“Bao giờ cho đến tháng Ba”…

Tím thẫm không âm thầm chết lịm
Tím thẫm không âm thầm chết lịm

“Bao giờ cho đến tháng Ba

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng

Hùm nằm cho lợn liếm lông

Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi

Nắm xôi nuốt kẻ lên mười

Con gà, be rượu nuốt người lao đao…”

Bạn chắc từng một lần nghe, thậm chí thuộc lòng bài đồng dao quá ngược đời và nhố nhăng như vậy rồi đó mà.

Đó là ví von vần vè khá xưa cũ kèm chất cà tửng được tôi cố ý lấy làm minh họa cho một luận điểm hết sức đúng đắn đậm tinh thần nghiêm túc thời đại rằng, sự thật tự thân nó chẳng biện hộ, nói lên được điều chi cả. Và đó quyết không phải là điều nói dối đâu!

Huyền Chíp, cuốn sách của cô í và những phát biểu, bàn cãi thuận, chống của hơn hai bên lại là một ví dụ thời sự cho điều thượng dẫn; thậm chí, nó còn có thể sử dụng để cho ta hiểu ra điều trần trụi vừa  đau đớn vừa đáng cười phá lên này: hiếm khi có một sự thật duy nhất.  Nhân tiện, trên tinh thần yêu quý TED, tôi khuyến cáo bạn dành thời gian xem clip do Chimamanda Ngozi Adichie trình bày (ngay bên dưới hình ảnh là bản dịch tiếng Việt).

Câu chuyện cô gái da nâu mới đôi mươi xách ba lô kèm 700$ qua 25 quốc gia hình như cũng góp phần làm cho một tuyên bố khác bị mất tác dụng. Ý là, thông qua sự tham gia ngộ nghĩnh của cả ông lẫn bà giáo sư, phó giáo sư thuộc hai chuyên ngành khác hẳn nhau trong các cuộc gặp gỡ truyền thông, báo chí, chúng ta nhận ra sự phản phé chết người: khoa học không hề trung lập về mặt chính trị. Đây là lập luận chứng minh sự tương phản gây tê tê, trên một chút buồn nhẹ ấy: mọi thứ về khoa học hiển nhiên sáng rõ là mang tính chính trị. Điều này bao gồm các kiểu câu hỏi được đặt ra, phương pháp luận đặc thù dùng nhằm cố gắng phát hiện các câu trả lời, và bối cảnh xã hội được sử dụng làm khung tham chiếu cho các phát hiện. Một khoa học gia nói rằng ông/ bà ta ‘khách quan’ thì kỳ thực hoặc là nhân vật ấy dối trá hết sức điệu nghệ hoặc không hề nhận ra cách thức định kiến của bản thân đang tác động đến công việc mình tiến hành như thế nào. Cả hai khía cạnh ấy đều là thứ trường hợp kịch bản tồi tệ nhất (!). Từ viễn tượng của khoa học tiêu dùng, các khoa học gia cần 1. nhận thức về các định kiến của bản thân (tương thích với chủ đề nghiên cứu), và 2. hoặc tán trợ việc chắc chắn định kiến của họ không được tòi ra trong phương pháp luận nghiên cứu/ viết xuống, hoặc phải minh bạch về định kiến của họ đủ để các độc giả có thể tạo lập một ý kiến, quan điểm mang tính am hiểu.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Theo truyền thống phim truyền hình nhiều tập của nhà đài VTV, những dây dưa dính mắc vẫn còn chưa thôi diễn bày tội nợ. Một cách tình cờ mà định mệnh, bỗng dưng câu chuyện của Huyền Chip và cuốn sách kể lại chuyến lêu bêu dọc ngang thế giới đã trở thành đề tài học thuật thú vị thu hút các tinh hoa xứ Việt khắp hang cùng ngõ hẻm, kể cả kẻ còn đang dùi mài kinh sử ở xứ người hay hằng hà sa số vị đang hưởng lợi nơi quê nhà dấu yêu sau khi từ ngoại quốc trở về: khoa học tuy tiếp tục là trò chơi hay nhất tại thành phố, thủ đô song các phát hiện nghiên cứu tự thân chẳng chứng minh đúng đắn được vụ chi cả.

Thoát khỏi bối cảnh phù hợp, các tuyên bố rất dễ xiển dương điều xấu xa bất chấp dự tính tốt lành của người phát ngôn; không có bối cảnh, kết luận tưởng chừng tuân thủ logic nghiêm ngặt lại góp phần nảy nòi hậu quả là khiến cho chuyện rời bỏ bối cảnh ‘thấm đầy sự thật” trở thành thứ phá hoại và hoàn toàn bất công.

Đọc đến đây mà bạn vẫn còn tỉnh táo thì tôi chỉ xin thêm lời cuối rằng, một tuyên ngôn chống lại sự thật như trên không hề chứa đồ dối trá tí nào đâu.

Này đây, khoảnh khắc ấy…

Này đây, khoảnh khắc ấy; vừa hiện lên đã tàn, lửa cùng tro tản mạn, tâm trí vờ thơ ngây...
Này đây, khoảnh khắc ấy; vừa hiện lên đã tàn, lửa cùng tro tản mạn, tâm trí vờ thơ ngây…

Mỗi một thực tại sinh khởi đều bởi những nhân duyên riêng.

Ý tưởng ấy nảy nòi và xuất hiện trở lại khi đọc bài tường thuật của Hoa Học Trò. Một thực tại như thật, sự thực theo cách bạn muốn nó hiển thị trong tâm trí mình và trong tâm trí độc giả. Và ngay cả thế, tự thân nó không hề đích thị tồn còn nguyên tính.

Đó không phải là một thoáng chốc có chút hẫng nhẹ (sic !) mà thiệt tình hơi vương buồn lạ. Cái nỗi niềm do trực nhận những diễn bày lên xuống, tới lui của danh – sắc.

