Khi già rơn rồi, các bài hát trở nên ít buồn bã hơn…

Anh hát lên, nhớ gì trong mắt em; anh hát lên, còn có em, ôi tuyệt vời… Anh hát lên, nhớ về chiều mưa buồn, mưa vẫn rơi, hoa ngập lối đường về…”

Âm nhạc là thứ công cụ quyền năng trong việc biểu đạt và làm truyền dẫn các cảm xúc.

Tôi chợt nhớ giai điệu bài hát ám ảnh thượng dẫn, khi đọc thấy nghiên cứu tìm hiểu liệu có phải rồi bằng cách nào mà việc cảm nhận âm nhạc đổi thay khi người ta già đi.

Theo đó, tác giả Lima cùng cộng sự vén lộ sự thật: những ai đã già thường cho thấy sự hồi đáp giảm hẳn trước thứ âm nhạc diễn tả cảm xúc tiêu cực, và tri giác của họ về những cảm xúc vui vẻ lại duy trì khá bền vững.

Ai cũng biết, cảm xúc giữ vai trò thiết yếu trong sáng tác và cảm thụ âm nhạc; thậm chí, ngay cả trẻ sơ sinh cũng có năng lực định hình các cảm xúc trong những trích đoạn tác phẩm (Nawrot, 2003).

Tuy thế, nhận ra các cảm xúc trong âm nhạc rất ít được chú ý nghiên cứu. Công trình của tác giả Lima và cộng sự xem xét hiệu ứng của tuổi già về sự tri nhận cảm xúc do âm nhạc khởi tạo.

Cần biết, các nghiên cứu trước đây xem xét việc tri nhận cảm xúc theo các phương thức khác biệt hẳn nhau đã góp phần tỏ lộ rằng có sự suy biến việc tri nhận các cảm xúc khi tuổi tác tăng lên, chẳng hạn ở đây. Một nghiên cứu khác thì tìm hiểu tác động của tuổi già lên sự tri nhận cảm xúc âm nhạc thông qua việc so sánh người đương còn trai tráng (tầm tuổi 24) và người đã già rơn (trên 65). Các kết quả thu được chỉ rõ rằng người lớn tuổi gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tri nhận cảm xúc sợ hãi và buồn bã cả ở lĩnh vực âm nhạc lẫn phát ngôn mang chất thơ, trong khi họ không hề bị phiền nhiễu khi chú tâm tới trạng thái tức giận, hạnh phúc và cảm xúc trung tính.

Nghiên cứu của tác giả Lima và cộng sự chứng thực những thay đổi ý nghĩa liên quan giữa tuổi tác với các cảm xúc cụ thể. Đáng chú ý, họ còn định hình một sự suy giảm tuần tự trong hồi đáp với âm nhạc khiến ta buồn bã và kinh hoảng. Không có sự khác biệt lắm trong thứ âm nhạc vui tươi. Những điểm khác giữa nhóm tuổi tác cũng được ghi nhận về mẫu thức phân loại nhầm nhọt giữa thứ âm nhạc buồn bã và yên bình. Các đối tượng tham gia thực nghiệm còn trẻ thì cơ chừng tri nhận buồn bã hơn với thứ âm nhạc yên bình, còn đối tượng già rồi lại tri nhận nhiều an ổn. Điều này dễ là do các chức năng cấu trúc thuộc thể loại âm nhạc buồn bã và yên bình vốn đặc thù mang hơi hướng chậm rãi.

Anh hát lên, nhớ gì trong mắt em. Anh hát lên, còn có em, ôi tuyệt vời… Anh hát lên, nhớ về chiều mưa buồn. Mưa vẫn rơi, làm lòng anh xót xa…”

Những nghiên cứu tương lai dường như nên tập trung khám phá thêm luận điểm vừa nêu. Cũng phải nói rằng tác giả Lima và cộng sự để ý tới cả số năm tập luyện âm nhạc của các thành viên tham gia thực nghiệm nữa. Phân tích này gợi mở mối liên hệ tích cực giữa luyện tập âm nhạc với khả năng phân loại các cảm xúc âm nhạc.

