Loạn thần và Phân ly: ‘tình trong như đã’…

Trong tâm tưởng dân chúng nói chung, loạn thần cơ chừng đã là cái tên gây nhiều hoảng sợ, cặp đôi với phân ly nữa thì quá dễ làm dấy lên những nghi ngại vô cùng kinh hoàng.

Cả thập niên trôi qua rồi mà vấn đề cần sa gây loạn thần vẫn chưa thể đưa ra lời cuối dứt khoát, đủ thấy câu chuyện dây dưa khủng khiếp với nhiều hệ luỵ khó lường. Thực tiễn lâm sàng cũng ghi nhận việc người ta mắc loạn thần và thái độ kháng cự dùng thuốc. Tiếp cận loạn thần như kết quả của sang chấn và các hiện tượng tinh thần thì đối lập với chuyện chú mục vào bộ não, mô hình thực nghiệm và y khoa của căn bệnh tâm thần; và nếu thế, liên quan tới các kỹ năng học hỏi. Trải nghiệm tâm thần và phân ly trong trạng thái loạn thần cũng sẽ được trình bày ở đây.

Kỹ năng học hỏi và loạn thần

Những khác biệt rõ rệt giữa trải nghiệm ảo giác và hoang tưởng giúp giải thích tại sao các đặc trưng này có khả năng cải thiện nhờ thuốc. Lưu ý rằng, ảo giác và các trục trặc cảm xúc như hoang tưởng là các trải nghiệm nội tạng, và vì thế, chúng có thể liên quan nhiều tới hoá chất bất thường ở não mà từ đó loạn thần xuất hiện. Tuy vậy, các vấn đề nhận thức và xã hội thì lại phụ thuộc vào trải nghiệm trong các thế giới tinh thần và vật chất.

Khi trao đổi nhận thức ở một người mắc tâm thần phân liệt (TTPL), khó khăn trong tư duy của họ là hiển nhiên. Các liên kết lỏng lẻo, từ rối rắm, và câu cú nghèo nàn là vài ví dụ chứng tỏ những khó khăn nhận thức ở những người loạn thần. Một thực tế hiếm khi được xem xét là những người mắc TTPL đối phó với trải nghiệm chưa hề từng được khám phá, nó mới tinh, và không hề dễ dàng để sự nỗ lực của người mắc TTPL hiểu về mặt nhận thức sự thao túng của trải nghiệm loạn thần. Tại sao thiên hạ mong đợi người mắc TTPL có khả năng nghĩ đến những trải nghiệm không phổ biến và không theo chuẩn tắc nhỉ. Không có cơ sở thực tế, không có truyền thống tư duy đích thực đặng cho phép người mắc TTPL suy nghĩ thật hiệu quả về loạn thần.

Các yếu kém rõ ràng về mặt xã hội ở người mắc TTPL phụ thuộc vào trải nghiệm trong thế giới vật chất. Do xu hướng mắc loạn thần xuất hiện ở tuổi vị thành niên và mới lớn, có những hoạt động rất thiết yếu từ khía cạnh phát triển bị buộc phải thoả hiệp do sự chín chắn về mặt xã hội. Dùng cách diễn giải của Erikson về các giai đoạn phát triển xã hội, khi TTPL xuất hiện, cá nhân ở giai đoạn ‘bản sắc đối chọi với sự rối rắm về vai trò’, hoặc giai đoạn ‘gần gũi đương đầu với cô lập’. Loạn thần dẫn tới các trục trặc trong sự hình thành nhân cách và tha hoá liên nhân. Điều này e chừng là do trải nghiệm không chuẩn tắc và trải nghiệm kiệt quệ về mặt xã hội.

Cơ bản, các kỹ năng xã hội và nhận thức yếu kém ở người mắc TTPL bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm không chuẩn tắc, và các ảo giác lẫn hoang tưởng gây hiệu ứng nhân quả tới sự nhận thức lệch lạc và thiếu hụt kỹ năng xã hội. Nếu ảo giác và hoang tưởng có thể giảm bớt ngay từ sớm trên tiến trình mắc TTPL, có thể trải nghiệm không chuẩn tắc này sẽ không gây rắc rối cho các kỹ năng xã hội và nhận thức. Rõ là, hoang tưởng và ảo giác liên quan nhân quả tới kỹ năng nhận thức và xã hội. Bất luận thế nào, hoạt động nhận thức yếu kém và kỹ năng xã hội hạn chế phụ thuộc vào trải nghiệm không chuẩn tắc trong thế giới tinh thần.

