Sự kiện bi thảm, tìm kiếm hiểu biết và cảm xúc hài hước: chia sẻ tinh thần đối thoại

Những vụ thảm nạn khủng khiếp như kiểu đi đưa tang qua cầu lại chết vừa mới xảy ra sáng nay ở tỉnh miền núi Lai Châu luôn khiến người ta hình thành ngay lập tức liền phản ứng tại sao.

Đó là cái hình ảnh cuộc đời giơ tay lên trời chới với, khi giữa thiên nhiên khắc nghiệt và sống trong một đất nước mà tai nạn giao thông cướp đi sinh mạng mỗi ngày dễ khiến dân chúng ít nhiều chai lì với thương vong và chết chóc.

Như tất cả, bản thân dõi theo tin tức đặng tìm hiểu nguyên nhân xem điều gì đang xảy ra đồng thời cũng ngạc nhiên tự hỏi tại sao thiên hạ lại phấn khích đến vậy với chuyện biết tại sao.

Câu trả lời hiển nhiên chưa chắc là câu trả lời đúng đắn; câu trả lời rõ ràng là nếu chúng ta hiểu biết, chúng ta có thể thay đổi. Nếu ta biết tại sao các thảm nạn, tai họa và bi kịch xảy đến thì mình có thể ngăn ngừa chúng trong tương lai. Và nảy sinh nhu cầu thử lý giải…

Một nghiên cứu cho thấy, chúng ta tìm kiếm lời giải thích nhằm tạo khoảng cách với các sự kiện bi thảm. Khoảng cách là điều quan trọng trong ký ức, trí nhớ.  Mọi thứ chúng ta nghĩ gần gũi, chúng ta nghĩ chúng trọng yếu với quan niệm bản thân; mọi thứ cách xa, chúng ta không kết nối với bản ngã hiện tại. Và sự gần gũi quyết định các đáp ứng mang tính cảm xúc của chúng ta.

Khoảng cách quan trọng với trí nhớ bởi chúng ta giữ gìn niềm tin rằng mình thay đổi theo thời gian: tạo khoảng cách khỏi ký ức và khỏi các bản ngã trước đây. Tuy thế, cách thức tạo khoảng cách ngoài thời gian còn có quan điểm: nhìn ký ức thông qua đôi mắt mình, hay từ viễn tượng bên ngoài; mô tả thành lời ký ức ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba; hoặc đơn giản nghĩ sự kiện rốt ráo xa xôi hoặc gần gũi hơn với mình. Tất cả các kỹ thuật ấy khiến ký ức rời xa, ít gắn bó với cái tôi đương thời, giảm bớt cảm xúc; tức làm ký ức bị cất bỏ cả khía cạnh cảm xúc tích cực lẫn tiêu cực.

Dĩ nhiên, ngay chính sự giải thích cũng làm tăng thêm khoảng cách. Chẳng hạn, nghĩ tới chuyện khi nào thì các sự kiện bi thảm trở thành điều buồn cười?

Cách tiếp cận khác này cố phơi mở lý do để cho các hiện tượng cơ chừng vô cùng nghịch hợp lại xảy ra; bằng một loạt thực nghiệm, nhóm tác giả nghiên cứu xem xét các điều kiện khiến việc bi thảm có thể trở thành trò cười.

Lý thuyết làm nền tảng là thời gian trôi qua khi bi kịch không chỉ được xem xét không thôi mà còn cả cách thức nó chạm sát nhất tới người ta, cũng như phương thức diễn ra; nói khác, khoảng cách có thể được đo cả với thời gian và không gian. Ý tưởng cơ bản: các bi kịch nhỏ, hoặc điều xui rủi, bất hạnh (các tác giả gọi là “các lỗi lầm lành tính”) càng nhiều thì càng dễ nảy sinh hài hước nếu chúng xảy đến với mình hoặc với một người bạn thân; nói khác, các bất hạnh, xui rủi đa phần sẽ buồn cười hơn khi chúng lừa gạt, tống đấm vào kẻ khác.

Khả năng ở đây là khi chúng ta ngập tràn trước các sự kiện bi thảm, khi chúng ta chạm tới đáy tủi buồn, và sự thống khổ của chúng ta quá chừng khốc liệt, chúng ta cảm thấy hoàn toàn tuyệt vọng, không còn khả năng thay đổi thực tế xung quanh mình. Trong những tình huống ấy, hài hước là công cụ hữu hiệu đóng vai trò như một cơ chế phòng vệ. Chúng ta quá bị thống trị bởi nỗi niềm đau đớn, không đủ sức chịu đựng hoặc giải quyết nó bây giờ nên chúng ta tìm kiếm phóng thích, khuây khỏa. Tỷ dụ, khi không có khả năng kiểm soát thực tế thể lý bao quanh thì thay vì cảm thấy tuyệt vọng, người ta gắng thay đổi các cảm xúc nội tại. Hài hước giữ vai trò lớn lao trong sự thay đổi đó và cho họ quãng trú nghỉ thoát khỏi hiện thực khủng khiếp xung quanh. Góc cạnh nọ kia, bi kịch và hài hước chắc hẳn sẽ tay trong tay gắn bó với nhiều người chúng ta.

Mặt khác, đâu có thể là các yếu tố ngớ ngẩn gây nên tai họa thể lý? Cơ chừng, đó có thể là những chi tiết thuộc tình huống, nhận thức, nhân cách và tình cảm/ tâm trạng. Bởi sống trong thế giới này, tất cả chúng ta dễ dàng phơi nhiễm với mức độ nhất định nguy cơ thể lý, và một số hoạt động rõ ràng nguy hiểm hơn.

… Song gì gì, tất cả chúng ta đều chia sẻ chung bi kịch xảy đến vì chúng ta là thành phần của cộng đồng nhân loại. Mọi người giải quyết đau buồn và bi kịch bằng nhiều cách khác nhau, đa phần chúng ta là viết xuống hoặc nói ra. Trước thảm nạn, các cuộc đối thoại không ngừng diễn tiến; song thay vì đánh giá và tấn công các ý kiến, hành động của người khác mà ta không đồng ý, sao không thực sự dừng lại rồi lắng nghe đích thị những gì được nói?

Tất yếu là chúng ta cần thiết biểu lộ các quan điểm, và rõ ràng, các ý kiến sẽ khác biệt. Đó là điều tuyệt vời, đó là lý do tại sao chúng ta có những bộ não ngày càng tăng thêm sự phức tạp. Nhưng để thực sự thay đổi diễn ra được, chúng ta cần kiến tạo một không gian an toàn để chia sẻ các câu chuyện của mình. Và sự thật, không ai trong chúng ta có toàn bộ câu trả lời; có nhiều khía cạnh và mỗi chúng ta có một mẩu giá trị về câu đố nếu chúng ta có thể được phép chia sẻ nó trong tinh thần đối thoại.

Bởi vì chúng ta có chung một điều ước muốn: thảm nạn đã xảy ra sẽ không bao giờ, không bao giờ tái diễn hay xảy ra lần nữa.

Trong nỗi niềm hoan lạc, phiền muộn và ẩn ức

Ngay cả những rối rắm cũng nở hoa…

35 năm sau một cuộc chiến tranh biên giới. Thời gian qua đi mà không trôi mất, thậm chí, còn để lại bộn bề phản ứng. Khoảnh khắc của mất mát, hy sinh và máu xương thấm đất trở thành thứ cân đong đo đếm cho chủ nghĩa quốc gia, lòng tự hào dân tộc, cơ chế phòng vệ, khát khao tự do, giàu có, hưởng thụ siêu vượt và vô vàn ước ao cá nhân, riêng tư đối nghịch, mâu thuẫn với tinh thần cộng đồng và tham vọng xiền dương ý thức hệ.

