Nàng Bạch Tuyết: đẹp, xấu, và quãng đời sống thực ở giữa

Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?
Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?

Câu chuyện cổ tích Grim về nàng Bạch Tuyết từ thời thơ ấu xa lơ xa lắc giờ lại sống dậy bàng hoàng, với một chiều kích và ánh sáng khác, khi dịp cuối tuần gần một tháng trước ghé sang Viện Goethe xem phim.

Nghĩ về một trường hợp muốn ly hôn song cũng chưa thôi mong đợi làm sao có thể níu kéo và nữ thân chủ hy vọng, với việc kiếm ra tiền nhiều hơn thì dễ khiến ông chồng thôi còn lăng nhăng mà sẽ ghi nhận nỗ lực phấn đấu của vợ để rồi thủy chung quay lại.

Gợi khái niệm ‘hệ thống sống còn’ mà việc hiểu biết đầy kịch tính về nó có thể sử dụng câu chuyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết (Snow White), không phải với phiên bản Disney mà câu chuyện tìm thấy trong Truyện Cổ Grim sau lần xuất bản lần đầu tiên vào 1812.

Trước hết ý tưởng cơ bản liên quan khái niệm này là trẻ em cần người lớn để đảm bảo sống còn và trong một số trường hợp trẻ em đặt qua bên nhu cầu riêng tư và thích nghi với nhu cầu bất thường, thiếu ổn định, mang tính mệnh lệnh của bố mẹ hoặc một thành viên gia đình khác. Những sự thích ứng này, như các hệ thống sống còn, trình bày các mẫu hình đầy quyền năng về hành vi, thái độ và niềm tin chức năng nguyên ủy vốn nhằm duy trì cảm giác an toàn cũng như tiếp tục gắn bó với người lớn trong thế giới của trẻ nhỏ. Hình thành từ thời thơ ấu và nền tảng dựa trên suy tư cụ thể và phàm tục của một đứa trẻ, dần về sau chúng cho ra các hành vi thất sách của kẻ vị thành niên và người trưởng thành.

Giờ quay lại phiên bản đầu tiên của truyện cổ tích Grim. Phiên bản Tiểu Bạch Tuyết ấy tuân thủ truyền thống mà động năng và cốt truyện của loại văn chương truyền khẩu vốn chú trọng mô tả ‘con người bình thường’. Theo đó, cô bé mới 7 tuổi khi thấy dung nhan mình trong chiếc gương thần như là ‘người đẹp nhất giữa thế gian’. Mẹ Bạch Tuyết không chết khi sinh ra cô, bà sống thọ và là chủ nhân thực sự của chiếc gương thần. Việc bà mẹ ruột bị chuyển thành bà mẹ kế độc ác bắt đầu từ bản in 1819 trở về sau; sự chuyển dịch thế được tìm thấy trong các chuyện cổ tích khác, biểu tỏ nhu cầu của anh em nhà Grim muốn lý tưởng hóa Bà Mẹ như biểu tượng quan trọng của các giá trị Đức quốc.

Cụ thể hơn, theo truyện, sau khi dung nhan Bạch Tuyết xuất hiện trong chiếc gương thần, cô bé trải qua các cuộc tấn công của bà mẹ sôi máu điên cuồng vì ganh tỵ: bảo người tiều phu đưa cô vào rừng thủ tiêu, và ba lần hãm hại khác do chính bà mẹ hóa thân thành bà lão tiến hành ở nơi mà gương thần mách bảo chỗ trú ngụ của Bạch Tuyết (dải lụa thắt chặt đủ để mất ý thức, cái lược tẩm độc cũng làm nạn nhân mê man, và cuối cùng là quả táo thêm độc dược); tiếp đó, phần còn lại là Bạch Tuyết nằm mãi trong quan tài cho đến ngày được chàng hoàng tử giải cứu, rồi họ sống ‘hạnh phúc bên nhau mãi mãi’.

Đổi đoạn kết của chuyện cổ tích vào việc người ta giải quyết thực tế và anh thư có thể là một phụ nữ trẻ trung bị tàn hoại khủng khiếp bởi các trải nghiệm trong đời. Cô có thể đau đớn bởi rối loạn stress sau sang chấn, ám sợ dây ren, dải buộc, lược, táo, và các quý bà rồi đau đớn do mắc rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng cũng như dạng phản ứng lo âu lan tỏa. Đây rõ ràng không phải là cá nhân sống ‘hạnh phúc mãi mãi về sau’.

