Khoảnh khắc

Bức ảnh chụp Dalat sáng nay trông thật lạ mà quen. Tay máy chiều người với tình yêu nơi chốn.

Có đôi điều ‘viễn mơ’ (!).

Một là nó gợi khoảnh khắc khi mình già rồi, nhớ lại một nghiên cứu đọc lâu lắc đã xác lập mối liên quan giữa sự tự tiên đoán tiêu cực với trí nhớ; theo đó, cả đàn ông lẫn đàn bà trung niên thôi (đâu tầm 48-62) song họ thể hiện thấp điểm trong trắc nghiệm trí nhớ chuẩn khi được bảo là họ tham gia nghiên cứu dành cho tuổi trên 70.  Có vẻ hoà vô nhóm trưởng lão như sự nhắc nhở gián tiếp về tuổi tác và sự tuột dốc về trí nhớ đủ để tác động tới điểm số, nhất là với các quý vị quá quan tâm chuyện tuổi tác. Điểm số cao hơn khi người tham gia được bảo họ đang đấu với nhóm mới đôi mươi thôi.

Thứ hai, khoảnh khắc nhận ra bản dạng của một đối tượng tri giác.

Thứ ba, dùng ‘khoảnh khắc’ nãy giờ ham hố thì dễ dàng khơi lên luôn cả cụm dính chùm lừng danh: ‘khoảnh khắc Eureka!’

Thứ tư, thiết thực là cần tìm ra mẹo mực để biết tưởng thưởng từng khoảnh khắc đang là…

Thứ năm, sâu xa, ta suy luận chứ khó nhận thức được khoảnh khắc chúng mình quyết định hành động.

Thứ sáu, hiện diện sao đây (‘hiện diện’ là cái từ bị xài xể ghê gớm), đặc biệt đáng ghi nhận khi ta không thích cái khoảnh khắc đang là…

Giản dị nhất là thứ bảy, làm sao có những khoảnh khắc khiến ta được là chính mình. ‘Hiện tại’.

Chưa hết. Thứ tiếp theo có thể kể không sợ sai liên miên là khoảnh khắc mình không tỉnh thức.

Rời khỏi phòng

Đó là một quyết định khó khăn mà đến giờ vẫn chưa triển khai cụ thể. Chiếc lá non xanh mới hé thấy háo hức quá nên đã vội ghé tai hỏi nhỏ: bao giờ thì chúng sẽ chuyển hướng sang bất kỳ điều chi, bởi vì tôi đang vui thú chốn này. Sự trú ngụ, vâng, căng trải đó đây có thể rốt ráo chẳng ước muốn bao giờ nói ‘không’.

Rõ là khi nhìn thấy sự vô thường trong mọi thứ: cách mọi điều mình gắn bó và phụ thuộc, những thay đổi, chia tay hoặc dần đến băng hoại, rã tan, chỉ thấy duy mỗi còn lại là những quấy nhiễu đậm cảm xúc; cảm xúc bất an, cô độc, sợ hãi, lo lắng, hoang mang, và bất hạnh. Cách duy nhất đặng tìm thấy hạnh phúc là học cách kiểm soát cảm xúc và làm bình lặng tâm trí, nhờ thay đổi cách mình suy nghĩ. Chúng ta buộc phải dần thôi dính bám vào các thứ và độc lập về mặt cảm xúc. Đấy là chuyện làm được thông qua hiểu biết rằng chúng ta tuyệt đâu sở hữu điều chi trên thế giới này, bao gồm cả những gì ta gọi là chính bản thân ta: cơ thể, tâm trí, và tinh thần.

