Cùng Nhau Khôn Ngoan

Qua cầu trông xa, tháng năm hoa nở, nửa đời cắc cớ, đường dài chúng ta…

Đây là thắc mắc gửi tới độc giả blog Tâm Ngã: ‘Bạn đang cảm thấy mình già như thế nào?

Nếu hoan hỉ sẵn lòng bày tỏ câu trả lời, xin gửi tâm tình về địa chỉ tamngatangam@gmail.com, kèm đôi dòng giới thiệu ngắn gọn bản thân. Cố gắng viết tầm 200 từ trở lại.

Mong nhận được hồi âm mở đầu cho mục ‘Cùng Nhau Khôn Ngoan’. Thương.

Hai lá thư xạo bà cố

Đời có hường như bông? Lời thương lòng mênh mông…

Thưa các anh,

tôi chính là cái tên giật giỏ xách của một cô vừa xảy ra hồi trưa nay trên địa bàn phường. Tôi định nói thêm ‘mình’ theo thói quen nhưng nhớ ra dùng từ thế lẽ nào giúp công an tìm ra hung thủ (‘kẻ cướp’ nghe ghê ghê).

Dạ thưa, tôi viết thư này để xin nhờ các anh trả lại giúp giùm cho cô kia số tiền là 100 triệu (100.000.000 VND). Cũng xin các anh chuyển lời mong cô kia tha lỗi cho tôi vì đã khiến cô té ngã, thậm chí suýt bị tai nạn nghiêm trọng khi chạy xe máy giữa đường đông đúc nữa. Năm hết, Tết đến, mong cho không ai xui xẻo như tôi và cô.

Nhân tiện đây, mong các anh cho tôi được dài dòng văn tự, đặng kể lại chi tiết cơ sự vì sao tôi dám làm chuyện mà dẫu nuốt cám suốt mười hai tháng trong một năm nằm im re ru võng dù hay được dát vàng từng bước đi cà nhắc trên đất thịt thì thằng tôi vắt óc gãi tai bao nhiêu lượt cũng khó mà tưởng tượng tới nổi. Một kẻ cướp trước khi thành tên đốn mạt đáng bị phỉ nhổ thì khả năng, chí ít với trường hợp bản thân, có thể là một con người đàng hoàng được sinh ra trong gia đình tử tế chứ bộ. Cứ theo mấy cuốn phim hình sự hay coi trên mạng đỡ buồn nhờ chiếc laptop còn khuya mới đùi nhây vợ tôi mua cho thì mấy nhân vật bên Tây kiểu cách hà rầm: ‘Who nows?’ (nghĩa là ‘Ai biết đâu đấy’, phỏng ạ).

Mấy anh ơi, ngồi gõ miên man những dòng này để tí nữa đem ra hàng vi tính in và bỏ vô bì thư (viết tay rồi kể lể hết trơn nhân thân thì hơi ngu, vì quá dễ lộ luôn: cho tôi nổ tí cho đỡ xì trét!), hàng xóm phía tay trái đang rổn rảng cụng ly tất niên. Vợ tôi mới sinh em bé được ba tháng thì đã ngủ ngoan, đằng sau tấm màn màu gì giống với loại bánh mì sandwich lạt tôi hay ăn (vừa chóng no vừa không tốn nhiêu tiền, 12K thôi hà [thông tin cho ai chưa dùng bao giờ]). Đó, mấy anh cũng thấy là tôi thiệt thà, và cũng mang thói cà kê dê ngỗng; tuy nhiên, trung thực mà thề thì tôi không hề muốn tự thú theo hướng ra trình diện trước cơ quan pháp luật đâu.

Hồi ba tôi còn sống, ổng dặn: con trai có khóc thì khóc nhỏ nhỏ thôi. Nên tôi nhớ nằm lòng để mỗi khi vợ tỏ thái độ dằn hắt thì tôi gắng sức giữ mọi chuyện êm thấm, kiểm soát được.

Lắng nghe tiếng đứa con gái đầu lòng oe oe làm tôi rấm rứt lắm. Đây là lý do tại sao tôi viết thư này, góp phần giúp mấy anh kiểm tra băng ghi hình công cộng thì hy vọng sẽ thấy hồi sáng tôi đi loanh quanh khu công viên rồi liều mạng băng ngang qua đường giật giỏ xách của cô kia.

Thưa các anh, dân ngụ cư như bọn tôi đã nghèo mạt rệp, te tua xơ mướp ở trọ chắc trọn kiếp ve sầu mà lại còn hay bị đủ thứ hoạn nạn giáng xuống liên tiếp. Đói đâu xi nhê chi với thằng đàn ông không thể ốm nhom tiếp được này, nhưng phụ nữ mới sinh dậy cần nhiều hơn là lời an ủi vỗ về, ve vuốt hoặc sự chung thuỷ, cúc cung tận tuỵ của chồng. (Mấy anh đừng cười thầm nghe, ‘ăn mày là ai, ăn mày là ta, đói cơm rách áo hoá ra ăn mày’; dân gian chẳng véo vắt văn chương thơ phú).

Thưa mấy anh, tôi cố tình chọc cười vừa đủ đô, và tránh cảm giác quá trớn làm mấy anh tức ghét. Cuối năm, tháng củ mật cánh ma tuý nhập nha nhà trên xóm dưới nên bà chủ nợ cũng xiết tụi tui tơi tả. Vì vay mấy triệu mà cộng dồn xã hội đen ép giá thành thử tôi sợ xanh mặt, lỡ bả nổi khùng sai đàn em làm gì vợ con tôi… Sáng nay, tôi không dám uống ly café mà tranh thủ dọn dẹp, giặt giũ, đun ấm nước rồi nghĩ kiếm ai vay tạm…

Thưa các anh, thư dài mà tình chưa đầm đìa bê bết hết. Lần nữa, tôi kính mong mấy anh công an các cấp đại xá và tôi không quên xin cô kia cho tôi khất mấy triệu, tôi hứa khi nào có sẽ tìm cách tiếp cận rồi trả lại cho cô đầy đủ.

Cuối thư chốt chặn, chẳng biết tâm tình chi thêm, xin có hai câu rên rỉ kẹp vía nhau rằng, ‘đời bạc phận nghèo nheo nhóc bám; mần răng giảm sợ đỡ đui mù’.

Trân trọng kính chào,

XX.

———–

2. Thưa anh,

tôi là cái cô bị anh giật giỏ xách đây. Nói thiệt, tôi có mừng chứ nhưng không mừng lắm khi nhận như trọn nguyên xi số tiền cho bằng niềm vui bất ngờ lúc được mấy anh công an phường trao lá thư cho… Gần bốn mươi năm làm đàn bà, tôi nghĩ mình lễ nghĩa với hai thân, nuôi dạy chồng con no ấm, nội ngoại chưa ai chê bai tôi bao giờ, nhưng đọc lá thư anh tôi khóc tơi bời khói lửa.

Anh thố lộ là mình hay xem trên mạng, tôi cũng vậy anh à. Nên anh chắc đã xem hết trọn bộ phim The Lunchbox mà Việt Nam mình tự dưng sửa lại quái dị là ‘Chiếc Hộp Lạ Kì’. Bộ phim đó quá chừng mùi mẫn và xúc động hết biết phải không anh, nói theo giọng mấy ông nội cách mạng là ‘nhân văn’ lắm cơ. Có gì đâu mà kỳ với lạ, đời ai dám nói mình học hết chữ ngờ phải không anh. Sinh ra dưới gầm trời, làm đàn ông đàn ang thân dài vai rộng hiên ngang như Từ Hải đến đoạn ngã ngựa vì em, hoặc anh Vũ Trung Nguyên khởi nghiệp từ bàn tay thư sinh đầu còn trông rõ tóc đen nhánh đi nữa thì giả tỉ lúc thất bại thảm hại cũng đâu dễ có mắm mà bốc. Đọc thư anh tôi ngậm ngùi hiểu chút chút tại sao ông xã thi thoảng lấy tay chùi vô mắt lúc xem kênh TV của Mỹ.