Bất định, lo lắng, do dự và lần lữa; tất thảy trộn lẫn đã phản ánh tính phức tạp của thời cuộc cùng đời sống đương đại. Chung đụng xa hoa, những bụi xương rồng rào giậu vẫn ẩn hiện đó đây, dù nơi chúng ta sống chẳng hề kề cận sa mạc xa xôi hay bãi biển mù khơi. Những đồn đoán thật cay đắng, bởi tương lai của láng giềng e chừng cũng là tương lai của chính chúng ta, như một đất nước có chủ quyền– một cảm nhận chẳng hề dễ chịu chút nào.

Đầy nghịch lý, giới làm chính sách quốc nội hình như cóc thèm lưu tâm chi tới những bài học đơn giản cho các hệ thống phức tạp. Cộng đồng người thu nhập thấp và nghèo đói phải chịu đựng rất không tương xứng khi các chuyên gia làm luật kèm nhóm hành pháp quan liêu đã thất bại thảm hại trong việc thu hẹp khoảng cách trên tiến trình giải quyết vấn đề an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe đủ để kiến tạo thêm nhiều thách thức nan giải.

Bài học thể hiện sự nhún nhường cần tỏ rõ rằng chúng ta nên hạn chế những hành vi ngăn cấm trừ khi thừa bằng chứng việc hạn chế thì tốt hơn khả năng bị xâm hại. Với thực trạng thiếu vắng thông tin, nên để người ta tự do bộc lộ sự khôn ngoan, sáng tạo, năng lực doanh thương đặng tự giải quyết vấn đề. Dĩ nhiên, bài học rút ra còn là tránh kiểm soát và điều hành với mệnh lệnh từ trên đỉnh xuống; ví dụ rành rẽ cho sự vi phạm nguyên tắc này là USSR: chóp bu Liên bang Soviet nghĩ rằng họ thấu hiểu toàn bộ nền kinh tế để quản lý tất cả từ một mệnh lệnh trên đỉnh xuống, và ngày nay nước Nga đã khẳng định họ sai. Thứ đến, các hệ thống phức tạp không thể nhai lại hay bắt chước y chang; cách tiếp cận này chắc bị sai lầm ngay trước khi khởi sự, v.v…

Hiểu biết phương thức các tổn thương, đổ vỡ lan truyền qua các thế hệ đòi hỏi nắm bắt các bí mật lịch sử của cha ông, tiên tổ. Việc truyền dẫn tổn thương dựa trên ý tưởng rằng những gì làm nên con người không chỉ chứa đựng riêng mỗi các trải nghiệm của bản thân họ– quá chừng đớn đau tràn lấp, không thể chịu đựng hay nghĩ bàn thấu đáo được– rơi ra thành các diễn ngôn xã hội, mà rất thường khi thì cứ tiếp diễn rồi nhập vào thế hệ kế tiếp như một sự bén nhạy cảm xúc hoặc cơn thôi thúc thật hỗn độn.

 Các đường truyền lây lan xuyên thế hệ vốn bộc lộ qua các giấc mơ, trong hành động, thể hiện “bài học cuộc đời” với giai đoạn cụ thể nào đó và dạy chúng ta về gia đình. Khám phá các sự truyền dẫn này chính là đi tới hiểu biết và kể một câu chuyện rộng lớn hơn, khởi từ thế hệ đã qua; đòi hỏi lắng nghe kỹ càng các câu chuyện của ông bà, cha mẹ, với bối cảnh lịch sử- xã hội họ sống, nhất là khía cạnh kinh tế, chính trị và quân sự.

Mối dây cảm xúc gắn kết giữa đứa trẻ với tổ tiên là yếu tính cho sự phát triển các giá trị của chúng ta; quyết định trả lời các câu hỏi huyền bí: “tôi là ai”, “tôi  là ai đối với gia đình mình”, “ai chúng ta có thể tin tưởng và ai là kẻ thù”, “điều gì gắn chặt tôi với gia đình”, và quan trọng hơn hết, “với những mối dây gắn bó ấy, cái gì tôi cần gỡ bỏ và cái gì tôi cần giữ chặt”. Lớn lên từ các tổn thương tồn đọng của tổ tiên mới ngõ hầu chữa lành các thế hệ tương lai.

Vượt trên chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, các tiêu chuẩn kép, và sự phức tạp của tội lỗi lầm lạc lẫn trạng thái ngây thơ. Như vậy, mọi thứ xảy đến chỉ là cái cớ cho tâm trí bám vào. Tình yêu gắn bó, dính mắc và ràng buộc. Tại sao con chim trong lồng thôi hót, câu hỏi ấy lắm khi chẳng được đặt ra và thực tế không dễ trả lời được.

Mình cần bao nhiêu con ngựa nào?

Không biết gì là đủ thì chẳng bao giờ đủ, ngay cả khi có đủ.

Theo chuyện dân gian Tây Tạng được phiên chế, kể lại thì anh nọ có 1 con ngựa, anh kia 99 con song cả hai vẫn không ai thấy thế là đủ.

Anh đầu thầm ước, “giá mà người anh em kia cho mình một con thì ngựa mình có bạn có bè.” Tay kia lại ngẫm nghĩ, “nếu người anh em kia cho mình một con thì có phải số ngựa mình thành 100 con tròn trịa”.

Cả hai sẽ chỉ hài lòng khi có thêm một con ngựa? Và có lẽ, rồi thì, chẳng mấy chốc, họ lại muốn thêm chút nữa?

Bạn là người anh em nào?

Người đầu tiên hiện tại có ít ỏi, hay người thứ hai cơ chừng tích lũy khá nhiều rồi?

Giàu hay nghèo, không ai đủ đầy hay dư dật nếu kẻ ấy luôn luôn muốn nhiều hơn cần thiết. Bằng lòng do vậy, là sự giàu có lớn lao nhất.

Tuy thế, những giàu có trần tục chẳng thể mua được sự bằng lòng, mãn nguyện; vì những theo đuổi bất tận nhờ tích cóp vật chất thì chẳng khác chi cái trò săn một củ cà rốt đang treo trên cây gậy lơ lửng trước mặt.

‘Loại ngựa’ nào mình muốn đây? Tiền bạc, các khoái lạc cảm giác, danh tiếng, thực phẩm, ngủ nghỉ,…? Tất thảy đều phù du và không ngừng trôi đi, băng qua.

Nếu mình có nhiều hơn các ‘con ngựa’ cần thiết rồi còn muốn hơn thế nữa, tại sao không rộng lượng trợ giúp cho những ai đích thị thực sự đang cần? Hãy cẩn thận kẻo vô tình kích hoạt lòng tham nơi những kẻ khác!

Mình cần bao nhiêu con ngựa nào?

Cá nhân tôi thì không. Nâng đỡ cho sự tự do của đời sống hoang dã ở thế giới hữu sinh và tối đa phương tiện giao thông công cộng.

Phòng vệ cực đoan và bấn loạn phản ứng trước cuộc đời quá chừng phức tạp

Cho đến bây giờ, cơ chừng những nhu cầu đích thực của mọi người có thể chỉ là mong nhìn thấy rõ ràng và thấu hiểu cho bằng được tính phức tạp; rằng khi nào thì chúng ta cầm nắm chặt nó trong tâm trí chính mình.