Nói gọn thì các kỹ năng xã hội và nhận thức kém cỏi là kết quả của khả năng học hỏi bị giảm sút. Tuy thế, các kỹ năng nhận thức có thể được phản ánh ở siêu nhận thức (meta-cognition) vì nó liên quan tới loạn thần. Nâng cao nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về loạn thần có thể cho phép người mắc TTPL tách rời khỏi trải nghiệm loạn thần của vị ấy. Điều này có thể chứng thực là trị liệu. Tương tự, hướng dẫn các kỹ năng xã hội có thể cũng đem tới lợi lạc trị liệu. Do những thiếu hụt trong học hỏi, các kỹ năng nhận thức và xã hội kém cỏi có năng lực đáp ứng với việc học, và đây là tương quan dương tính với thực tế là các kỹ năng xã hội và nhận thức được hình thành. (còn tiếp)

Làm thế nào để mở lòng ra thành thật?

Mới ngoài 20, thích giao tiếp và nhìn đời tích cực. Người luôn tràn đầy nhiệt huyết song một tháng trở lại đây thì đâm lo lắng, mất kiên nhẫn và cáu gắt; muốn ở riết trong nhà, không đi ra ngoài nữa vì nghĩ sẽ gặp đủ chuyện lắm người khiến mình bực bội; ngay cả bạn bè thân thiết nói làm gì cũng gây cho bản thân tức giận hoặc khó chịu. Biết là vấn đề nằm ở mình; bắt gặp bản thân nghĩ điều sai trái kiểu bạn bè chẳng còn thích mình nữa; tưởng tượng như có quả bóng lo lắng lớn dần lên trong lòng. Cảm thấy mệt dù không ngủ được, nằm trằn trọc suốt, và lúc nhắm mắt lại nhớ các tình huống tồi tệ và buồn bã.

Hôm nay thì kinh khủng khiếp. Định chỉ gặp mỗi bố để đi dạo cho khuây khỏa thế mà cuối cùng lại bắt điện thoại nghe một số lạ gọi tới… Thấy người rung lắc nhẹ, vài dấu hiệu cảnh báo lan khắp cơ thể và tim như nổ bùng song khi kiểm tra mạch thì khá bình thường. Hủy hẹn. Sau đó thấy quả bóng to đùng trong lòng bắt đầu lục bục rồi nước mắt chảy dài… Không nghĩ nên gặp bạn bè để khuây khỏa trở lại, vì e ngại người ta sẽ nhìn mình giống kiểu mình thích ở nhà vậy. Xấu hổ nhờ bạn bè khuyên nhủ hoặc giải thích giúp về tình trạng. Chưa từng thế này bao giờ nên sợ không thể kiểm soát thân thể lẫn cảm xúc. Thường tự đánh giá mình là kẻ độc lập, thực tế và tính cách mạnh mẽ; quen âm thầm xử lý các vấn đề cùng tình huống phát sinh rất hiệu quả.

… Nghe như người này đang đương đầu với cả trầm cảm và lo âu. Các triệu chứng bao gồm sự phấn khích tâm vận động (bồn chồn và mất tinh thần), khó ngủ say, giảm thiểu mối quan tâm với các hoạt động hàng ngày, và với đối tượng trẻ hơn, dễ cáu kỉnh. Thứ ‘cảm xúc kỳ lạ’ lưu ý khi nghe điện thoại giống như nỗi sợ bị tấn công vậy, thường gồm biểu hiện là tim đập thình thịch, người rung lắc, cơ thể nóng sốt, và sợ mất kiểm soát.

Nhiều người chưa từng trải qua các rắc rối tình cảm trước kia đột ngột thấy mình đang kinh nghiệm, đặc biệt khi họ tiếp chạm giai đoạn đầu trưởng thành. Đây là giai đoạn phát triển mang tới rất nhiều thay đổi ấn tượng bởi vì sự quá độ từ tuổi thơ và nhà trường sang tuổi trưởng thành và đi làm nên không ngạc nhiên lắm đòi hỏi thích nghi.

