họ! Tại sao tôi làm thế? Chẳng mấy chốc tôi quên béng điều mình từng nghĩ chắc là sai lầm.”

Khá dễ dàng bị vướng mắc dính cả chùm vào trạng thái tương tự bên trên; mọi người đều ít nhiều biểu lộ thế, cả thân chủ lẫn nhà trị liệu hay với những ai chưa từng đặt chân vào phòng tham vấn tâm lý. Câu hỏi: tại sao tôi làm thế? cơ chừng là câu hỏi đầy lợi lạc, hoặc chẳng tạo mấy vang vọng lắm, song chí ít mình có thể gạt câu hỏi đó sang bên.

Mục tiêu của nhiều người, cả trong tham vấn lẫn bên ngoài phòng trị liệu, là chắc thực với chính bản thân mình; họ chuyển tải hết sức chính xác một cách hiểu biết điều mình suy nghĩ và cảm nhận. Thực tế phũ phàng và trêu ngươi là điều này chưa chắc có hiệu lực như mong đợi đâu. Chúng ta hết thảy có thể thổi bùng ra ngoài, hoặc quên phắt những thứ từng chắc thực, kỳ thực các suy tư lẫn cảm xúc của chúng ta đều đặn bị bẻ gãy rồi thay đổi trong tiến trình tương tác với tha nhân và các tình huống nọ kia xảy đến trong đời, và thực tế mọi sự diễn ra như thế. Những gì đích thị sau đó là cảm nhận bền chắc bên dưới chúng ta hoặc trong lòng chúng ta.

Chiêu lừa mẹo xảo khéo không chỉ cố gắng bám vào nền tảng vững vàng qua mọi thời gian mà còn biết cách làm sao để tiếp chạm nó khi mình muốn. Thường khá dễ dàng hơn chúng ta nghĩ nhiều. Đấy chính là lộ trình nhắm tập trung vào. Song mình không nhất thiết nghĩ về nó như lộ trình hoặc kỹ thuật, chúng chỉ đích thị là các cách thức nói về thực tế.

Đôi khi tất cả điều chúng ta cần thiết tiến hành là thư giãn, tạo ra một không gian nội tại trong lòng rồi tự vấn bản thân bằng lối thân thương: “Hiện tôi đang cảm thấy như thế nào đây?” Điều gì đó bên trong thân xác mình đáp ứng; trong trạng thái thế, nó không mở ngỏ cho chuyện tranh cãi, từ bản thân mình hoặc so với ai đó khác. Rất đơn giản cách thức mình cảm nhận, suy tư, và đang là với tình huống bản thân, từng khoảnh khắc. Nó luôn tương thích, và khi tiếp chạm, nó luôn luôn đưa mình thêm một bước tiến về phía trước.

Lại nhớ tới lý thuyết bất hòa về mặt nhận thức…

Lý thuyết bất hòa về mặt nhận thức (cognitive dissonance) của Leon Festinger (1957) cho thấy suy nghĩ của chúng ta có thể biểu lộ dưới ba mối quan hệ căn bản:

  • Thuận hòa (consonance): “Tôi là một sinh viên tốt”, và “Tôi luôn luôn chuẩn bị bài trước khi đến trường”
  • Nghịch hợp (dissonance): “Tôi hút thuốc lá”, và “Hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”
  • Không tương thích (irrelevance): “Tôi là sinh viên tốt”, và “Hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”

Theo lý thuyết bất hòa, nghịch hợp về mặt nhận thức thì chúng ta có động cơ nội tại để thành tựu hoặc lưu giữ sự bất hòa về mặt nhận thức, do nó củng cố một cảm nhận khoái sướng cho bản thân; khi chúng ta có những suy tư thuận hòa thì mình càng đúng đắn, phù hợp hơn với chính bản thân mình.

Cũng thế, khi kinh qua sự bất hòa, chúng ta thường có xu hướng trải nghiệm độ căng thẳng hoặc các cảm xúc tiêu cực, khó chịu ủ thêm vào thái độ và sự thay đổi hành vi đủ để mình đạt được hoặc lưu giữ sự thuận hòa về mặt nhận thức.

Một ví dụ kinh điển cho lý thuyết này được hai tác giả Festinger và Carlsmith (1959) thực hiện; theo đó, những người tham gia thực nghiệm được đề nghị đánh giá về một công việc buồn tẻ. Những người tham gia được trả 1 Mỹ kim đánh giá công việc như vui vẻ hơn và thú vị hơn những người tham gia được trả 20 Mỹ kim.

Những người tham gia nhận giá 1 Mỹ kim đã tự lừa dối chính mình vì tại sao họ sẽ làm một công việc buồn tẻ chỉ có 1 Mỹ kim nếu nó không được vui vẻ và thú vị? Những người tham gia được trả 20 Mỹ kim không buộc phải phải làm thế khi họ được trả mức giá tương đối tốt.

Có thể hình dung các cách cụ thể giúp ta tránh trạng thái bất hòa về mặt nhận thức.