Nó cũng chẳng khác chi bao lần kỷ niệm chốn kia. Một dịp cho muôn vàn cơ hội chúng ta nói hoài nói hủy mà mãi chưa thấu triệt rồi kiểm soát nổi về cái gương và chiếc loa; dĩ nhiên, trực chỉ cụ thể sắc sảo hơn đến facebook và twitter đó.

Đến và đi, tới và lui, xuất hiện, nảy nòi rồi rớt xuống, biến mất, lại tòi ra… Sức mạnh của nó rung lắc qua về trong nhịp điệu và sự kiên định.

Điều chắc chắn: thời gian luôn luôn trôi qua. Giữ việc rung lắc càng dài, chúng ta càng dễ nhận được các cơ hội mới mẻ mỗi khoảnh khắc ở đời. Ngay cả lúc khoảnh khắc liền vụt biến mất, luôn có một khoảnh khắc khác lập tức ẩn bên dưới. Nếu mình làm các khoảnh khắc tối đa nhất, thời gian sẽ dài lên hơn là băng ngang; nó khiến trái tim mình hòa điệu, hài âm và cảm thấy hạnh phúc.

Phát hiện nhịp điệu trong những xáo trộn, hỗn độn. Định cư, lắng đọng và không ngừng chuyển vận trong những khoảnh khắc. Có những khoảnh khắc để nhớ và những khoảnh khắc để quên, song gì gì thì luôn luôn có những khoảnh khắc đặng cho mình cơ hội thử lại lần nữa.

Đời sống chỉ thế thôi: tới lui, một số tốt và một số xấu. Dẫu vậy, khi nhìn sâu vào dao động và  lắc lư của bản thân, hãy để phản ánh chiếu rọi ánh sáng và khiêu vũ với những thứ ấy xung quanh mình;  trạng thái hiện diện của chúng ta săn đuổi bóng tối cho những điều mình trân quý. Bằng hữu, gia đình và không loại trừ người dưng giác ngộ tình cờ, tất thảy nhận ra vẻ đẹp trong hiện thể của riêng bạn.

Yêu thương là vô hạn định như con lắc dao động kỳ cùng thì thôi; tính đếm từng khoảnh khắc.

Quay về lúc sơ giao thiệt tươi mới tựa khi lần đầu mình mê mải diễn bày nó. Giác ngộ là trạng thái và nơi chốn đáng sống; bất luận nguồn lực mình ra sao, đảm bảo chắc chắn nó đang trợ giúp mình phát triển hiểu biết thật rõ ràng, rốt ráo. Săn đuổi bóng tối; nhìn vào gia đình, bằng hữu và niềm tin đặng duy trì cho ngọn lửa nội tâm ấy bừng sáng mãi.

Một trong những ý tưởng cần xiển dương và góp phần làm lan tỏa giá trị: để vươn chạm tiềm năng của não bộ, chúng ta cần giảm thiểu, bớt đi sự “cải thiện” cá nhân.

Trước mắt, ở đây và tại khoảnh khắc này, nhờ thông qua cái thấycái nhìn.

Tôn trọng nhân phẩm và phát triển tính cách khác biệt: định kiến đến từ đâu ?

Muôn màu vườn hương hoa, luôn thấy mình khác biệt, yêu thương đời da diết, lời nâng niu hiền hòa
Muôn màu vườn hương hoa, luôn thấy mình khác biệt, yêu thương đời da diết, lời nâng niu hiền hòa

Chết mất thôi, làm sao một người khá già cỗi và hơi lớn tuổi rồi như tôi lại có cớ để tiếp tục nhắc đến thiệt đàng hoàng cô nàng Lê Thị Huyền Anh, tức bà Tưng, thêm lần nữa đây (?!)

Mùa thu giời đất thay áo nên quá dễ khiến thiên hạ rạo rực cùng bà Tưng. Dường như việc nêu câu hỏi và đọc lủ khủ hồi đáp có thể giúp ít nhiều đi đến nhất trí với nhận định rằng việc xử lý ‘bà Tưng’ là thành tựu năm 2013 của văn hóa nước nhà. Bởi bên dưới tâm tình có vẻ đoạn cuối của nhân vật là vô vàn hỉ nộ ái ố của thiên hạ sục sôi như dịp may tuôn trào thang bậc cảm xúc…

Trước hết, thật kinh khủng với các tiêu đề và tít giật liên quan. Mặt khác, ngay cả cái Ngày Cực Khoái của Chị Em thật tự nhiên thuộc quyền con người thế mà mới đầu cũng được cánh báo chí nước nhà chuyển ngữ thành là “Ngày quốc tế phụ nữ tự sướng’ thì quả là đàn ông An Nam nhiều chuyện ghê (!).

Ôi, nhẽ nào chuyện ấy biểu tỏ phản ứng dân chủ của cánh chị em trước thảm trạng buồn khổ nghẹn ngào của đàn ông chăng; chưa nói, không ít vị chức danh này nọ sao thật dịu dàng gán nhãn vô tư ‘bán thân cho mạng‘, tuyên bố nhẹ tựa lông hồng rằng đấy là ‘sản phẩm hỏng của thế giới mạng’, v.v…

Sống trong thời đại bão hòa về mặt truyền thông ngày nay, chúng ta dần nảy nở cảm thức quen thuộc rằng cuộc đời mình dành quá nhiều cho việc quản lý cách cá nhân xuất hiện và ‘làm hàng’, và bi kịch thay, đa phần chúng mình vẫn đang tiếp tục thích thú loay hoay tìm cách cắt bỏ bản thân khỏi cái đám tuyền thô tục ghê gớm, tầm bậy tầm bạ và hợm hĩnh không ngừng khoe mẽ ngoài kia.