Các cảm xúc phiền muộn không có gì tội lỗi cả; chúng là sự kiện đời sống với rất nhiều người. Điều quan trọng giúp mình vượt qua giai đoạn khó khăn này là với tay ra và đề nghị trợ giúp. Tha nhân có thể cũng trải qua tương tự nên có thể đưa lời khuyên về cách thức xử lý; cũng có thể tham gia các nhóm tham vấn hoặc trị liệu cá nhân nếu thấy phù hợp.

Điều tồi tệ nhất là duy trì sự cô độc và tách biệt nội tâm cũng như ỳ ra, không làm gì như lơ là ăn uống do trầm cảm và lo âu. Nếu mình cứ đớn đau mãi thế thì tình hình sẽ càng thêm tồi tệ, chứ khó tốt hơn lên. Sơ khởi, có nhiều kỹ thuật hành vi làm giảm thiểu các triệu chứng trầm cảm và lo âu. Vấn đề chỉ là làm sao tìm ra chúng.

Ví dụ khác. Suốt thời trẻ, theo bố di chuyển và đi du lịch rất nhiều nên không gắn bó ai quá lâu. Chưa từng nhỏ lệ hoặc phải quan tâm cảm xúc quá mức; chỉ không nhận thấy tầm quan trọng của chúng trong những gì đang làm, cũng không thật thấy chúng giúp ích cho bản thân trong dài hạn. Thi thoảng khi biểu đạt cảm xúc ra xong rồi thì chỉ cảm thấy tồi tệ; thất vọng với bản thân khi bày tỏ chúng, ngay cả với riêng mỗi mình thôi.

Năm mới lên 12 tuổi, bố mẹ đã bảo là lạnh lùng, xa cách và đố mà ai ưa nổi chứ nói gì chuyện lấy được chồng. Hầu hết thành viên trong nhà và vài người bạn còn thấy có vẻ hăm dọa và đáng sợ. Tầm năm, sáu năm gần đây thì làm việc cởi mở hơn hẳn, thành người thân thiện nhờ đi theo các bước hướng dẫn đọc được trong các cuốn sách tự trợ (mỉm cười, gặp gỡ người tích cực, cười thoải mái, v.v…). Song việc cởi mở ấy chỉ làm mọi sự ổn thỏa ngắn hạn, vì để lại trong lòng mình rất nhiều cô độc hơn trước đây, là nguyên nhân khiến bố con lại tự dưng đâm cãi vã nhau. Song phải thừa nhận là tuy việc cởi mở bản thân tuy đem lại tiến bộ thật, nó dần tao nên sự đứt gãy về mặt cảm xúc, thậm chí ít tin tưởng vào người xung quanh.

Biết không hay ho, đúng đắn chút nào vì chẳng tin tưởng hoặc thể hiện cảm xúc ‘thật’ với người khác. Song hiện tại chưa tìm thấy cách hàn gắn, kết nối hay các bước phải thực hiện nhằm giúp bản thân cởi mở hơn, thậm chí vá sửa các vấn đề không mong muốn nảy sinh vì nỗ lực cởi mở.

… Thật vui vì nhân vật khao khát cởi mở hơn nữa với người khác. Có vẻ đấy đã là một tiến trình hết sức hụt hẫng, chắc bởi vì chưa chạm tới tâm điểm của vấn đề. Có thể người này bị xem là bắt chước hành vi chứa cảm xúc (mỉm cười, cười thoải mái) chứ không đích thị đem lại cảm nhận về chúng và thiên hạ thường hay đáp ứng kiểu thế (các khóa học kỹ năng mềm áp dụng chiêu tương tự). Đối tượng tiếp xúc có thể nghĩ mình thiếu thành thật, thậm chí, nhạo báng họ.

Bước đầu tiên chỉnh sửa là dừng biểu tỏ các cảm xúc ghê gớm. Thực tế, cảm xúc rất quan yếu; chúng cung cấp cho ta thông tin về bản thân và về môi trường xung quanh cũng như chỉ bày cho ta cách để kết nối thật ý nghĩa với những người khác. Cảm xúc còn giúp cơ thể mình mềm mại, tươi mát. Nếu đè nén cảm xúc quá lâu, cơ thể sẽ báo động trục trặc. E chừng đây chính là chỗ nhân vật đang trải qua. Do chôn giấu cảm xúc lâu quá đến độ giờ không biết làm sao để tiếp cận với chúng.