  1. Thay đổi hành vi đến độ nó xứng hợp với suy tư, thái độ hoặc niềm tin của chúng ta
  2. Thay đổi suy nghĩ khiến cho nó xứng hợp với hành vi của chúng ta
  3. Tìm thấy và tin tưởng vào thông tin xứng hợp với hành vi của chúng ta
  4. Tránh thông tin trái ngược với các niềm tin của bản thân
  5. Tránh các tình huống khiến mình gặp nguy cơ hành động theo các cách gây trái ngược, mâu thuẫn với suy tư, thái độ hoặc hành vi của chúng ta

Nếu muốn thay đổi thái độ của ai đó, mình nên cố gắng tạo ra sự hòa thuận nhận thức trong suy tư của người đó.

Tỷ dụ, ai đó tin rằng hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe song vẫn cứ hút thuốc lá như thường thì khả năng là họ dễ trải nghiệm sự bất hòa về mặt nhận thức. Mình có thể gắng nhấn mạnh sự bất hòa này đến độ anh ta khởi sự nhận ra rằng các suy nghĩ của anh ta là bất hòa, nghịch hợp.

Lưu ý, nhiều người dường như đối phó thật ổn thỏa với sự bất hòa. Tại sao thế? Mức độ người ấy trải nghiệm về sự bất hòa về mặt nhận thức phụ thuộc chí ít vào hai yếu tố:

  1. Sự cân đối giữa các ý nghĩ bất hòa và các ý nghĩ nghịch hợp
  2. Tầm quan trọng của các ý nghĩ

Thứ nhất, nếu tôi tin rằng mình có lối sống lành mạnh, sự cân đối của các ý nghĩ hòa thuận hỗ trợ cho niềm tin này càng lớn thêm lên so với sự phù hợp của các ý nghĩ bất hòa bác bỏ nó. Tiếp đến, ai đó nghĩ rằng các suy tư bất hòa của anh ta không có ý nghĩa hoặc tầm quan trọng nhất định với bản thân thì sẽ ít khả năng muốn thay đổi chúng; ví dụ, “Tôi hút thuốc lá”, “hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”, song “Tôi không thể bị thương tổn được”.

Wow, vậy đó, lắm lúc, bất luận mọi giá người ta phải tìm cách bảo bọc (suy nghĩ của) bản thân thôi.

“Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử?”

Thiệt là mắt làm hại não, vì do cái nhìn xớn xác thiếu tập trung nên tôi liếc thấy tiêu đề bài báo quả dễ gây tò mò.

Và trong phần tranh luận với đại diện VKS, trong phần đối đáp cũng kéo dài chừng 120 phút, bị cáo Nguyễn Đức Kiên lại đặt thêm một câu hỏi khác: Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử không? Minh chứng cho câu hỏi này, ông Kiên nói mình đã tuân thủ pháp luật Việt Nam và thực hiện mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Sở dĩ ông Kiên đặt ra câu hỏi đó bởi vì có hàng ngàn người đang kinh doanh cổ phần, cổ phiếu giống như ông Kiên, họ cũng góp vốn và đầu tư giống như ông Kiên, họ cũng ký hợp đồng ủy thác giống công ty mà ông Kiên đại diện pháp luật nhưng chỉ một mình ông Kiên bị khởi tố vì tội kinh doanh trái phép, trốn thuế và cố ý làm trái quy định của Nhà nước.

Bị cáo Kiên lý luận rằng trong cùng một điều luật, một nền tư pháp nhưng chỉ một mình ông bị phân biệt đối xử, trong khi mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật.

Bị cáo này cũng cho rằng nếu không phải VKS đang phân biệt đối xử với ông thì hàng ngàn cá nhân, doanh nghiệp khác đang đứng trước nguy cơ bị khởi tố, còn các cá nhân đảm nhiệm các chức vụ trong các cơ quan chức năng sẽ phải đứng trước nguy cơ bị cáo buộc về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng bởi đã không ban hành kịp thời các văn bản luật để hướng dẫn các doanh nghiệp.

Không ngó ngàng các vụ án hình sự đã lâu, đặc biệt lại chẳng quan tâm hành tung chi chi của vị đầu bạc này nên hầu như u ơ tình tiết đúng sai, phải tội. Điều duy nhất tôi biết chắc dù chưa nghe đài, đọc hoăc đoán về bản kết luận vụ án là kẻ nào trở thành đối tượng bị phân biệt đối xử tất sẽ gánh chịu hậu quả bất công, và nếu anh ta lại còn la làng phản đối thì càng bị vít đầu gấp đôi oan ức.

Hiện tượng này chẳng quá hiếm thấy trong xã hội. Nhiều nghiên cứu không chỉ nhắm vào khía cạnh sắc tộc mà đề cập cả tình dục như những đối tượng bị bêu riếu và phải lên tiếng khi trải nghiệm cảm giác bị đối xử không mấy thiện chí.