Rời căn phòng ngôn ngữ song đừng sử dụng các từ như vũ khí làm đau và gây hại kẻ khác khủng khiếp. Bởi vì đích thị chúng ta dễ làm điều ấy lắm; chỉ bởi vì có thể nói điều gì không đồng nghĩa rằng nên thế. Có lẽ một trong những bài học lớn lao nhất trong đời là biết rằng khi nào thì nên im lặng. Vâng, mình không thể nói điều gì đẹp đẽ…

Giữa ngày xuân làm thinh, mình đang cố tìm thấy thật chủ động cách nào mang lại nụ cười và niềm vui với các câu chữ đầy quyền năng mãnh liệt; nó không đòi hỏi trả giá gì và e chừng, thoáng chốc là ai đó sẽ cảm thấy được quan tâm ấm áp. Song điều gì đó cần thời gian, tỷ như có tình bằng hữu, niềm tin và sự yêu thương được gạn lọc thật chậm rãi. Vào cuối ngày, chúng ta sẽ nuôi dưỡng theo cách thức thật lành mạnh. Một chút một để kiến tạo điều tốt sau cùng.

Rồi ắt sẽ có ngày ra đi… Điều quan trọng là chúng ta luôn để lại trong căn phòng nhỏ bé nhiều thứ ngoại hạng trong đời. Đấy là tình yêu, đam mê và lời nguyện cầu đích thực làm chúng ta cảm thấy đủ đầy. Hài lòng nơi căn phòng tạm thời một chiếc lá xanh non mới hé. Sự thật tới với mình, mình nhận ra nó bởi vì nó khiến mình hạnh phúc.

Viết chào mời thời mới

Blog resolutions for 2016, by Russell Jackson at Draw the Public.

Năm 2016 đã trôi qua hơn 10 ngày đầu tiên rồi.

Viết chào mời Thời Mời. Cái thời mới í đã tồn tại sẵn đó, từ lâu. Như gần cội cây bàng đỏ lá và gió thổi lăn lốc đám khô vàng đầy màu sắc quá vãng chiều nay, một bà cụ móm mém, da nhăn nheo song vẫn vắt chân thong thả châm điếu thuốc lá từ cú bật lửa điệu nghệ của cậu trai kia. Như tin đưa vụ ghép đầu người sắp diễn ra lần đầu tiên vào 2017 rất dễ trở thành hiện thực, không còn là chuyện khoa học giả tưởng; vì từ 1954, người Nga đã tạo ra chó hai đầu gây sốc, và sau đó Hoa Kỳ ghép được đầu khỉ dù nó chỉ sống được vài ngày (bằng chứng về mặt kỹ thuật là có thể: 1, 2, 3 song không thoát khỏi vấn đề đạo đức y sinh liên quan sát sườn tới bản dạng và nhân cách người).

Thoải mái, thư thái mà vẫn chú tâm, tỉnh giác và ý thức với thái độ của kẻ hiểu biết, người quan sát, chỉ làm chứng cho chuyện các cảm xúc, suy tư, ký ức và tri giác đến rồi đi; chỉ nhìn ngó hơi thở, trải nghiệm về cơ thể lúc ngồi, và có thể cả âm thanh của lặng im (nền tảng của thanh âm giao thông đi lại); thái độ có mặt ở đây và ngay bây giờ này trong hiện tại là những gì gọi là ‘vun bồi, chăm nom’ luôn nhắc nhở chính bản thân mình rằng chỉ có hiện tại mà thôi.

Vì việc nhận ra cái tôi không phải là cái tôi, ý thức tinh tuyền không phải là cái tôi, không phải là con người mình; điều kiện của một bản ngã thì khởi lên rồi biến mất theo thời gian cùng nơi chốn.

Ta không phải là điều mình nghĩ. Cái gọi ‘nhân cách’ là các thói quen suy tư và sự gắn bó của tôi với ký ức, trí nhớ và chỉ là cách tôi phát triển trên bình diện cá nhân, riêng tư. Chúng giống như thói quen tựu thành, nên tựa bất kỳ thói quen nào chúng là những gì chúng là, cơ mà chúng chẳng khác hơn gì nữa… Như thế, nối kết sự ‘thư thái’ với ‘chú ý’ là khuyến khích sự chú ý rộng mở với khoảnh khắc hiện tại đang là… thời mới.

Thiền tập như một hệ thống

Cách tiếp cận mang tính hệ thống đối với việc tập thiền (meditation) chắc chắn đem lại nhiều lợi lạc hơn hẳn so với các kiểu tiến hành ít quy củ, thiếu tổ chức chặt chẽ.