Nền chính trị kỹ thuật số trong thế giới đa văn hóa ngày nay khiến lịch sử hoặc trở thành thứ vô cùng trân quý hoặc là cái bẫy.

Việt Nam cũng như Trung Quốc đang trải qua một sự bùng nổ kinh tế ghê gớm. Đi cùng thành công tài chính và tăng trưởng ngoạn mục khó phủ định, đất nước còn nảy nở liền kề ngày càng nhiều rối rắm xã hội và căng thẳng tinh thần. Đời sống mất đi sự giản đơn vốn quen thuộc lâu nay, trở nên ngày càng khắc nghiệt hơn hẳn, và điều này không thuần túy gây tổn thương cho các cá nhân mà còn ảnh hưởng tới cả toàn bộ nền văn hóa nữa. Công dân cảm thấy áp chế ghê gớm trước lối sống đổi thay khủng khiếp. Trong khi hăng hái vớt ngọn, đạt tới các thành tựu kinh tế trên bề mặt thì đất nước lại bỏ mặc, ấn tống xuống bên dưới các khía cạnh tâm lý. Với những khủng hoảng hiện sinh cực đại đến thế, sức khỏe tâm trí phải gánh chịu đau thương vô bờ.

Tâm lý học lâm sàng vừa mới mon men bám rễ sơ bộ vào nền văn hóa Việt. Đích thị, tâm lý học và tâm thần học đều bị hiểu nhầm, có vẻ không được tán thành, bị ngờ vực và giảm giá trị trong cộng đồng dân chúng. Tâm lý trị liệu là khái niệm ngoại quốc khá xa lạ.

Nên chi bất kỳ mặt tích cực nào đối với các vụ việc bi kịch ngày càng xuất hiện dày đặc có thể là dấu chỉ đòi hỏi nền văn hóa dần phải nhận ra tầm quan trọng chính đáng và giá trị tập thể lẫn giá trị cá nhân của tâm thần học, tâm lý học và tâm lý trị liệu. Không chỉ đơn thuần cần chú mục tới số lượng không nhỏ người mắc các rối loạn tâm thần khác nhau chưa được phát hiện, điều trị mà thậm chí dễ dàng dự đoán rằng, chắc chắn còn khá mơ hồ về một giải pháp nghiêm túc mang tầm quốc gia đối với khủng hoảng tâm lý hết sức nguy hiểm.

Nói thế để thấy rằng, bất chấp mức độ phổ cập và chấp nhận tâm thần học, tâm lý học và tâm lý lâm sàng ngay ở các nước phương Tây thì chúng ta vẫn tiếp tục chứng kiến cả loạt cơn dịch hành vi bạo lực ngày càng khủng khiếp. Các lối điều trị dược lý và thêm chút tâm lý trị liệu thất bại thảm hại  do người ta còn chưa thấu tỏ cách thức giải quyết hiệu quả nỗi niềm hụt hẫng, giận dữ, hận thù, bực dọc và cay đắng. Như triết gia F. Nietzsche từng lưu ý: “không có gì làm héo mòn con người nhanh cho bằng cảm xúc về sự oán giận, thù hận”. Hầu hết các rối loạn tâm thần khởi đi hoặc trực tiếp hoặc thứ phát từ đây: giận dữ, báo oán, tức hận, thù địch hoặc cay đắng. Cho dù vấn đề thế nào, việc làm mưng mủ một cách vô thức các cảm xúc tiêu cực trên khiến người bị tổn thương dần trở nên cay đắng và thù hận, dẫn đến thấy mình chủ bại, đôi khi xung hấn- thụ động, phá hoại, nghĩ đến chuyện trả thù hoặc thậm chí tạo hành vi bạo lực.

Trạng thái đắng cay bệnh lý là thứ tâm trí nguy hiểm có thể và dễ dàng thúc đẩy thành hành vi tội ác. Cay đắng, được hiểu như một trạng thái mãn tính và lan tỏa cứ âm ỉ ấp ủ, là một trong các cảm xúc phá hoại và gây độc nhất của con người. Cay đắng là dạng kiểu tính cách hằn học không lành mạnh hướng tới ai đó, điều việc hoặc với chính bản thân cuộc đời, hậu quả của tình trạng kìm nén liên miên của nỗi niềm tức giận, thù hận hoặc ai oán mà người ta tri nhận bản thân bị đối xử thế. Cay đắng là thứ cảm xúc oán thù dây dưa của câu chuyện bị tước đoạt quyền lợi và trở thành nạn nhân chẳng có chút giá trị chi. Cay đắng, tựa oán hận và thù địch, khởi đi từ việc không được kiểm soát lâu rồi những nỗi niềm phiền muộn, bẳn gắt, hụt hẫng, tức giận hoặc thịnh nộ âm ỉ.

Những gì kết tủa đặng tạo nên những cơn bùng phát kinh hoàng của vô số cơn điên khùng như thế? Hầu hết các sự vụ gần đây tại Việt Nam đều bị quy về xung đột liên nhân cách, thất nghiệp, stress và bệnh tâm thần. Song liệu các hành vi tội ác, bạo lực đó đơn giản bị đổ tại loạn thần hay stress? Hay các rối loạn tâm thần và các hành vi tội ác là hậu quả hơn thế do cách thức chúng ta quản lý kém cỏi stress, sự hụt hẫng, oán hận hoặc thù địch? Vài tại sao các cuộc tấn công, giết người, gây tai nạn trực tiếp vào nhà trẻ, người vô tội và các đối tượng dễ tổn thương? Có lẽ bởi vì ngay chính kẻ thủ ác cũng tự cảm thấy mình mất mát quyền lực quá chừng, tuyệt vọng, là nạn nhân và bị tổn thương trong khi đối mặt, đương đầu với sự thay đổi kinh khủng và khó lường định hết được. Những sự giằng kéo, chỉ trích và đập phá hết sức giận dữ và đôi khi khá ngây ngô của họ là nhằm chống lại đất nước Việt Nam thời mở cửa và đổi mới, biểu tượng hóa cho thế hệ kinh hoàng kế tiếp sẽ xuất hiện?

Mức độ thường xuyên các yếu tố kết tủa đào sâu thêm lắm cơn bùng nổ điên loạn chết người như thế, thuộc sự báo thù bị kiềm nén mông lung và không ổn định, là bởi tình huống đời sống căng thẳng hoặc khủng hoảng hiện sinh đủ khiến những phòng vệ bản ngã dường như đột ngột bị bẻ gãy hoặc bị hóa giải, cởi bỏ và tạo điều kiện phóng thích những xung năng giết người bấy lâu thiết lập ngấm ngầm?

Ngày nay, tại Việt Nam, cũng như ở cả Trung Quốc và các nước châu Á khác, chúng ta đang chứng kiến những bung xung đủ kiểu lắm trò của các thành viên của một nền văn hóa bỗng dưng quá dễ nhạy cảm dưới áp lực đương đại và sự giao thời, quá độ. Ngoài ra, cũng không khó nhận diện hiện tượng người ta ít nhiều có xu hướng tấn công, gây đau đớn và giết hại người khác không phân biệt– đôi khi kéo theo việc kẻ thủ ác tự sát– dường như là dấu chỉ khá tương tự những gì đang xảy đến ở Hoa Kỳ và các nước muốn học theo sát gần với nền văn hóa phương Tây như Trung Quốc và Nhật Bản.