Ví dụ liên quan đến một trong các thực nghiệm; người tham gia đọc tin một người Mỹ Phi châu bị điểm kém trong một bài test. Một số học hỏi rằng không có khả năng nào bị đánh điểm vì nan phân biệt đối xử với người da den cả; một số khác được bảo là có khả năng 50%; và số còn lại thì nghe nói rằng sự phân biệt đối xử là chắc chắn 100%. Một vài người trong từng nhóm  được kể rằng kẻ làm test nói anh ta bị đánh rớt vì sự phân biệt đối xử; một số khác thì được bảo anh ta quy điểm số của mình do các yếu tố khác như mức độ khó của bài test hoặc chất lượng câu trả lời của bản thân.

Người đọc thấy rằng kẻ làm test quy điểm số do bị phân biệt đối xử thảy đều coi anh ta như rơm rác. So sánh với những ai đọc thấy anh ta quy điểm số vì các yếu tố khác, người đọc về sự phân biệt đối xử có xu hướng nói người đàn ông ấy là kẻ gây rối hoặc hạng người hay kêu ca, phàn nàn; họ cũng tỏ ra ít thích anh ta hoặc không hề nghĩ anh ta sẽ là một người bạn tốt.

Phát hiện kế tiếp còn gây ngạc nhiên hơn hẳn. Không thành vấn đề xác suất khách quan rằng người đàn ông ấy đích thực bị phân biệt đối xử. Ngay cả khi hoàn toàn chắc chắn rằng anh ta bị điểm kém vì người chấm thể hiện thái độ phân biệt đối xử chống lại người Mỹ gốc Phi thì mọi người vẫn cứ đánh giá anh ta càng thêm tiêu cực khi anh ta tuyên bố mình bị phân biệt đối xử chứ không im lặng.

Có lẽ, người ta muốn những kẻ khác chịu trách nhiệm hơn là đổ lỗi kết quả của bản thân sang các yếu tố ngoài mình. Song chỉ ra các yếu tố ngoại giới khác hơn là sự phân biệt đối xử (ví dụ, độ khó của test) không làm hạ thấp được mức độ tiêu cực và việc chửi rủa do sự phân biệt đối xử tạo nên.

… Khi một người là đối tượng nhắm tới của sự phân biệt đối xử thì đấy là điều tốt lành và cao quý để tỏ thái độ bảo vệ cho người đó. Tuy nhiên, một nghiên cứu lại chỉ ra rằng có một cái giá đắt cho cả người quan sát khi họ trỏ rằng kẻ khác là đối tượng bị phân biệt đối xử. Lần nữa, người quan sát kẻ khác bị phân biệt đối xử nhìn nhận quá gắt gao, khó chịu nếu họ biết rõ đối tượng bị đối xử bất công và bị phân biệt hơn là khi họ không hay biết gì về điều đó. Họ, cũng nhìn đối tượng bị phân biệt đối xử như những kẻ gây rối và hay ca cẩm, những kẻ đa sự và nhạy cảm quá.

Lúc một người quan sát đang chỉ ra sự phân biệt đối xử, điều ấy không thể nói rằng người quan sát nên chịu trách nhiệm cá nhân cho kết cục xấu tệ. Người quan sát không phải là kẻ trải nghiệm kết  cục xấu tệ. Các tác giả nghiên cứu tin rằng những gì đang thực sự diễn ra là nhiều người muốn tin tưởng hệ thống công bằng, bình ổn. Nếu ai đó đạt được một điểm số tốt hơn hoặc nhận công việc ngon lành thì điều ấy là do họ giành được và xứng đáng hưởng. Một tuyên bố phân biệt đối xử đe dọa niềm tin về một hệ thống chính trực và thế giới công bằng.

Quay lại về vụ ‘bầu Kiên”; những lời phát biểu sau cùng  của bị cáo này trước hội đồng xử án vẫn tỏ rõ khí phách và không hề nhận tội. Tôi còn nghĩ đến tâm cảnh của bạn phóng viên viết mục Sổ tay trên báo Tuổi trẻ đã thượng dẫn. Dường như có một tâm lý ngấm ngầm không hề báo trước ở đây, khi dư luận cơ chừng bức xúc trước sự bó vỉa khủng khiếp của sự phân biệt đối xử rờ rỡ, tựa như đang thể hiện kiểu lối đồng vọng sâu xa thông qua việc chính bản thân trải nghiệm ít nhiều cảm giác bị đối xử bất công và oan trái vậy. Và dĩ nhiên, lực lượng đối lập và có quan điểm trái ngược cũng không hề im hơi lặng tiếng…

“Tôi không thể cho lời khuyên”

Báo chí Việt Nam luôn tạo cơ hội để tôi cảm thấy mình cần giữ tâm trạng phấn khích và ngạc nhiên mãi hoài chưa thôi. Với lối đặt tên “Kết thúc có hậu của người đàn ông ruồng rẫy vợ con để theo bồ nhí” tựa cách khai thác tin bài vô tiền khoáng hậu vậy, thiên hạ không bức xúc đến độ chỉ chực muốn nhảy chồm chồm rồi mắng mỏ nhau lia chia qua lại mới là chuyện lạ.

Và cập nhật đây nữa: Tan nát gia đình vì chuyên gia tâm lý.

Chuyên gia khuyên em hãy đi tìm người đàn ông khác để tìm hiểu vì có thể sẽ có cảm hứng, ham muốn. Vị chuyên gia kia không quan tâm chuyện gia đình bị ảnh hưởng thế nào, chỉ lo giải quyết cái vụ “chán tùm lum” của vợ tôi, kết cục gia đình tôi tan vỡ.