Nhìn sâu xa và dài rộng vào kiểu lối của nền văn hóa giải trí theo hướng thư giãn, ‘bình thường như cân đường, hộp sữa’ ngày càng dần hống hách kiểm soát đời sống ngày nay, tất không khó đi đến nhận định rằng thú tiêu khiển và ước ao nổi tiếng là cặp đôi chủ yếu thực tế dạng háng cứ thôi thúc thu hút mắt nhìn và sự chú ý kịp nuốt nước bọt của mỗi chúng ta.

Dĩ nhiên, cô gái mang biệt hiệu “bà Tưng” í chẳng làm gì nên tội nếu tòa án chưa phán quyết gì, và ai đủ tư cách để dạy dỗ, xỉ vả, miệt thị hay đơn giản bàn luận nghiêm trang về tư cách hay lối sống đạo đức của một người đây?

Làm ơn đừng đổ oan. Internet, các ứng dụng chết người như Youtube, facebook hay các hình thức truyền thông xã hội, di động khác không là động lực cho trạng thái khát khao nổi tiếng này; đích thị, nó chỉ thổi phồng, phát tán thêm thôi. Mỗi một tiến bộ về công nghệ hiện đại tưởng chừng có thể góp phần đánh bật tài năng còn nằm im kín bưng trong ta, hoặc thông qua các cặp kính đen quyến rũ hay vô số bức ảnh đẩy lên cấp tập mà chúng ta bỗng dưng, một hôm đẹp trời, tự chẩn đoán mình mắc phải rối loạn ám ảnh cưỡng bức (OCDs).

Xin kiên nhẫn lắng nghe kỹ càng, chớ vội vàng ngắt lời tôi. Hiện tại, thật đáng xấu hổ nếu mình là cô độc giả, kẻ vô danh tiểu tốt, nỏ ai nghe tên bao giờ. “Cháu muốn được nổi tiếng”, “tôi sẽ thành công và giàu có”, “mình muốn trở thành nhân vật ABC”, v.v…

Bởi vì ngày nay “nổi tiếng” trở thành một từ giả tạo, rẻ tiền, hổ thẹn, bẩn thỉu và xấu xa. Nó được dùng để chỉ những người không có tài năng đích thực hay thành tích tuyệt vời, thay vào đó là họ thừa khôn ngoan nhằm gây sự chú ý, được biết tới, vinh danh bởi cứ 15 phút thì lại nổi lên, trương phình, hiện hình trên mạng với đủ thể loại triết lý, già không đều, ngây thơ mắt chớp chớp hoặc khoác áo đen đóng vai kẻ sầu muộn mang vác thập tự giá cứu rỗi cho toàn thể nhân loại, v.v…

Do đời vốn tào lao nên may mắn thay, vẫn còn có góc cạnh khác của cái gọi là “nổi tiếng” ấy. Tựa như con đường chẳng rõ rốt cục sẽ dẫn về mô, đâu là đích đến; chiếc tàu trùng trùng hoành tráng hạ thủy mà chả thèm có bánh lái; nổi tiếng chỉ để nổi tiếng khơi khơi vậy thôi.

Song tôi tin, sự nổi tiếng ấy mang chứa theo cùng nó một lịch sử; một sự bền vững thuộc khái niệm, lý thuyết nhằm duy trì cho nguyên cớ, hữu lý nhất định nào đó. Chẳng quá ngượng ngập lắm, bởi cơ chừng nó ẩn hiện trong ADN của mỗi chúng ta.

Nên chi, ngay cả khi đứa bé con kia chẳng hề biết nổi tiếng để làm gì hay một người phụ nữ trưởng thành nọ không hiểu rõ làm thế nào để giàu có đi nữa thì cơ chừng, cái vô thức tập thể của họ có thể lấp đầy vô vàn khoảng trống còn bỏ ngỏ.

Chúng ta ngoài cuộc, vô can, dính dáng vụ này không nhỉ. Nhân tiện, chắc hơn một người muốn biết– giờ đây, tại nơi chốn này– bạn đang làm gì trên mạng?

(còn tiếp)

Chuyện “Bà Tưng”, chó, mèo, và facebook

metta
metta

Vậy là như một tin tức và hiện tượng nóng bỏng từ dạo kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6 vừa rồi, không phụ lòng người hâm mộ và làm lượng bình luận thêm tăng vọt, nữ sinh viên đang học ở Saigon đến từ xứ Nghệ đã kịp đẩy lên facebook clip mới nhất trong trang phục y tá mang nhãn hiệu “Bà Tưng“.

Cô gái có thân hình gợi cảm, tâm tư ham vui và hành vi khiêu khích trên còn khiến dân mạng dự đoán sẽ sớm là Maria Ozawa của nước nhà.

Chỉ báo tốt nhất cho hành vi trong tương lai là ứng xử của quá khứ; người đời hay phán thế, họ tin chắc điều quá chừng hiển nhiên như đinh đóng cột vậy, và nghĩ kết chuyện rồi.

Lối suy tư nghe coi bộ khó phủ quyết được này, tương tự không ít mặc định mang thói quen khái quát hóa đơn giản hết sức đời thường khác, chẳng hoàn toàn đúng.

Các nhà khoa học tâm lý nghiên cứu hành vi con người đồng ý rằng ứng xử trước đây là dấu chỉ hữu dụng cho hành vi tương lai, song chỉ dưới một số điều kiện đặc thù nhất định:

– Các hành vi lặp lại, theo thói quen với tần suất cao thì càng dễ dự đoán hơn các hành vi không xảy ra thường xuyên.

– Các dự báo, đoán định tỏ ra tốt nhất khi các khoảng (intervals) thời gian ngắn.

– Tình huống dự kiến phải cơ bản giống tình huống quá khứ từng kích hoạt hành vi.

– Hành vi phải không bị làm cho lu mờ, át đi bởi phản hồi mang tính trừng phạt hoặc tiêu cực.

– Đối tượng phải giữ nguyên, không hề thay đổi.

– Đối tượng phải tỏ ra khá nhất quán trong các hành vi của anh/ chị ta.