Một lý giải khả thể cho phát hiện chủ yếu của nghiên cứu này là sự giảm sút việc nhận ra các cảm xúc cụ thể e phản ánh sự suy giảm tâm lý thần kinh định khu ở các vùng não bộ có dính dáng với tuổi già (tuyến dưới đồi) liên quan việc xử lý cảm xúc. Các nghiên cứu từng thực hiện, ví dụ, đã chứng tỏ, các vùng não bộ rõ ràng liên quan tới sự tri nhận các cảm xúc khác nhau.

Một lý giải khả thể nữa là do định kiến lộ rõ liên quan với tuổi già (1, 2). Định kiến dễ thấy liên quan tới tuổi già ấy cho rằng người ta khi già đi sẽ ít hẳn trải nghiệm các cảm xúc tiêu cực, cự tuyệt.

Vậy là, những nghiên cứu sắp tới có thể nhắm vào việc định hình những vùng não bộ khu biệt trong sự nhận ra cảm xúc ở các lứa tuổi khác nhau. Hơn nữa, khi khả năng phơi tỏ trong định kiến về tuổi già có thể không thật phổ quát (chẳng hạn, những cụ già Trung Quốc quay mặt khỏi các biểu đạt của vẻ mặt hạnh phúc song lại không lờ tịt các biểu đạt tiêu cực).

Nghĩa là, chắc chắn hứa hẹn sẽ vô cùng thú vị nếu tiến hành tìm hiểu xem tác động của việc nhận ra cảm xúc âm nhạc như thế nào ở đối tượng tham gia thuộc các nền văn hóa khác biệt nhau.

Hiện tại, nếu bạn vẫn cảm thấy chưa quá khốn khổ và cứ chực đú đởn mơn man muốn nghe Gloomy Sunday cơ thì tại sao không tiếp tục ngân nga…

Bài hát đó, năm xưa đôi ta quen nhau. Bài hát đó, đôi ta yêu nhau lần đầu. Ngày tháng ấy, tình yêu phôi pha trong tim… Bam-bi-nô… Bam-bi-nô… Bá bà… bá bà… bà ba ba ba ba. Bá bà… bá bà… bà ba ba ba. Bá bà… bá bà… bà ba ba ba…

Không thể sống thiếu…

Trời dầm dề, đường sá ướt át, mưa rầm rập dự báo xảy ra bão to lũ lớn, nên dễ dàng ai đó sẽ khởi đầu điệp khúc rên rỉ bất tận và nhân lúc rỗi chuyện, cho rằng họ không thể sống thiếu… món này thứ nọ, kết nối internet, eo ôi chết mất nếu chẳng có vật dụng í, hay rất cần thêm đồ kia bởi vừa thấy quảng cáo trên vô tuyến,…

Có rất ít những điều chúng ta không thể sống mà không có nó/ chúng.

Mình có thể cảm thấy không thoải mái do chẳng uống cốc café nâu nóng hay ngồi gắn chặt với màn hình máy tính, sở hữu bộ đồ trang điểm hoặc mê mẩn chiếc váy vô cùng quyến rũ,… song đích thị, bất chấp tất cả và dù sao đi nữa thì cuộc sống rõ ràng mãi sẽ vẫn luôn luôn tiến lên, hướng tới phía trước.

Sự thật hiển nhiên rờ rỡ là chúng ta đang tiếp tục bị lạc mất, đắm chìm vào trong vô vàn biểu tượng vật chất hữu hình, có thể sờ mó, cầm nắm; rồi đặt để những “thứ” đó như mối bận bịu, níu bám thu hút tháng năm dằng dặc và lên danh sách ưu tiên ngay lập tức.

Thậm chí, thật khủng khiếp, không có gia đình, bạn bè và các mối quan hệ thân thiết thì mọi thứ còn lại sẽ rốt ráo là những xao lãng, rối trí, tiêu khiển và quấy rầy hết sức trống rỗng mà thôi.

Thay vì ám ảnh tột độ với tài khoản ngân hàng, hãy kiểm tra các ưu tiên của bản thân trong ngày.

Đảm bảo chắc chắn mọi người liên hệ xung quanh biết rằng mình mong muốn chăm sóc, quan tâm đến họ.

Tìm thời gian dành cho tình yêu thương.

Đó, là thứ duy nhất chúng ta không thể sống thiếu.