Nhân vật ‘chuyên gia’ này là ‘một vị cực kỳ uy tín trong ngành tâm lý’ (!?).

Mào đầu lấy cớ, chứ ở đây không nhàn rỗi thừa hơi thêm đặng dành lời bình luận say sưa cho hơi hướng cải một mớ thế.

Giờ mời đọc đoạn phát ngôn sau.

Tôi sẽ giúp chị tìm ra câu trả lời đúng đắn song tôi không thể cho lời khuyên hoặc thông tin (trừ lúc thích hợp). Tôi không thể làm cho chị lớn lên. Chị phải tìm ra câu trả lời cho riêng mình suốt các phiên và bên ngoài tiến trình trị liệu. Tôi sẽ chấp nhận chị và các hành vi của chị trong mỗi một bước đi trên hành trình. Tôi chấp nhận các giá trị của chị sẽ thường khác biệt so với giá trị của bản thân. Tôi tôn trọng mọi nền văn hóa và các định hướng phát triển, và sẽ đương đầu với bất kỳ định kiến nào nảy nở trong lòng mình.

Nói ngay, cách nhìn này đích thực thể hiện hiểu biết căn cốt về trị liệu và phản ánh tương thích với hầu hết mối quan tâm của thân chủ. Trong khi không nghi ngờ gì vô vàn khác biệt xuyên văn hóa, đa phần mọi người tìm đến trị liệu tâm lý với kỳ vọng muốn được nhà tham vấn bảo họ nên làm gì. Đấy là nguồn cơn họ cân nhắc đặng tính chuyện trả phí: lời khuyên và kiến thức tâm lý chuyên sâu của nhà tham vấn. Nếu trị liệu khởi đi từ việc đặt thân chủ vào thỏa ước chắc chắn rằng tôi sẽ không cho lời khuyên chi cả và thân chủ phải tự tìm ra các câu trả lời thì họ sẽ chủ yếu nghe ra rằng nhà tham vấn không thể trợ giúp họ và khả năng cao là họ chẳng thèm quay trở lại trong phiên kế tiếp.

Thực tế, điều này minh họa một sự trái ngược khả thể: nhà tham vấn giữ vị trí quá chừng lý tưởng, rằng thân chủ buộc phải tìm tìm thấy câu trả lời cho bản thân, đồng thời nói rằng anh ta sẽ ‘tôn trọng mọi nền văn hóa’ và chấp nhận các giá trị khác biệt. Dĩ nhiên, thật hoàn hảo để nhận ra nhu cầu của thân chủ muốn được khuyên nhủ mà vẫn không đưa cho họ, song điều này đòi hỏi lối trình bày thiện xảo và quyết không chỉ là lời đầu môi chót lưỡi đi kèm với tuyên bố: “Tôi tôn trọng nhu cầu cần có thông tin của chị song tôi sẽ không cung cấp cho chị và đây là lý do tại sao”.

Trải nghiệm tác nghiệp hành nghề giúp ta phát hiện thấy vị thế của nhà tham vấn đã thay đổi theo thời gian, rằng tôi nhất thiết phải xem xét thấu đáo định kiến căn bản của mình với tư cách là một nhà tham vấn, rằng người khác “nên là” trong dòng chảy không ngừng của trải nghiệm và tôi phải rất tinh tuyền trong việc làm thuận lợi, dễ dàng sự trưởng thành, triển nở của thân chủ. Rất thường gặp trạng thái người ta không hề chạm tới được trải nghiệm đang là của bản thân khiến họ tìm đến nhà tham vấn nhờ trợ giúp, và cũng rất thường tình việc ít nhiều chân thành khi nhà tham vấn nắm giữ thông tin tích lũy có thể trợ giúp bằng chuyện xử lý những lối trình bày riêng biệt liên quan tới nỗi niềm bất mãn đó trong đời sống của thân chủ.

Tôi cho rằng, quan trọng cần nhớ, nhà tham vấn đang không truyền đạt kiến thức chuyên sâu từ trên cao. Lĩnh vực của chuyên gia ngành hẹp chẳng hề có nghĩa anh ta tổ chức việc tìm kiếm các giải pháp hoặc thực hiện mọi điều đặng giúp đỡ cho chính thân chủ, mà đó là việc tạo lập trạng thái sống cùng với thân chủ, theo nhu cầu của thân chủ đã được hai bên vạch ra trên tấm bản đồ đường đi nước bước cụ thể, và cả ước ao của thân chủ nhằm cởi bỏ áp lực tồi tệ của việc đang buộc phải làm mọi điều cho chính bản thân. Khi áp lực này bị làm dịu bớt cũng như đã bẻ gãy được sự cô độc hay tách biệt thì chính thân chủ, tự họ, dần tiến tới giải pháp ngay lập tức,

Song điều này là phương thức đòi hỏi kiên trì lâu dài, và thực tế thì khá bất khả vào giai đoạn khởi sự tham vấn ban đầu.