Các cảm xúc thường gây cho mình cảm giác tồi tệ vì chúng có thể đau đớn và khiến mình dễ tổn thương. Có thể hình dung là do bảo bọc bản thân tránh khỏi nguy cơ bị tổn thương mà mình quyết định ngay từ đầu là ngắt tách cảm xúc liền thôi. Trong khi đấy có thể là giải pháp tự vệ hữu ích ngắn hạn, nó có thể gây tàn phá nặng nề lâu dài về sau vì không có sự cân bằng. Mình có thể không thích cảm nhận các cảm xúc đau đớn song đóng sập chúng cũng có nghĩa là mình không cảm nhận được các cảm xúc tốt lành luôn. Cảm xúc dễ là điều kỳ diệu, cho mình trải nghiệm đam mê, tình yêu và niềm vui, và chúng còn cho mình cách thức phát triển các mối quan hệ đầy thỏa mãn sâu xa. Tuy thế, điều ấy kèm theo một số nguy cơ vì cảm xúc có thể và hay là nguyên nhân gây đau khổ; lý giải tại sao cảm nhận cảm giác và thậm chí, biểu đạt chúng không khiến mình yếu đuối nếu không muốn nói là làm mình mạnh mẽ thêm vì ước ao cảm nhận chúng bằng bất cứ giá nào. Ví von, dũng cảm chẳng phải là vắng mặt sợ hãi mà là làm mọi điều cần thiết phải thực hiện.

Bước kế tiếp là cho phép bản thân cảm nhận các thang bậc tình cảm khác nhau. Dành thời gian và không gian để mình có thể nghĩ về các ký ức riêng biệt (hạnh phúc, buồn bã, đáng sợ…) rồi cảm nhận về chúng. Để bản thân mình khám phá mỗi một cảm xúc ứng hiện trên cơ thể mình. Ghi nhật ký cách cảm nhận ra sao ký ức hoặc các cảm xúc. Nói với người hiểu biết về các cảm xúc của mình (một nhà tham vấn sẽ là lý tưởng để giúp mình tiến trình này). Hoàn thành nhiều lần để các cảm xúc dần trở nên tự nhiên. Khi làm thế được rồi, có thể tưởng tượng người khác cảm nhận ra sao rồi dùng các quan sát mới mẻ này khi trò chuyện. Hãy để mọi người biết cách mình cảm nhận mọi thứ. Hỏi họ về các cảm xúc của họ và xem xem mình có thể tìm thấy một vài điểm chung… Các quan hệ vững bền được xây dựng trên việc trao đổi qua lại các cảm xúc; đấy gọi là sự thân mật cảm xúc và nó có thể vô cùng vui vẻ, hồ hởi.

Có lẽ, khi mình đủ khả năng tạo dựng sự thân mật về mặt cảm xúc, trạng thái  cởi mở với mọi người sẽ đến từ lòng mình sâu xa chứ không phải cái đầu tính toán.

Stress, trí nhớ có vấn đề, hay trạng thái phân ly?

Suốt một ngày dài bình thường làm việc miệt mài, chúng ta tham gia cả đống các hoạt động và dấn mình cùng vô vàn suy nghĩ; hầu hết chúng khá nhỏ nhặt, quen thuộc đến độ bộ não không nhất thiết ghi nhận thật chính xác. Vào lúc kết thúc và đóng cửa văn phòng, bao nhiêu công tắc mình bật tắt? Mấy người ta chào hỏi ở nơi giao dịch công cộng?

Cảm thấy thời gian trôi quá nhanh và đôi lúc, ngồi hồi tưởng cũng khó hình dung rõ ràng… Trải nghiệm đang cảm nhận là bình thường. Năng lực của người khác nhắc nhở làm đào sâu các ký ức trong ngày cũng bình thường. Tỷ dụ, chúng ta chắc không thể nhớ tất cả tên tuổi những ai mình đã chuyện trò ngày đó, song nếu có người nhắc về lần gặp gỡ với họ, não bộ dễ gợi lại dịp tiếp xúc…