Chi phí phải trả càng đắt đỏ, lời khuyên càng có giá trị

Bất luận là lĩnh vực nào trong cuộc sống, có vẻ chúng ta hầu như rất thích nghe lời khuyên đắt giá.

Thực tế, có không ít người sẵn sàng trả tiền cho ai đó ngõ hầu hưởng lợi từ sự khôn ngoan của đối tượng. Bất luận chất lượng của lời khuyên ấy ra sao, đoan chắc đây là sự thật: việc người ta phải trả tiền để có nó, chứng tỏ nó rất đáng được xem xét, chú ý tới một cách thấu đáo.

Chí ít, nghiên cứu này cho thấy rằng chúng ta càng rất thích sử dụng lời khuyên mà mình phải bỏ tiền ra hơn là lời khuyên miễn phí, ngay cả nếu chẳng có sự khác biệt nào về chất lượng giữa hai nguồn.

Theo đó, sinh viên trả lời các câu hỏi về lịch sử Hoa Kỳ, và nhận một giải thưởng be bé bằng tiền mặt cho những câu trả lời đúng. Các sinh viên hoặc tùy chọn nhận lời khuyên cho những câu trả lời đúng, hoặc họ bị ấn buộc phải nhận lời khuyên. Đôi khi lời khuyên này miễn phí; lúc khác thì phải trả tiền với những sinh viên không giành được chiến thắng. Điều cơ bản ở đây, lời khuyên luôn luôn xuất phát một nguồn như nhau– sinh viên nhận được trong dạng thức câu trả lời đến từ một phiên dẫn dắt cho cùng một câu hỏi– vì vậy, chất lượng lời khuyên tuyệt không hề thay đổi, dù nó đưa ra miễn phí hay phải trả tiền.

Kết quả nghiên cứu phát hiện thấy, những người tham gia rất thích chọn loại lời khuyên mà họ phải trả tiền, hơn là lời khuyên được cho không, dù họ biết rõ ràng là lời khuyên cùng một chất lượng. Nghiên cứu cuối khẳng định, loại lời khuyên càng đắt tiền, càng được các sinh viên chọn lấy.

Nghiên cứu trên có thể lý giải bởi một hiện tượng mà trong lý thuyết ra quyết định hay được gọi là sự ngụy biện của chi phí chìm, đắt đỏ.

Đây là ước muốn của chúng ta nhằm bào chữa cho những đầu tư đã tiến hành từ quá khứ thông qua hành vi ứng xử trong hiện tại và tương lai (giờ thì hiểu tại sao đôi giày mắc tiền chúng ta mua cứ nằm mãi dưới ngăn kệ).

Với trường hợp lời khuyên nhủ, dường như chúng ta cảm thấy bị cưỡng bức phải dùng sự hướng dẫn, chỉ bày mà chúng ta đã trả tiền tốn kém mới có được. Và dường như, nó giải thích tại sao lắm lúc sự lừa lọc, lường gạt lại có tác động mạnh mẽ đến vậy.

Nhắn (17): Người tài trí lưu ý

Và đây là là dòng chữ lật úp mạnh mẽ nhất: sự thông minh dường như khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hẳn đi. Các khoa học gia đề nghị sinh viên tiến hành bốn thang đo “mức độ tinh tế về mặt nhận thức”. Như họ báo cáo trong bài, tất cả bốn thang đo đều cho thấy các mối tương quan đồng biến, ” chứng tỏ rằng những người tham gia càng có mức độ tinh tế về mặt nhận thức bao nhiêu thì càng biểu lộ các điểm mù định kiến rộng rãi hơn bấy nhiêu.”

Xin đừng tự mãn, thỏa chí.

Bàng hoàng

Bàng hoàng

Đêm khuya giật mình biết mấy
Dáng bàng mùa đông đọa đầy
Lá rơi xóa hình ai vẫy
Chập chờn theo bóng tha phương.

Ban trưa trong mơ cỏ thấy
Người qua cánh đồng đẫm sương
Nhọc nhằn xác cây thức dậy
Vẫn xanh nhớ thương tháng ngày.

Ngồi nghe giọt sương ban mai ngã nhẹ xuống đời…

Sáng sớm nay, như bao ngày khác vận hành tự nhiên nhi nhiên, cuộc sống của mỗi một chúng ta có thể chính là điều huyền diệu đang xảy đến tựa như giọt sương chợt êm dịu đọng trên cánh hoa nhân duyên.