J. Soi (35): Điểm mù và góc khuất: một trò diễn tâm trí gian trá mang thi vị khó ngờ giữa tứ bề, đa diện cuộc đời

Một bộ phim hành động phản ánh các chi tiết phức tạp chẳng dễ đoán định giữa cuộc sống hiện đại và thường ngày dung tục. Gợi nhớ một bộ phim khác cũng đề cập đến trạng thái che lấp khó phát hiện; thậm chí, kéo liên tưởng về cả câu chuyện ngụ ngôn cổ xưa với motif “thầy bói sờ voi“.

Không thuần túy xấu xa và tiêu cực như đạo diễn Luxembourg chỉ ra, điểm mù và góc khuất có thể đóng góp nhiều hơn thế cho cuộc đời bề bộn này.

Chẳng hạn, “Góc Khuất” kể lại chuyện có thật về cách cậu bé bị phân biệt đối xử sắc tộc đầy thiệt thòi Michael Oher trở thành một cầu thủ bóng bầu dục tài danh thông qua trình tự chứng tỏ giá trị bản thân ở nhiều khía cạnh khác nhau, chứ không hay ho chỉ mỗi môn chơi thể thao. Gì là góc khuất đây?

Quy về chiều kích đối lập với những thứ một cầu thủ buộc phải đương đầu. Một minh họa: khi một tiền vệ cánh phải chuyền bóng, tấn công thì việc cản phá bên trái là trách nhiệm đồng đội nhằm bảo vệ góc khuất của anh ta. Căn bản, một góc khuất là phiên bản rộng hơn của điểm mù; khái niệm này của việc bảo vệ tương thuộc nhắc nhở tới lời răn dạy khi chúng ta sống giữa cộng đồng, rằng nếu mình không quan tâm đến kẻ khác thì ai sẽ thay thế?

Dưới nhiều phương thức, việc một gia đình rộng lượng bảo trợ, nuôi dưỡng Michael khi cậu còn vị thành niên đã tỏ lộ và bảo vệ các góc khuất liên quan. Chẳng hạn, Michael nhìn ra tình yêu thương và sự giáo dục đang hết sức thiếu vắng, trong khi các thành viên gia đình nhận thấy những gì họ có thể làm cho chàng trai to lớn vượt ngoài sự tử tế đúng mực. Theo lối ấy, họ quan sát rồi tự phơi bày một góc khuất vật chất và tâm linh khác, nhờ vậy thay hình đổi dạng đời sống kẻ khác thêm phần tốt đẹp hơn.

Khi chúng ta đem tặng tha nhân cơ hội chứng thực bản thân họ, chúng ta cũng cho chính mình cơ hội chứng thực tính nhân văn và giá trị con người mình.  Không có hiện thể thực hành và hoàn thiện lòng từ bi thế thì bằng cách nào chúng ta khởi lên tâm Bồ đề ngõ hầu thành tựu con đường  Bồ tát và đạt quả vị Phật?

Michael đặt nghi vấn về dự tính giúp đỡ mình. Liệu việc ấy thuần tốt lành, hoặc cốt để thỏa mãn cá nhân riêng tư? Nếu nhắm đến mục tiêu thứ hai, nó vẫn còn là lòng từ bi vô điều kiện? Đôi khi, lắm lúc chúng ta không tỉnh thức thấy ra động cơ của chính mình, thậm chí cả hành động của bản thân nào đẹp đẽ hết? Dường như gia đình bảo hộ Michael khá tinh tế dẫn dắt cậu chàng hướng tới ngôi trường lẫn nghề nghiệp ngôi sao bóng bầu dục mà họ lựa chọn… và ít nhiều điều ấy đã không được thừa nhận cũng như chúng chẳng phải tuyền bao gồm các dự tính vị tha; khi ý thức thấu tỏ, họ thành thật xin lỗi và thúc giục Michael lựa chọn vì bản thân cậu mà thôi. Một góc khuất được phát hiện và tỏ lộ! Với sự vụ ấy, cậu chàng to xác càng ngưỡng mộ, quý trọng gia đình ân nhân.

Nào, bây giờ quay vào tự phản tỉnh. Tự hỏi những góc khuất, điểm mù nào chúng ta đang sở hữu? Một vấn nạn gian trá của tâm trí, bởi vì chúng ta mù mờ về chúng, chí ít lúc này.

… Chìa khóa để hiểu câu chuyện ngụ ngôn “người mù sờ voi” nằm ở dòng cuối; rằng không ít người quá dính mắc với quan điểm bản thân và chộp bắt lấy chúng khi tranh cãi; chỉ thấy mỗi khía, góc của sự việc mà thôi.

Lời nhắc nhở về cách thiết lập một quan điểm hoàn hảo, chính xác hơn về thực tế; không nên lầm thành phần là toàn thể; cần thoát khỏi thói quen lưu giữ các định kiến cá nhân khi đánh giá, xem xét, nên tạo lập một tâm trí cởi mở đủ để quan tâm tới bằng chứng tươi mới trái ngược, đối lập.