Khi hỏi một đứa trẻ rằng nàng Bạch Tuyết cần làm gì, với tư duy cụ thể, nó trả lời rằng: ‘Chị í cần rời khỏi cái gương’. Vậy rồi sau đó cô í cần làm thế nào nữa?  ‘Chị í cần phải xấu xí’; càng xấu xí thì cô í càng không phải bị bà mẹ ái kỷ quá độ hành hạ. Chuyển thể Nàng Bạch Tuyết nhằm tránh rơi vào vòng cạnh tranh, đối đầu thảm khốc đầy tai ương với bà mẹ, dạng thức cốt lõi của hệ thống sống còn của nàng, là ‘phải nhất thiết xấu xí’. ‘Nhu cầu’ ấy có thể tự thân biểu hiện trên nhiều cách thức, tỷ dụ, trở nên thừa cân và béo phì. Cô gái trẻ, người sống sót và thoát khỏi nỗi ghen ghét, tị nạnh của bà mẹ nhờ mập ú, là một sự đánh mất để hiểu ra tại sao khi lớn lên cô không thể giảm cân, bất luận dù có cố gắng đến thế nào. Cô không hiểu rằng các hệ thống sống còn nảy sinh từ thời thơ ấu vẫn không dễ dàng thả bỏ quyền năng tác oai tác quái của chúng.

Các hệ thống sống còn này có thể diễn biến dưới nhiều dạng kiểu. Nếu bà mẹ hỏi: “Ai là người thông minh nhất trong chúng ta?”, nàng Bạch Tuyết e sẽ là kẻ đần độn. Nếu một người cha ướm lời: “Ai là người cần thiết nhất trong chúng ta?”, cậu con trai e sẽ là đứa phụ thuộc kém cỏi. Nếu anh cả được ưu ái nói: “Ai là người thành công nhất trong nhà mình?”, cậu út ít e sẽ đóng vai kẻ thất bại. Nếu đứa trẻ tin thật nguy hiểm khi vén lộ các bí mật gia đình, nó sẽ trở thành “đứa trẻ lặng câm”. Trong khi tất cả các chiến lược thành công giúp một đứa trẻ giải quyết với môi trường rối rắm và tiềm tàng hiểm nguy thì chúng lại không có được các đáp ứng lành mạnh hoặc đúng đắn khi trở thành người lớn trưởng thành.

Khi tuổi thơ của chúng ta trải qua cảm giác bị tước đoạt, mất mát về mặt cảm xúc thì dạng thức thiếu vắng không nghĩ mình là người quan trọng hoặc đáng yêu đủ kéo dài trong khi trưởng thành như một kiểu ‘não trạng mất mát”. Chúng ta có thể ước gì mình có thể có đủ đầy những thứ mình cần; cảm giác bất an này dễ làm băng hoại, tàn phá các quan hệ thân mật. Chúng ta thậm chí mong đợi những người yêu thương mình bỏ rơi, hắt hủi mình, không bao giờ biểu tỏ các nhu cầu bản thân một cách trực tiếp hoặc lựa chọn tình nhân cặp đôi là những người lảng tránh, ngại cam kết gắn bó, không thích thân mật, gần gũi. Cảm xúc thiếu vắng, mất mát các nguồn lực quan trọng như tình yêu, thực phẩm, tiền bạc, hoặc thời gian có thể dẫn ta tới nỗi sợ hãi hoặc tức giận. Chúng ta có thể ám ảnh bởi những thứ mình thiếu thốn, hoặc có thể cảm thấy nhu cầu thao tác, vận hành trong mô thức khẩn cấp: bủn xỉn, hà tiện hoặc lên gấp gáp kế hoạch từng giây phút một trong đời.