Cái thời khắc chuyển giao, biến hóa lặng thầm giữa bao la trời đất ấy mãi vẫn được thực thi thủy chung qua thoáng bật khẽ của chiếc lá rẩy run, lúc ngọn cỏ đón nhận mấy dòng óng ánh để xôn xao vươn dậy, và lòng người chầm chậm uống vào quà tặng bình minh trinh nguyên trao cho với mắt môi, da dẻ, hơi thở nhẹ nhàng, khoan khoái…

Là sự nhắc nhở đầy bao dung mải miết về mục đích chắc thật và cơ hội thường nhật của mỗi người chúng ta, làn khí tinh khôi khởi đầu của vạn vật bảo bọc xung quanh cứ nhẫn nại làm nhiệm vụ mời gọi nhu cầu chuyển hóa thân – tâm, qua giao điểm đánh dấu ranh giới giữa bóng tối và ánh sáng.

Có lẽ, khoảng không gian mênh mông trên cao xa xăm kia luôn luôn thuộc về nơi chốn dưới cõi trần gian thấp tè chung đụng này. Và đó cũng là lý do tại sao chúng mình trụ lại ở đây chăng.

Ngồi không thôi với những thức tình của bản thân và dần dần thấu hiểu mọi nhẽ ứ dồn, vướng mắc, đích thị sẽ giúp ta– trên hành trình hiện thực hóa– thanh thản thả bỏ bên vệ đường biết bao căng thẳng, phiền não bấy lâu quấy phá.

Cho phép mình quy thuận với nguồn năng lượng hết sức mạnh mẽ, ngồi cùng các cảm xúc là điều tốt nhất ta có thể làm cho chính đời ta. Bởi lúc tâm trí và thể xác kết nối, tin tưởng điều gì đến tất đến thì mình càng nhìn thấy rõ ràng hơn tầm quan trọng của việc cảm nhận những xúc cảm của bản thân đang lớn dần lên.

Chẳng hạn, nếu nỗi buồn đột ngột bừng phát, chúng ta có thể ghi chú sự hiện diện và chào mừng, xem xem ở đâu trong cơ thể cảm nhận, rồi cho phép chính mình biểu đạt nó bằng hạt lệ ứa hoặc một trạng thái yên tĩnh hướng vào lòng thẳm sâu.

Cho phép bản thân cảm nhận toàn vẹn những cảm xúc như khi nó đến, ấy là cách ta để chúng ra đi hết sức dễ dàng; vì mọi cảm xúc, rốt ráo chỉ muốn cất bước rời chân…

Một lần nữa, tất cả những gì thiết yếu là mặc kệ tiến trình thực thi bởi sự buông thư, cởi mở và đón nhận độ hào phóng của các cảm xúc. Do đó, nên nhớ điều duy nhất cần làm là cho phép cảm xúc đến và đi, như trái đất cho phép mưa rơi xuống lòng mình.

Đúng thế. Khi mưa rơi xuống, trái đất đáp ứng bằng vô vàn cách khác nhau; thảng hoặc dốc cạn ngõ hầu thiết lập một hẻm núi lớn, thi thoảng thấm đẫm để những mong nuôi dưỡng bạt ngàn cây cối…

Cùng điệu lối tương tự, mục đích sâu kín hơn của những cảm xúc là chuyển hóa bình địa chứa đựng thế giới nội tâm mình; thảng hoặc kiến tạo không gian để các cảm xúc trôi chảy nhiều hơn, thi thoảng cung cấp chất bổ cho sự trưởng thành…

Ngay cả vì lý do phức tạp, chúng ta lựa chọn những gì không phải là thứ tốt nhất cho bản thân– hàm ý có một phần nào đó trú ngụ trong mình chẳng muốn chữa lành– thì khi ngồi nghe giọt sương ban mai ngã nhẹ xuống đời, mình cũng nên từ tốn chiếu thứ quyền lực lung linh nhiệm mầu của khoảnh khắc quý giá vào những nguồn lực kháng cự cực đoan, và bình yên chờ đợi sự thay đổi tế vi.

Tại sao chúng ta lại phản ứng theo kiểu như thế?