Thử mở rộng hơn bối cảnh. Tưởng tượng một gã với loạt tội bạo lực vài năm trước, khi ở độ tuổi 20. Giờ hắn đang chơi ma túy trở lại và đàn đúm cùng bọn xấu. Thêm nữa, mắc loạn thần dạng kinh niên rồi.

Song nếu mình dự đoán bạo lực tương lai dựa trên tập hợp các yếu tố nguy cơ kể trên thì sẽ dễ sai lầm lắm. Nghiên cứu chỉ ra, chỉ tầm 4/10 các cá nhân bị đánh giá sẽ có hành vi nguy cơ bạo lực trung bình và cao là diễn tiến lại hành vi phạm tội bạo lực. Các tỷ lệ tái phạm bạo lực thấp sẽ chống lại mình.

… Hôm nay, thấy báo chí quốc nội nhắc tiếp các vụ “cẩu tặc”, “chó Việt Nam hạnh phúc nhất thế giới” (sic), song làm sao quên hình ảnh hàng nghìn người vây đánh kẻ trộm chó ở Yên Thành, và cứ rờn rợn về lối  lựa chọn thái độ đối phó cũng như khi truyền thông chính thống xiển dương phong trào bảo vệ trật tự- an ninh cộng đồng, thôn xóm.

Thực tế, người ta thường cố gắng giải thích cho bằng được những ứng xử sai trái, tệ hại ở trẻ em, chó mèo, thú cưng và những chủ nhân của chúng.

Trong những tình huống tinh thần căng thẳng, chúng ta nói chung dễ quay về với thói quen lâu nay. Nếu các thói quen này là xấu xa thì mình trải nghiệm những gì nhìn thấy như là sự thất bại của khả năng tự kiểm soát; song chúng ta cũng trở lại với các thói quen tốt nữa. Chúng ta không hề lưu ý những chuyện ấy như là trạng thái sẵn lòng, bởi vì các hành vi này hữu dụng.

Thực nghiệm càng chứng tỏ, quyền năng của thói quen trong hành động hàng ngày. Khi sự đời trở nên khắc nghiệt, đáp ứng tự nhiên là quay về với các hành vi từng mang mình vượt qua các tình huống khác trong quá khứ. Đó cũng là lý do căn bản đòi hỏi phải nhấn mạnh cách học phát triển các thói quen tốt lành.

Với nhiều người, loài chó gắn khít với cấu trúc gia đình họ cùng cách như trẻ em vậy. Có một mối ràng buộc ở đây, và thật là nhiều tình yêu thương, cảm xúc dành cho chó, mèo nói chung, và dĩ nhiên, nhất là với những gia đình vốn ưa thích chăm sóc loại chó, mèo đặc biệt.

… Và khép một vòng tròn về lại facebook, bởi biết bao lời đồn thổi, khen chê theo đủ khía cạnh, chiều kích, phía lề nảy nở nơi đây.

Có rất nhiều huyền thoại xoay quanh truyền thông xã hội và các quan hệ liên nhân cách của con người như giống loài động vật xã hội, dựa trên hai điều cơ bản.

Thứ nhất, nỗi sợ liên quan các công nghệ tân tiến. Thứ hai, giả định ngầm ẩn rằng cách thức xưa cũ tiến hành các điều, việc là cách thức “đúng đắn” và các lối mới thì quá cao cấp về mặt đạo đức. Cũng khá dễ dàng để thấy là hai kiểu dạng định kiến nhận thức như thế không xây dựng được nền tảng tốt lành cho việc lượng giá các công cụ mới.

Chẳng hạn, huyền thoại không khó phát hiện rằng truyền thông xã hội đang phá hủy các kỹ năng xã hội của chúng ta và dần thay thế các mối quan hệ không trực tuyến.

Thực tế, nhiều nghiên cứu khẳng định truyền thông xã hội củng cố các mối quan hệ (tham khảo sơ bộ ở đâyđây); tạo chất kết dính liên hệ cho những thời gian mặt đối mặt; hầu hết các trang truyền thông xã hội được dùng để tăng cường thêm các mối quan hệ hình thành không trực tuyến; mạng truyền thông xã hội có thể nối kết chúng ta với những người và cơ hội mà sẽ không thể triển khai được nếu không có nó.

Ngoài ra, cũng là huyền thoại khi cho rằng việc chúng ta hiện diện trên các mạng xã hội là cơ bản như nhau thôi; rằng không có mạng xã hội thì mình sẽ sống một cuộc đời tràn đầy và hạnh phúc; người ta không nói thật khi lên mạng, vào fb; quan hệ trên mạng là “không thật”, v.v…

Khi đang gõ những dòng này, tôi thấy trên fb xuất hiện đôi ba dòng trạng thái giới thiệu về một vụ án mạng mới được làm rõ nội tình với cảnh báo rằng đừng mời ai về nhà, cho ai biết địa chỉ khi ta không rõ tông tích của họ, đừng quá tin người…

Chắc chắn, những cảnh báo và khuyên nhủ, nhắc nhở nọ kia kiểu vậy là cần thiết và không sai trái gì, song sẽ thêm một huyễn hoặc nữa nếu cho rằng mạng xã hội không tạo nên điều gì tốt lành cả.

Chat chit về sự thật thà, chân thực (2)

Chống lại biểu hiện giận dữ bằng tình thương, thói tệ bạc bằng lòng hào hiệp, tính keo kiệt bằng phẩm chất rộng lượng, và sự nói dối bằng việc nói sự thật.

N: Nếu người ta nói kiểu nước đôi, em sẽ hỏi rõ ràng bằng được.

M: Điều đấy đòi hỏi kỹ năng, thiện xảo. Nó thúc người ta càng phải tỉnh thức với cái dự tính và phát ngôn.

N: Rốt ráo, là luật nhân quả. Nếu em không thành thật với người, làm sao em mong đợi người ta sẽ thành thật với em?

M: Quan niệm đúng đắn!