Cũng cần biết rằng, tính phổ quát của câu chuyện ngụ ngôn về người mù và con voi còn đến độ được dùng minh họa cho nguyên lý về sự thật tương đối; theo đó, mỗi một quan điểm là sự thật xét từ góc nhìn, chỗ đứng nhất định; và nói chung, không có quan điểm nào có thể bị đánh giá là sai trái hoàn toàn.

Từ chống kháng tới cuồng loạn: vết nứt rạn căn bản

Cách nhau chỉ vài phút ngồi đợi ở bến xe bus trên phố Huỳnh Thúc Kháng, tôi đã thấy hai cảnh tượng phản ánh cùng một  xu hướng hoang đàng, nhập nhằng chung riêng; chứng tỏ người sống trong thành phố chưa chắc đã hình thành được phẩm chất căn bản của thị dân: tôn trọng luật pháp, tuân thủ quy định ứng xử nơi công cộng.

Một chiếc ô tô trờ tới trước mặt, dừng ngay giữa tim đường, cửa xe mở ra để một cậu thanh niên chạy từ trong vỉa hè bước vào… Xe máy xịch lại đúng khu vực dành cho xe bus đón đỗ khách, một vị đàn ông trung niên béo tốt nhảy xuống vẫy tay chào nhau vui vẻ và hồn nhiên băng qua bến xe bus phía đối diện.

Chứng kiến sự kiện này sau khi tham dự buổi trao đổi với khách mời về chủ đề thanh niên với công tác chống tham nhũng, dĩ nhiên không thể không nhắc tới minh bạch và liêm chính.  Gần 200 sinh viên của Học viện, đa phần theo đuổi chuyên ngành Công tác Thanh niên nói chuyện riêng rổn rảng, chẳng thấy các nét mặt chăm chú lắng nghe hay tập trung cao độ cho vấn đề quốc nạn, hoặc cất lên vài ba câu hỏi thể hiện tư duy hết sức sâu sắc, đầy tràn tinh thần trách nhiệm của người lãnh tụ tương lai dẫn dắt phong trào “thanh niên anh dũng tiến lên”.

Chiều nay, tin nhắn từ tổng đài 1080 của VNPT gửi vào mobile cá nhân của người dân nội dung trích trong công điện Thủ tướng chính phủ về đảm bảo an ninh trật tự (nguyên trọn điểm 2, song có thay đổi trật tự câu.)

2. Tuyên truyền vận động nhân dân không có những hành động vi phạm pháp luật, không nghe theo kẻ xấu, cùng nhau giữ gìn an ninh trật tự, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống và góp phần cùng cả nước bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc theo đúng luật pháp của nước ta và luật pháp quốc tế.

Như thế là chính phủ có phản ứng chính thức một cách công khai với tầm mức rộng rãi nhất khắp toàn quốc liên quan đến vụ việc chống kháng dẫn đến cuồng loạn ở Bình Dương, Vũng Áng (và có thể vài ba nơi khác trên đất nước). Lịch sử chắc chắn khi ghi nhận giai đoạn này không những thêm đậm dấu chỉ truyền thống của sự thù hận, ghét bỏ bè lũ bành trướng Trung Hoa mà còn khó phủi sạch nổi nghịch lý đấu đá nội bộ xen lẫn nỗi niềm rúng động khi lòng dân ly tán, bất an được đính kèm trêu ngươi hòa cùng tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc.

Đúng vậy, nếu việc chống kháng, bất đồng là điều tự nhiên trong xã hội dân sự thì cuồng loạn, bạo động khó được thế giới văn minh thừa nhận như quyền. Và từ dự tính chống kháng ban đầu thông qua biểu tình lại dẫn đến cuồng loạn hậu họa dây dưa thì câu chuyện đã mang bản chất hoàn toàn khác hẳn: vết nứt rạn căn bản ở đây là người ta không còn e sợ, ngần ngại nhà chức trách, giới cầm quyền nữa.

Dù động cơ tham gia là vui vẻ, hùa vào đám đông đặng tranh thủ cướp bóc, hôi của, đập phá thì khó mà chấp nhận quyền cuồng loạn, bạo động; tương tự, cũng khá ngây thơ và lý tưởng lắm lắm khi xem xét các điều kiện nhằm thỏa mãn một định đề tâm lý phổ quát: không có công lý, không có hòa bình.

Thực tế, bạo động và cuồng loạn không bao giờ xảy ra ở các quốc gia mang danh đàn áp nhất; những kẻ chuyên quyền khủng khiếp hầu như chưa từng phải lo lắng việc bạo động và cuồng loạn. Việc này không bao giờ xảy ra ở các nước mà người dân dè chừng chính quyền, và tại nơi mà sự bất công bộc lộ gay gắt nhất; bạo động và cuồng loạn cơ chừng dễ xảy đến ở nơi mà người dân KHÔNG còn sợ hãi chính quyền nữa và tại nơi mà sự bất công được cho là khá nhẹ nhàng, chịu đựng được.

Xin mời đọc thêm lúc rảnh rỗi, thư giãn: 1, 2, 3.

@ Cập nhật, 9h41 ngày 16.5.2014: Tôi đã đọc phần 1 trước khi gõ xuống bài này, giờ đưa vào như tài liệu tham khảo do mới biết phần 2.