Đâu là điểm khác biệt về một sự kiện gây căng thẳng khiến ai đó cảm thấy tức giận trong khi nó lại khiến người khác buồn bã?

Giống như một câu trả lời khi ta cảm nhận rằng, nhiều trường phái tư duy trong tâm lý học dựa trên quan điểm cơ bản này: một ý tưởng gây phản ứng khác biệt nhau do sự khác biệt ở mỗi cá nhân.

Nói khác đi, một sự kiện vốn không cố hữu là căng thẳng hay buồn bã; các phản ứng đâu tuyệt dành riêng cho mỗi sự kiện.

Văn hóa, trải nghiệm cá nhân, và những niềm tin, suy nghĩ và tâm trạng của cá nhân là vài ba khía cạnh thuộc bản sắc mỗi người có thể định hình các phản ứng.

Nền tảng văn hóa dễ tác động tới cách thức ai đó phản ứng với những trải nghiệm. Chẳng hạn, các nhà tâm lý học đã nghiên cứu thấy phương thức văn hóa không giống nhau tạo nên những phản ứng hết sức khác biệt đối với các sự kiện hàng ngày, tình huống xã hội, cái chết và thảm họa.

Các mẫu hình văn hóa hợp trội trong những biểu đạt cảm xúc và phản ứng của trẻ ở Hoa Kỳ, Brahman và Tamang khi chúng phải đương đầu trong những tương tác khó khăn. Một phát hiện khẳng định, trẻ em Tamang thường hay phản ứng với những tình huống khó khăn bằng sự xấu hổ; đối lập với trẻ ở Hoa Kỳ hoặc Brahman phản ứng bằng sự tức giận.

Dù chúng ta không thể thay đổi văn hóa khi chúng ta chào đời, song điều hữu ích là dần nhận ra phương thức kế thừa di sản truyền lại những tri nhận hoặc tình cảm của chúng ta. Những gì được học hỏi từ người khác và từ trải nghiệm riêng tư cũng góp phần định hình cách người ta đáp ứng.

Ví dụ, ai đó có bố mẹ hay biểu hiện giận dữ như kiểu phản ứng đặc trưng thì người ấy rất dễ lựa chọn sự tức giận như đáp ứng đầu tiên. Tuy thế, nếu kẻ khác là chứng nhân thấy bố mẹ mình trở nên căng thẳng hoặc than khóc khi đương đầu với các yếu tố làm tinh thần phiền muộn thì phản ứng của anh ta có thể khác hẳn.

Khi tích lũy kinh nghiệm ở đời, chúng ta dùng những gì thu lượm được với cả hai khía cạnh ‘kiến thức’ thuộc trí năng và cảm xúc để rồi áp dụng nó.

Các nhà lý thuyết theo cách tiếp cận cấu trúc và nhận thức- hành vi thường nghiên cứu cả hai lĩnh vực của tâm lý học mà ý tưởng cốt yếu họ chú mục vào là điều người ta mang tới một tình huống quyết định phản ứng của anh/ chị ta.

Các lý thuyết gia cấu trúc luận quan tâm cách thức con người ‘cấu trúc’ thực tại của anh/ chị ta, hoặc cách thức con người tạo nên ý nghĩa từ những trải nghiệm hàng ngày trong đời sống.

Lý thuyết cấu trúc cá nhân nhìn mỗi người như dạng một khoa học gia không ngừng cố gắng tổ chức và thấu hiểu, hoặc tạo nên ý nghĩa về những sự kiện diễn ra. Nên chi, theo lý thuyết này, ai đó nổi lên từ trải nghiệm sang chấn thời thơ ấu với hàng loạt những kỳ vọng cũng như cách đáp ứng cảm xúc và hành vi thì ứng xử khác biệt so với kẻ không trải nghiệm tương tự. Điều này cơ chừng tác động tới cách đối tượng sống còn từ sang chấn tương tác bên trong các mối quan hệ của anh/ chị ta.

Trị liệu nhận thức-hành vi là kiểu hay dùng cho các rối loạn như lo hãi và trầm cảm, dựa trên nguyên lý rằng, những niềm tin và suy tư của người ta định hình cảm nhận của anh/ chị ta về sự kiện.