Song nếu mình cảm thấy cao hơn mức độ trung bình các khó khăn với vấn đề hồi nhớ, stress có thể là thủ phạm, chẳng phải rối loạn định dạng phân ly. Stress có tác động vào hóa sinh của não bộ, ảnh hưởng đến các chức năng chú ý và trí nhớ. Người mắc trong tình huống và môi trường stress hay thấy thổ lộ những chuyện liên quan cả việc chú ý lẫn hồi nhớ ký ức. Khi stress, bộ não vận hành rất nhanh và dính líu sâu xa với các sự vụ stress đến độ không ghi nhận tốt các sự kiện thông thường. Một bộ não bị stress cũng không giám sát ổn thỏa các hoạt động, làm nảy sinh sự quên lãng và cảm nhận mình đang rơi vào trạng thái ‘đãng trí’: quên chìa khóa nhà, không tìm thấy cốc café hay uống, đánh mất USB, v.v…

Phân ly (dissociation) thuộc vô thức và nói chung là tình huống không dự kiến làm đứt gãy, ngắt quãng sự kết nối bình thường giữa các suy tư, ký ức, cảm xúc, hành động hoặc cảm nhận về bản dạng cá nhân. Một số, chắc chắn không phải tất cả, ví dụ về phân ly có liên quan đến các giai đoạn mất trí nhớ (amnesia). Dù người ta trải nghiệm các trạng thái phân ly với nhiều dạng kiểu khác nhau song thường có tiền sử việc bị lạm dụng sâu sắc hoặc/ và gặp sang chấn; các tình huống và tác nhân gây stress khác có thể cũng đào sâu các giai đoạn phân ly.

Phân ly cơ bản có thể được xem như một cơ chế phòng vệ nguyên thủy chống kháng với nỗi đau đớn cảm xúc. Dù nó có thể hiệu quả đặc biệt trong việc cung cấp vài ba lượng định tách biệt nhằm kháng cự với sang chấn trong ngắn hạn, nó tự thân là vấn đề đáng lo khi lạm dụng thái quá như cách để ai đó cách ly mình khỏi nỗi đau đớn cảm xúc, và nó còn có thể đặt để nhiều vấn đề buộc cá nhân nỗ lực học hỏi đặng hiểu biết phương thức đương đầu với các stress đời sống và công việc xảy đến vào các thời điểm khó khăn trong các quan hệ liên nhân cách.

Một số biểu hiện phân ly hay gặp như quên bẵng thời gian, không nhớ về sự kiện, cảm giác tan rã nhân cách và mất đi cảm nhận bình thường về cái tôi có thể gây phiền nhiễu cho chính bản thân đối tượng trải nghiệm.

Phơi lộ và làm việc thông qua các xung đột cảm xúc chưa được giải quyết là những gì trị liệu tâm lý quan tâm nhắm đến. Song lắm lúc, đối diện và trải nghiệm lại các vấn đề gây stress vừa phải thôi cũng đủ kích hoạt các phòng vệ. Dù các cảm nhận và trải nghiệm là căng thẳng, phiền phức thì chúng không hề nguy hiểm và nên làm tiêu tan đúng lúc khi đương đầu rồi giải quyết với các tình huống gây sợ hãi. Nhịp điệu thích hợp là điều cần để tâm trong tiến trình phải đương đầu với các vấn đề nan giải, theo một cách thức không quá mức gây ra stress khủng khiếp cho thân chủ. Ghi chú các kiểu dạng stress xuất hiện lúc gợi lên các phản ứng phân ly là cách hay trong trợ giúp và xác lập các vấn đề cần thiết dành sự quan tâm nhất.

Không phải luôn luôn đúng

Đời sống đã quá đau đớn lại còn cố gắng nảy nòi dự tính làm khổ nhau thêm nữa
Đời sống đã quá đau đớn lại còn cố gắng nảy nòi dự tính làm khổ nhau thêm nữa

Mình nghĩ đã biết về nó trước đây, và bây giờ vẫn còn giữ cảm giác tưởng chừng lần đầu tiên mới mẻ. Thứ tình một mình mình biết, một mình mình hay ấy thật khó nói ra thành lời, chứ nào dám nói với công luận.