Thử hình dung một danh sách ngắn để lý giải tại sao.

Một hệ thống thiền tập (phát triển) thì…

  • 1. Có khả năng lặp lại.
  • 2. Được cấu trúc/ xác định rất rõ ràng.
  • 3. Học viên và người hướng dẫn, giảng dạy có thể so sánh tiến bộ và kết quả.
  • 4. Các thuật ngữ và khái niệm dùng nhất quán, đủ để giải thích, thấu hiểu và so sánh tiến bộ/ kết quả.
  • 5. Tính độc lập của vị thầy/ sư phụ; cho dẫu bậc thầy có mất đi sau đó thì hệ thống vẫn vận hành được. Nói khác, nó ít phụ thuộc vào ‘con người’ mà nghiêng về sự vận dụng của hệ thống.
  • 6. Tự thân hệ thống có thể được nhìn nhận như vị thầy (tựa Đức Phật tôn kính Pháp là vị thầy của Ngài vậy).
  • 7. Một hệ thống có thể được giảng dạy và phân xếp thật dễ dàng; chí ít xử lý ổn hơn so với việc kế thừa đặc thù từ nhân cách của vị thầy.
  • 8. Một hệ thống cần có yếu tố khoa học: giống như một thục nghiệm ai đó có thể thử lại hết sức thành công.
  • 9. Một hệ thống lôi cuốn người học: con đường được sắp đặt rõ ràng, nhiều học viên khóa trước có thể trợ giúp và xác lập con đường. Tiến bộ tạo nên từng bước và có thể so sánh với người khác.
  • 10. Các vị thầy của hệ thống thế có khả năng đánh giá tốt tiến bộ của mỗi học viên dựa trên kinh nghiệm của họ với cùng bộ hướng dẫn tương tự cho những người trước… Điều này làm giáo viên giỏi hơn và hệ thống càng thêm tinh tế.
  • 11. Hệ thống tốt lên, càng tường tận tỉ mỉ và vị hướng dẫn càng dễ dự liệu, đoán biết cũng như đánh giá tiến bộ của người học.

Cần lưu ý, điều diễn giải trên không hề biện hộ cho bất kỳ hệ thống thiền tập Phật giáo riêng biệt nào. Xem các kinh có thể nhìn ra cách (các) hệ thống được đặt để suốt thời Đức Phật. Và ngay cả một phương pháp luận nào đó cần thiết cho phép các biến thể dựa vào tính cách của hành giả thì chuyện ấy cũng có thể được tiếp cận một cách hệ thống.

Dĩ nhiên, khi dạng hệ thống ấy dần chỉ còn được ghi nhận qua giấy tờ và chết héo (không có sự truyền thừa, tiếp nối) thì thật khó khăn để phục hồi nó đúng như những ‘câu chữ’ vốn dùng ghi lại. Và người ta có lý do biết ơn một số hệ thống thiền tập xác thực trong vài thập niên trở lại đây như phương pháp Goenka, Mahasi, v.v…

Năng lực cải tiến của các hệ thống thiền tập này sẽ trở nên sành sỏi với các hướng dẫn (sau khi lão luyện về chúng) và nhờ cập nhật dựa trên trải nghiệm của người học các hệ thống này, và mối quan hệ của chúng với các lời chỉ dạy rõ ràng Đức Phật tất càng thêm ý nghĩa cho những ai theo đuổi…

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Trạng thái bất mãn về giới: vẫn đầy phiền muộn và còn nhiều bỏ ngỏ…

Xem cái clip nhân Ngày Mồng Tám Tháng Ba thật thú vị và đầy ý nghĩa nhắc nhở nhiệm vụ bất khả chối từ.

“Bạn nghĩ mình là nam hay nữ?”
“Em nghĩ mình là nữ ạ”

“Điều gì định nghĩa một người phụ nữ?”
“Sự thông minh, sắc đẹp và sự nữ tính”

“Theo bạn ngày 8/3 Quốc tế phụ nữ có dành cho mình không? ”
“Có ạ”

“Tại sao?”
“Vì em được gia đình và người yêu ủng hộ, sống thật với giới tính của mình”

Những nỗi niềm như dưới đây tiếp tục khẳng định mọi sự không phải lúc nào cũng được ghi nhận, thỏa ý.