Nàng Bạch Tuyết: đẹp, xấu, và quãng đời sống thực ở giữa

Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?
Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?

Câu chuyện cổ tích Grim về nàng Bạch Tuyết từ thời thơ ấu xa lơ xa lắc giờ lại sống dậy bàng hoàng, với một chiều kích và ánh sáng khác, khi dịp cuối tuần gần một tháng trước ghé sang Viện Goethe xem phim.

Nghĩ về một trường hợp muốn ly hôn song cũng chưa thôi mong đợi làm sao có thể níu kéo và nữ thân chủ hy vọng, với việc kiếm ra tiền nhiều hơn thì dễ khiến ông chồng thôi còn lăng nhăng mà sẽ ghi nhận nỗ lực phấn đấu của vợ để rồi thủy chung quay lại.

Gợi khái niệm ‘hệ thống sống còn’ mà việc hiểu biết đầy kịch tính về nó có thể sử dụng câu chuyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết (Snow White), không phải với phiên bản Disney mà câu chuyện tìm thấy trong Truyện Cổ Grim sau lần xuất bản lần đầu tiên vào 1812.

Trước hết ý tưởng cơ bản liên quan khái niệm này là trẻ em cần người lớn để đảm bảo sống còn và trong một số trường hợp trẻ em đặt qua bên nhu cầu riêng tư và thích nghi với nhu cầu bất thường, thiếu ổn định, mang tính mệnh lệnh của bố mẹ hoặc một thành viên gia đình khác. Những sự thích ứng này, như các hệ thống sống còn, trình bày các mẫu hình đầy quyền năng về hành vi, thái độ và niềm tin chức năng nguyên ủy vốn nhằm duy trì cảm giác an toàn cũng như tiếp tục gắn bó với người lớn trong thế giới của trẻ nhỏ. Hình thành từ thời thơ ấu và nền tảng dựa trên suy tư cụ thể và phàm tục của một đứa trẻ, dần về sau chúng cho ra các hành vi thất sách của kẻ vị thành niên và người trưởng thành.

Giờ quay lại phiên bản đầu tiên của truyện cổ tích Grim. Phiên bản Tiểu Bạch Tuyết ấy tuân thủ truyền thống mà động năng và cốt truyện của loại văn chương truyền khẩu vốn chú trọng mô tả ‘con người bình thường’. Theo đó, cô bé mới 7 tuổi khi thấy dung nhan mình trong chiếc gương thần như là ‘người đẹp nhất giữa thế gian’. Mẹ Bạch Tuyết không chết khi sinh ra cô, bà sống thọ và là chủ nhân thực sự của chiếc gương thần. Việc bà mẹ ruột bị chuyển thành bà mẹ kế độc ác bắt đầu từ bản in 1819 trở về sau; sự chuyển dịch thế được tìm thấy trong các chuyện cổ tích khác, biểu tỏ nhu cầu của anh em nhà Grim muốn lý tưởng hóa Bà Mẹ như biểu tượng quan trọng của các giá trị Đức quốc.

Cụ thể hơn, theo truyện, sau khi dung nhan Bạch Tuyết xuất hiện trong chiếc gương thần, cô bé trải qua các cuộc tấn công của bà mẹ sôi máu điên cuồng vì ganh tỵ: bảo người tiều phu đưa cô vào rừng thủ tiêu, và ba lần hãm hại khác do chính bà mẹ hóa thân thành bà lão tiến hành ở nơi mà gương thần mách bảo chỗ trú ngụ của Bạch Tuyết (dải lụa thắt chặt đủ để mất ý thức, cái lược tẩm độc cũng làm nạn nhân mê man, và cuối cùng là quả táo thêm độc dược); tiếp đó, phần còn lại là Bạch Tuyết nằm mãi trong quan tài cho đến ngày được chàng hoàng tử giải cứu, rồi họ sống ‘hạnh phúc bên nhau mãi mãi’.

Đổi đoạn kết của chuyện cổ tích vào việc người ta giải quyết thực tế và anh thư có thể là một phụ nữ trẻ trung bị tàn hoại khủng khiếp bởi các trải nghiệm trong đời. Cô có thể đau đớn bởi rối loạn stress sau sang chấn, ám sợ dây ren, dải buộc, lược, táo, và các quý bà rồi đau đớn do mắc rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng cũng như dạng phản ứng lo âu lan tỏa. Đây rõ ràng không phải là cá nhân sống ‘hạnh phúc mãi mãi về sau’.