Tỷ dụ như hai người đều được đối xử tồi tệ cùng một cách bởi đối tượng mà họ thích thú đầy chất lãng mạn.  Nếu một người tin rằng cô ta bị chối bỏ chủ yếu vì kẻ chối bỏ kia là người thô lỗ thì đa phần cô ta rất dễ biểu lộ bằng sự tức giận hoặc cáu gắt. Trái lại, giả sử như người thứ hai tin là anh ta bị chối bỏ do bởi sự kiện rằng anh ta vụng về hoặc thậm chí chẳng dễ thương tí nào. Phản ứng chính của anh ta có thể nghiêng theo hướng buồn bã hoặc tuyệt vọng (bởi sự thiếu hoàn thiện của bản thân). Đây chỉ là ví dụ về cách thức hệ thống niềm tin của chúng ta được định hình bởi kinh nghiệm, có thể tạo tác những cảm nhận này nọ.

Và giờ là lúc quay lại câu hỏi nguyên khởi, rằng hãy nhìn vào bên trong mình thay vì trông ra ngoài khi ta xem xét, cân nhắc các phản ứng trước sự kiện xảy đến trong đời. Mượn lời nôm na, chúng ta không thấy mọi thứ như chúng đang là mà chúng ta thấy chúng như chúng ta đang là…

Ý thức, cái lỗ đen và bộ não– câu chuyện mãi chưa có hồi kết rõ ràng

Đây là sự thật kỳ cục: mình khác biệt, như mọi người khác thôi.

Tại sao chúng ta hết sức muốn là duy nhất, đích thực không giống với bất cứ ai cả?

Hai nhà xã hội học mới đây tự đặt câu hỏi ấy và đi đến ngạc nhiên bởi những kết luận rút ra được.

Họ thiết kế một thực nghiệm đề nghị các sinh viên đại học viết về khoảng thời gian họ cảm thấy mình “khác biệt” (“distinct”) và “xa cách với nhóm” (“separate from the group”).

So sánh nhóm đối chứng là những người viết về một chủ đề không liên quan, các đối tượng bị xúi giục nghĩ về tính riêng biệt trên về sau lại háo hức kéo dài thêm những điều mà họ từng ao ước.

Phương thức của động lực vì tính riêng biệt ra sao so với các nhu cầu căn bản khác về thực phẩm, tình dục và yêu thương?

Đó là sự xoắn bện sâu sắc, song e là không phải theo những đường hướng như mình mong đợi. Chẳng hạn, các cá nhân chủ yếu nghĩ về sex thì khao khát tính khác biệt, đặc thù (distinctiveness). “Chúng ta có thể [không] thảo nhanh, viết dài hơn về ‘động lực thôi thúc vì tính khác biệt’ chỉ vì cái thói quen bấp bênh (insecure) ở lứa tuổi dậy thì, mới lớn thôi. Chính ra, đấy dường như là thành phần khá thiết yếu của người phương Tây– nó giải thích tại sao có một sự mắc bận mê mải (engaged) ghê gớm vào cuộc đổi trao, trò chuyện thấm đẫm chất tâm lý về những tưởng thưởng liên quan tới thức ăn và tình dục“.

************

Mình khác với bộ não của mình.

Các nhà khoa học và triết gia dần cùng bắt đầu nhận ra rằng những lý thuyết về tâm trí người đã thất bại trong việc giải thích cách thức chúng ta thảo luận, bàn về thế giới.

Các ẩn dụ chúng ta sử dụng để mô tả môi trường xung quanh mình không đến từ sự phân tích lý tính hoặc thuần toán học những hiện tượng. Hơn thế, cách thức chúng ta trải nghiệm thế giới đặt để cách thức chúng ta suy tư về nó. Từ hồi còn thơ bé, tỷ dụ, chúng ta gắn kết trạng thái ấm áp (warmth) với sự an toàn– tấm lòng ấm áp của mẹ, bình sữa nóng, cái chăn ấm, v.v…– vì vậy, chúng ta mô tả nhiều thứ chúng ta tin tưởng thuộc về trạng thái ấm áp, chẳng hạn “Tôi bắt đầu có thiện cảm với (“warm to”) anh ấy”.