Dân miền Tây rành sáu câu vọng cổ anh dân ngoải sống lâu ắt biết rồi (là tôi suy đoán vậy), tôi cũng nhớ được cái đoạn Lục Vân Tiên biểu Kiều Nguyệt Nga ‘khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái, ta là phận trai’. Tôi ghiền đọc tin Ngọc Trinh bởi cái nét quê mùa này đó. Anh tuy nghèo và teo tóp nhưng tôi thấy vẫn xứng danh anh hùng được. Là tôi nói cái vụ anh dám mờ mờ tỏ tỏ, tưởng dại mà khôn lanh viết thư phân trần có tạ lỗi có cả giới hữu trách lẫn nạn nhân vô tình là tôi đây.

Thôi mình đừng mơ tưởng chi nữa anh nghe, kết vậy là đẹp rồi. Vâng lời Phật dạy, tôi hoan hỉ tha thứ mọi điều cho anh. Cầu chúc vợ chồng anh cùng em bé sẽ chóng chóng tìm ra cách đổi đời êm thấm, gấp gấp có chỗ ở ngon lành. Mình cứ gắng sống cho tròn đêm ngày năm tháng, ai xỉa xói vô ra to nhỏ cứ mặc kệ họ anh nghe.

Thân chào,

Y.

——-

3. Xơi liền quả chuối xong bữa, đang hồi thao thức chưa rõ nguyên nhân, thuận duyên liếc thấy câu chuyện quê nhà hiếm gặp mà rộn ràng bịa đặt mắm muối, tương cà tắp lự. Ai nhẫn nhục đọc tới tận đây rồi thì cũng xin rộng lượng tặng đôi chục bông hồng làm thí dụ…

Trạng thái bất mãn về giới: vẫn đầy phiền muộn và còn nhiều bỏ ngỏ…

Xem cái clip nhân Ngày Mồng Tám Tháng Ba thật thú vị và đầy ý nghĩa nhắc nhở nhiệm vụ bất khả chối từ.

“Bạn nghĩ mình là nam hay nữ?”
“Em nghĩ mình là nữ ạ”

“Điều gì định nghĩa một người phụ nữ?”
“Sự thông minh, sắc đẹp và sự nữ tính”

“Theo bạn ngày 8/3 Quốc tế phụ nữ có dành cho mình không? ”
“Có ạ”

“Tại sao?”
“Vì em được gia đình và người yêu ủng hộ, sống thật với giới tính của mình”

Những nỗi niềm như dưới đây tiếp tục khẳng định mọi sự không phải lúc nào cũng được ghi nhận, thỏa ý.

Em là gã đàn ông 34 tuổi đã lập gia đình và có một em bé rồi. Em từng có một bí mật là thích ăn mặc áo quần con gái hồi mới là nhóc con 5 tuổi; em nhớ mình cảm thấy thật tuyệt vời và sung sướng quá độ. Em tự trấn an rằng các cảm giác kiểu đó sẽ biến mất khi em lớn lên; khủng khiếp thay, các cảm xúc này lại phát triển thành ước ao là một người phụ nữ đích thực. Làm thế nào để em có thể cảm thấy giống như một người đàn ông bình thường? Việc này có cần điều trị gì không ạ?

Chia sẻ trên dễ gợi ý về cái mà giới chuyên môn trợ giúp gọi là sự không hài lòng, bất mãn, khó chịu về giới (gender dysphoria, GD). Thực tế, nhiều người vẫn bắt gặp các cảm giác vốn xuất hiện từ thời thơ ấu này; họ có thể thấy khá khổ sở, căng thẳng ghê gớm về mặt lâm sàng hoặc thiếu hụt trong nghề nghiệp, giao tiếp xã hội, các khía cạnh đời sống khác.

Hiểu cơ bản, lúc còn bé con, chúng ta thường nghe các nhóc nhiều lần thổ lộ ao ước mình là giới kia, hoặc thậm chí không ngừng tin tưởng mình đúng là như thế thật. Chúng hay mặc áo quần khác giới cũng như thích chơi trò, giữ vai tương ứng với giới kia; ngoài ra, các biểu tỏ còn có thể là sự chối bỏ mạnh mẽ các loại đồ chơi đặc thù hay trang phục dành riêng cho giới đó. Cũng có thể là sự ghét bỏ cơ thể và bộ phận sinh dục của chính mình. Khi bước vào giai đoạn vị thành niên, các triệu chứng này thể hiện thành ao ước là người thuộc giới kia, được đối xử như giới kia, và thậm chí sống ở ngoài thực như người thuộc giới kia; giai đoạn vốn phức tạp này sẽ làm cho trẻ như thế càng cảm thấy khổ sở thêm khi buộc phải đương đầu với các cảm giác và vấn đề bản dạng ấy. Cả người trưởng thành lẫn vị thành niên đều nảy sinh nhu cầu khát khao giải thoát mình khỏi các đặc trưng giới tính ban đầu và thứ phát rồi thường thêm đoan chắc rằng mình được sinh ra với giới tính sai lạc hẳn rồi. Ý nghĩ về chuyện mình cảm nhận về bản thân từ bên trong không hề sát khớp với cái nhìn bên ngoài có thể gây nên nỗi niềm đau đớn với không ít người; họ tìm đến sự khuây khỏa nhờ liệu pháp thay thế hormone (HRT), phẫu thuật và các thủ tục phức tạp nhằm thay đổi ngoại hình (tham khảo). Một số chỉ thấy thoải mái khi sống ngoài đời đúng như là người của giới kia, số khác thì thích tiếp tục với bản dạng giới tính đã được ấn định từ hồi mới chào đời.

Trạng thái bất mãn về giới từng được gọi là rối loạn bản dạng giới (Gender Identity Disorder, GID), có người thì quen dùng thuật ngữ là đối tượng chuyển đổi giới tính (transsexuals); hiện tại, có vẻ ‘những người không theo chuẩn về giới” (gender noncomforming) là thuật ngữ tốt hơn nhiều vì nó chỉ cho cả những ai không cảm thấy mình thuộc về bản dạng nam hay bản dạng nữ.

Nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới cho biết họ muốn mình ‘cảm nhận như một người đàn ông bình thường’ hoặc ‘cảm nhận như một phụ nữ bình thường’ tương thích với định hướng hoặc bản dạng giới họ từng được nuôi dưỡng. Tuy thế, mục tiêu của trị liệu không phải là thay đổi các ý nghĩ này mà bắt đầu trợ giúp người ấy quản lý ác các cảm xúc này tốt hơn. Trị liệu không nên nhắm vào việc mình nên cảm thấy hoặc hành động ‘như một người đàn ông” mà thay vào đó, giúp mình hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra cũng như hỗ trợ mình trong những lựa chọn mình ra quyết định (ví dụ, sống ngoài đời như một bản dạng giới đàn ông hoặc phụ nữ, hoặc có lẽ là giới tính lưng chừng, mơ hồ (‘genderqueer’). Tiếc thay, nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới bị trầm uất và lo âu khi cố gắng hoài giải và quản lý các cảm xúc kiểu thế. Đáng lưu ý, thường xuất hiện nguy cơ khá cao muốn tự sát với nhóm này. May mắn là hiện có rất nhiều tổ chức và nhóm hội sẵn sàng trợ giúp các bạn giải quyết các cảm xúc vướng mắc.

Các cá nhân chuyển giới có nhu cầu lớn lao cho những đổi thay về các khía cạnh xã hội, nghề nghiệp và luật pháp. Chắc chắn, vẫn còn định kiến dai dẳng và nặng nề liên quan với chuyện đang bàn, và bước chuyển thay đổi chẩn đoán từ GID sang GD là hướng đi đúng đắn. Tuy vậy, nếu không có các điều kiện ‘mang tính chẩn đoán’ thì lại dễ gây khó khăn cho những ai muốn tiếp cận dịch vụ chăm sóc ý tế khi họ cần thay đổi trong giao dịch về bảo hiểm, dù thực tế nó còn là câu chuyện chưa ngã ngũ.