Tạm suy luận rằng, cá nhân bị vướng mắc rối loạn– trước các ngăn cấm thuộc khía cạnh văn hóa, đạo đức hoặc tôn giáo– đã chối bỏ cơn xung hấn, giận dữ và oán thù của mình đến độ khiến họ lưu giữ kéo dài đủ lâu cơn thịnh nộ phân ly hết sức nguy hiểm trong lòng.

Thật đáng sợ khi nghĩ tới Việt Nam, và đặc biệt các nước Trung Quốc, Nhật Bản và các nền văn hóa đang phát triển nhanh chóng khác đang bắt đầu cho thấy một xu hướng ghê rợn: bùng nổ cơn điên khùng phá hủy và tội ác thuộc dạng bạo lực thản nhiên vốn khởi đi từ những nỗi niềm oán giận, thù địch và uất hận kéo dài không được bộc lộ. Dịch báo thù đang lây lan. Các rối loạn giận dữ tăng lên. Hành vi bạo lực dần trở nên thông thường.

Dĩ nhiên, với chính quyền hai siêu cường như Hoa Kỳ và Trung Quốc thì họ có thể làm tốt việc lưu ý thấu đáo các triệu chứng và dấu hiệu nguy hiểm này, và bắt đầu nhấn mạnh có chọn lọc sức khỏe tâm trí những công dân cay đắng của họ.

Điều này đòi hỏi nhiều hơn là việc thuần túy cung cấp thuốc chống loạn thần và tăng cường an ninh quốc nội; nó sẽ đòi hỏi việc trị liệu tâm lý thật hiệu quả rối loạn giận dữ và sự tinh tế tâm lý lớn lao mang tính xã hội nhằm chiến thắng cuộc chiến tranh khởi đi do sự hụt hẫng và cay đắng trước trạng thái đời sống đổi thay. Như thế, không thừa khi nhắc lại cẩn thận rằng, đừng quá hân hoan vô lối vì ngay cả các thành tựu tăng trưởng kinh tế và khoa học kỹ thuật cũng tạo nên mặt tối và kèm theo bóng mờ tiêu cực.

Không chỉ là chuyện biến đổi gene

Lựa chọn xem film Hạt Đắng thay cho việc đi nghe nói chuyện về chủ đề Khỏa thân trong Hội họa, cái nhìn đời sống của bản thân cơ chừng đã trở nên đơn giản hơn rất nhiều.

Là câu chuyện người nông dân, đất đai và cuộc sống gắn bó với ruộng đồng.

Quả cây chuyển gene chưa phải là vấn đề ghê gớm ở Việt Nam khi hiện tượng người nông dân từ bỏ ruộng vì sống không nổi xảy đến rồi ở Thái Bình.

Dĩ nhiên, vượt cả tình tiết trong phim về người trồng bông xứ Ấn, những lừa gạt và thất vọng không ngừng xuất hiện trong đời; hậu quả của việc mong đợi với điều ngưỡng vọng… Liệu người ta đã hy vọng quá mãnh liệt với sự khôn ngoan, lòng thành thật và tính nghiêm trang trong thế giới mãi ước ao quy thuận các thuộc tính ấy mà không có bằng chứng?

Bộ phim góp phần cho thấy cách thức thông tin ngập tràn quá mức khi phô diễn một điều, củng cố và làm vững mạnh hơn sự chối bỏ của bằng chứng. “Lỗi lầm và ngu dốt” không được giải quyết với nhiều sự kiện và kiến thức hơn.

Bước ra ngoài vòng thoải mái quen thuộc; đồng thời, đừng quên sự đầu tư cảm xúc và cá nhân vào cách ta kể và nghe một câu chuyện trong đời.

Ước muốn thành công, lòng tự tin và sự tôn trọng bản thân

Thật ngộ nghĩnh, vì rất nhiều khi chúng ta khao khát thành công ghê gớm song lại không chịu đựng nổi cảm giác thất bại, hụt hẫng lúc chẳng đạt điều mong ước.

Vẫn biết, các chìa khóa tuyệt hảo nên có là quá trình chuẩn bị, thể hiện và lượng giá.

Tỷ như, thiên hạ khuyến cáo nên tập tành thử đến ít nhất ba lần với các bài trình bày quan trọng, mà phải nói to lên thành lời cơ; chưa kể, cần phải kèm theo trong sự chuẩn bị này cả hai đến ba mục tiêu cá nhân mình muốn đạt được, mong mỏi trải nghiệm khi trình bày nữa (các mục tiêu ấy khác biệt hoàn toàn với nội dung thông điệp muốn truyền tải qua bài trình bày).

Và nếu sự chuẩn bị đúng đắn thì hệ quả kéo theo sẽ là việc thể hiện ổn thỏa, đảm bảo tự tin xuyên suốt lúc đứng trình bày; nếu không thế, sự tự tin quá dễ lung lay và sớm biến mất (những công cụ nhắc nhở như tờ ghi chú, sổ tay, PDAs, v.v… giúp tạo cảm giác tập trung và trạng thái tiếp đất vững vàng khi trình bày).

Kết thúc rồi, hãy tự cho mình điểm theo thang bậc 1-10 về các mục tiêu riêng tư và các bài học rút ra được. Cần thiết có nhật ký ghi lại tiến trình thay đổi, tiến bộ và học hỏi liên quan đến công việc này.

… Cho dẫu không có gì sai trái khi kiếm tìm thành công thì những ai trình bày ngon lành hơn hẳn bao người cũng có thể kiếm tìm thành công với những lý do lầm lạc. Ngoài khởi tạo kế hoạch và mục tiêu để thành công, người giỏi giang cơ chừng còn phải hiểu biết tại sao họ mưu cầu thành công. Người tự ý thức hiểu động cơ tại sao họ hành động thế; nếu không hiểu động cơ thành công, khá dễ dẫn đến hỏng hóc, đổ vỡ sau khi ta đạt được nó.

Mình cảm thấy thế nào khi thành công và thất bại?

Lý do tồi tệ nhất để thành công là cảm thấy mình đáng giá như một con người. Nếu mình phải đạt được thành công nhằm cảm thấy tốt về bản thân, sự tự tôn (self-esteem) sẽ luôn luôn gắn chặt với các sự kiện bên ngoài. Một cách để xem liệu mình có rơi vào loại này không là kiểm tra phương thức mình cảm nhận sau khi thể hiện, nói chuyện hoặc gặp gỡ bất thành, không như ý. Vẫn ổn khi thất vọng, xét xem liệu mình thể hiện tốt hơn chăng và cảm thấy chút ít ủ dột. Song nếu mình phát hiện bản thân bàng hoàng, tức giận hoặc trầm uất cả một quãng thời gian theo sau bất mãn thì giá trị bản thân bị phụ thuộc vào thành công; đó là chuyện nguy hiểm và rất không lành mạnh chút nào.

Cũng cần để tâm xem mình có sử dụng thành công như sự đền bù?

Rất nhiều người thành đạt lèo lái mình bởi một nhu cầu đền bù cho cảm giác tri nhận họ là kẻ yếu kém. Họ có thể lớn lên trong hoàn cảnh bần hàn, đói nghèo và quyết định họ sẽ không bao giờ thiếu thốn tiền bạc lúc đi làm, khởi nghiệp. Họ có thể học tập cực nhọc ở trường và bị cho là ngu dốt, kém thông minh; kết quả, họ thề sẽ kiếm nhiều tiền gấp bội những ‘kẻ thông minh’ kia, bất chấp cách thức họ đạt tới sự thịnh vượng. Một số cảm thấy họ không mấy hấp dẫn, quyến rũ và nhất thiết ước ao cảm thấy đang thèm muốn việc trở thành nhân vật quyền lực, giàu có. Một số khác lại không hề thoải mái với hình ảnh cơ thể và rơi vào các rối loạn ăn uống khi dấn bước trên con đường tới vinh quang. Một danh sách dài các điều bất an thôi thúc không ít người thành đạt.