Ngoài lầm lạc liên quan đến việc quản lý và nhận biết về thời gian, não trạng mất mát và thiếu vắng trên còn dễ khiến ta đưa ra các quyết định vội vàng, ngắn hạn để rồi sẽ làm tăng thêm khó khăn, rắc rối cho những khoảng thời gian dài hơi hơn; chưa hết, não trạng ấy còn quấy nhiễu ta về mặt động cơ, làm mình dấn vào những sự quyến rũ, cám dỗ và thử thách mà khả năng cao là bị tổn thương… Điều nên làm để thay đổi là hình thành thái độ biết ơn; không so sánh bản thân với người khác; ngừng hẳn ám ảnh; sử  dụng các công cụ đo lường ưu tiên (lên danh sách những việc cần làm, lập kế hoạch, v.v…); đừng tham lam, thèm khát quá…

Thực tế, hầu hết bố mẹ không giống với bà mẹ độc ác trong truyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết. Nhiều người có thể trải qua môi trường hồi tuổi thơ đầy rối rắm, trục trặc hoặc khốn khó và có khả năng đã phát triển các hệ thống sống còn phù hợp với thân phận của riêng họ. Điều quan trọng là người cha có thể nhìn vào nền tảng gia đình sinh học đặng thấy ra mình có mắc mứu với một môi trường cạnh tranh cực độ thế không; khả năng khác là ông hãy còn vướng vào nhu cầu sống còn xưa cũ để cảm thấy mình nhất thiết tồn tại, hay ông muốn làm ‘người cha hoàn hảo’ bởi vì mình dính dáng với một hệ thống sống còn đòi hỏi phải làm người hoàn hảo.

Càng thấu hiểu lịch sử chính mình và đạt được một khoảng cách tốt nhất với quyền lực của các hệ thống sống còn đặc thù, chúng ta càng tìm thấy nhiều khả năng để cống hiến, đưa lại và tạo lập cho con cái mình một môi trường cho phép chúng phát triển nhân cách, tài năng và những tiềm tàng riêng có.

Sống một đời vâng phục: sự bất lực chỉ là do thiếu hụt?

Giờ mới tranh thủ dùng dăm mười phút để bàn chút chút thôi về hai bộ phim Đức xem tuần rồi.

Nói chung, chẳng quá sai khi cho rằng cả hai tác phẩm điện ảnh dễ thương này quy về chủ đề trở ngại trong sức khỏe tâm trí ngăn cản người ta sống tràn đầy, khỏe mạnh.

Dù đó là cô bé Hayat gặp trục trặc trong mối quan hệ gắn bó thời thơ ấu, hay đấy là nỗi sợ phụ thuộc của cậu con trai lớn xác Vincent mắc chứng Tourette thì rốt ráo, sự bất lực không thuần túy tất yếu dẫn đến đớn đau, khốn khổ chỉ vì do thiếu hụt, khuyết tật.

Còn có một nguyên nhân cần bàn thêm, góp phần lý giải những khó khăn cảm xúc và ngay chính đời sống tình cảm mà các bậc làm cha, làm mẹ trong phim cũng buộc phải đương đầu hết sức căng thẳng: năng lực thích ứng với môi trường.

Cô bé Hayat thể hiện khía cạnh các quan hệ đối vật (object relations) khi giữ rịt tay nắm cửa hoặc lựa chọn chỗ ngủ ở góc phòng với chăn buông kín mít; chàng Vincent với hành động bỏ trốn khỏi trại điều trị cùng hai người bạn như muốn minh chứng cho các căn bệnh dính dáng hệ thống tự do ý chí.

Cố gắng kiểm soát (những) điều không kiểm soát nổi, rõ ràng, đẩy các nhân vật lớn bé, già trẻ, nam nữ trong hai bộ phim nêu trên vào vòng quay bất tận của các cảm xúc tiêu cực, âm tính và vừa gây hại ghê gớm cho chính bản thân mình lẫn trong tương tác liên nhân cách.

Không quá ngạc nhiên, lần nữa, xem phim để hiểu biết hơn về tầm quan trọng của sự lựa chọn, nhu cầu thân mật, hành động tử tế và thái độ cải thiện mối quan hệ tương thuộc lẫn nhau luôn là các điều kiện thiết yếu để kiến tạo trạng thái thân- tâm an lạc hết sức vững bền theo suốt dọc dài cuộc đời mỗi người.

Đi tìm căn tính, bản dạng chính mình: phải làm điều ta nghĩ là không thể…

Bộ phim Đức “Bài hát trong tôi” (nguyên bản tiếng Anh “Day I was not born”) minh họa cho thôi thúc cần phải làm điều mà ta nghĩ mình không thể thực hiện nổi.

Dĩ nhiên, điều đó không thuần túy chỉ liên quan trong việc vượt thắng nỗi sợ; chẳng nghi ngờ gì nữa, nó còn dính dáng tới bí mật khó cưỡng cho việc phát triển căn tính, bản dạng (identity) của người trưởng thành.