Lời cuối. Bản dạng giới thì không phải là bản dạng tính dục (sexual idnetiy). Người gặp trạng thái bất mãn giới có thể ổn thỏa trong việc thích hoặc yêu người có cùng hoặc khác giới với họ. Với đa phần chúng ta không phải rơi vào trạng thái bất mãn giới, cần hiểu cả loạt vấn đề mà các bạn bất mãn giới phải đương đầu, giải quyết như dùng đại từ nhân xưng nào gọi mình, mang một cái tên không tương thích với giới của bản thân, quyết định vào phòng vệ sinh nào cảm thấy thoải mái hơn, điền đúng vào ô khi khai các mẫu đơn thư và giấy tờ, thủ tục hành chính thường nhật, v.v…

‘Giới tính theo quy chuẩn’ có thể quen được sử dụng để mô tả cách mình nhìn nhận và cảm thấy về bản thân và về hành vi của mình tương thích với bản dạng giới. Song không phải mọi người ai cũng đều được hưởng đặc quyền tưởng chừng đơn giản như vậy.

‘Biết dùng lời rất khó để mà nói rõ… ôi biết nói gì…’

Đọc được nghiên cứu khẳng định cánh đàn ông đa phần quá dễ làm kẻ ngốc và thường hay tạo ra nhiều nguy cơ hơn so với chị em đã khiến tôi ít mơ hồ với quan điểm cho rằng mọi điều chúng ta biết về chuyện nói “I love you” có thể sai thật rồi.

Ngừng tìm kiếm, khởi sự phát hiện thêm chút xem sao. Thế giá trị chi đây khi mở lời: ‘Anh yêu em’/ ’em yêu anh’… Cơ chừng ba từ, tám ký tự, kèm kiểu ỡm ờ dụ dỗ ‘nói đi rồi em là của anh’ ấy đã bị lạm dụng thái quá; rằng kỳ thực, chúng ta không nhất thiết lâm ly ILY để biểu đạt cảm xúc yêu thương?

Giời ạ, liệu chúng ta hàm nghĩa gì khi phát ngôn theo lối nửa nạc nửa mỡ ‘tôi đã làm điều mà thiệt tình thì tôi không muốn tiến hành’ (thật kỳ cục hết sức, bởi rốt cục mình thực hiện rồi đó thôi).

Mà đời lắt léo, nào dễ hiểu cho cam. Chàng đang phải lòng hay tán tỉnh? Không phải câu trả lời trú ngụ nơi nụ hôn đâu, bí mật được các khoa học gia tiết lộ là nằm ở đôi mắt đấy.

Nghiên cứu mới cho thấy, các mẫu hình liên quan đến đôi mắt tập trung ở khuôn mặt kẻ xa lạ nếu người nhìn ghi nhận như một đối tác yêu đương tiềm năng, song người nhìn sẽ chòng chọc vào bộ phận khác ở cơ thể mình nếu anh/ chị ấy đang ham muốn tình dục. Xác quyết xảy ra tự động chỉ trong chưa đầy một giây làm sản sinh các mẫu hình nghiêng ngó khác nhau.

Nhóm tác giả trên tin là các kết quả nghiên cứu của họ sẽ góp phần tạo nên cách trị liệu mới trong tâm thần học và tham vấn hôn nhân. Nhờ thế, họ có thể giúp chúng ta điều chỉnh ai đó trong đời sống hàng ngày: nếu mình thấy bản thân đang muốn nói với kẻ lạ ‘đôi mắt anh hiện dừng ở đây, đồ đáng ghét ạ’ thì khả năng cao là họ không muốn lấy mình sớm đâu.

Vụ trêu ngươi vừa nêu còn góp phần lý giải tại sao yêu đương là một cuộc gặp gỡ (tình cờ) theo dạng bỗng dưng phải lòng ai đó. Mình thậm chí ngay lập tức ghi nhận là toàn bộ năm tháng đã qua chỉ để có khoảnh khắc duy nhất này thôi, rằng mọi thứ cốt hướng tới thời điểm lấp lánh đến độ quá xúc động thốt lên ‘cả đời em đợi anh đấy’.

Trong cuốn sách mới nhất, triết gia Žižek than vãn là các khoảnh khắc thần thánh khó quên ấy ngày càng hiếm hoi trong thời buổi hẹn hò trực tuyến nhờ internet. Theo một cách nào đó, chúng ta đang quay về kỷ nguyên mai mối và hôn nhân sắp đặt sẵn. Trừ khi không phải bố bạn chọn chàng rể rồi, đó là công việc của các thuật toán (algorithms) và các đại lý hẹn hò. Ý của triết gia là những gì họ đưa cho chúng ta đích thị là tình yêu song không có chuyện phải lòng, không có vụ gặp gỡ tình cờ rốt cục khó đoán trước được; ông buồn bã cho rằng ngày nay chúng ta đơn giản rất e ngại sự kiện (event) hoặc các cuộc gặp (encounters) kiểu phải lòng thế. Mình tình cờ bắt gặp hết sức ngẫu nhiên thôi song kết cục thì mình chấp nhận nó như là điều khiến toàn bộ đời mình thay đổi hẳn.

… Quay về với việc phát ngôn ba từ quyền lực ILY; nó hàm ý đấy là dấu hiệu mình chính thức cam kết, mình ưu tiên một quan hệ so với các mối còn lại, mình sẵn sàng đi đăng ký kết hôn và đám cưới, và thậm chí, sãn sàng làm tình. Thầm lặng hay lộ rõ, chúng ta tìm kiếm câu thần chú này vào dịp này nọ, đôi khi suốt cả cuộc đời.

Song lần nữa, nói ILY có thực sự trỏ về chất lượng và tình trạng lành mạnh của mối quan hệ cặp đôi không? Nghiên cứu chỉ ra, tiếc thay, chẳng nhất thiết đúng thế.

(bài chưa hết, sẽ viết tiếp khi thuận tiện)

Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.

Lệ Rơi, lên thuyền ra khơi, hay quẩn quanh ven bờ: buông lơi bàn chơi về tính chuyên nghiệp đua chen cùng đặc thù truyền thông hiện đại

Có vẻ câu chuyện chàng nông dân Hưng Yên mang biệt danh Lệ Rơi sắp đến hồi kết.

Ở một góc độ nhất định, tất thảy chúng ta dù muốn hay không và/ hoặc vô tình hay hữu lý, đều hướng tới phục vụ cộng đồng xã hội theo tâm nguyện ‘mua vui cũng được một vài trống canh’. Vượt trên những đau đớn trái ngang của thân phận, chính tính mục đích trong biểu lộ mối quan tâm, chú mục hành động và cơ sở tạo thành những nhận xét, đánh giá nọ kia về một hiện tượng hoặc nhân vật nào đó chắc chắn chi phối giá trị bản thân chúng ta: rốt ráo, động cơ và dự định là gì, nhằm ý đồ chi?

Dự tính và hậu quả

Từng nghe ví von rằng ‘thánh nhân nào cũng có quá khứ, tội đồ ra sao vẫn còn tương lai’ (chỉnh sửa tí cho nó vần êm dịu đặng tranh thủ hít thở thoải mái), soi chiếu vào tiêu chí căn bản vừa nêu lên ấy, sự khoe giọng phơi mặt của một con người trước bàn dân thiên hạ quả là một minh họa nghịch hợp quá chừng thương xót: ‘đã mang lấy nghiệp vào thân…”, chịu đựng và hứng khởi cùng phát tán đến độ gây cảm tưởng khó kiểm soát nổi, nổi tiếng và mỏi mệt, chi phối và phác thảo cái khung sườn phản ánh của diễn biến tâm tư lẫn tới lui chứng kiến đồng thời.