Em là gã đàn ông 34 tuổi đã lập gia đình và có một em bé rồi. Em từng có một bí mật là thích ăn mặc áo quần con gái hồi mới là nhóc con 5 tuổi; em nhớ mình cảm thấy thật tuyệt vời và sung sướng quá độ. Em tự trấn an rằng các cảm giác kiểu đó sẽ biến mất khi em lớn lên; khủng khiếp thay, các cảm xúc này lại phát triển thành ước ao là một người phụ nữ đích thực. Làm thế nào để em có thể cảm thấy giống như một người đàn ông bình thường? Việc này có cần điều trị gì không ạ?

Chia sẻ trên dễ gợi ý về cái mà giới chuyên môn trợ giúp gọi là sự không hài lòng, bất mãn, khó chịu về giới (gender dysphoria, GD). Thực tế, nhiều người vẫn bắt gặp các cảm giác vốn xuất hiện từ thời thơ ấu này; họ có thể thấy khá khổ sở, căng thẳng ghê gớm về mặt lâm sàng hoặc thiếu hụt trong nghề nghiệp, giao tiếp xã hội, các khía cạnh đời sống khác.

Hiểu cơ bản, lúc còn bé con, chúng ta thường nghe các nhóc nhiều lần thổ lộ ao ước mình là giới kia, hoặc thậm chí không ngừng tin tưởng mình đúng là như thế thật. Chúng hay mặc áo quần khác giới cũng như thích chơi trò, giữ vai tương ứng với giới kia; ngoài ra, các biểu tỏ còn có thể là sự chối bỏ mạnh mẽ các loại đồ chơi đặc thù hay trang phục dành riêng cho giới đó. Cũng có thể là sự ghét bỏ cơ thể và bộ phận sinh dục của chính mình. Khi bước vào giai đoạn vị thành niên, các triệu chứng này thể hiện thành ao ước là người thuộc giới kia, được đối xử như giới kia, và thậm chí sống ở ngoài thực như người thuộc giới kia; giai đoạn vốn phức tạp này sẽ làm cho trẻ như thế càng cảm thấy khổ sở thêm khi buộc phải đương đầu với các cảm giác và vấn đề bản dạng ấy. Cả người trưởng thành lẫn vị thành niên đều nảy sinh nhu cầu khát khao giải thoát mình khỏi các đặc trưng giới tính ban đầu và thứ phát rồi thường thêm đoan chắc rằng mình được sinh ra với giới tính sai lạc hẳn rồi. Ý nghĩ về chuyện mình cảm nhận về bản thân từ bên trong không hề sát khớp với cái nhìn bên ngoài có thể gây nên nỗi niềm đau đớn với không ít người; họ tìm đến sự khuây khỏa nhờ liệu pháp thay thế hormone (HRT), phẫu thuật và các thủ tục phức tạp nhằm thay đổi ngoại hình (tham khảo). Một số chỉ thấy thoải mái khi sống ngoài đời đúng như là người của giới kia, số khác thì thích tiếp tục với bản dạng giới tính đã được ấn định từ hồi mới chào đời.

Trạng thái bất mãn về giới từng được gọi là rối loạn bản dạng giới (Gender Identity Disorder, GID), có người thì quen dùng thuật ngữ là đối tượng chuyển đổi giới tính (transsexuals); hiện tại, có vẻ ‘những người không theo chuẩn về giới” (gender noncomforming) là thuật ngữ tốt hơn nhiều vì nó chỉ cho cả những ai không cảm thấy mình thuộc về bản dạng nam hay bản dạng nữ.

Nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới cho biết họ muốn mình ‘cảm nhận như một người đàn ông bình thường’ hoặc ‘cảm nhận như một phụ nữ bình thường’ tương thích với định hướng hoặc bản dạng giới họ từng được nuôi dưỡng. Tuy thế, mục tiêu của trị liệu không phải là thay đổi các ý nghĩ này mà bắt đầu trợ giúp người ấy quản lý ác các cảm xúc này tốt hơn. Trị liệu không nên nhắm vào việc mình nên cảm thấy hoặc hành động ‘như một người đàn ông” mà thay vào đó, giúp mình hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra cũng như hỗ trợ mình trong những lựa chọn mình ra quyết định (ví dụ, sống ngoài đời như một bản dạng giới đàn ông hoặc phụ nữ, hoặc có lẽ là giới tính lưng chừng, mơ hồ (‘genderqueer’). Tiếc thay, nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới bị trầm uất và lo âu khi cố gắng hoài giải và quản lý các cảm xúc kiểu thế. Đáng lưu ý, thường xuất hiện nguy cơ khá cao muốn tự sát với nhóm này. May mắn là hiện có rất nhiều tổ chức và nhóm hội sẵn sàng trợ giúp các bạn giải quyết các cảm xúc vướng mắc.

Các cá nhân chuyển giới có nhu cầu lớn lao cho những đổi thay về các khía cạnh xã hội, nghề nghiệp và luật pháp. Chắc chắn, vẫn còn định kiến dai dẳng và nặng nề liên quan với chuyện đang bàn, và bước chuyển thay đổi chẩn đoán từ GID sang GD là hướng đi đúng đắn. Tuy vậy, nếu không có các điều kiện ‘mang tính chẩn đoán’ thì lại dễ gây khó khăn cho những ai muốn tiếp cận dịch vụ chăm sóc ý tế khi họ cần thay đổi trong giao dịch về bảo hiểm, dù thực tế nó còn là câu chuyện chưa ngã ngũ.

Lời cuối. Bản dạng giới thì không phải là bản dạng tính dục (sexual idnetiy). Người gặp trạng thái bất mãn giới có thể ổn thỏa trong việc thích hoặc yêu người có cùng hoặc khác giới với họ. Với đa phần chúng ta không phải rơi vào trạng thái bất mãn giới, cần hiểu cả loạt vấn đề mà các bạn bất mãn giới phải đương đầu, giải quyết như dùng đại từ nhân xưng nào gọi mình, mang một cái tên không tương thích với giới của bản thân, quyết định vào phòng vệ sinh nào cảm thấy thoải mái hơn, điền đúng vào ô khi khai các mẫu đơn thư và giấy tờ, thủ tục hành chính thường nhật, v.v…

‘Giới tính theo quy chuẩn’ có thể quen được sử dụng để mô tả cách mình nhìn nhận và cảm thấy về bản thân và về hành vi của mình tương thích với bản dạng giới. Song không phải mọi người ai cũng đều được hưởng đặc quyền tưởng chừng đơn giản như vậy.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.

Điều làm nên bản tính người của chúng ta

Rồi qua mùa mùa đắp đổi, đời người tựa sông lở bồi...
Rồi qua mùa mùa đắp đổi, đời người tựa sông lở bồi…

Sau quỷ tiết Halloween í ẹ của dân chúng khắp nơi, cái đọng lại riêng tôi gần đây là buổi nói chuyện tại Viện Goethe; sự kiện này khiến bản thân mong ngóng tương tự nỗi háo hức cả ngày hội thảo về an sinh xã hội do một học viện thuộc hệ thống trường Đảng tổ chức.

Theo thống kê- xác suất kiểu gì đó, hôm nay Việt Nam có công dân thứ 90 triệu. Thời điểm hợp lý để cầu mong bé gái ấy sẽ được thực hưởng đầy đủ các quyền con người như hiến chương Liên hiệp quốc quy định.

Nền kinh tế nước nhà thì xám xịt và mờ tối. Các bộ dính dáng sâu xa với vụ nhà ngoại cảm tìm mộ liệt sĩ (trực tuyến, làm cứ liệu tham khảo; quan điểm quân phiệt trong học thuật). Và câu chuyện “miếng nhục” (cập nhật) sẽ được chọn thêm nhằm gợi hứng cho những gì sắp chia sẻ ở đây.

Dư luận ít nhiều la ó, chửi rủa, ca thán và đồng thời tách biệt mình khỏi cộng đồng. Ai cũng bức xúc và cảm thấy thật tệ hại hay rằng phi lý quá… Vậy, điều gì làm nên bản tính người của chúng ta?