Câu chuyện thấu đạt căn tính chủ yếu đòi hỏi nỗ lực khám phá và cam kết dấn thân tại một thời điểm nào đó trong nghề nghiệp, tôn giáo, quan điểm chính trị, v.v…, và chúng lắm lúc cũng có thể đề cập đến thế giới quan.

Thông qua việc đẩy bản thân ra khỏi vùng êm ấm, thoải mái quen thuộc nhờ tình cờ trò chuyện, đi du lịch hoặc tác nghiệp hay gặp gỡ ai đó khác, chúng ta học hỏi nhiều hơn về thế giới lẫn nhận định rõ ràng thêm về vai trò, chỗ đứng của mình trong đó.

Thật khủng khiếp biết bao khi đối tượng trên tiến trình kiếm tìm phải đương đầu với nỗi đe dọa của sự khuếch tán hoặc bị thủ tiêu luôn quyền thế chấp trước đây về bản dạng của mình.

… Lại được thưởng thức một bộ phim Đức cùng chủ đề để kịp nhận ra, bất kể người ta nghĩ mình là ai thì sự thật đích thị họ phức tạp hơn thế nhiều: không phải là hoàn cảnh, những gì đang làm, vai trò thủ diễn, niềm tin hay mối quan hệ do tòa phán quyết,…

Liệu chúng ta có dám chấp nhận thay đổi rốt ráo nếu bản dạng, căn tính mình bị đưa ra đặt cược?

Phim tài liệu Nhân học: Các khung tham chiếu cho sự hiểu biết về bản sắc nhân dạng, văn hóa – ngôn ngữ và đời sống xã hội

Tạo một tiêu đề dài ngoẵng thế trong khi thời gian còn lại trong ngày chưa tới nửa tiếng đồng hồ, âu cũng là cố tình phản ánh ít nhiều tương hợp với những gì mà bộ phim Đội tuyển liên quốc gia gợi ra trong tâm trí tôi tối nay.

Tập trung vào giai đoạn vòng Chung kết Giải Bóng đá Thế Giới 2006, bộ phim của đạo diễn đồng thời là nhà nghiên cứu Nhân học này chọn trình bày theo lịch trình thi đấu để cố gắng đề cập bao quát các khía cạnh kinh tế, xã hội, nhân dạng, ngôn ngữ và học hỏi liên quan đến chuyện hội nhập văn hóa của dân nhập cư tại Đức.

“Chiến lược Thích nghi” là điều nổi rõ qua các cuộc phỏng vấn thành viên trong đội bóng, huấn luyện viên cho tới khán giả thuộc các thành phần khác nhau (kinh doanh, cảnh sát, luật sư, nghệ sĩ, kiến trúc sư) và cả sự đa dạng trong lứa tuổi, giới tính (trẻ nhỏ, phụ nữ, thiếu niên và người cao tuổi).

“Chiến lược Thích nghi” này phản ánh các tiến trình hội nhập làm ăn, học tập và sinh sống của cư dân tại hai quận thuộc thành phố Mannheim– từ các chiến lược thăm dò và các tiến trình ra quyết định (bao gồm cả các xung đột văn hóa ngầm ẩn và hành vi mang tính chính trị tinh tế) cho tới các hành động ngập tràn cảm xúc nồng nhiệt, phấn khích và phân cực của người hâm mộ môn túc cầu trong mùa tranh giải Worldcup 2006.

Đặc tả tuyệt vời phong cảnh quê hương– xen kẽ nhà cửa, phố xá, dòng sông và máy móc rộng rãi, tân tiến với thi thoảng buông lơi ngân nga bằng đôi nét chấm phá sinh họat đời thường rất mực mộc mạc rồi hòa trong giai điệu âm nhạc nhấn nhá mê tơi– là cái nhìn chăm chú của nhà nghiên cứu vào phương thức các phong cách lẫn mẫu hình truyền thông hết sức đặc thù của người đến từ các nền văn hóa khác nhau. Mỗi nền văn hóa có một chuẩn tắc phong cách truyền thông và khi phong cách ấy trộn lẫn với các phong cách khác trong cộng đồng thì nổi lên các mẫu rập khuôn và những tri nhận cần điều chỉnh nếu muốn nhắm tới sự hài hòa và hợp lý.