Vậy, đâu là sự khác biệt giữa lòng tự tin (self-confident) và sự tôn trọng bản thân? [Mong lượng thứ; tạm dừng ở đây, sẽ viết tiếp khi thuận tiện.]

@ Cập nhật, 21.11.2013: Vượt qua sự thất vọng, có một lối thoát. Mình không nhất thiết phải săn đón thành công để rồi chỉ để duy trì miên man cảm giác không thỏa mãn. Bí quyết thưởng thức thành công mà không bị nó thống trị là hiểu ra nền tảng khác biệt giữa sự tự tin và lòng tôn trọng bản thân.

Tự tin sẽ khác với những gì dựa trên thành công. Thật tự nhiên khi mang tâm trạng vui tươi hơn chút do thành công rồi (so với thất bại). Cũng ổn để cảm thấy chút xuống tinh thần sau một lần trình bày thất vọng. Song người thể hiện lành mạnh thì luôn sắp xếp ranh giới tự tin qua loa, vừa phải thôi; chẳng hạn, nếu tự tin được xếp theo thang đo 0-100 thì mình không nên là 20 sau thất vọng và 90 sau thành công.

Như đã nói, nếu mình cạnh tranh với mức độ đúng đắn, phù hợp với các năng lực của bản thân và mình chuẩn bị thật thích đáng thì tất mình có quyền cảm thấy tự tin– bất chấp thành quả ra sao. Mình không vui sướng với thất bại hay mất mát song nó không tàn phá sự tự tin ẩn bên dưới, cho dẫu mọi thứ chẳng hề diễn ra như kế hoạch dự tính.

Nếu đang trải nghiệm cả dãy dài rộng biến thể của sự tự tin dựa trên thành công hay thất bại, mình rất dễ cảm thấy bối rối và lẫn lộn ghê gớm giữa lòng tự tin và sự tôn trọng bản thân.

Tôn trọng bản thân dựa trên cách thức mình cảm thấy chính mình như một con người. Liệu mình là một người cha, người mẹ, người anh, người chị hay người bạn ra sao? Hành vi, ứng xử của mình được thúc đẩy bởi các giá trị và nguyên tắc đạo đức nào? Mình có tin vào điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình?

Nếu cơ bản mình cảm thấy bản thân tốt đẹp thì sẽ không khác biệt gì lớn lắm, hay cần dựa vào thành tựu của một sự thể hiện nào đó. Nếu lòng tự tin của mình đích thị thay đổi, điều ấy hàm nghĩa mình cho sự thành tựu của bất kỳ sự thể hiện nào quyền lực để quyết định cách thức cảm thấy chính bản thân mình như một con người. Sự thành công của mình xác quyết sự tôn trọng bản thân; đấy là lý do giải thích tại sao lỗ hổng trong tâm hồn mãi chẳng bao giờ lấp đầy được. Càng thành công thì càng là cái thúc đẩy miên man để mình cảm thấy bản thân tốt đẹp hơn, mà điều ấy thì chẳng bao giờ đủ cả và thường khiến mình đuổi bắt bất kỳ phương tiện cần thiết nào.

Không có gì sai trái với ước ao cháy bỏng và việc theo đuổi, rượt bắt thành công. Sự nguy hiểm nằm ở chỗ là nhất thiết phải thành công nhằm cảm thấy bản thân tốt đẹp. Theo đuổi sự tuyệt hảo cho những lý do đúng đắn và rồi thành công sẽ đến thôi!

Điều gì ngăn cản người ta không dám đề nghị để được giúp đỡ?

Hoa ngũ sắc hay đời em cứt lợn, biết ơn đời chẳng chấp một cái tên
Hoa ngũ sắc hay cây cứt lợn, biết ơn đời chẳng chấp một cái tên

Sau một giấc ngủ dài phó mặc cho thế gian biến sự diễn ra theo ý nó muốn, người ta có thể lắng mình nảy sinh ít nhiều suy tư thú vị và càng củng cố thêm động cơ thả bỏ giá trị bản thân, thậm chí, họ có thể dễ dàng trực nhận chính xác cái gọi là ‘bản thân’ í thiệt nào đáng nâng niu, gìn giữ.

Kỳ lạ thay, tại sao thiện hạ không đề nghị, hỏi xin để được giúp đỡ, hỗ trợ?

Thực tế, không ít vị yêu thích việc giúp đỡ tha nhân song lại hiếm khi muốn mình là đối tượng được người khác trợ giúp. Thậm chí, ngay cả khi sức mạnh đã giảm sút vào những năm tháng cuối cùng, vị ấy vẫn kiên định từ chối sự giúp đỡ của các thành phần, đối tượng khác mà điều ấy thường tạo nên trạng thái căng thẳng lẫn hụt hẫng, phiền muộn cho các thành viên còn lại trong gia đình, tổ chức, cộng đồng, v.v…

Cái lối ứng xử kiểu vậy quá dễ gây bực bội đi kèm với cái nhãn “ngớ ngẩn, cứng đầu”, dù kẻ trong cuộc cũng biết rằng bên dưới tinh thần nhất quán thực hiện hành vi này là một nhu cầu tách biệt nhằm kiểm soát bản thân và một nỗi sợ ngập tràn nếu nhỡ đánh mất đi cái khả năng đó. Phí tổn thể lý và tình cảm phải trả lúc về già, tuy thế, sẽ giảm bớt tác động khắc nghiệt lúc mình đề nghị được giúp đỡ.

Trải nghiệm và quan sát cá nhân có thể thấy rằng nhiều người nhận ra mình quá khổ sở khi đề nghị giúp đỡ, cho dẫu họ đang không đương đầu, giải quyết tốt được vấn đề. Bạn có xác định với trải nghiệm đó không? Những niềm tin nào bạn nắm giữ về bản thân và bạn nghĩ mình là ai trong quan hệ với những người khác sẽ góp phần lớn lao thiết lập hành vi, gồm cả trạng thái sẵn sàng, hài lòng đưa ra lời đề nghị được giúp đỡ nữa.

Có 3 lý do giải thích tại sao người ta không đề nghị để được giúp đỡ và các niềm tin ẩn bên dưới ủng hộ, tán trợ cho mỗi một lý do ấy.

  1.  Tôi không cần giúp

Tôi là ai trong quan hệ với những người khác?

  • Tôi mạnh mẽ
  • Tôi đứng đắn, chính trực
  • Tôi độc lập
  • Tôi không thể dựa vào bất cứ ai khác để làm công việc theo cách tôi muốn nó được hoàn thành

Sự thật, là tay siêu nhân cỡ mấy hay kẻ có mạnh mẽ đến nhường nào trong chúng ta thì thảy đều có thể cảm thấy bị stress, áp chế, thiếu thốn thời gian và mệt mỏi. Những lúc như thế, từ chối được giúp đỡ sẽ tạo nên sự oán hận sâu thẳm trong lòng, nỗi hụt hẫng và niềm tức giận một cách không được giám sát trong chuyện hướng các xúc cảm mãnh liệt ấy vào ai đó gần gũi với mình.