N: Mà em cũng thường hay nghĩ bâng quơ rằng, nếu người ta không thành thật với em, sao họ có thể mong em sẽ thành thật với họ cơ chứ?

M: Mình cứ làm một người thành thật và ngay thẳng trước, thế nào cũng hấp dẫn những ai tương tự. Trong khi đó, kẻ ít thành thật thì thu hút kẻ ít thành thật.

N: Rất thường, khi người ta phụ bạc lòng thành thật của mình thì mình cũng đánh mất lòng thành thật với họ luôn.

M: Chỉ bởi vì ai đó thiếu tin tưởng mình không có nghĩa chúng ta buộc phải mất lòng tin vào sự thành thật của họ. Có thể nói kiểu như, chúng ta không cần phải “hạ mình xuống dưới tầm mức của họ”. Tựa hoa sen vậy, cầu cho chúng ta không bị nhiễm trược bởi những phiền não của đời sống, để lòng mình vẫn nở đóa hoa tinh tuyền.

… Cần chú ý tới cả hai khía cạnh của việc nói dối. Khía cạnh tiêu cực là tiết chế việc nói dối, khía cạnh tích cực tiếp tục nói về sự thật. Yếu tố quyết định nằm bên dưới sự vượt qua chính là dự tính gạt lường. Nếu ai đó nói điều gian dối lại tin nó là sự thật, dự tính gạt lừa không biến mất, vắng mặt. Dù dự tính lừa gạt thông thường đối với tất cả tình huống nói lời sai trái, dối trá có thể biểu hiện nhiều chiêu bài, lốt vỏ khác nhau chủ yếu phụ thuộc vào động cơ nền tảng là do tham lam, thù hận hoặc vọng tưởng.

Tham lam như là động cơ cốt tủy sinh ra nói dối nhằm mục đích đạt được một số thuận lợi, tiến triển cá nhân cho chính mình hoặc vì ai đó gần gũi với bản thân– giàu có vật chất, địa vị, sự kính trọng, hoặc ngưỡng mộ. Với động cơ là hận thù, lời phát ngôn nhầm lạc là dạng nói dối hiểm độc, ác tâm, nói dối đặng làm tổn thương và hãm hại kẻ khác. Khi vọng tưởng là động cơ chính yếu, kết quả là một dạng ít độc hại hơn của tình trạng sai trái: nói dối phi lý, nói dối có xu hướng ép buộc, thích thú chuyện thổi phồng sự vụ quá mức, nói dối mang phong vị gây cười.

Việc phê phán nghiêm khắc sự dối trá dựa vào một số lý do sau.

Vì một lẽ, nói dối phá vỡ tình trạng cố kết xã hội. Người ta dễ sống với nhau trong xã hội khi có một bầu không khí tin tưởng lẫn nhau, nơi họ có lý do để tin người khác sẽ nói sự thật; do phá hoại nền tảng tin tưởng và tạo cảm ứng ngờ vực đám đông, nói dối lan rộng trở thành dấu hiệu báo trước tinh thần đoàn kết xã hội ngả sang hướng chao đảo, rối rắm.

Nói dối còn tạo nhiều hậu quả khác trong bản chất sâu thẳm riêng tư mà rồi ra đều gây nên thảm khốc nghiêm trọng. Bởi bản chất, nói dối thường dễ tăng lên, triển nở. Một lần nói dối rồi phát hiện lời mình đáng ngờ, chúng ta bị thôi thúc nói dối lần nữa để che chắn, gìn giữ tính đáng tin, tín nhiệm; để tô vẽ một bức tranh nhất quán về các sự kiện.

Vì vậy, tiến trình này tự lặp lại chính nó: nói dối vươn ra, hết sức phức tạp, và kết nối cho đến khi chúng khóa chặt chúng ta trong một cái cũi của những lầm lạc, sai trái khó vượt thoát nổi.

Do đó, nói dối là một hệ hình thu nhỏ cho toàn bộ tiến trình của sự ảo tưởng mang tính chủ quan. Mỗi một trường hợp kẻ tạo tác tự cam đoan, bị hút vào bởi chính sự lừa dối của bản thân, rốt cục làm tàn đời nạn nhân.

Chat chit về sự thật thà, chân thực

Người hỏi (N): Đôi khi em nói dối để bảo vệ sự riêng tư của chính em

Mình đáp (M): Có lẽ cô định thể hiện là mình không thoải mái với chủ đề trao đổi hoặc muốn thay đổi nó đi?

N: Đôi khi đúng là thế bởi vì em không muốn thảo luận vấn đề.

M: Cô có thể dùng cách vừa nêu, hoặc nói rằng mình mong sẽ trao đổi về nó vào dịp khác (khi mình đã sẵn sàng) chẳng hạn?

N: Đôi lúc đó là vì lợi ích của người hỏi, do họ có thể bị tổn thương hoặc bị rúng động khi nghe sự thật.

M: Cơ chừng cô có thể tiết lộ một phần sự thật mà vẫn cứ ổn thôi vào lúc đó, thay cho việc nói dối chứ? Và nói thêm phần còn lại vào dịp thích hợp.

N: Đôi khi, nói dối trở thành một phương thức hiệu quả để trả lời, và để chấm dứt bất kỳ câu hỏi thêm nào khác.

M: Vấn đề cơ bản của việc nói dối, ngay cả khi nó vô hại là chúng có thể tiếp tục dần dẫn tới mất luôn sự thật. Thử tưởng tượng một ngày, khi cô muốn chia sẻ điều gì đó rất quan trọng với người ta và họ không còn tin cô được nữa. Điều ấy có thể thật buồn lắm.

N: Đôi khi, người ta nói điều gì đó với thông tin sai lệch, và em cứ tiếp tục cuộc nói chuyện mà không thèm chỉnh sửa chúng gì cả.

M: Nếu cô chỉnh sửa người ta thật lịch sự, tôi nghĩ chuyện ấy sẽ được họ đánh giá cao đó.