Bối cảnh liên văn hóa trong phim ở một địa phương của Đức đúng là một “thực tế đặc biệt”. Có thể kể, đó là một bộ sưu tập phong nhiêu, độc đáo và khác biệt trong giao thoa giữa chủ nghĩa nữ quyền và sự di dân thuộc bối cảnh Tây Âu. Lý thuyết hóa chủ nghĩa nữ quyền và việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ ở đây biểu lộ qua chủ đề nhập cư, giằng co bị thu hút và cố dứt bỏ của các nhân dạng, nền văn hóa gốc và văn hóa nơi họ chọn làm quê hương thứ hai, kháng cự và công bằng xã hội, và lối truyền thông vì tôn giáo và sự đổi thay, đòi hỏi thích ứng với hoàn cảnh mới…

Phim tài liệu kéo dài 90′ vẫn cuốn hút người xem dán mắt bởi các chi tiết lựa chọn thú vị, cảnh quay đẹp, không khó thấy tình cảm gắn bó thiết tha với góc chốn mình trú ngụ lâu dài của tác giả.

Một chủ đề như điểm mù văn hóa khó phát hiện là chuyện quản lý kiến thức xuyên văn hóa, một hiện tượng khá lảng tránh song chẳng khỏi có phần biểu lộ tự phụ: giá trị Đức– tính kỷ luật và nguyên tắc tổ chức. Suy cho cùng, đây cũng là hiện tượng đang ngày một tăng lên như yếu tố quan yếu trong thực hành mang tính tổ chức và chính sách của thời kỳ toàn cầu hóa.

Để bình định các điểm mù văn hóa vừa nêu ấy, cần nhấn mạnh cách thức cấu trúc của các vai trò, mối quan tâm, và quyền lực trong các yếu tố tổ chức khác nhau; trong phim là đội bóng, cửa hàng ăn uống và nhà trường, có thể làm nảy sinh các nghịch lý và mang lại động năng đủ sức tạo nên tác động cho các tiến trình học hỏi của công dân lẫn đội ngũ công bộc.

… Thật thích vì tại Hà Nội vẫn được xem một tác phẩm vừa trình chiếu trong Liên hoan phim quốc tế. Điều duy nhất khiến tôi hơi chút khó chịu chính là thói quen tắt máy nửa chừng khi màn ảnh vẫn còn chạy những dòng generic ở cuối phim; đồng thời, thầm mong lần xem tới tại Viện Goethe mình không phải đau cả cổ nhìn vượt qua đôi trai Tây gái Việt ngồi trước mặt cứ hú hí chụm đầu rung lắc gần như suốt từ đầu đến cuối…

Sợi phiền não cứ xoay vòng rồi trôi lăn bất tận

Film đầu tiên xem trong đợt Liên hoan mới khai mạc hôm kia.

Lại nhìn thấy giá trị của ranh giới, mối quan hệ cha và con gái, bạo lực gia đình…

Thực sự đau buồn vì lịch sử một tôn giáo lớn của thế giới vào thời Trung cổ được soi chiếu khắc nghiệt trên tinh thần phản biện của người trong cuộc đến độ mọi thứ trộn lẫn cả chất bi tráng chiến tranh cải đạo (“lửa và kiếm”), phận cá thể hèn mọn trước uy linh của đấng tối cao ban bày tất cả, định kiến giới dai dẳng, chút hài hước khi sự thật được tiết lộ trần trụi đời thường, và nỗi khổ đau triền miên hằn in qua bao vùng đất cùng tháng năm thay đổi.

Chợt nhớ, 5-6 năm trước, phiên bản đầu tiên của blog Cái tôi từng đề cập mấy chủ đề xót thương này rồi.

Rhythm Is It!“: Múa là tiếp chạm cơ thể để khám phá và sáng tạo chính tinh thần đời sống này

Tối đi bộ băng ngang qua Văn Miếu, sang đường xem film tại Viện Goethe.

Nhịp điệu là thế!“; cuộc sống cũng là thế!

Như lời biên đạo múa Royston Maldoom “Bạn có thể thay đổi cuộc đời qua một lớp học múa“, khán giả thấy rúng động bởi cái cách một tác phẩm nghệ thuật sáng giá đánh thức trong ta niềm yêu đời giao hòa với người da diết, khát khao sống tràn đầy năng lượng, muốn trở lại khám phá lòng mình sâu xa hơn nữa và cẩn thận lắng nghe kỹ càng thân xác huyền nhiệm này.