Khi hỏi một đứa trẻ rằng nàng Bạch Tuyết cần làm gì, với tư duy cụ thể, nó trả lời rằng: ‘Chị í cần rời khỏi cái gương’. Vậy rồi sau đó cô í cần làm thế nào nữa?  ‘Chị í cần phải xấu xí’; càng xấu xí thì cô í càng không phải bị bà mẹ ái kỷ quá độ hành hạ. Chuyển thể Nàng Bạch Tuyết nhằm tránh rơi vào vòng cạnh tranh, đối đầu thảm khốc đầy tai ương với bà mẹ, dạng thức cốt lõi của hệ thống sống còn của nàng, là ‘phải nhất thiết xấu xí’. ‘Nhu cầu’ ấy có thể tự thân biểu hiện trên nhiều cách thức, tỷ dụ, trở nên thừa cân và béo phì. Cô gái trẻ, người sống sót và thoát khỏi nỗi ghen ghét, tị nạnh của bà mẹ nhờ mập ú, là một sự đánh mất để hiểu ra tại sao khi lớn lên cô không thể giảm cân, bất luận dù có cố gắng đến thế nào. Cô không hiểu rằng các hệ thống sống còn nảy sinh từ thời thơ ấu vẫn không dễ dàng thả bỏ quyền năng tác oai tác quái của chúng.

Các hệ thống sống còn này có thể diễn biến dưới nhiều dạng kiểu. Nếu bà mẹ hỏi: “Ai là người thông minh nhất trong chúng ta?”, nàng Bạch Tuyết e sẽ là kẻ đần độn. Nếu một người cha ướm lời: “Ai là người cần thiết nhất trong chúng ta?”, cậu con trai e sẽ là đứa phụ thuộc kém cỏi. Nếu anh cả được ưu ái nói: “Ai là người thành công nhất trong nhà mình?”, cậu út ít e sẽ đóng vai kẻ thất bại. Nếu đứa trẻ tin thật nguy hiểm khi vén lộ các bí mật gia đình, nó sẽ trở thành “đứa trẻ lặng câm”. Trong khi tất cả các chiến lược thành công giúp một đứa trẻ giải quyết với môi trường rối rắm và tiềm tàng hiểm nguy thì chúng lại không có được các đáp ứng lành mạnh hoặc đúng đắn khi trở thành người lớn trưởng thành.

Khi tuổi thơ của chúng ta trải qua cảm giác bị tước đoạt, mất mát về mặt cảm xúc thì dạng thức thiếu vắng không nghĩ mình là người quan trọng hoặc đáng yêu đủ kéo dài trong khi trưởng thành như một kiểu ‘não trạng mất mát”. Chúng ta có thể ước gì mình có thể có đủ đầy những thứ mình cần; cảm giác bất an này dễ làm băng hoại, tàn phá các quan hệ thân mật. Chúng ta thậm chí mong đợi những người yêu thương mình bỏ rơi, hắt hủi mình, không bao giờ biểu tỏ các nhu cầu bản thân một cách trực tiếp hoặc lựa chọn tình nhân cặp đôi là những người lảng tránh, ngại cam kết gắn bó, không thích thân mật, gần gũi. Cảm xúc thiếu vắng, mất mát các nguồn lực quan trọng như tình yêu, thực phẩm, tiền bạc, hoặc thời gian có thể dẫn ta tới nỗi sợ hãi hoặc tức giận. Chúng ta có thể ám ảnh bởi những thứ mình thiếu thốn, hoặc có thể cảm thấy nhu cầu thao tác, vận hành trong mô thức khẩn cấp: bủn xỉn, hà tiện hoặc lên gấp gáp kế hoạch từng giây phút một trong đời.

Ngoài lầm lạc liên quan đến việc quản lý và nhận biết về thời gian, não trạng mất mát và thiếu vắng trên còn dễ khiến ta đưa ra các quyết định vội vàng, ngắn hạn để rồi sẽ làm tăng thêm khó khăn, rắc rối cho những khoảng thời gian dài hơi hơn; chưa hết, não trạng ấy còn quấy nhiễu ta về mặt động cơ, làm mình dấn vào những sự quyến rũ, cám dỗ và thử thách mà khả năng cao là bị tổn thương… Điều nên làm để thay đổi là hình thành thái độ biết ơn; không so sánh bản thân với người khác; ngừng hẳn ám ảnh; sử  dụng các công cụ đo lường ưu tiên (lên danh sách những việc cần làm, lập kế hoạch, v.v…); đừng tham lam, thèm khát quá…

Thực tế, hầu hết bố mẹ không giống với bà mẹ độc ác trong truyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết. Nhiều người có thể trải qua môi trường hồi tuổi thơ đầy rối rắm, trục trặc hoặc khốn khó và có khả năng đã phát triển các hệ thống sống còn phù hợp với thân phận của riêng họ. Điều quan trọng là người cha có thể nhìn vào nền tảng gia đình sinh học đặng thấy ra mình có mắc mứu với một môi trường cạnh tranh cực độ thế không; khả năng khác là ông hãy còn vướng vào nhu cầu sống còn xưa cũ để cảm thấy mình nhất thiết tồn tại, hay ông muốn làm ‘người cha hoàn hảo’ bởi vì mình dính dáng với một hệ thống sống còn đòi hỏi phải làm người hoàn hảo.

Càng thấu hiểu lịch sử chính mình và đạt được một khoảng cách tốt nhất với quyền lực của các hệ thống sống còn đặc thù, chúng ta càng tìm thấy nhiều khả năng để cống hiến, đưa lại và tạo lập cho con cái mình một môi trường cho phép chúng phát triển nhân cách, tài năng và những tiềm tàng riêng có.