Hiện tại, nếu căn cứ trên kết quả nghiên cứu nắm biết thì thấy tri nhận bản thân qua gương soi (đặt để sự tự nhận thức) là khả năng học hỏi được; thậm chí trẻ nhỏ ở một giai đoạn phát triển đặc thù, việc biểu đạt điều này cũng khác biệt tùy thuộc vào mức độ thông minh, nền tảng văn hóa, và các điều kiện kiểm nghiệm. Phát hiện góp phần khẳng định rằng khả năng này dường như tồn tại trên chuỗi tiến hóa liên tục.

Và có nhiều chứng cứ (chẳng hạn, đây) thêm hiểu biết về nhận thức của khỉ dã nhân; chúng tri nhận không gian, định lượng, phân loại, tính nhân quả, và chú ý theo những cách phức tạp hơn nhiều so với chúng ta biết đến trước đây.

Vậy, câu hỏi vẫn còn đó: những gì khiến chúng ta khác biệt?

Theo nhà nghiên cứu Michael Tomasello thì cơ sở trả lời hoặc chí ít thành phần căn bản để giải quyết, có thể nằm ở năng lực hợp tác của chúng ta. Trong các thực nghiệm với các loài khỉ dã nhân và trẻ nhỏ, nhóm tiến hành đã phát hiện một số điểm khác biệt lý thú chỉ ra cách chúng ta liên kết nhau nhằm đạt được kết quả.

Các loài dã nhân, bao gồm cả chimpanzees và bonobos, hợp tác để đạt được thành tựu (thường là nhằm kiếm thức ăn). Trẻ em cũng làm điều tương tự; tuy thế, trẻ thực hiện theo các cách khác hẳn chẳng hạn, trẻ đổi hướng theo bối cảnh hợp tác trong khi các loài dã nhân thì không. Trẻ thích tìm tòi cách hết sức hợp tác, trong khi các loài dã nhân thì chỉ thích điều đó khi chúng có thể thôi. Trẻ hiểu nguyên tắc, vai trò của kẻ hợp tác, và có thể chơi đóng vai rất nhanh mà không cảm thấy quá khó khăn. Các loài dã nhân phải học lại vai mới nếu chúng chưa từng thấy trước đó, v.v…

Dĩ nhiên, những điểm khác biệt này có thể được quy cho số lượng các thứ này kia, song Tomasello tin rằng con người tiến hóa rất đặc thù khi mắc bận vào “dự tính kết nối” là điều mà các loài dã nhân không có được (đọc thêm). Trẻ sơ sinh sẽ chỉ một đối vật đủ để rồi người lớn nhìn vào đấy và kiến tạo nên sự chú ý mang tính chia sẻ; chúng cũng sẽ chỉ một đối vật với người lớn mà không làm ra bất kỳ đòi hỏi nào chứng tỏ muốn chơi đối vật đó: chúng chỉ muốn chia sẻ sự chú ý. Điều này được gọi là động lực mang tính thông tin, và nó dường như chỉ hiện hữu ở loài người.

Những hành động mang tinh thần hợp tác này “tạo nên nền tảng có ý chia sẻ sẵn nhằm truyền thông hợp tác”, và Tomasello tin rằng những sự thích nghi nhận thức khởi lên đối với sự kết nối cố ý này nằm ẩn duy nhất dưới các tiến trình nhân loại như nhận thức, truyền thông, văn hóa, và đạo đức.

Những sự thích ứng nhận thức này rốt cuộc đến từ đâu? Chúng khởi lên khi cạnh tranh thực phẩm tăng cao, khả năng là do một số loài dã nhân lớn rời khỏi cây để xuống đất; con người đáp ứng nhờ phát triển các năng lực hợp tác này đủ khiến họ có thể săn bắn rộng hơn và tiếp tục phát đạt.