Nhớ chuyện tối qua, tại buổi giới thiệu cuốn sách dạng du ký, tác giả người Việt là nữ tiến sĩ Xã hội học đang sống và làm việc tại Hoa Kỳ đã chia sẻ đại khái rằng sống ở Việt Nam thật khó, chị thấy sống tử tế và tốt mấy cũng không đủ, rằng chị không được là chính mình…

Dù tất cả chúng ta muốn mọi thứ đều ổn thỏa, song đôi khi chúng ta nhận ra mọi thứ lại chạy vòng quanh. Những lối ngõ đời sống quá dễ gây bối rối, nhầm lẫn; luôn luôn thêm vài ba cái cổng vào, cửa ra và các trạm dừng chặn mới mẻ. Ngay cả điều đó mang ý nghĩa biết bao với các kỹ sư và nhà thiết kế dân dụng mấy đi nữa thì đa phần thiên hạ bó tay quy hàng, thất bại. Mình phải tiến tới trước song lại quay ra sau, rẽ trái trong khi muốn rẽ phải, chưa hết là cứ loanh quanh.

Tin tốt lành là chừng nào mình càng duy trì, lưu giữ sâu bền khả năng nhìn, mình thực sự đố mà xa xăm, mơ hồ được. Mình sẽ tìm thấy con đường đúng, và thậm chí một số con đường dễ thương hơn nữa. Chưa khám phá hết mọi con đường, chưa thể biết đâu là cái tốt nhất. Không cố gắng, mãi mãi chẳng bao giờ đến được điểm ước muốn, đặt định.

Hãy giữ gìn độ dí dỏm về bản thân và đừng quên thở rồi cười. Mình sẽ đến nơi khi mình nhất thiết phải có mặt ở đó.

Xem “Breakfast at Tiffany’s”: cười trên những phù du, ảo ảnh của đời sống

Tôi thích chuyển ngữ bộ film là “Điểm tâm với Tiffany” nhằm bao trọn ý tưởng không chỉ dùng bữa sáng với thức ăn cho dạ dày, tại cửa hàng thời trang sang trọng; bởi với việc dung nạp thêm những hình ảnh, ý tưởng và sự ham muốn tinh thần như thế càng lý giải cho nỗi đau dằn vặt ám ảnh khôn nguôi năm tháng làm người.

Xem film, vô tư thấm thía cái gọi là “Giấc mơ Mỹ” (American Dream). Đất nước ấy vĩ đại vì đủ sức bao dung, tạo điều kiện cho mọi ao ước được ấp ủ, nảy nở rồi thành tựu. Không có ai đáng trách cứ ở trên đời, chí ít chỉ vì họ quyết chí đổi thay thân phận, từ bỏ quê nhà để kiếm tìm ấm no, giàu có và hạnh phúc.

Khi miêu tả kỹ lưỡng, chau chuốt xã hội Hoa Kỳ những năm gắng gượng hồi sinh, tưng bừng lột xác sau thời khủng hoảng, khốn khó thì dường như đạo diễn cố tạo hiệu ứng an ủi nhân tâm, đồng thời, gợi nhắc ít nhiều khéo léo về sự vô thường và kết cục tất yếu cho sự đuổi theo bất tận những thú vui hoa lệ.

Bằng khả năng diễn xuất thượng thặng của cô đào lừng danh Hepburn cộng với tài dàn dựng, phân cảnh lớp lang, bài bản như đèn cù kéo quân lung linh của sắp đặt và âm nhạc, bộ film là ẩn dụ cổ điển thú vị về cách định hình các nét tính cách (“persona”: mặt nạ); mỗi một nhân vật, dù chính hay phụ, đều góp phần tôn lên tấn trò hề của sân khấu cuộc đời.

Cử chỉ gắn vào ngón tay áp út cái nhẫn của cô Holly Phù Phiếm vào gần cuối film tuyệt nào phải là dấu hiệu viên mãn, kết thúc có hậu đã “tìm thấy ý nghĩa đích thực của cuộc sống“; đúng hơn, câu chuyện diễm tình lôi kéo mê say về yêu đương đôi lứa tươi trẻ gây háo hức vọng động khó quên cũng không thể xóa nổi phản ánh sâu xa về hệ lụy buộc ràng của sự thông minh bị vô minh dẫn dắt– do cuống cuồng hướng tới vòng xoáy thôi thúc mãnh liệt của dục vọng thường nhật.