Chừng nào cứ quen nhìn ngó, xét soi nhân vật đình đám tựa ‘nạn nhân’ u mê bị dắt mũi hay kẻ quấy rối, chơi trội dị hợm nỏ hiểu gì về đời thì bất quá cũng không thể thoát khỏi tiền định sai lầm: tư duy nhị nguyên hướng tới phán đoán đúng sai, tốt xấu, người quan sát và đối tượng được quan sát, v.v…

Nên chi, đáng thành vấn đề nhất không chỉ là sự tinh tuyền của động cơ mà cũng cần để ý cả các hậu quả xảy đến nữa; thu hoạch mong muốn cũng quan trọng chẳng kém việc thiếu vắng nó. Liệu những ý định tốt lành có xứng biện hộ cho kết cục xấu tệ? Nảy sinh vấn đề phiền muộn vì đa phần chúng ta khởi sinh các dự tính ô hợp, thậm chí hơn một thứ duy nhất.

Không ai trong chúng ta hoàn hảo, song nơi chốn này đây nên luôn cần được làm tăng thêm tính thiện xảo (skillfulness) thay vì khiến giảm sút đi trạng thái tỉnh thức (mindfulness), về lý do rất chính xác tại sao chúng ta tiến hành những gì muốn làm, và các kết quả tiềm năng được thành tựu tác động, ảnh hưởng đến chính bản thân mình cũng như những người khác.

Lần nữa nhắc lại, khi tâm trí khởi sinh mọi sự, việc hiện diện hoặc mất bóng từ bi và khôn ngoan quyết định một biểu đạt hành động dẫn dắt tới Hạnh phúc xác thực hay không. Thực tế, nếu ai đó đích thị từ bi thì kẻ ấy sẽ nghĩ ngợi hết sức khôn ngoan gấp đôi trước khi đẩy đi món thứ có thể sẽ gây xáo trộn, mập mờ hoặc tàn hại tha nhân.Từ bi chỉ đích thị khi được dẫn dắt thực sự bởi khôn ngoan, vì chúng là hai điều hỗ tương qua lại.

Bật nhanh lên trong hiểu biết về dự tính, ý định của bản thân là tốt hay xấu, và chầm chầm lại việc xác quyết, tuyên bố về trải nghiệm mình kinh qua là tốt hay xấu.

Thiển nghĩ, sự thả xuống, rời xa, quên đi đích thực không gì khác hơn là xả bỏ dính mắc, ác cảm và hoang tưởng. Mức độ một người thả bỏ phụ thuộc vào tâm tính và tình huống riêng tư của chính anh/ chị ta. Song cái nên gìn giữ lại như nguyên tắc điều hướng là điều này thôi: việc đạt được tuyên bố đòi hỏi sự nhổ rễ, trừ tiệt toàn bộ sự thèm khát, và tiến bộ theo cùng trên hành trình là nỗi niềm thôi thúc ở tầm mức nhất định nào đó vượt qua sự thèm khát. Bẻ gãy tính chủ đạo, át vía của ham muốn chắc không hề dễ dàng song khó khăn không nào hề thủ tiêu sự cần thiết thực hiện. Khi khát thèm là cội nguồn của dukkha (vô vàn bất toại nguyện), tận diện nỗi khổ niềm đau ấy phụ thuộc việc tiết giảm thèm khát, và liên quan trực tiếp tới tâm trí muốn thả bỏ, rời xa…

Lúc này, khi ai đó nỗ lực cởi bỏ dính mắc, người ta bất chợt gặp phải một sự kháng cự ghê gớm ở bên trong. Tâm trí không hề muốn từ nhiệm chuyện nắm giữ các đối tượng mà nó cứ dần gắn bó thêm lên mãi. Cả quãng thời gian đằng đẵng nó quen thói tích góp, ôm ấp, và nắm chặt nên cơ chừng bất khả việc tháo gỡ các thói quen này nếu chỉ dựa vào mỗi hành động của ý chí. Người ta có thể dễ tán đồng nhu cầu cần phải từ bỏ, có thể rất muốn rời xa khỏi việc dính mắc ẩn sâu bên dưới, song khi tiếng gọi vang lên thì nghe chừng tâm trí dội ngược ngay liền và tiếp tục tiến bước trong nỗi khát khao thít chặt, ôm nắm những ham muốn, khát thèm sẵn có.

Biện pháp không nằm ở cách thế dồn nén; nỗ lực dẫn dắt ham muốn thoát ra với một tâm trí ắp đầy sợ hãi và kinh tởm. Cách tiếp cận này không những chẳng giải quyết được vấn đề mà còn đẩy nó chìm sâu, khuất lấp khỏi bề mặt trông thấy và vẫn phát triển âm thầm. Công cụ phóng thích tâm trí khỏi ham muốn là trạng thái hiểu biết. Sự xả bỏ, buông xuống đích thị không phải là vấn đề tự thuyết phục chính mình để từ bỏ các thứ hãy còn được ấp ủ, hoài nhớ trong lòng, mà là đổi thay viễn tượng về chúng (nhận ra chúng vô thường và không thật) đến độ chúng không còn ràng buộc ta được nữa. Khi hiểu biết bản chất của các ham muốn và thèm khát, khi điều nghiên thật sát gần nó với sự chú tâm nghiêm túc thì các ham muốn và khát thèm sẽ tự thân rơi rụng, biến mất mà không nhất thiết đòi hỏi phải đấu tranh, gạt bỏ.

… Câu chuyện của Lệ Rơi tựa các dự tính, ý định thu hút sự chú ý khác như vụ chụp ảnh khoe thân là câu chuyện của chính chúng ta, bởi vì hoàn cảnh đang chẳng ngừng chung đụng mọi thứ.

Cơn cớ chi chúng ta thù ghét nhau?

(sẽ viết tiếp các phần khác khi tiện dịp)

Chụp ảnh khoe thân: người mãi còn tần ngần, mê mải mình đến bao giờ?

Lại rộ lên việc chụp ảnh khoe thân; bên sen, trong hồ nước, với áo yếm, làn da và cơ thể phụ nữ.

Đã có quá nhiều ý kiến nhặng xị. Những đắng đót, cay chua, tức giận, hả hê và buồn tủi; từ cái nhìn của dân Hà thành chính gốc chê người ngụ cư, nhiếp ảnh gia làm thuê chụp xong, lấy tiền rồi hồn nhiên thổ lộ nỗi niềm khó nói, những lập luận bảo vệ quyền phản biện vòng vo đúng sai, thẩm mỹ mí đạo đức, luân thường, tom góp cả truyền thống vào với ngổn ngang hiện đại, dạy đời làm sao tròn vành đủ chữ cho tới thấu tận tâm can gái trẻ, đàn bà lu loa. lườm nguýt tị nạnh xen lẫn chửi bới, cạnh khóe nhau nghe hay như hát…

Tôi không phản đối, cũng không đồng tình với trào lưu này nhưng chúng ta hãy nhìn sự việc một cách công bằng nhất. Có lẽ ngay từ xa xưa cổ đại, nổi bật nhất là văn hóa thời Phục hưng, vẻ đẹp của phụ nữ đã được tôn vinh bộc lộ, minh chứng là những bức tượng, bức tranh vẫn còn đến ngày nay. Ở Việt Nam điều này cũng rất rõ, có thể nhìn thấy các dấu tích giao hoan trên Thạp đồng Đào Thịnh được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia,…Những gì mà các bạn trẻ đang làm hiện nay chỉ là một chiết xuất, một sự kế thừa ít nhiều phiên bản khác đi.

Việc nhìn ngắm cơ thể phụ nữ cơ chừng trở thành nét văn hóa phổ biến toàn nhân loại, nhất là ở xã hội hiện đại thì hiện tượng bình phẩm dáng vẻ bên ngoài liên quan đến cơ thể phụ nữ xuất hiện ở mọi bối cảnh lẫn tình huống riêng, chung, thậm chí không hiếm thấy ở ngay các cuộc gặp ngoại giao, mang tính chính trị nghiêm túc.