N: Đôi khi, khi em cảm thấy người tham dự không thực sự muốn biết sự thật thì em sẽ nói dối, vì khi nói thật, họ có thể cảm thấy mình bắt buộc phải bày tỏ sự quan tâm, hoặc cảm thấy lúng túng nếu họ không đích thực quan tâm. Một ví dụ hay xảy ra là khi ai đó hỏi “Bạn thế nào?”, thường chúng ta đáp là “Khỏe!”, một câu trả lời phải lối thật lịch sự, không gây khó chịu cho ai.

M: Đúng, quả đó là chuyện rất thông thường. Gặp trường hợp í, tôi hay nói luôn cả câu là “Mình sống ổn” hoặc “‘Đời không đến nỗi nào”. Nó thành thật mà không cần bộc lộ quá mức cần thiết.

N: Đôi khi, em muốn nói thẳng là “mình không cảm thấy thích nói về nó”.

M: Khi cô nói điều đó cùng với nụ cười ý nhị, chuyện thường ổn. Nụ cười còn giúp mình giảm sự căng thẳng.

N: Đúng là hầu như đạt hiệu quả nếu làm như thế. Còn khi không được, em nói dối bằng cách đưa ra một câu trả lời làm người ta thỏa mãn, đủ để họ khỏi hỏi thêm!

M: Tôi nghĩ nên vận dụng lại phương pháp trên. Đôi khi, cô buộc phải nói cũng chừng đó từ, cùng cách thức như cũ đôi lần trước khi người ta nhận ra kịp nhận ra rằng không nên hỏi nữa, vì có thể nhận được câu trả lời tùm lum. Việc đó cũng giúp mình lái thông điệp của mình về đúng ý định luôn. Nhớ cười với lòng từ!

N: Đôi khi em tự hỏi mình có đang nói dối không đây nếu mình không kể ra hết toàn bộ sự thật.

M: Chỉ nói những gì cần thiết thôi là được mà– chừng nào những gì mình không nói ra sẽ không gây hại được.

N: Giấu giếm sự thật cũng là một dạng nói dối?

M: Nếu che đậy sự thật đặng đem lại lợi lạc hoặc bảo vệ người khác, và không phải che đậy để làm điều ác thì thường là chấp nhận được thôi.

N: Nếu ai đó hầu như lúc nào cũng nói dối em thì em sẽ lại im lặng và cứ tiếp tục câu chuyện.

M: Song điều ấy có phần không được từ bi cho lắm, vì nó khiến người ta tạo tác nên nghiệp xấu. Cô có thể đặt các câu hỏi một cách thiện xảo mà không gây ra sự thù hận khiến người ta tự động chỉnh sửa câu chữ của họ.

N: Biết thế, song nếu chúng em cãi nhau thì em lại tức chết đi được với những gì em biết về người ta.

M: Nghe như phát ngôn khá gay gắt? Giá mà có thể giải quyết vấn đề không cần phải tức giận lên.

N: Hậu quả, em sẽ không tin người ta nữa, và sẽ nghi ngờ người ta thêm với mọi chuyện người ta nói ra.

M: Tốt hơn giá mà khuyến khích người ta thành thật mỗi khoảnh khắc nắm bắt được mình đang nói dối.

[còn phần tiếp, sẽ bổ sung sau…]

Vì một người vừa nằm xuống…

Hôm qua, Stanley Karnow, sử gia Hoa Kỳ và tác giả của cuốn sách “Viet Nam: A History” (đại chúng chắc quen biết hơn khi xem trên TV bộ phim tài liệu “Việt Nam, thiên lịch sử truyền hình”) qua đời.

Thật buồn thêm, ngay tại chính nơi sinh thành đối tượng nghiên cứu của Stanley, nhạc sĩ Phạm Duy cũng vừa ra đi.

Tôi chợt thiển nghĩ, nếu ai chuyên tâm tìm hiểu khía cạnh niềm vui nỗi khổ của thứ dân Việt trên tiến trình cá nhân hóa trong các tác phẩm của vị nhạc sĩ lỗi lạc này, chắc chắn sẽ đem lại ít nhiều lợi lạc chung.

Vượt trên những muộn phiền, khổ đau rất thật và cũng hết sức hư ảo của thân phận người ly loạn, nhạc của Phạm Duy vinh danh thứ ánh sáng siêu tuyệt của ngôn ngữ và sử tính Việt; một kiểu tâm thức vô cùng quen biết, dung dị và mê muội cứ mải miết thuận theo độc lộ ngậm ngùi do mâu thuẫn nội tại buộc ràng phi lý… Điểm uyên áo ấy cơ chừng lại hiển lộ bất ngờ nhất trong loạt bài Tục ca.

Hồi quang riêng chung được phản chiếu tự nhiên khiến đất nước, dân tộc mình càng trở nên buồn đau miên man đồng thời cũng thấm đượm không ít phút giây sáng rỡ; một kiểu nghiệp chướng không thể không thức nhận đủ đầy để rồi cưu mang đặng còn kịp hóa giải nhân duyên tốt đẹp.

Không ai đích thực biết rõ, thấu hiểu tột độ một thứ gì. Dĩ nhiên, phát ngôn vậy, là tôi đang tham dự cuộc trò điêu toa, dối trá và dốt nát; bởi nào hay ho, hữu dụng chi mô hai điều dụ dỗ khá dở hơi: cả sự thích thú đã đặt định, hoàn thành ngay trước sự kiện; lẫn thói không ngừng phân tích dĩ vãng trôi qua…

Dự đoán và nhắm hướng tương lai, chúng ta hay tập trung làm việc dựng xây ý tưởng hoặc hình thành sản phẩm cho ngày sắp tới hơn là vì thời gian hiện tại, hôm nay.

Làm ơn hãy cho tôi biết ai đấy đã từng tiến hành việc gì đó rồi. Hy vọng, nhờ thế, sẽ luôn đi kèm mênh mông ngờ vực và nghi ngại.