Thử cân nhắc thế này nhé:

  • Mình phải trả phí tổn cảm xúc, chịu đựng thiệt thòi ra sao nếu không đề nghị được giúp đỡ khi cần thiết?
  • Nỗi sợ hãi nào xuất hiện khi đề nghị được giúp đỡ?
  • Những gì có thể là lợi lạc cho bản thân và cho những người khác, nếu mình thảng hoặc đề nghị được giúp đỡ?

2. Tôi có thừa khả năng để tiến hành việc đó mà không cần được giúp đỡ

Mình là ai trong quan hệ với những người khác?

  • Tôi nên mạnh mẽ
  • Tôi nên có năng lực
  • Tôi nên ở trong trạng thái kiểm soát
  • Tôi nên độc lập

“Nên” phản ánh niềm tin sai lệch rằng mình chỉ nên chấp nhận người khác khi mình ứng xử theo cách thỏa mãn mong đợi của họ. Bên dưới những điều “nên” như thế, mình có thể đang cảm nhận về sự thiếu thích ứng, bất lực, do dự, kinh hoảng và cô độc. Nỗi sợ mình sẽ bị phơi nhiễm, bày lộ hết ra ngoài rồi tuần tự ngượng ngập và/ hoặc bị chối bỏ ngăn ngừa mình không đề nghị cần thiết muốn được giúp đỡ,

Thử cân nhắc điều này nhé:

  • Phải trả phí tổn cảm xúc, chịu đựng thiệt thòi nào khi mình tuân theo những cái ‘nên’ ấy?
  • Giọng điệu của ai đang khăng khăng mình ‘nên’: bố mẹ hay ai đó uy tín, quan trọng khác trong quá khứ hoặc thuộc hiện tại?
  • Sẽ như nào nếu mình tìm thấy sự giúp đỡ cần thiết đặng đương đầu với cuộc sống hàng ngày và tất cả yêu cầu đời đòi hỏi?
  • Những gì mình nhận ra là thách thức ghê gớm nhất về chuyện đề nghị được giúp đỡ?

3. Người khác nên biết tôi đang cần được giúp đỡ

Mình là ai trong quan hệ với những người khác?

  • Tôi mong đợi những người khác hiểu các cảm xúc của tôi
  • Tôi mong đợi những người khác đoán biết trước các nhu cầu thiết yếu của tôi
  • Tôi mong đợi những người khác chịu trách nhiệm trong việc giúp đỡ thật nghiêm túc, đàng hoàng

Giữa những gì mình mong đợi về người khác và những gì người khác đích thị làm cho mình, có một khoảng cách mênh mông. Mình dễ cảm thấy mệt mỏi, ngao ngán, bực bội, và quá chừng cáu gắt và đánh giá thấp.

Các ‘mong đợi, kỳ vọng’ chúng ta về người khác thi thoảng mới đáp ứng, trừ khi đầu tiên, trước hết mình có một cuộc trao đổi, trò chuyện và phát hiện, tìm ra sự bằng lòng thường thấy về các kỳ vọng tương tự thế. Trải nghiệm quen thuộc là người ta kém cỏi để truyền thông, giao tiếp cho thật tốt, bởi niềm tin rằng những người ‘nên’ biết.

Thử cân nhắc điều này nhé:

  • Phải trả phí tổn cảm xúc, chịu đựng thiệt thòi sao khi mình mong đợi người khác thỏa mãn các nhu cầu mà mình chưa từng đề nghị bao giờ?
  • Tại sao người khác nên biết những gì mình mong đợi, liệu họ buộc phải là người đọc được tâm trí con người?
  • Những gì mình nhận thấy thách đố nhất về chuyện đề nghị được giúp đỡ khi phát hiện, hiểu rõ rằng họ không có khả năng đọc được tâm trí mình?

Đề nghị được giúp đỡ là:

  1. một dấu hiệu mạnh mẽ, chứ không phải sự yếu kém
  2. một sự thừa nhận về các nguồn lực mà những người khác (đối tác, thành viên trong gia đình, bạn bè, cộng đồng lớn hơn) sở hữu và cống hiến, dâng tặng họ có thể tiến hành cho sức khỏe và trạng thái an lạc của ta
  3. một cơ hội triển nở bản thân
  4. điều cần thiết cho một mối quan hệ lành mạnh
  5. một dạng thức hòa nhập và khuyến khích đối với những người khác

Có một hay các lý do nào bên trên cho việc không dám đề nghị được giúp đỡ bạn phát hiện ra ở chính mình? Tại sao bạn không dám quả quyết đề nghị được giúp đỡ ngay trong tuần này? Đó có thể là chuyện nhấc điện thoại lên và tiếp xúc với người bạn đó, hoặc gọi đến đường dây trợ giúp đặc biệt. Hoặc tiến hành một vài nghiên cứu trực tuyến đặng tiếp cận với nguồn lực bạn thấy cần thiết. Hoặc đơn giản ngồi cùng đối tác hoặc thành viên gia đình bên tách trà, café rồi kể cho họ nghe những gì bạn đang cần giúp đỡ. Cũng có thể tìm tới sự trợ giúp của giới chuyên môn.

‘Con người không phải là hòn đảo cô độc’ phản ánh sự thật đích thực của mọi người.  Chúng ta cần sự giúp đỡ của ai đó khác, song trước tiên hết, mình phải đề nghị, dám nói ra thành lời hoặc biểu tỏ nhu cầu ấy đã…

Giá trị thực sự của “miễn phí”

Trăm vạn nẻo đường, muôn lối tỏa hương
Trăm vạn nẻo đường, muôn lối tỏa hương

Bài viết “Một góc nhìn về cơm 2000 đồng” đang gây tranh cãi, đa phần theo hướng phê phán trên fb (quan điểm cơ bản tập trung ở đây).

Quán cơm 2 nghìn chính là con cá, nó không giúp được vào trọng tâm của vấn đề.

Ngược lại, mô hình kinh tế này gây cạnh tranh bất bình đẳng, dồn nhiều lao động ngoại tỉnh về trung tâm, làm suy yếu nghị lực bản thân của người tìm đến ăn, rõ ràng chả việc gì phải cày cuốc kiếm ăn mửa mật, khi mà ăn 1 bữa no tới 24 giờ kế tiếp?

Vậy hãy phân vân một chút, điều gì sẽ xảy ra nếu có một trăm quán cơm “2000 đồng” như thế?

Làm thế nào “miễn phí” có thể tạo nên giá trị thực sự?

Trước hết, thường thì các tổ chức từ thiện có hai mục tiêu chính: một, làm lan rộng sự hiểu biết về một vấn đề cụ thể; hai, trợ giúp vấn đề.

Các hội cứu trợ chuyên về môi trường chẳng hạn, giúp người ta học hỏi các hiểm họa đối với khí hậu và tính mỏng manh của hệ sinh thái trái đất.

Còn tỷ dụ, một ngân hàng thực phẩm nói chung thì nhắm tới nuôi sống những người nghèo đói.

Khi mục tiêu của một hội từ thiện là giúp đỡ mọi người thì rồi đây mọi người càng biết nhiều về nó, người ta sẽ càng quan tâm để cho tiền nó. Ý tưởng: khi mọi người biết nhiều về hội từ thiên, họ sẽ giả định rằng hội ấy phải làm nhiều việc tốt, và vì vậy, tiền của họ sẽ được sử dụng rất tốt lành.

Khi mục tiêu của một hội từ thiện là mở rộng nhận thức thì khi mọi người biết nhiều về nó, điều ấy có thể thực sự gây hại. Ý tưởng: nếu một vấn đề đã đích thị thấu hiểu rõ ràng rồi thì hội từ thiện có thể không nhất thiết cần họ giúp đỡ để mở rộng nhận thức thêm nữa.