… Đọc các tin tức trên báo chí điện tử quốc nội, tôi không khỏi hình dung một bối cảnh bao trùm hơn, chứ tuyệt lười biếng đặng đơn giản áp lia lịa mỗi cái lý thuyết tâm lý đám đông. Lần nữa ngẫm nghĩ về mức độ thông minh, nền tảng văn hóa, và các điều kiện kiểm nghiệm, chẳng quên liên tưởng đến thời đại kinh tế sức chú ý.

Gì thì gì, rõ ràng, khi sống trong trạng thái phục vụ cộng đồng của mình là ta cũng đang thuộc dạng một công dân tốt của hành tinh trái đất rất đáng trân quý.

J. Soi (16): Mê tín vì may mắn không bị trừng phạt

Hình như, đối với mỗi một cá thể ít nhiều đều có những nghi thức bí mật chứa chất mê tín nào đó.

Trên bình diện quốc gia, chuyện mê tín trở thành nỗi niềm bi hài vừa cực kỳ thế tục vừa vô cùng rối rắm tâm linh. Khi mang tầm vĩ mô, sự vụ giời ơi đất hỡi không còn thuần túy thỏa mãn lợi lạc riêng tư hoặc nhắm tới ý đồ phục vụ cộng đồng rộng lớn.

Các nghi thức là phương cách nhằm làm cho sự hỗn độn, bấn loạn bớt đi sự khủng khiếp, kinh hoàng. Bởi tưởng chừng là ngớ ngẩn song hàng triệu triệu người tiến hành các nghi thức tương tự ngõ hầu có được may mắn.

Tin tưởng hết sức mãnh liệt vào những điều phi lý; đa phần con người ta khi đương đầu với vô cùng thách thức quan trọng và bất định thì sự mê tín cung cấp cho họ ảo giác kiểm soát tình hình. Việc thực hành mê tín, do vậy, có thể đem lại lợi lạc tâm lý. Rõ ràng, các nghi thức mê tín dễ khiến độ căng thẳng suy yếu và tạo nên cảm giác rằng mình đang làm những điều hữu ích.

Chưa nói, hầu hết các mê tín là vô hại; dù một số để lại lắm hậu quả nghiêm trọng. Các niềm tin mê tín đem về may mắn từng dây dưa khốn khổ trong đam mê cờ bạc, và niềm tin vào các kỹ thuật y khoa thay thế tân thời so với lối điều trị truyền thống có thể dẫn đến căn bệnh trầm trọng thêm.

Bất chấp nọ kia, mê tín căn bản vẫn lành mạnh, và một số tài năng xuất chúng ở mức độ toàn cầu cũng mê tín đáo để khỏi nói luôn; cứ xem các ví dụ liên quan đến thao tác thu lượm may mắn trước mỗi trận đấu thể thao tất hiểu.

Các loài động vật làm đủ thứ kỳ cục khi được trừng phạt hoặc ban thưởng ngẫu nhiên. Hãy nhớ nhà Tâm lý học Hành vi nổi tiếng F. Skinner từng vứt thức ăn bất chợt cho bồ câu, và các con chim ấy phát triển những hành vi lặp lại buồn cười. Các con bồ câu này thể hiện hành vi như dạng khiêu vũ là lạ: xoay xoay các vòng, thúc thúc cái mỏ vào góc lồng, hoặc hất hất cái đầu hết lần này đến lần khác. Skinner gọi đấy là hành vi mê tín liên quan đến cử chỉ nhảy nhót. Các con bồ câu dở hơi tăng thêm trò nhảy nhót mê tín, ngay cả khi việc nhảy nhót của chúng chẳng được thưởng bằng thức ăn. Skinner khẳng định rằng, con người cũng thể hiện các hành vi mê tín tương tự chẳng hề liên quan chi tới những sự tưởng thưởng– đấy là các nghi thức dính dáng sự may mắn.