Ngoài biểu hiện của quyền lực khi chỉ trỏ, bình phẩm ngầm ẩn hoặc trực tiếp (bởi vì người nhìn vào kẻ khác là người có quyền lực: chef, bố mẹ, bác sĩ…), câu chuyện đậm chất văn hóa đời thường này còn ít nhiều mặc định ở người nữ như đặc trưng giới, kiểu với chị em thì cả thế giới hóa ra như một cuộc trình diễn lộng lẫy, phô bày cực kỳ hấp dẫn (trang trọng và dễ thấy rõ ràng là các cuộc thi hoa hậu); vì thế, vẻ ngoài là điều quan trọng nhất. Với đàn ông, phụ nữ được mong đợi là phải xinh đẹp. Phụ nữ cũng bị đối xử hết sức khác biệt tùy vào cách chúng ta nhìn ngắm họ.

Để giải thích câu chuyện đời thường này, thiển nghĩ, cần tìm hiểu 3 vấn đề: Văn hóa ca tụng tuổi trẻ và đề cao năm tháng hưởng thụ trường thọ ở đời, nhu cầu thu hút sức chú ý, và sự thiếu hụt về tâm linh. Sự trẻ trung và tuổi thanh xuân của con người có giới hạn nhất định nên ai cũng muốn lưu lại những khoảnh khắc đẹp nhất. Không chỉ có giới trẻ, hãy đặt câu hỏi tại sao những phụ nữ trung niên vẫn hay tới spa hàng tuần và chăm chỉ luyện tập yoga, đến các dịch vụ thẩm mỹ không ngừng? Đấy là minh chứng rõ nhất cho việc tự ý thức về vẻ đẹp của bản thân mình. Dễ thấy ra ngay là do sự khác nhau về gu thẩm mĩ, về môi trường sống, và về phông trải nghiệm.

Bạn sẽ thật sung sướng nếu như một bức hình của mình đăng lên được tới hàng trăm lượt Like, đó chính là động lực thôi thúc bạn đầu tư thời gian lẫn tâm trí để lên kế hoạch, chiến lược chuẩn bị rồi tung ảnh sao cho hiệu quả, nhấp nhả với lắm tư thế để làm mới phong cách của mình. Tần suất này tăng lên sẽ dễ dẫn đến “nghiện”.

Nếu một ngày, lượng Like của bạn giảm đi, bạn sẽ tự thấy mình thiếu hụt trong cuộc sống, tự thấy mình bị bỏ rơi, và điều tất yếu bạn sẽ phải tìm cách thay đổi, không còn gì khác, đó chính là cơ thể bạn, phô ra những gì đẹp nhất của mình.

Việc chụp ảnh khoe thân liên quan chặt chẽ với quan niệm về sự tự tôn (self-esteem).

Thực tiễn hành nghề, tác nghiệm cho tôi cảm nhận khá đau đớn khi chứng kiến không ít bạn gái trẻ hoặc những người phụ nữ thành đạt, giỏi giang, mạnh mẽ, sáng tạo và tài năng đến cần trợ giúp do có xu hướng nhìn nhận họ đang sống một cuộc đời không ra gì (bởi bản thân không xinh đẹp cho lắm hoặc chưa thấy hài lòng, tự thỏa mãn). Tôi được nghe nhiều câu chuyện dài tinh tế xen lẫn phức tạp về mối quan hệ trong công việc, gia đình, yêu đương giúp hiểu thêm sâu sắc cách thức xã hội vận hành và khiến người phụ nữ suy tư, cảm nhận, chịu trách nhiệm và hành động như thế nào.  Khi các nữ thân chủ của tôi nhận ra kiểu lối họ đang chia sẻ thì họ cũng có xu hướng lưu ý đến khía cạnh guốc trượt của khái niệm tự tôn, tin tưởng vào bản thân; như một thứ chén đắng phải ngậm ngùi uống vào để đạt được một cuộc sống tốt đẹp hơn vậy.

Ngày nay, truyền thông với sức mạnh của mình đã khai thác quá mức cơ thể của người phụ nữ. Đến dự một sự kiện (event), người ta chỉ chú ý đến nữ ca sĩ kia hôm nay mặc gì, bộ đồ ấy hở lộ như nào những điểm nhạy cảm, … điều đó vô hình chung đã đánh giá thấp giá trị của người phụ nữ.

Mặt khác truyển thông làm cho những câu chuyện điển hình như bạn nữ sinh ở Bình Dương nhanh chóng và dễ dàng lây lan hơn. Đồng thời tạo nên tâm lí đám đông, tò mò muốn biết về chuyện người khác mà thiếu đi sự khoan dung trong cách nhìn nhận, chấp nhận sự khác biệt, chấp nhận sự đa dạng về cuộc sống, và trên hết, nhìn nhận ai đó đơn giản như một con người. Từ định kiến sẽ rất nhanh chóng dẫn đến phân biệt đối xử.

Không cứ gì trong nước, truyền thông ngoại quốc cũng tranh thủ khai thác hình thể phụ nữ ngay trong các chương trình truyền hình thể thao cuối tuần. Chưa cần nói chuyện không ít các bình luận bên dưới vô số bài viết đăng tải trên mạng thể hiện sự thô lỗ hoặc đầy kích dục thì với bài viết giới thiệu nữ khoa học gia này, bạn sinh viên nọ thì cũng phải chêm nếm, thậm chí, đa phần chú trọng đề cập phần ngoại diện, vẻ đẹp hình thể thay cho việc nhắm vào thành tích, sự nghiệp của nhân vật.

Khi một cậu trai trẻ hoặc người đàn ông lịch lãm nhận được lời khen ngợi về hình thể thì thường họ chấp nhận hoặc cười xòa rồi thôi; đó không phải là câu chuyện quá bận tâm. Song với phụ nữ thì không thế. Qua thời gian, vẻ đẹp của một người phụ nữ được xem là tiêu chí nhìn nhận về sự đáng giá của bản thân; đó là lý do tại sao hầu hết phụ nữ dành nhiều thời gian và tiền bạc để chi phí, đầu tư vào tóc tai, trang điểm và ăn mặc. Nếu phụ nữ không xinh đẹp, họ có thể trở thành đối tượng bị châm chọc, phẩm bình và bị xúc phạm phẩm giá.

Nhân tiện, tôi thích ý tưởng đọc được của ai đó hiện không nhớ tên rằng mình có thể không tán đồng với một phụ nữ song chỉ trích, phẩm bình ngoại hình của cô ấy- trái ngược với ý tưởng và hành động của cô ấy- không phải là sự thiện ý, đặc ân của bất kỳ ai. Xúc phạm đến hình thể của phụ nữ thể hiện cho sự thiếu vắng hiểu biết, chứng tỏ không có khả năng suy nghĩ ở mức độ sâu sắc. Mình có thể chê bai cô ấy xấu xí, song người khác lại dễ nghĩ mình là kẻ ngu ngốc… Chúng ta đích thị thấu biết rằng phụ nữ đạt được sự bình đẳng thực sự khi đàn ông thôi nói về cách thức phụ nữ trông như nào và lắng nghe những gì chị em chia sẻ.

Sẽ hồ đồ nếu nói người trẻ thiếu ý thức, họ chỉ coi thường nguy cơ hoặc/ và đánh giá thấp hậu quả sẽ xảy ra mà thôi. Như vụ việc ở Bình Dương xuất phát từ ý nghĩ muốn lưu lại những khoảnh khắc thăng hoa của tình yêu mà các bạn ấy đã quên đi sự phiền nhiễu sẽ đến bất cứ lúc nào.

Vụ việc của nữ sinh ở Bình Dương có thể phản ánh cho niềm tin về một tình yêu lãng mạn, rằng tự thân tình yêu thôi là đủ đầy rồi và cảm xúc lứa đôi thuộc trạng thái bất biến, không thể thay đổi.