Được nói chuyện với anh Nguyễn Hồng Ánh (banbe6x), người Quản lý quán cơm, tôi càng thấm thía những suy nghĩ tuyệt vời của các anh chị sáng lập và điều hành quán cơm này. Các anh chị chủ trương rất rõ ràng, cung cấp suất ăn cho những người nghèo khó không phải là mục đích cuối cùng mà trên tất cả là cung cấp cho họ hương vị của lòng tốt, lòng nhân ái, và để rồi lòng nhân ái này sẽ lan toả đi khắp nơi…

Quay lại với câu hỏi nêu ra bên trên. Tính khoa học hấp dẫn của nó là như này: khi chúng ta nhìn thấy một người hoặc một tổ chức chăm sóc, quan tâm những người khác thì điều này có thể khiến bộ não mình phóng thích hóa chất thần kinh oxytocin. Và khi oxytocin được phóng thích, chúng ta cảm thấy một sự gắn bó. Nói khác đi, oxytocin là hóa chất cơ bản cho các khách hàng trung thành; bởi thật khó khăn để không ưa thích một công ty đang truy cầu để làm điều tốt.

Cũng cần biết rằng, con người bị thúc đẩy bởi nhiều điều khác nhau trong những thời điểm khác nhau; đôi khi họ nhắm tới việc nhận được phần tốt nhất cho bản thân; lúc khác họ lại bị kích động bởi lòng bi mẫn và sự rộng lượng. Nói như nhà quản lý trứ danh Peter Drucker thì con người ta “gồm nhiều loại khác nhau, thường là khó đoán định, luôn luôn đa chiều kích”.

Như thế, quan tâm tới cộng đồng là cách thức thông minh để duy trì một khách hàng luôn sẵn lòng cam kết trung thành với mình. Và nếu chú trọng quan tâm cả đến khía cạnh sức khỏe của khách hàng thì càng tuyệt vời.

Mặt khác, làm điều đúng cho những người khác hàm nghĩa rằng mình giúp đỡ người ta khi họ đang cần. Đấy là tình huống cả hai cùng thắng (win – win) vì đó cũng là điều đúng ta làm cho chính bản thân mình nữa.

Đã đến lúc, thay vì nói “hãy cho chúng tôi biết bạn là ai, chúng tôi có thể quyết định bạn đã đủ tốt hay chưa”, hãy khẳng định với nhau rằng “hãy cho chúng tôi biết bạn là ai, chúng tôi có thể giúp bạn trở thành con người đó”.

Deepak Chopra đã nói về nghệ thuật cho tặng:

Mỗi quan hệ là một dạng của cho và nhận. Cho khởi tạo việc nhận, và nhận nảy sinh việc cho. Những gì đi lên phải rơi xuống; những gì thoát ra phải quay về. Thực tế, nhận là điều tương tự cho vậy, bởi vì cho và nhận là các khía cạnh khác nhau của dòng chảy năng lượng trong vũ trụ.

Cuộc đời vốn đầy rẫy nghịch lý, và như Kent M. Keith chỉ ra: Nếu bạn làm điều tốt, bạn bị cáo buộc là đang che giấu ngấm ngầm động cơ vị kỷ nên hãy cứ làm điều tốt như thường nhé!

J. Soi (29): Dạy trẻ gì đây ta thử hỏi…

Đưa trẻ đến trường, định hướng lớn lên?
Đưa trẻ đến trường, định hướng lớn lên?

Hôm nay là Ngày Khai giảng năm học mới; riêng tại Hà Nội do mưa kéo dài nên có trường hoãn lại sáng mai, có nơi tổ chức Lễ trong nhà xe.

Lâu nay khá quan tâm vụ ‘tự do học hỏi“, nhân đọc thấy mấy chia sẻ trẻ lên tiếng, diễn giải ý nghĩa lễ khai giảng càng cảm nhận cái sự ‘giáo dục cưỡng bức’ quả không hề đơn giản tẹo nào; bởi kiểu gắn nó với chuyện phản ánh dân trí đất nước, đưa ví dụ từ các nước Đông Á có nền giáo dục tiên tiến, chương trình ở Anh quốc, đi vào chi tiết miễn phí khi thảo luận Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992,  đặc biệt nó buộc cha mẹ phải có trách nhiệm với con cái và góp phần phát triển đất nước, và bao giờ cũng thế, làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo, v.v…

Câu chuyện học hành của trẻ hôm nay dội ngược lại là thu nhập không đủ sống của bố mẹ, với 20% lao động nhịn ăn một bữa/ ngày; thậm chí, nhìn sâu rộng hơn sẽ thấy rõ tầm mức toàn cầu do đã được quy định ở điều 28 của Công ước về Quyền Trẻ em, thể hiện niềm tin sắt đá của UN rằng mỗi trẻ em có quyền được giáo dục cưỡng bức (điều 7), tất thảy có vẻ chứng tỏ rằng hầu hết các nhà lãnh đạo chính trị gắn chặt việc phổ cập, đưa trẻ đến trường như là con đường hướng tới tương lai tốt đẹp hơn, và ngay tại Việt Nam thì các bản Hiến pháp từ 1946 đến Hiến pháp 1980 đều khẳng định chắc như đinh đóng cột thế, chưa nói có dấu tích từ truyền thống dân tộc (nhân tiện, nếu thích tham khảo thì cần nhớ điều 42 Dự thảo sửa đổi thay thế điều 59 có nội dung đang bàn).

Vậy, dạy gì cho một đứa trẻ? Không chút nghi ngờ chi cả, rằng trung thực, dũng cảm và trái tim rộng mở là ba điều quá chừng đẹp đẽ, tuyệt hay mà trẻ em cần được giáo dục. Song lần nữa, tại sao cứ chăm chắm và nhất thiết phải giáo dục trẻ em?

Liệu đi học lớp 1 có đúng là vinh dự, là nhiệm vụ của những trẻ em 6 tuổi?

Hỏi thêm Google, biết có một cuốn Sổ tay Đạo đức Tiểu học (2009) của tác giả Vũ Xuân Vinh do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành; ngồ ngộ nên mò ra một hiệu sách chuyên bán lẻ ở phố Giảng Võ đọc cọp xem nó thế nào.

Bài 1 mang tên “Em là học sinh lớp 1” được tác giả biện luận bởi những lý do sau:

  •  Thể hiện niềm vui sướng, tự hào, hãnh diện em được đi học lớp đầu tiên của cuộc đời cắp sách đến trường để học kiến thức văn hóa và học làm người.
  •  Thể hiện quyền được đi học.
  •  Như một thông điệp nói với mọi người hãy chú ý tới mình, vì “Em là học sinh lớp 1”, em mới bắt đầu đi học đây!

Bài học tiếp tục với câu dẫn: Đã là học sinh lớp 1 thì em phải làm gì ?

  • Phấn khởi cắp sách đến trường, đến lớp trong bộ quần áo sạch sẽ, gọn gàng.
  • Bạo dạn, vui vẻ làm quen với các bạn trong tổ, trong lớp. Khi gặp các thầy giáo, cô giáo lễ phép chào.
  • Tự hứa em sẽ cố gắng chăm, ngoan xứng đáng là học sinh lớp 1.
  • Yêu trường, yêu lớp.

Sau đó là một đoạn in nghiêng:

Bài học mở đầu “Em là học sinh lớp 1” như một khúc dạo đầu tiên đưa em đến trường để bắt đầu bước vào ngưỡng cửa của học vấn, của tri thức nên em phấn khởi, tự hào, hãnh diện “Em là học sinh lớp 1”.