Các kiểu nhảy nhót của bồ câu mê tín thì thuộc dạng gây cười, vui vẻ. Các con chó tuyệt vọng lại không phải thế. Khi các con chó bị sốc điện không thể thoát được, đầu tiên chúng chạy quanh đặng gắng trốn khỏi. Sốc điện tiếp tục và ngắt đi tình cờ mà không liên quan chi tới những gì các con chó tiến hành. Dần dần, các con chó từ bỏ, chúng nằm dài, và chỉ còn biết rên rỉ khi điện được kích hoạt. Tồi tệ hơn, nếu con chó được đặt vào một tình huống mới, nơi nó có thể trốn thoát sự sốc điện, nó vẫn từ chối bỏ chạy. Con chó học hỏi sự tuyệt vọng. Tâm lý gia Martin Seligman và các cộng sự khẳng định, con người thể hiện sự học hỏi tuyệt vọng trong nhiều tình huống. Nếu sự trừng phạt là không thể thoát tránh, con người từ bỏ sự cố gắng như các con chó đáng thương nêu trên vậy.

Sự tuyệt vọng được học hỏi có thể xảy đến trong các tình huống xã hội và cả lĩnh vực học thuật. Người ta cố gắng làm điều này điều nọ, ứng xử thế lọ thế chai rồi thì buông tay bất kể vấn đề như thế nào. Họ dần từ bỏ hẳn và thôi cố gắng làm bất kỳ điều gì nữa cả.

Vậy đấy, nơi cõi trần gian, thiên hạ nói chung và các vị chức sắc hoặc thầy cô giáo đã bị trừng phạt ngẫu nhiên và không thể tránh khỏi, bởi vì sự trừng phạt không phụ thuộc vào việc họ làm. Nghịch lý nằm ở chỗ, không việc nào họ làm cho phép họ thoát khỏi sự trừng phạt.

Sắp xóa cuối ngày

Tháng Ba, mùa con ong đi lấy mật“…

Đôi khi là nghi thức nếu bắt đầu buổi sáng và đấy là mồng Một của tháng mới. Và giống mọi thứ lễ tiết kín kẽ, cân nhắc và thận trọng đến vậy mà rồi chúng chợt biến mất tăm cùng với cái thở phào nội tại vô cùng tế nhị.

Hầu hết chúng ta khởi sự ngày bằng việc kiếm tìm nguồn năng lượng thiết yếu.

Giờ thì đêm đã buông, giải pháp cũng không hề đơn giản hơn. Cần chút ít thôi để suy nghĩ trước lúc hành động. Tâm thế sẵn sàng và tỉnh thức vẫn đủ sức khiến cho mọi sự trôi chảy êm đềm, như ý. Nếu được, chắc sẽ phải sắp xếp bài học thu lượm trong ngày thật gọn gàng, ngăn nắp.

Mỗi chúng ta có một bảng đen còn trống đặng viết lên đó hàng ngày. Lịch làm việc, các vấn đề, tự hào, chiến thắng và thất bại– tất thảy đều nguệch ngoạc trên dải rộng của tấm bảng.

Thi thoảng ở đó ghi nhận lắm điều nhỏ nhặt, vu vơ; lúc khác, thấy hiện diện vài dòng quá chừng gây bối rối để hiểu thấu đáo chúng. Ta có thể tránh né đầy sợ hãi song chúng vẫn còn châm chọc, chua ngoa mình. Đôi khi chúng ta e ngại ngay cả nỗ lực vì lo lắng việc đương đầu với sự nhạo báng, bông đùa vượt ngưỡng chịu đựng.

Song chúng ta có khả năng ngạc nhiên bởi đời sống trần gian, bất chấp những kỳ vọng nọ kia của tha nhân. Nếu tiếp cận các nhiệm vụ thẳng thắn và không chút e ngại, chí ít chúng ta sở hữu cơ hội để nhận đúng điều ước muốn. Nỗi xúc động lâng lâng bởi thành công đích thực ngọt ngào, êm ái hơn rất nhiều so với niềm thống khổ của thất bại.

Và cho dẫu thất bại thảm hại đi nữa, chúng ta được phép xóa tấm bảng mỗi ngày và cố gắng lần nữa vào ngày mai.

Thất bại đáng giá đủ để cố gắng thêm rồi chắc chắn mình sẽ tiến hành ngày mai. Khi ta lựa chọn thái độ dấn thân ấy, chẳng phải hoàn toàn không có gì tựa một bề mặt láng sạch trên tấm bảng, vào ngày mai…