Những người trẻ đa phần chưa từng nghe nhạc cổ điển, dân nhập cư đến từ nhiều nước và khác biệt giai tầng, tuổi đời từ 8 tới 20 gặp nhau trong một dự án lớn mang mục tiêu dùng nghệ thuật để phát triển con người.

Bộ film cũng là câu chuyện đời tư của chính vị nhạc trưởng và biên đạo múa cùng nhóm hướng dẫn, hỗ trợ.

Triết lý bằng hành động sử dụng sự chuyển dịch và sức bật của cơ thể, bộ film về một lớp học múa là câu chuyện kể linh họat chứa nhiều biến tấu phong phú, bất ngờ nhằm hướng tới khẳng định quan điểm thẩm mỹ mới về bản thân mỗi cá thể trong xã hội đương đại.

Một lần nữa, bộ film nêu cái tôi như điểm trung tâm trong tương giao liên nhân cách khi hợp tác, làm việc nhóm: cần tạm thời quên đi bản ngã chứ đừng đánh mất hoặc giấu kín bản thân; bởi, nghi lễ hiến dâng mùa xuân được tỏ bày nhằm duy trì vẻ đẹp vĩnh cửu của thế giới tự nhiên cũng như tụng ca đời sống nhân loại.

‘Thật gần bên nhau’– Xúc cảm đạo đức, nỗi cô đơn và đặc thù hẹn hò của những sự mù

Trong bộ film Thật Gần Bên Nhau (2008) của đạo diễn Đức Almut Getto, có cảnh chàng nhân viên ngân hàng Phillip bước đi dò dẫm ngoài phố trong khi mắt nhắm lại theo đề nghị của cô gái mù đồng hành là nghệ sĩ cello Lina; dịp khác, khi dừng một mình giữa chốn đông người, nhớ Lina, anh thực hiện động tác khép mắt để rồi chợt nhận thấy thanh âm, ý nghĩa cuộc đời cơ chừng lắng đọng.

Cử chỉ tưởng chừng vu vơ ấy, theo nghiên cứu, gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới đánh giá đạo đức cũng như tạo ra những kịch bản thêm phần sống động.

Chúng tôi xác định chiến lược đơn giản ở đây: khi khép mắt lại, người ta thường dựa vào quyết định là họ đang đương đầu rất bao quát và trải nghiệm các thành phần cảm xúc cực kỳ phong phú. Kết quả là… người ta dễ nhạy cảm hơn với bản chất đạo đức trong quyết định của bản thân và của tha nhân, và có lẽ còn ứng xử hết sức thành thật nữa.

Ở người mù, bộ phận não dùng cho việc nhìn có thể đã bị trưng dụng để phục vụ cho các giác quan khác, khiến cho năng lực nghesờ chạm tăng lên.

Bộ não thích nghi nhiều điều ấn tượng; chẳng hạn, chỉ cần bịt mắt lại trong vòng 90 phút thì ta cũng có thể cải thiện khả năng nghe.

Các tiến trình của thể thức giao thoa mềm dẻo ngắn hạn do đó, có thể được xây dựng trên sự củng cố nhanh chóng của các vòng mạch thần kinh tồn tại sẵn rồi này, mà không chừng, chúng còn giữ vai trò  trong sự phát triển những chuyển đổi mềm dẻo ở người mù nữa,” tác giả nói.

Nghiên cứu vừa nêu nhất quán với phát hiện trước đây rằng, khả năng sờ chạm được cải thiện sau khi thị lực bị giảm sút ngắn hạn.

Quay về bộ film phụ đề tiếng Anh Close to You kể trên; có chi tiết cô gái mù Lina tức giận vì chàng trai Phillip tặng cô cặp kính đen, cứ như thể anh này cảm thấy quá ngượng ngập nếu thiên hạ biết tới sự mù lòa của cô bạn gái mới quen này.

Là người tự biết mình, lạc quan và muốn thay đổi vận hạn, nữ nghệ sĩ đàn dây Lina ‘tuy mù nhưng không ngốc’ (lời cô phát biểu) trong khi nhân viên làm công việc hết sức bí mật tại ngân hàng Phillip lại ngại va chạm, tránh tiếp xúc người lạ và quen sống đời ngăn nắp tựa như con rùa thích yên ổn trong vỏ mai chắc chắn của mình.