Cuốn Sổ tay được quảng cáo “… đã nhận được rất nhiều lời tán thưởng vì có sự chọn lọc những tình huống, các mẫu truyện ngắn và bài học rút ra cho các em có thể nhận biết và những phương pháp hệ thống và diễn giải từ đơn giản, dễ hiểu giúp phụ huynh, giáo viên dễ dàng nắm bắt và giúp các em học tập tiến bộ hơn. …… là nguồn tư liệu bổ ích cho phụ huynh, giáo viên nhằm giúp các em phát triển kỹ năng sống cơ bản. ”

Đọc xong mấy món này, thở hắt cái vì chợt gợi liên tưởng Tập bài giảng Đạo đức cho các anh chị lớp trên mới gần đây thôi…

Một cách tiếp cận đáng quan tâm trong các mối quan hệ thân tình

Giữa bao la trời đất, lòng người thừa ngục thất
Giữa bao la đất trời, lòng người thừa ngục thất

Đó là chu kỳ xà quần lại gần – lảng tránh (AAC); cũng có thể được biết đến như kiểu động năng kẻ theo đuổi – người giữ khoảng cách, quan hệ đẩy – kéo, sự phủ tràn đối lập với sự hờ hững.

Nói chung, đấy là một dạng kiểu mẫu hình hợp trội trong những mối quan hệ mà một người thì muốn nhiều hơn điều gì đó (hoặc muốn kẻ kia thay đổi ít nhiều này nọ): người theo đuổi, và cá nhân khác kháng cự hoặc thu mình: kẻ giữ khoảng cách.

Dạng thức nêu trên còn dễ được mô tả ví von rằng hai người “gắn bó với nhau bằng một khoảng cách bất di bất dịch”. Khi người theo đuổi tiến tới trước thì người giữ kẻ lại lùi ra sau; khi người giữ kẻ thu mình, người theo đuổi bị thôi thúc dấn bước lên.

Trong khi mọi người cần một sự cân bằng uyển chuyển và sống động giữa gắn bó và tự trị ở đời, công thức lý tưởng không khó thấy là sẽ có khác biệt từ người này đến người khác. Khi một người trong mối quan hệ muốn gắn bó nhiều hơn và người kia muốn tự trị thêm lên thì đây thường là cơn bão hoàn hảo cho một hiện tượng AAC phát triển, bùng vỡ. Với các cực đoan của nó, AAC thừa khả năng phá hủy một mối quan hệ bởi vì nó trở thành cuộc “chiến tranh” không ngừng nghỉ, xảy ra liên miên đủ khiến người trong cuộc cảm thấy kiệt sức, mệt mỏi và theo thời gian, tạo dựng nỗi niềm oán giận ở cả hai bên.

Dạng thức AAC có thể là mẫu hình uốn thành vòm toàn bộ mối quan hệ hoặc nó chỉ xảy ra sâu xa với vài vấn đề gây tranh cãi rất nóng sốt.

Trong hôn nhân, các vấn đề hay gặp bao gồm tình dục, tiền bạc hoặc cách làm cha mẹ; chẳng hạn, một người cơ chừng muốn tần suất ân ái tăng lên hoặc muốn dành thời gian chủ yếu cho con cái, học cách quản lý tài chính giỏi giang, tập trung cho việc nội trợ, nhà cửa hoặc muốn hẹn hò bên ngoài, đi chơi nhiều hơn…

Trong các gia đình hoặc tình bằng hữu thì nó có thể dính tới mức độ tiếp xúc cá nhân hoặc tầng bậc dấn vào đời riêng người khác; chẳng hạn, tần suất một người con đã trưởng thành đến thăm viếng bố mẹ hoặc mức độ bạn bè tin tưởng thể hiện dành cho nhau.

Đấy là sự lôi kéo, quyến rũ mỗi người nghĩ rằng họ đúng và kẻ kia sai, song đích thực nó thường là vấn đề của khung tham chiếu riêng và cả hai phải chịu trách nhiệm về phần mình với chuyện kéo dài dây dưa ấy.

Trong AAC, người theo đuổi muốn nhiều tiêu điểm cho “chúng ta” và kẻ giữ khoảng cách thì muốn nhiều tiêu điểm tập trungcho “tôi”. Người theo đuổi dường như đặc biệt tỏ ra chức năng khống chế mối quan hệ, còn kẻ giữ khoảng cách lại không nhiệt tình đảm trách, lơ là chức năng.

Nỗ lực của người theo đuổi muốn làm cho kẻ lảng tránh “lên tàu, xuất phát” tạo cảm nhận như sự trình diễn, gây áp lực, kiểm soát, hoặc phủ trùm đối với người giữ khoảng cách. Sự kháng cự của người giữ khoảng cách tạo cảm giác giống việc chối từ, ruồng rẫy hoặc thiếu vắng niềm yêu thương/ quan tâm chăm sóc đối với người theo đuổi. Mỗi người dần trở nên ngày càng cố đào hào, dựng tường lũy thủ thế riêng và họ tạo thêm nhiều giả định lẫn đánh giá về các động cơ, dự tính của người kia. Mỗi một người lại gắng sức để giành “phần thắng”, do đó làm ra một trận chiến đầy tiềm năng cho các tai nạn, thương tích nghiêm trọng kèm theo. Không bị ngăn cản hoặc kiềm hãm, sự phá hủy có thể thành chuyện tất yếu, không thể đảo ngược.

Tin tốt lành là nếu một trong hai bên chí ít nhận ra và đập gãy mẫu hình ấy từ khá sớm ban đầu, mối quan hệ dễ được cứu chữa vừa kịp thời và hiệu quả. Chắn đứt mẫu hình nghĩa là người theo đuổi chấm dứt việc rượt đuổi hoặc kẻ lảng tránh thôi giữ khoảng cách nữa.

Nói khác, người theo đuổi giảm thiểu tiêu điểm “chúng ta” và tăng thêm sự tập trung cho “tôi”. Họ dừng chuyện mong đợi nhau thay đổi và tập trung nhiều hơn những gì thực sự đang diễn tiến với sự kiểm soát, điều chỉnh (suy tư, cảm nhận và hành vi mỗi người). Hoặc người giữ kẻ kia kết thúc vụ thu mình, chống kháng rồi khởi sự trải lòng ra với người theo đuổi hay tạo nên vài nỗ lực thấy được của ước muốn thay đổi. Cả hai cá thể gắn bó bằng một khoảng cách bất di bất dịch như thế, khi một người dừng đẩy hoặc kéo thì thường kẻ kia sẽ hưởng ứng phù hợp theo cùng.

Không hề đơn giản để làm tình hình chuyển biến chút nào khi hành vi đã thâm căn cố đế vậy rồi. Cũng rất khó khăn để từ bỏ những hành vi ấy khi tồn tại một nỗi sợ mạnh mẽ của việc bị ruồng rẫy, bỏ rơi hoặc giữ kẻ. Trong những tình huống tương tự, một nhà tâm lý có kinh nghiệm trong trị liệu gia đình hoặc hôn nhân có thể trợ giúp một bên hoặc cả hai vượt thoát tiến trình. Dĩ nhiên, thậm chí cũng có một nguy cơ là khi mẫu hình bị bẻ gãy, một hoặc hai người có thể còn duy trì tiếp tục sự bất mãn với mối quan hệ khiến khó hòa giải các nhu cầu, mong muốn và giá trị khác biệt nhau.