Lần nữa, chiêu tuyết tha thiết cho người liệu có phần vận vào bản thân khó cưỡng?

Thiệt tình chưa rõ, song trước mắt, mời thư thái ngồi xem minh họa bằng clip.

Cầu chúc ấm êm, tốt lành và hạnh phúc cho tất cả– không cứ gì là người đang sống ngụ cư trên quê hương, ở quốc nội.

Facebook: Tự họa khuôn mặt và chân dung mình

Có thể, ai đó sẽ chợt nảy sinh câu hỏi khá kiêu kỳ: điều gì sai trái đang xảy ra vậy với những ai không dùng facebook?

Việc quan tâm tới những người không tham gia mạng xã hội và bị cho là thiếu thích ứng như thế là vô căn cứ và không công bằng.

Bởi cho dù chẳng sở hữu một tài khoản fb nào rất dễ bị xem là bất thường trong thời buổi bây giờ, các nghiên cứu mới nhất cho thấy những dân ghiền chơi fb vẫn ít nhiều gặp không ít  trục trặc liên quan sức khỏe tâm trí.

Chẳng hạn, một nghiên cứu từ Úc châu xem xét sự khác biệt nhân cách giữa người có và không có tài khoản fb (Ryan & Xenos, 2011).

Theo đó, người có tài khoản fb được phát hiện là nhiều cởi mở, hướng ngoại và tự yêu mình quá độ (narcissistic), trong khi những ai không có tài khoản fb thì nghiêng về hướng tận tâm (conscientiouness) và rụt rè, bẽn lẽn. Nhóm nghiên cứu còn nhận ra những ai không có tài khoản fb trải nghiệm nhiều hơn về tính cô độc xã hội (socialoneliness), song đối tượng dùng fb thì trải nghiệm sự cô độc ở gia đình.

Nhóm nghiên cứu cũng để ý tới thời gian vào ra fb mỗi ngày, thấy khoảng thời gian ấy tương quan thuận chiều với tính nhạy cảm (neuroticism) và sự cô đơn (loneliness), và tỷ lệ nghịch với sự tận tâm.

Các phát hiện vừa nêu có vẻ giông giống với một kết quả nghiên cứu so sánh người dùng fb và twitter, và họ phát hiện thấy rằng ai thích dùng fb thường hướng ngoại mạnh và cởi mở hơn, song cũng nhạy cảm và ít mang tính trí năng, so với người dùng twitter (Hughes và cs, 2012).

… Một cái nhìn thoáng qua thôi lắm khi, nếu quan sát kỹ càng thêm thì cũng nhận ra được biết bao thú vị, hấp dẫn xen lẫn rắc rối, thị phi như trò buôn dưa, đưa đẩy miên man giữa các bồ tèo với những khẩu chiến, tranh cãi dây dưa khi quan điểm đối nghịch…

Lần nữa, có thể những gì bạn đẩy lên fb chưa chắc phản ánh đích thực là chính con người bạn. Dù thế, mạng xã hội quen thuộc và thu hút người tham gia rộng khắp này bộc lộ cái tôi của bạn thật khá rõ ràng.

Chẳng hạn, đâu có phiền lòng ai với các tấm ảnh chụp hoàn hảo đầy huyễn tưởng mà mình muốn khắc họa chân dung bản thân theo cách thích người khác và cả bản thân mình nữa nhìn nhận chúng theo cách mong muốn. Bởi vì quá nhiều “bạn bè” thậm chí còn chưa nghe tên ngoài đời bao giờ, hoặc chưa từng nói chuyện trực tiếp nên chúng ta có thể lý tưởng hóa tấm ảnh và trình bày nó trước thế giới như một thực tại đích thực. Chúng ta đẩy chính mình lên, mỉm cười duyên dáng và phong cách quả quyết, sử dụng những tấm ảnh ưng ý nhất, kiến tạo sao cho đảm bảo bắt mắt và nghệ thuật nhất rồi trưng ra trước bàn dân thiên hạ…

Khuya rồi. Tạm dừng ở đây, bởi tôi cần kiểm tra thư điện tử và xem có ai tag mình không trước khi đi ngủ đã…

Quan hệ chàng – nàng và câu chuyện trên mạng xã hội

Công nghệ dính dáng bao nhiêu với đời sống cá nhân khi người ta gặp gỡ mặt đối mặt (offline), đó là câu hỏi chắc chắn thu hút nhiều nhà nghiên cứu khi các trang mạng xã hội ngày càng trở nên thân thuộc.

Chẳng hạn, từng có nghiên cứu phát hiện ra rằng cơ hội được nhìn thấy và chỉnh sửa lại thông tin cá nhân trên mạng xã hội (social media) làm tăng lên sự tự tôn (self-esteem) của người dùng, và truyền thông cùng với bạn bè trực tuyến (online) góp phần cải thiện sự gần gũi, thân mật cho quan hệ gặp mặt trực tiếp, ngoài máy tính. Tuy vậy, sử dụng mạng xã hội có thể bao hàm cả điều tốt lẫn điều xấu cho một mối quan hệ chàng – nàng lãng mạn.

Tác giả Papp và các cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu 58 cặp đôi hẹn hò và tìm hiểu việc sử dụng mạng xã hội cũng như cách thức họ thể hiện, trình bày hồ sơ cá nhân trên internet.

Giới nữ và giới nam tham gia thực nghiệm đều báo cáo các mẫu hình tương tự trong việc sử dụng mạng xã hội, từ chuyện quan tâm đến cho tới tần suất, cường độ truy cập, sự kết nối với những người khác ở các trang mạng khác nhau, và việc trình bày về quan hệ yêu đương của họ (tỷ dụ, thổ lộ tình trạng hôn nhân như “đang bắt cặp” [in a relationship] hoặc cô độc [single], và kèm theo cả hình ảnh đối tác của họ nữa).