Nhìn từ góc độ đó, trông mắt lắng tai nhìn – nghe tuyệt tác điện ảnh để cười tế nhị trên những phù du của cõi ta bà; thông cảm, sẻ chia với dự tính ngậm ngùi cố đóng vai người tốt và mức độ xã hội mai mỉa làm tha hóa lòng người; nhất là, chẳng nên phá lệ quá lố với sự gán nhãn người phụ nữ là ẻo lả, dễ bị cám dỗ như cách kịch tác gia W. Shakespeare mớm lời nhân vật trong vở Hamlet xa xưa.

—————————-

* Trần tục ngoại đề: Sáng cuối tuần se lạnh mưa rơi Hà Nội, mời chọn lựa một thực đơn điểm tâm.

Thấy hồn mình thoát rời khỏi xác…

Trải nghiệm OBEs như thế giờ đã được tìm hiểu kỹ càng hơn.

Kiểu dạng này đặc thù với những cá nhân mắc một số rối loạn sau sang chấn hoặc dạng phân ly; nói chung, người sức khỏe tốt vẫn có OBEs song thường thì trải nghiệm chưa được hiểu biết bao nhiêu, nhất là vẫn bị kẻ ngoài cuộc khác nhìn nhận đầy vẻ nghi kỵ và định kiến.

Một nghiên cứu mới đây đăng trên trang Cortex, cho thấy OBEs liên quan tới những bất thường trong hệ thống thần kinh xảy ra ở thùy thái dương (temporal lobes) của não, và tự thân việc cảm nhận về cơ thể (body awareness) không ‘đánh lửa’ nổi.

Dữ liệu từ công trình trên giúp giới khoa học am tường hơn về các tiến trình tâm thần họat động theo phương thức như thế nào ‘trong-cơ- thể’… cũng như tại sao, khi trục trặc, đổ vỡ thì chúng lại sản sinh những trải nghiệm gây ấn tượng đến vậy.

Hiện tại, chúng ta biết động kinh (epilepsy), những cơn đau đầu và tai biến (seizures) vốn có nền tảng trong sơ đồ mạch thần kinh (neuro-circuitry), nhưng các rối loạn tâm lý cũng tạo nên nhiều ảnh hưởng lớn lao cho họat động của bộ não. Sang chấn, lo hãi, trầm cảm và phân ly đều dễ hình thành phản ứng sâu sắc, mà trải nghiệm hồn tạm rời khỏi xác (OBEs) là một trong những biểu hiện ấy.

Thật khó quên nếu phải chứng kiến bản thân tách ra tạm thời… Bây giờ, khoa học đang chứng thực điều đó.

Lên đồng- bà nhập: thăng hoa nhập nhằng giữa cõi thiêng và giới tục

Đọc ý kiến bình luận của bác sĩ tâm thần về chuyện vong nhập, thấy cứ trờn trợt thế nào.

Theo Bác sỹ Côn, những người tự nhận mình nhìn thấy vong, tự xưng mình là con của thần thánh bị xếp vào nhóm bệnh “Hội chứng lên đồng” – mục F44.3 trong Bảng phân loại Bệnh tâm thần của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

“Tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình có khoảng hơn 10% các bệnh nhân vào điều trị chứng tâm thần phân liệt có biểu hiện hoang tưởng, nghĩ mình nhìn thấy ma quỷ, mình là con của thần thánh. Sau quá trình điều trị kết hợp thuốc và liệu pháp tâm lý để động viên, giải thích, hầu hết các bệnh nhân này bình thường trở lại” – Bác sỹ Côn cho biết thêm.

Nghe rất bài bản, song tìm hiểu kỹ thì chẳng ổn cho lắm. Đây là đoạn trích của ICD-10, tại mục F44.3 (Rối loạn lên đồng và bị xâm nhập)

Rối loạn trong đó có sự mất tạm thời cả ý thức về đặc tính cá nhân lẫn ý thức đầy đủ về môi trường xung quanh. Chỉ đưa vào nhóm này các tình trạng lên đồng không tự ý hay không mong muốn, xảy ra bên ngoài các hoàn cảnh được chấp nhận về mặt văn hóa hay tôn giáo.

[ICD-10// Bộ Y tế. Bảng Phân loại Quốc tế Bệnh tật lần thứ 10 (Việt-Anh). Hà Nội: Nxb. Y học, 2007, tr.227]

Lên đồng không phải hiện tượng quá xa lạ trong đời sống văn hóa Việt.