Đối với các bạn gái trẻ muốn nâng cao, cải thiện sự tự tôn và tin tưởng vào bản thân, có thể lưu tâm đến đôi điều khá đơn giản như sau. Hãy nhìn vào tất cả sức mạnh, ưu điểm và tài năng mà bạn có. Viết xuống, nói to chúng lên. Đặt bản thân vào trung tâm của câu chuyện đời mình; bạn là nhân vật chính, người mình thực sự yêu thích và tò mò muốn biết về.

Câu chuyện chụp ảnh khoe thân nơi đầm sen hồ Tây lần nữa khẳng định, vẻ đẹp hình thể chỉ là vẻ đẹp thâm trầm của làn da mà thôi. Không có gì sai trái khi người ta tổ chức kỷ niệm, thực hiện điều gì đấy để đánh dấu khoảnh khắc đẹp đẽ, đáng nhớ trong đời. Song chắc chắn đó không phải là toàn bộ bài học kỹ năng lẫn giá trị ưu tiên định dạng ý nghĩa cần nắm bắt nhằm tránh hậu họa đáng tiếc xảy đến.

Khó chối bỏ sự thật, các câu chuyện liên quan đến việc khoe thân gây ồn ào bình phẩm còn là dấu chỉ cho tác động, ảnh hưởng nhiều chiều của việc sử dụng ngôn ngữ cũng như mặc định vai trò mà người phụ nữ đảm nhận (“làm đẹp cho đời”).

Tôn trọng nhân phẩm và phát triển tính cách khác biệt: định kiến đến từ đâu ? (2)

Nhìn vào trong, thấy không gian đầy đến nao lòng.
Nhìn vào trong, thấy không gian đầy đến nao lòng.

Tiêu đề cho đôi ba bài về sự định kiến, cái nhìn tôn trọng sự khác biệt cũng như cách đánh giá mang tính đạo đức của giới hành nghề tâm lý – giáo dục đối với những nhân vật công chúng vốn được tôi cố ý ‘bắt  chước’ bài này (tên ban đầu là “Nên tôn trọng sự khác biệt của ‘bà Tưng'”).

Như thiên hạ vẫn bảo, khôn ngoan thì không gì khác hơn là nỗi đau được chữa lành.

Thực tế, việc đào tạo người ta về sự khác biệt không dập tắt được sự định kiến; thậm chí, nó còn làm sự định kiến tăng lên nữa. Hình thức triển khai khá đa dạng từ việc khái quát những gì nên nói và không nên nói, cho đến việc nhóm họp mọi người trong phòng, đứng giữa sân và đề nghị họ xếp loại bản thân theo các nhóm tự nó khách quan như giống, tuổi tác, và sắc tộc; hoặc tinh tế hơn như việc trải nghiệm, thích và không thích, và niềm tin: mỗi nhóm có thể chia sẻ chút ít về cách thức họ nhìn bản thân như một nỗ lực để giáo dục những người khác.

Thường thì có hai lý do để đào tạo sự khác biệt. Một, ngăn ngừa vụ việc liên quan đến pháp luật; hai, tạo ra một môi trường hài hòa mà trong đó mỗi thành viên được tôn trọng, sáng giá, và hoàn toàn có thể được tưởng thưởng vì tài năng riêng có (điều này góp phần làm giảm định kiến, tăng sự đa dạng giữa cộng đồng người làm công và quản lý chẳng hạn).

Một nghiên cứu của đại học Harvard với 829 công ty qua 31 năm chỉ ra rằng, việc đào tạo sự khác biệt “nói chung không có tác dụng tích cực trong môi trường làm việc”. Thái độ, và sự đa dạng của các tổ chức, vẫn duy trì như cũ.

Đích thị, điều này không đáng ngạc nhiên, bởi vì bất kỳ ai từng bị mắng mỏ thì quen thuộc với xu hướng chống lại sự mắng mỏ.

Dĩ nhiên, còn điều gì sâu xa hơn thế nhiều. Khi người ta phân chia thành các nhóm loại nhằm minh họa cho ý tưởng về sự đa dạng, nó củng cố ý tưởng về các nhóm loại. Đây chính là vấn đề định kiến căn bản; người ta không định kiến chống lại con người đích thực, họ định kiến chống lại các nhóm loại. Tỷ dụ. “Chắc chắn rồi, Đ. là gay”, họ la lên, “song anh ấy không giống với các bạn gay khác”. Vấn đề của họ không phải với Đ. mà với người đồng tính nam nói chung.

Những sự nhóm loại, phân chia hạ thấp, làm mất tính người; chúng đơn giản  hóa mức độ phức tạp của một con người. Do đó, chú mục vào con người thuộc loại, nhóm làm tăng lên thêm sự định kiến.

Cần nhắc lại kẻo quên rằng, định kiến là một xu hướng. Hầu hết các định kiến (ví dụ, thích ăn thực phẩm thay cho các loại giấy báo, hoặc giả định ai đang tức giận thì cần đề nghị họ đi ra ngoài) là rất hữu ích. Song mình sẽ gặp chuyện và các biện pháp ý thức nhanh chóng, trực tiếp hơn đó có thể là nguyên nhân khởi tạo rắc rối khi ta không nhận ra chúng và áp dụng chúng thiếu thích đáng, không phù hợp, khiến mình đưa ra các quyết định đột ngột hoặc bộc lộ sự phân biệt đối xử (thường gặp, phân biệt chủng tộc và định kiến giới). Việc soát xét, kiểm tra định kiến (vì sao con gái miền Tây hay làm nghề nhạy cảm?) đòi hỏi trạng thái cân bằng sắc sảo của tự ý thức (self- awareness).

Giải pháp vì vậy, thay việc nhìn con người như nhóm, loại, mục, hạng thì nên nhìn con người như con người mà thôi; ngừng đào tạo con người ta ráng chấp nhận sự đa dạng. Huấn luyện người ta làm công việc của họ với tập hợp đa dạng các cá nhân; không phân loại con người.

Vượt trên sự tương tự và đa dạng đối với tính cá nhân (ý nghĩ “ai đó giống mình’ có thể là lỗi lầm). Giúp họ nhìn Đ. không phải là cậu gay con lai da đen vùng khu Bốn, mà chỉ nhìn Đ. như Đ. thôi; dù Đ. là gay, con lai da đen, nói giọng đặc trưng vùng khu Bốn song cậu ấy phong phú và siêu vượt trên những điều đó nhiều.

Đừng củng cố thêm sự gán nhãn Đ. vì điều đó sẽ phục vụ cho việc tạo mẫu rập khuôn cậu ta; hãy làm tỏ lộ sự độc sáng, riêng có của Đ. Thay vì hỏi: ước mơ của một cậu gay con lai da đen vùng khu Bốn là gì, hãy đặt ra cụ thể: ước mơ của Đ. là gì; cậu ta đáng ghét chỗ nào; đâu là đam mê của Đ.?

Nghĩa là, hãy giúp người ta nhận ra thật không dễ chút nào trong việc giao tiếp với đủ các cá nhân này khác. Và đào tạo kiến thức cũng như nâng cao kỹ năng truyền thông ngõ hầu giúp họ học cách lắng nghe và hồi đáp với nhau– bất luận mức độ khác biệt đến thế nào– vốn là điều căn cốt kiến tạo nên một môi trường sống đảm bảo mọi người hài hòa và thân thiện.

(gõ xuống phần sau ngay khi thuận tiện)

J. Soi (24): Còn son phấn, người vẫn đẹp tươi cười trang điểm mãi…

Rạng rỡ nàng hoa phận nữ nhi, mùa vàng hận nắng đùa xuân thì...
Rạng rỡ nàng hoa phận nữ nhi, mùa vàng hận nắng đùa xuân thì…

Săm môi, kẻ mắt, tô son, đeo nhẫn vòng, sơn móng tay móng chân… Việc trang điểm ở phụ nữ thật kỳ công và đáng giá.