Cách thức các cặp đôi miêu tả mối quan hệ lãng mạn của họ trên hồ sơ chứng tỏ tầm ảnh hưởng quan trọng của chức năng quan hệ. Thú vị nhất, cánh đàn ông thổ lộ mình đang bắt cặp, đã có nơi chốn rồi thường nói họ hạnh phúc hơn và người phối ngẫu, bạn tình cũng hạnh phúc hơn– so với những ai không khai báo gì.

Dẫu vậy, sự cởi mở, tỏ bày từ phía chị em rằng mình đang có người thương lại không liên quan với sự thỏa mãn trong quan hệ. Thứ đến, phụ nữ kèm cả các hình ảnh về bạn tình đã phát biểu họ hài lòng về mối quan hệ và có người tình hạnh phúc hơn– so với những ai không giới thiệu; trong khi đó, sự trình bày thêm hình đối tác ở các chàng lại không ăn khít với sự thỏa mãn trong quan hệ.

Khác biệt về giới như thế khẳng định, cả nam lẫn nữ đặt để không hề giống nhau về tầm quan trọng trong việc phô diễn công khai chân dung quan hệ của họ. Các lý lẽ, cãi cọ trong chuyện phô diễn hồ sơ cho thấy tình trạng có vấn đề ảnh hưởng tới hạnh phúc trong quan hệ nói chung, và nó dính dáng các chủ đề rộng hơn như ghen tuông, cam kết và quyền lực.

Cũng cần biết rằng, thời gian truy cập quá mức trên các trang mạng xã hội cho thấy một dấu chỉ của sự ghen tuông bên trong mối quan hệ. Những trang mạng như thế thường cung cấp thông tin về đối tác hết sức mơ hồ hoặc không thì chẳng tương thích, kéo theo việc làm tăng thêm sự không tin tưởng và hệ lụy là khiến người trong cuộc giám sát cao độ trang hồ sơ của đối tác đang quan hệ với mình.

Chẳng hạn, nhiều đối tác nói rằng họ trở nên ghen tuông sau khi bạn trai hoặc bạn gái thêm (add) vào danh sách một người bạn không quen biết khác giới.

Lưu tâm đến thông tin này, các cặp có thể hưởng lợi từ việc trao đổi cởi mở với nhau về việc sử dụng các mạng xã hội nhằm phục vụ cho mục tiêu định hình quan hệ và ngăn ngừa các lĩnh vực có thể gây xung đột, đồng thời làm cho nhau hạnh phúc hơn trong quan hệ đang thiết lập.

Nhân tiện, nếu bạn đọc có bất kỳ trải nghiệm vui buồn đáng nhớ liên quan đến việc sử dụng mạng tác động tới quan hệ của mình thì làm ơn thoải mái gõ xuống chia sẻ nhé!

Cùng ngó trông nhau để càng thấy mình thích thú…

Ngay khi chúng ta nhận ra ai đấy chia sẻ giông giống mình về mặt tộc người, y như rằng chúng ta cũng đang diễn giải tốt hơn các biểu đạt trên khuôn mặt của đối tượng có cùng bản dạng dân tộc, quốc gia, nhóm vùng, địa phương tựa chúng ta vậy.

Chúng ta định hình nhiều hơn với những ai cùng nhóm hội– nó dẫn dắt chúng ta càng bị đưa đẩy mãnh liệt ngõ hầu tưởng tượng nhiều điều lắm chuyện từ viễn tượng phía bên ấy, do đó, trợ giúp chính mình có được năng lực để diễn giải sát đúng hơn các nỗi niềm cảm xúc của họ.

Nhằm kiểm tra ý tưởng này, nhóm tác giả của nghiên cứu đã cho 88 người tham gia xem các băng hình về các con mèo bộc lộ hoặc sự xung hấn, sợ hãi, ghê tởm hay thích thú. Bất luận trải nghiệm từng có ra sao về các con mèo, những người tham gia nói rằng họ định hình sát sườn nhất với các con mèo nào được ghi nhận là các con mèo đang biểu lộ sự sợ hãi, ghê tởm hoặc thích thú.

Qua thực nghiệm thứ hai, 60 người tham gia được đề nghị diễn giải về những biểu đạt khuôn mặt của những đàn ông tạm mang nhãn ngẫu nhiên là cầu thủ bóng chày hoặc không. Với chừng một nửa đối tượng tham gia, các nhãn bị thay đổi đột ngột, để chắc chắn yếu tố chính là phương thức nhìn khuôn mặt bị gán nhãn chứ không phải ở cách đối tượng nhìn. Đáng chú ý, những người tham gia vốn chơi bóng chày rồi thì nhận ra biểu đạt cảm xúc của cánh đàn ông được gán nhãn là cầu thủ bóng chày tốt hơn hẳn. Đơn giản là, một ai khác từng chơi bóng chày thì năng lực diễn giải các cảm xúc được tăng cường thêm lên.

Phát hiện của nghiên cứu khẳng định, động cơ đóng một phần lớn lao trong năng lực của chúng ta để hiểu biết các cảm xúc ở người khác, với những ứng dụng thực tế: “… Việc nhầm nhọt đôi khi xảy ra giữa các nhóm sắc tộc, quốc gia có thể được lý giải đa phần bởi sự thiếu vắng động cơ mà các thành viên thuộc một nhóm này thể hiện khi cố gắng giải mã các thành viên của nhóm khác”.

Cái sự thiếu vắng động cơ ấy cơ chừng rất hay bắt gặp khi mình cho ai đó là xa lạ, người dưng, chẳng bà con, thân thiết chi.

Tôi đồ rằng, cái động cơ thôi thúc ấy còn quá dễ dàng tìm thấy khi tham gia các mạng xã hội, nhất là facebook; chẳng phải ngày ngày bạn thường hào phóng nhẹ nhàng xuống tay nhấn nút Like thoải mái và liên tục đó sao (!).

Wow, tâm trí con người thật ngộ…