Nhị nguyên luận của Descartes gần đây buột thốt ra về lý thuyết máy tính của tâm trí khi nhìn nhận bộ não như một cái máy tính toán hữu lý. Nó có tác động trong việc chúng ta hiểu biết về các máy tính và cách thức tâm trí có vẻ ra lệnh (order) cho thế giới bằng các tiến trình tương tự.

Song càng ngày chúng ta càng nhận ra những trải nghiệm cá nhân, sự chia sẻ thông qua các cộng đồng khác nhau cũng làm ảnh hưởng tới cách thức chúng ta nhìn nhận và mô tả thế giới. Chẳng hạn, các đối tượng tham gia nghiên cứu khoa học thường nghiêng về phía trước khi họ nghĩ tới tương lai, do đó chúng ta liên kết tương lai với điều gì ‘ở phía trước’ (‘forward’).

Mô tả đơn giản nhất về cái lỗ đen (black hole) là một vùng không- thời gian, nơi không hề có phản xạ ánh sáng nào và cũng không có không gian gì cả.

Mô tả đơn giản nhất về ý thức (consciousness) là một tâm trí (mind) thấm hút nhiều thứ và tham dự một vài điều trong đó.

Cả hai khái niệm trên đều không thể nắm bắt hoàn toàn định tính được. Cùng nhau, chúng gợi nên triển vọng (possibility) hết sức hấp dẫn rằng không gian bao quanh chúng ta thì vô cùng (endlessness) và tính vô tận về mặt thời gian.

Song chúng ta bất lực trong việc túm níu các phương tiện phi vật chất (immaterial means) mình đang mắc kẹt để tạo ra các kết luận, liên tưởng thoải mái, nếu chúng ta muốn bất kỳ thấu hiểu nào về điều không ai biết cả (the unknown). Đó là lý do tại sao chúng ta nói một cách mù mờ và mang tính ẩn dụ về tri giác “buộc phải định rõ” và “săn tìm các vật chất tối” (khả năng là một loại lỗ đen nguyên thủy). Sự tồn tại của các lỗ đen đầu tiên được giả thuyết một thập niên sau khi Einstein đặt nền tảng lý thuyết về chúng trong lý thuyết tương đối, và cụm từ “lỗ đen” không hề xuất hiện trước 1968.

Cũng thế, ý thức hãy còn như một khái niệm lảng tránh, bất chấp phát minh gần đây về chụp ảnh chức năng (functional imaging)– cho phép các khoa học gia hiển thị hóa các vùng miền trong bộ não– bây giờ chúng ta dễ chừng không hiểu tốt hơn những gì từng biết. “Hiện tại chúng ta tiếp cận [ý thức] có vẻ khác biệt hẳn so với trước đây nhờ nhiều công cụ mới mẻ,” khoa học gia thần kinh Joy Hirsch phát biểu.

Các vấn đề [chúng ta đặt ra] trở nên ngày càng tinh tế, phức tạp hơn rất nhiều và chúng ta dần tinh tế trong cách thức đặt câu hỏi,” bà nêu thêm– song chúng ta còn khuya mới có khả năng giải thích cách thức các vùng miền của não bộ tương tác để tạo nên suy tư, mơ mộng, và tự nhận thức (self-awareness). “Dưới góc độ am hiểu mà nói, việc ý thức đến từ sự liên kết các họat động xa xôi của bộ não với nhau vẫn còn tiếp tục thuộc điều mà các triết gia gọi là ‘nan đề’ (‘the hard problem’)”.

Độc giả nghĩ sao? Liệu não bộ có tạo nên ý thức? Rằng, nên chăng phân biệt giữa ‘nan đề’ chưa có lời giải với ‘vấn đề mềm’ (soft problem’) thì mang tính hữu dụng, hoặc thu hẹp lại câu chuyện? Chúng ta sẽ hiểu biết một cách thực nghiệm nơi ý thức sinh thành và đường hướng làm việc của nó?

Khi cơ thể ta ở tư thế nằm…

Bộ não chúng ta có thể xử lý sự tức giận hoàn toàn khác biệt phụ thuộc vào chuyện ta đang đứng hay nằm, theo một nghiên cứu trên Psychological Science; điều này cũng khởi tạo nhiều ứng dụng đáng lo trong nỗ lực hiểu biết chức năng của bộ não.