Cần nói rõ, blog Tâm Ngã tuyệt không bày tỏ sự ủng hộ hoặc xiển dương cho vụ việc, cá nhân làm ăn nhố nhăng được nêu đầu bài viết.

Thường người ta thấy các cảnh lên đồng trong các nghi lễ tôn giáo: hòa trộn độ căng chuyển động, âm nhạc và trạng thái tâm thần dẫn tới sự chuyển đổi, thay thế các trạng thái ý thức hết sức sâu sắc.

Là một thành phần căn bản của hầu hết các tôn giáo, lên đồng gợi nhắc cực kỳ đặc trưng trong tâm tưởng dân gian với sự ‘tà thuật’– vốn cũng khá thông thường trong nhiều dòng phái Công giáo.

Lên đồng (trance) hay được kéo gộp vào với sự ‘phân ly’ (‘dissociation’)–định nghĩa đầu tiên do nhà tâm thần học Pháp Pierre Janet nêu ra– như là ‘sự phân ly hóa của vô thức thuộc các chức năng tâm thần tích hợp hết sức bình thường’.

Phân ly gồm hàng loạt các hiện tượng như thôi miên (hypnosis), phản ứng với sang chấn, lên đồng và một số dạng thức bị bà nhập (spirit possession), hysteria, rối loạn phân ly (conversion disorder) và gây nhiều tranh cãi nhất– rối loạn đa nhân cách.

Một trong những hướng dẫn tốt nhất để trải nghiệm và học hỏi khoa học Thần kinh ẩn bên dưới các trạng thái này là bài báo của hai nhà Nhân học.

Mời xem một vidéo ngắn kèm trang về hiện tượng bà nhập.

Cơ chừng đang gia tăng mối quan tâm nhằm hiểu biết về mặt khoa học thần kinh các trạng thái lên đồng, với cái nhìn tốt hơn về cả cách chúng xảy ra và làm thế nào chúng được sử dụng như thành phần căn cốt trong đời sống xã hội của mọi nền văn hóa trên thế giới: cung cấp bằng chứng trêu ngươi cho một lý thuyết cũ mèm lý giải vì sao thôi miên, ám thị (suggestion) và hysteria kết nối với nhau.

Nhà thần kinh học Jean-Martin Charcot tin có tồn tại mối liên hệ này vì bản thân ông từng kích thích hầu như các khía cạnh hysteria thông qua ám thị ở những cá nhân nhạy cảm; hysteria hiện nay là chẩn đoán đặc trưng của rối loạn chuyển đổi (conversion disorder), với biểu hiện là người ta có vấn đề về thần kinh dù hệ thần kinh của họ dường như đang hoạt động theo trật tự hoàn hảo.

Phát hiện khoa học tới giờ là tất cả chúng ta có năng lực nhất định để người khác ám thị rồi thay đổi trạng thái tâm thần của bản thân. Điều này không phân phối đồng đều giữa người và năng lực thì cũng bình thường thôi, tựa như các nét tính cách tâm lý, và chúng ta biết nó đa phần thuộc gene và có bằng chứng cho thấy nó liên quan tới những sự khác biệt trong cấu trúc não.

Nói thêm tí về sự ám thị. Trái với huyền thoại dân dã, nếu đang trải nghiệm tác động của ám thị thì tâm trí ta không ‘bị kiểm soát’ đâu, và chuyện này cơ bản tương tự như đang xem một bộ film vậy; thực tế, ta có thể thoát ra vào bất cứ lúc nào, vấn đề là ta không quyết định vì e sợ hoặc vì thích thú xem film.

Những người rất dễ dàng bị ám thị có thể cho phép ám thị bị liệt, quên bẵng hoặc thậm chí, thấy những ảo giác.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ tới trải nghiệm về một lần tham gia buổi điều phối của chuyên gia sử dụng nguyên tắc 5 Nhịp điệu; đó quả là dịp được thoải mái thả lỏng bản thân và nhận ra nhiều biến chuyển đầy mộng mị, thi vị.

Lời cuối, mong sao tại Việt Nam sẽ không bao giờ xảy ra kiểu dạng tai họa nhảy múacơn điên tập thể có liên quan tới nghi thức bà nhập và lên đồng thời hiện đại, đã được y văn ngoại quốc ghi lại thật kinh hoàng.