Những nỗ lực, gắng sức chuyển giao nữ tính vô vàn như thế thật không phụ lòng chị em; bởi cái đẹp, và cả năng lực, nằm ở đôi mắt người nhìn, bao gồm nhân vật quản lý công ty, đơn vị hoặc chuyên viên tuyển dụng việc làm nữa.

Khi ngắm nhìn một khuôn mặt đẹp, chúng ta giả định người  sở hữu tạo vật sinh lãi ấy là đối tượng tinh thông về mặt xã hội, tự tin và thành đạt. Giới chủ rất thích thuê lao động có khuôn mặt đẹp. Nghiên cứu trên cho thấy, trang điểm mặt hoa da phấn có thể làm cho hình ảnh bản thân được đánh giá là có năng lực, dễ thương, quyến rũ và đáng tin.

Tin tốt lành từ kết quả nghiên cứu này là ngay cả khi không đẹp thực chất thì mình vẫn có thể cải thiện cách thức các chủ sử dụng lao động hiện tại hoặc tiềm năng nhờ nhắm tới tiệm trang điểm gần nhất. Tin xấu là không có lý do thật cho vụ ngoại hình khi liên quan đến khả năng thực hiện công việc. Ai xếp loại cao hơn bất kỳ điều gì trong các năng lực tiến hành thông qua dấu hiệu khuôn mặt của công nhân, dù trang điểm hay không? Những phát hiện từ công trình trên hỗ trợ không những cho tầm quan trọng của cái đẹp mà còn cả nỗi đau đớn bị “phạt đền hiển nhiên” với những ai thiếu sự lôi cuốn hình thể.

Cũng thú vị là tuy nghiên cứu tiến hành chỉ trên khuôn mặt phụ nữ song chúng ta có thể cảm thấy khá tự tin rằng đàn ông trang điểm sẽ không trải nghiệm một sự tăng giá trị về năng lực tương tự. Bài học cho những chàng trai hay gã đàn ông tìm việc: ý tưởng hay với một mái tóc chải chuốt gọn gàng và khuôn mặt cắt tỉa sạch sẽ.

Và cho dẫu mình không chủ ý tìm kiếm những bộ quần áo hấp dẫn hoặc mái tóc lịch lãm (không còn nghi ngờ gì là để chuẩn bị cho trạng thái ‘sẵn sàng ghi hình’), rất thường khi khó chối bỏ được ít nhiều sự tự tin và sống động bắt mắt ở một số phụ nữ thành đạt, nổi tiếng.

Hết sức dễ chịu, mỗi ngày cánh chị em nói chung cơ chừng nối tiếp các kiểu loại áo xống, trang phục. Một người phụ nữ trung niên bình thường– khi quá lo lắng về chuyện mình nom già rồi hoặc chán việc tỉa tót, chăm nom– đang dần bị kìm kẹp bởi nền văn hóa ám ảnh bởi sự trẻ trung. Dẫu thế, một số điểm căn bản nay đang dần chuyển đổi; việc chống lại tuổi già cơ chừng lỗi thời và chừng mực thì nhu cầu nhìn ra sự lớn lao ở một độ tuổi nào đó lại được chú tâm. Xu hướng ấy được chào đón có lẽ do một số lý do sau:

  • Trang điểm ngày càng tốt đẹp và thích đáng hơn.
  • Các phương pháp về mỹ phẩm làm đẹp ngày càng tỏ ra hiệu lực cao độ.
  • Phụ nữ ngày càng thích chăm chút chính bản thân mình hơn.
  • Tính xác thực, chắc thật đang dần lôi cuốn quan điểm chị em.

Định kiến tuổi già có thể đã bị đổ thừa quá lố. Chúng ta quen tạo nên những liên kết tích cực với tuổi trẻ và liên kết tiêu cực với tuổi già. Hoặc có thể việc mỉm cười làm nảy sinh hiệu ứng “vầng hào quang” (halo effect)– một người đang mỉm cười nói chung được ghi nhận là tích cực hơn, hấp dẫn và trẻ trung hơn.

Thừa nhận hay không thì thực tế, tất cả chúng ta đang già đi; sự thay thế nó là cái chết (hàng ngày thì cứ lịm dần thôi bởi thói đỏng đảnh, thất thường, hay cáu gắt, thích vặn vẹo, trái tính trái nết…).

Rốt ráo có thể cho rằng, thay vì chống chọi lại tiến trình lão hóa, nhiều phụ nữ dường như đi đến chấp nhận điều tất yếu ấy. Họ đang định nghĩa lại thế nào là đẹp– ở độ tuổi 50, 60, và lớn hơn nữa– và đang khoác lên, chưng diện đầy tự hào định nghĩa mới trên khuôn mặt. Thật khuây khỏe, vơi nhẹ hẳn đi. Hy vọng một viễn tượng tích cực, tốt đẹp cho những thế hệ tương lai của họ đang đến không quá xa vời.

Hạnh phúc bất toàn, niềm vui không trọn vẹn. Còn son phấn, người vẫn đẹp tươi cười trang điểm mãi… Kỳ lạ thế đấy, cuộc đời này!

Vắn tắt về hình ảnh con người trong Tham vấn và cách tiếp cận Tâm linh- trọng tâm Trị liệu

Yêu thương vấn vương giữa đời thường
Yêu thương vấn vương giữa đời thường

Thử xem xét cách thức mỗi trường phái tâm lý trị liệu chính yếu góp vào cho một hình ảnh ẩn tàng về con người (Dryden, 1984; McLeod, 2003) bên trong nền móng lý thuyết của chúng (Lines, 2000).

* Hình ảnh con người của Tham vấn Tâm động (psychodynamic counseling) là thuộc về chức năng hiện thể trên nhiều bình diện nhận thức khác biệt, và dưới các xung năng của nhiều lực lượng đa phần chưa nhận biết được, một số tự chúng làm tỏ lộ những triệu chứng không giải thích nổi– những phòng vệ được dựng lên hết sức vô thức từ giai đoạn đầu đời nhằm bảo vệ và giữ an toàn cho Cái tôi (the Self) khỏi bị tổn thương.

* Hình ảnh con người trong Phân tâm theo kiểu Jung (Jungian analysis) là một hiện thể thông qua tiến trình cá nhân hóa (individuation), như trên một cuộc hành trình tâm linh của trạng thái Cái tôi và đang sinh hoạt dưới các tác động tâm thần của vô thức tập thể (collective unsconscious).

* Hình ảnh con người trong Tham vấn Con người- trọng tâm (person-centered counseling) là một cá nhân như chuyên gia của chính đời sống và trải nghiệm bản thân, như Cái tôi trong một trạng thái đang trở thành, và vốn định hướng bởi một tiến trình sinh thể đáng giá mà trong đó độ căng của quan niệm bản thân (Self-concept) được thiết lập nhằm đảm bảo sống sót trong bối cảnh xã hội.

* Hình ảnh con người trong Trị liệu Gestalt (gestalt therapy) thuộc một Cái tôi dấn thân dưới thôi thúc không ngơi ngớt đặng thỏa mãn các nhu cầu riêng tư khi chúng khởi lên trong môi trường. Cái tôi được nhìn nhận một cách toàn thể cả thân xác lẫn tâm trí theo một chuỗi các hoạt động qua lại hoàn toàn với nhau của suy tư, cảm xúc, hơi thở và ứng xử.

* Hình ảnh con người theo các nhà Tâm lý Hành vi (behaviour psychologists) là một Cái tôi được dẫn dắt phần lớn và động cơ là từ các yếu tố thuộc môi trường, được điều hướng dưới dạng hành vi bởi sự tưởng thưởng chủ đạo hoặc các kích thích mang tính trừng phạt.

* Hình ảnh con người theo các nhà Tham vấn nhận thức- hành vi (cognitive behavioural counsellors) là một Cái tôi chủ yếu có xu hướng, hoặc mang xu hướng hết sức tiềm tàng, bởi các khả năng tư duy và nhận thức.