Nỗi cô đơn giữa biển đời tranh tối tranh sáng khiến cả hai có nhu cầu xích lại gần nhau. Tình cảm Phillip dành cho Lina vừa chất chứa khao khát lứa đôi vừa ẩn tàng mong mỏi được Lina chở che như quan hệ gắn bó mẹ con.

Quả thật, xem film để càng thấu hiểu hơn rằng, tựa như các cảm xúc căn bản buồn-vui-giận-sợ, những cách thức chúng ta thể hiện niềm tự hào và tính hổ thẹn là sự biểu đạt không lời nguyên sơ và chắc chắn tiến triển thành hoặc khả năng chống đỡ cho thân phận bản thân, hoặc chuyển vần chấp nhận trước ưu thế của người khác.

Bộ film kết thúc trong vẻ hân hoan náo nức, xôn xao hy vọng về một viễn cảnh sẻ chia, tương trợ, nâng đỡ nhau giữa những sự mù khác biệt. Dẫu thế, khán giả rời khỏi rạp sáng nay chắc không khỏi bật cười khi hồi nhớ trạng thái khốn khổ, lúng túng của Phillip trong vài lần hẹn hò đầu tiên.

Ngoài nỗi lo lắng tự dưng khủng khiếp, sự kiện chạm mặt ấy sẽ thêm phần căng thẳng nếu đương sự chẳng biết ăn nói mô tê răng rứa chi cả.

Thực nghiệm cho biết một số câu hỏi và đàm thoại có thể cải thiện quan hệ trong giai đoạn mới cặp kè kết nối.

Chẳng hạn, chàng Phillip có thể đem theo một số câu hỏi ví dụ tới điểm hẹn và để lại ở nhà những kiểu hỏi khác.

– Thay vì: “Em hay đọc tờ báo gì?“, nên thử hỏi: “Một ngày hoàn hảo có thể được em miêu tả như thế nào nhỉ?

– “Em làm gì trong kỳ nghỉ gần đây nhất?” nên được thay bằng “Phẩm chất quan trọng nhất của một người bạn tốt là gì?”

– “Em thích nghe loại nhạc nào?” nên được thay bằng “Nếu biết được điều gì đó trong tương lai thì em ước mình muốn biết điều gì?“.

Và nếu là người dũng cảm, mình có thể nói với đối tác tiềm năng rằng mình vốn đã thích cô í ở điểm nào– thổ lộ điều mà bình thường mình không dám nói ra với người mới gặp.

Dù các câu hỏi về kỳ nghỉ và sở thích âm nhạc có thể đáng giá trong việc hiểu biết ai đó, song chúng tỏ ra không mang tính riêng tư cho lắm và còn không được hiệu quả bằng trong việc khiến người ta cảm thấy hết sức gần gũi với người khác.

Với những ai đã thiết lập quan hệ xong rồi, trả lời những câu hỏi cá nhân với những cặp khác (tỷ như, quen biết một vài cặp bạn bè mới) có thể củng cố thêm quan hệ của chính mình.

Các nhà nghiên cứu giải thích, tương tác với người mới quen và chia sẻ thông tin cá nhân làm mình cảm thấy tốt lành, và những cảm nhận tích cực này càng khiến mình gần gũi hơn với các cặp khác cũng như với chính người bắt cặp cùng mình.

Xem ‘Thật gần bên nhau‘, ai may mắn sáng mắt mong sẽ thêm phần tỉnh thức để biết cách tôn trọng đích thực những xúc cảm đạo đức rất người, học hỏi bí quyết hẹn hò và hiểu thấu vì sao nỗi cô đơn lại khởi tạo giai điệu tình yêu kỳ diệu.

Vài dòng ghi xuống rồi đi nằm…

– Mỗi năm lại xem ít nhất một lần Cuộc sống của những người khác.

– Nghe tiếng âm thanh nhà bên vẳng lại, nhớ mới đây lần đầu tiên vào trường quay S9 ủng hộ người quen dự thi Đường lên đỉnh Olympia và biết thời gian từ bỏ thói ngồi trước màn hình đủ lâu để mình tịnh không cần ngó ngàng TV làm chi.

– Bài đọc trước khi gõ những dòng chữ cuối ngày này: Thương yêu chính mình và người khác.