Các thực nghiệm về sự tức giận khi đo dấu hiệu điện não (dùng EEG) hoặc hoạt động thần kinh thay thế bằng xung điện từ (dùng TMS) đã phát hiện ra rằng, thùy trán trái (left frontal lobe) bị kích hoạt hơn hẳn thùy trán phải, mặc dù các nghiên cứu sử dụng máy chụp chức năng cộng hưởng từ fMRI không nhận ra sự khác biệt nào.

Hai nhà tâm lý tiến hành đề tài tự hỏi phải chăng bộ não có vẻ biểu hiện rất khác biệt như vậy qua EEG và TMS là vì những người tham gia thực nghiệm thường đứng thẳng, trong khi chụp fMRI thì đối tượng nằm duỗi lưng.

Nếu sự kiện trên phản ánh nét phân biệt chẳng đáng kể, đích thị lại tồn tại vài ba lý thuyết ẩn bên dưới. Chẳng hạn, lĩnh vực nghiên cứu về ‘nhận thức hóa thân’ (‘embodied cognition‘) phát hiện  thấy rất nhiều tương tác kỳ cục giữa cách thức tâm trí và bộ não xử lý các đáp ứng– phụ thuộc vào những khả thể của hành động.

Tỷ dụ, chúng ta tri nhận khoảng cách sẽ ngắn hơn khi có một công cụ trong tay và dự tính dùng nó, và  đeo ba lô nặng dễ khiến mình cảm thấy các ngọn đồi cơ chừng dốc đứng hơn.

Tức giận là thí dụ chính yếu cho việc ta cảm thấy bị thôi thúc để ‘làm điều gì đó’. Ở tư thế đứng, mình hầu như sẵn sàng tiến dần ngay tới điều gì gây khó chịu, hơn lúc mình nằm duỗi lưng; và các nhà nghiên cứu băn khoăn chưa rõ liệu các tư thế cơ thể này có phải đang tương tác với động cơ của bản thân chúng ta khiến thay đổi đáp ứng của bộ não.

Để kiểm tra giả định, hai tâm lý gia Harmon-Jones và Peterson đề nghị 46 đối tượng tham gia thực nghiệm viết một tiểu luận ngắn trước khi họ tiến hành đo điện não EEG.

Sau đó, những người tham gia thực nghiệm đeo tai nghe để nghe khi ai đó khác đọc tiểu luận của họ rồi đánh giá các đặc tính của tác giả như sự thông minh và năng lực cá nhân. Một số nằm lắng nghe, số khác thì nghe lúc đang đứng.

Điều mà các đối tượng tham gia thực nghiệm không hề hay biết là ‘kẻ đánh giá’ vốn được ghi âm sẵn trước, và trong khi một số người nghe bình luận ôn hòa, tốt lành về tác phẩm của họ thì số khác lại nghe ‘kẻ’ khác phỉ báng và đánh giá cay nghiệt đối tượng cũng như nhân cách của họ.

Phù hợp với lý thuyết ‘sẵn sàng đáp ứng’, khi những người tham gia thực nghiệm tức giận và đang ở tư thế đứng, thùy trán trái bị kích hoạt nhiều hơn hẳn so với thùy trán phải song khi họ tức giận lúc đang nằm, chẳng có sự khác biệt nào giữa hai thùy trán.

Như thế, các phát hiện cung cấp bằng chứng tư thế cơ thể tương tác với các tiến trình xử lý cảm xúc của bộ não, có lẽ phụ thuộc vào những hành động nào khả dĩ biểu hiện ngay lập tức.

Quan trọng hơn, thực nghiệm còn cho thấy các kỹ thuật khoa học thần kinh có thể đưa ra kết quả không giống nhau do đòi hỏi khác biệt ở tư thế cơ thể khi tiến hành các kiểm tra, đo lường.

Riêng phần tôi, đọc nghiên cứu này lại càng hiểu thêm tại sao để moi sạch và biết tuốt thông tin cần nắm vững ở đối tác, phụ nữ hay dùng chiêu ngủ với đàn ông; thực tế, phái mạnh có thể cắn răng chịu đựng nhục hình mà tuyệt không bao giờ khai báo trước kẻ thù gian ác, song họ đã dần dần phun ra hết lúc có hành vi tính dục với chị em. (Hy vọng, đây không phải là bí mật siêu phàm rỉ tai nhau trong giới đàn bà).