* Hình ảnh con người trong Trị liệu Gia đình (family therapy) là một Cái tôi như thành viên của một khối thống nhất hơn là một hiện thể tách biệt hẳn, như một liên kết của hệ thống có tương quan và truyền thông qua lại với nhau.

* Hình ảnh con người trong Trị liệu Hiện sinh (existential therapy) như một Cái tôi cá nhân hạn chế đang nỗ lực để sống một cuộc đời đầy năng sản bên trong sự tồn tại đặt định rồi của con người.

Những điều vừa nêu rất chung và mơ hồ, và khó tin là nhiều nhà lý thuyết cơ chừng đã mô tả hình ảnh con người dưới vị thế lý thuyết của họ hoàn toàn khác biệt.

Không cần nói rằng nhà trị liệu tâm động sẽ làm việc với các trục trặc xã hội hiện thời của thân chủ, các triệu chứng thể lý hoặc vấn đề tâm lý thông qua các kháng cự nằm ẩn sâu dưới vô thức chưa được giải quyết và các cơ chế phòng vệ được thiết lập sẵn, bất kể nhà thực hành đánh giá công việc của mình thuộc cách tiếp cận tâm linh hay không.

Trường phái Klein sẽ làm việc dựa trên các động năng của các mối quan hệ đối vật (object relations) có liên quan tới bà mẹ và đứa con, và trường phái Erikson sẽ nhắm vào bố mẹ hoặc trẻ vị thành niên từ viễn tượng lý thuyết của sự lẫn lộn vai trò xảy ra trên tiến trình cá nhân hóa; lần nữa, nó là vấn đề diễn dịch  và phân loại có chút liên quan bất kỳ gì hay thảy đều dính dáng hết đến các chiều kích tâm linh.

Kenneth Gergen (1999, 2001) nhắc nhở chúng ta các cạm bẫy của việc chẩn đoán ‘vấn đề’ và ‘chữa trị’ bên trong các trường phái tinh tuyền lý thuyết hóa được dựa trên các ‘quan sát’ và mối bận tâm tới tâm trí cá nhân về phí tổn chi trả cho Cái tôi xã hội. Ông có lý khi cho rằng:

Các lý thuyết gia cấu trúc luận xã hội về hành động con người không xây dựng hoặc khởi phát lý thuyết của họ từ quan sát mà là từ một cộng đồng những người trò chuyện đã tiếp xúc được. Nó là các thỏa thuận ngầm đã chia sẻ có thể hiểu thấu nằm bên trong vùng bao bọc chuyên môn sẽ quyết định cách thức chúng ta diễn giải thế giới quan sát được.

Thật nghịch lý, trong bối cảnh thế tục đương thời của các phòng tham vấn, trị liệu ngày nay, có một sự miễn cưỡng trong việc dấn thân vào các vấn đề tôn giáo và tâm linh, thậm chí ngay cả khi các thân chủ có thể dẫn dắt nhà trị liệu bước vào các địa hạt ấy. Những chuyển động gần đây trong trị liệu tôn giáo và siêu cá nhân (religious & transpersonal therapy) dần khởi sắc sống động hẳn lên, chứ không còn là một giọng nói than khóc bị bỏ mặc ở chốn hoang sơ nữa.

Giờ là lúc thích hợp để giới thiệu vài ba chỉ dấu cho tâm linh- trọng tâm tham vấn (Lines, 2006).

Trước hết, có hai dạng thân chủ đặc trưng bị tác động bởi việc tỉnh thức và phản ánh về mặt tâm linh là đối tượng tuổi mới lớn và người trung niên.

Dưới cái nhìn của lý thuyết cá nhân hóa (Erikson, 1963; Jung, 1933) thì tuổi mới lớn được xem như thuộc giai đoạn tâm- tính dục bất thường trong thích nghi xã hội, với các dấu hiệu của sự hợp trội tâm linh (Grof and Grof, 1989), và từ quan sát của Jung (1933) là có nhiều đối tượng trong số bệnh nhân ở phía nửa bên kia cuộc đời trên 35 tuổi bộc lộ ra một quan điểm tôn giáo. Wilber (2001) cho rằng Tâm linh có thể được ‘đánh thức với bản chất đích thực riêng có của nó’, hiện diện là một tiềm năng siêu cá nhân của tất cả mọi thân chủ.

Các yếu tố tâm linh không chỉ hiển lộ trong sự trình bày vấn đề khi đến tham vấn mà có thể còn ẩn dưới cách thức thân chủ nhìn nhận thế giới. Các niềm tin tâm linh có thể quyết định sẵn những tùy chọn mang tính đạo đức trong các lưỡng nan hàng ngày (Lukoff et al., 1998).

Trong công việc lâm sàng, như việc mất đi người thân, tình trạng ẩn dật vô danh và tách biệt về mặt xã hội, lạm dụng chất và bia rượu, mập mờ về giới tính và có ý nghĩ tự sát đều được tham vấn với các cách tiếp cận chính yếu theo các mô hình tích hợp và chiết trung (Bergin & Garfield, 1994; Diamond, 2000; Lines, 2006) song đích thị có thể tỏ ra thích đáng không kém khi được nhấn mạnh thông qua tâm linh- trọng tâm tham vấn (Boorstein, 1996; Richards and Bergin, 1997; Thorne, 2002; West, 2004).

Tỷ dụ, chương trình của Elkin (1998) nỗ lực dùng cách tiếp cận của Jung và nhân văn trị liệu theo khía cạnh không tôn giáo của tâm linh, với các giả định sau:

  • chúng ta là độc sáng
  • các nhu cầu tâm linh của chúng ta sẽ thay đổi theo thời gian
  • chúng ta phải lựa chọn một thái độ phiêu lưu cởi mở để đánh giá lại trải nghiệm tâm linh dựa trên trải nghiệm riêng có của bản thân, ghi nhớ rằng công việc của tâm hồn không thể vội vã được
  • và chúng ta phải duy trì sự mở ngỏ đối với tính thiêng (the sacred).

Vậy, khi nào thì các thân chủ đề nghị trị liệu tâm linh?

Thường thấy 7 lĩnh vực quan tâm có thể khiến nhà trị liệu chuyển sang phương thức tham vấn tâm linh:

  • trải nghiệm huyền bí, siêu linh (paranormal experience) thời tuổi trẻ– sự phát triển hồi thơ ấu và tình cờ bắt gặp các ma quỷ, sinh thể tâm linh
  • mất mát người thân– sốc kích thích bởi sự không còn an toàn về mặt cảm xúc và đang thử nghiệm các hệ thống niềm tin
  • vượt qua các trở ngại trong các mối quan hệ– không thỏa đáng khi đương đầu khó khăn với những nhiệm vụ dính tới quan hệ
  • khám phá Cái tôi nội tại– nhận ra các nguồn lực bên trong để đáp ứng một thách thức
  • phát triển nhanh chóng về tôn giáo– tìm thấy sự dũng cảm đặng ‘chịu đựng đơn côi’ mà không hề được che chở về mặt tôn giáo
  • truy cầu ý nghĩa– thiết lập ý nghĩa khi định dạng bản sắc bên trong các vai trò đã không còn kéo dài nữa
  • đương đầu với sự ngừng trệ cá nhân hoặc mất bố mẹ– cái chết của những người thân thiết mở ra cơ hội.

Ba phân loại đầu tiên được áp dụng chủ yếu với đối tượng còn nhỏ tuổi và vị thành niên, trong khi ba phân loại ở cuối đa phần dành cho người trưởng thành, nhất là những ai trên tuổi trung niên. Loại thứ tư có thể hướng đến người đang đối mặt với một khủng hoảng ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, song lần nữa, sẽ dần trở thành hiển nhiên xuyên suốt các giai đoạn phát triển đời người khi diễn ra sự thay đổi về mặt cảm xúc, xã hội và tâm lý.