Lá thư trả lời vừa tròn 4 năm

Con là đứa vừa nãy gọi điện cho thầy ạ, con cảm thấy có lúc thì muốn mình thật là đông bạn bè tụ tập, có lúc lại chỉ muốn một mình, chỉ một mình, như con đã nói. Nhiều khi đi học về tự nhiên con thấy buồn rồi khóc mà chả hiểu tại sao mình lại buồn nữa, con sợ con bị mắc phải chứng tự kỉ hay trầm cảm gi ạ, với tâm trạng thất thường ảnh hưởng đến việc học của con lắm ạ, chứ con cũng ko để ý lắm người khác nghĩ sao về mình. Con nói một chuyện này cho thầy, có thể nghe ảo tưởng, nhưng có một giai đoạn con toàn mơ bị người khác rượt đuổi, lúc đó con sợ phải ngủ luôn, rồi có lần mẹ con dẫn đi xem bói, ng ta nói con bị người âm theo, nên nhiều khi con cứ mơ hồ sự tồn tại của mình, cứ hư hư thực thực. Mà con sống nội tâm, ít chia sẻ với ai, vì con không tin tưởng ai, con còn sợ khi tin tưởng ai họ phản bội mình, mình sẽ đeo mang thêm nhiều tổn thương, con cũng không muốn tha thứ cho một số người có hành động dù vô tình hay hữu ý, làm tổn thương con, dù con biết mình cũng muốn dc tha thứ chứ nói gì là người khác nhưng con ko làm được, nói chung trong con luôn tồn tại sự nghi ngờ. Con thấy mình rất dễ buồn và suy nghĩ những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống, con muốn sống vô tư như các bạn con mà sao khó quá thầy ạ?
————————–

Theo thư con mô tả thì có vẻ mọi thứ đã và đang diễn ra trong đời con như minh họa cho trạng thái đổi thay khá dễ hiểu của tuổi mới lớn vậy.

Tỷ dụ, chúng ta mơ tầm 7 giấc mỗi đêm song chỉ nhớ các giấc mơ nào đánh thức mình thôi. Các giấc mơ mang tính tổn thương cảm xúc, như kiểu con mô tả, là thông thường hồi thơ ấu. Giấc mơ hay phản ánh tâm trạng chúng ta: kẻ lo âu thì bị săn đuổi, người trầm uất mơ chết chóc, v.v… Giấc mơ cũng bao gồm các trải nghiệm về tuần vừa qua, kiểu các giấc mơ lựa chọn ghi nhớ vài điều mới xảy ra. Nếu một giấc mơ đủ đáng sợ, nó trở thành ký ức thường trực chứa đựng cảm xúc tạo nên giấc mơ, trong các ví dụ nêu trên là sự kinh hoảng, lo âu, sợ chết, v.v… Các ký ức chứa đựng cảm xúc lâu dài thế được gọi là ‘ký ức cảm xúc’.

Mọi người có một tập hợp các ký ức tốt và các ký ức xấu. Đấy là lý do tại sao chúng ta mỉm cười khi nhìn thấy một người bạn hoặc nghe một bản nhạc ưa thích, hoặc tại sao chúng ta tức giận ngay và luôn khi bị nhắc tới một sự kiện khó chịu trong đời. Hồi tưởng ký ức cũng kéo về các cảm xúc liên quan thời điểm đó.

Việc học hành hiện tại của con tạo ra tình huống tương tự cho ký ức cảm xúc thời thơ bé. Kết quả, bây giờ con giữ tâm thế đề phòng và cảnh giác cao độ với bất kỳ tình huống nào mà có thể tương tự với ác mộng thời thơ bé, là cảm nhận về *déja vu* ngỡ như từng thấy, biết trước í: kiểu lần đầu tiên nghe một bản nhạc và đoán tên bài hát. Não mình nhìn vào một bối cảnh rồi đoán ký ức nào khít với nó nhất, trong trường hợp này là ác mộng con gặp phải.

Bởi vì ký ức quá kích hoạt đến thế, đấy dễ là dấu chỉ rằng con đang trải qua một căng thẳng tinh thần (stress) trên mức trung bình vào giai đoạn hiện tại. Nếu chuyện ngủ nghỉ, ăn uống, tập trung hoặc năng lượng của con cũng gặp chuyện thì có thể là con đang trải qua một rối loạn lo âu hoặc trầm cảm. Khi trầm cảm chẳng hạn, não mình dùng ký ức cảm xúc để giày vò bản thân. Nếu con thấy mình đang trải qua các triệu chứng, dấu hiệu của trầm cảm hoặc lo âu thì thầy khuyến cáo con nên đến gặp chuyên gia tham vấn, trị liệu tâm lý để xem xét cụ thể tình hình như nào thử nhé.

Về vụ khóc lóc. Con biết không, đôi khi nhà trị liệu tâm lý già đầu vẫn có thể vẫn cứ âm thầm rơi lệ thê thảm trong tiến trình làm việc đó (đùa chút). Cơ mà ở đây, thầy muốn chỉ ra ngay là việc con khóc thì thuộc một dạng khẳng định, quyết đoán đó con: nhận ra mình cần cải thiện một điều gì đó và muốn tiến hành bước đi đúng đắn để chỉnh sửa, khít khớp nó. Học hành và giao tiếp bạn bè đôi khi thật mệt mỏi. Nếu con nhìn lại một ngày, chắc con sẽ thấy mình quyết đoán nhiều lần song đó chẳng phải là sự quyết đoán có thể đang khiến con rối rắm. Hầu hết các tình huống xã hội đòi hỏi sự quyết đoán là thường thôi (‘đây là bài kiểm tra toán của tôi’ hoặc ‘tôi không thích đi chơi game tối thứ Bảy’). Mọi người thường gặp rắc rối hơn nhiều với các tình huống quyết đoán vốn chứa đựng các cảm xúc mãnh liệt. Như con đã mô tả, khi một tình huống mang chứa cảm xúc khởi lên, cơ thể mình phóng thích adrenaline và các hóa chất khác góp phần hình thành cảm nhận ‘chiến hay biến’ (đương đầu hoặc bỏ chạy). Trạng thái phóng thích các hóa chất xúc cảm thế thường đưa một tình huống quyết đoán trở thành một tình huống xung hấn, nó cũng có thể là sự ngập tràn ghê gớm và tạo nên một sự quá tải về mặt cảm xúc khiến nảy sinh sự khóc lóc, ràn rụa nước mắt, run tay, lạnh tay, căng cơ, và chân giật giật…

Những nguyên nhân lớn nhất của các vấn đề tương tự có thể là:

– Thiếu kinh nghiệm xã hội. Đây là điều rất thông thường ở tuổi mới lớn. Các bạn ở lứa tuổi ấy có các phản ứng đậm tính cảm xúc ghê gớm, hết sức vi tế do thay đổi hormone và dậy thì; ít kinh nghiệm giải quyết các tình huống xã hội phức tạp đòi hỏi rất nhiều xác quyết cảm xúc mạnh mẽ mà tạm chưa kiểm soát được. Theo năm tháng, người lớn phát triển các kỹ năng xã hội tạo sự quyết đoán, thậm chí ngay trong các tình huống cảm xúc, với nhiều khả năng kiểm soát hơn. Nói công bằng, không phải người lớn nào cũng giỏi giang trong kỹ năng kiểm soát sự quyết đoán, dứt khoát về mặt cảm xúc đâu con, bởi thực tế chắc con từng thấy ở chốn công cộng vẫn có các cô chú, anh chị nổi cơn tam bành đó thôi. Trong vụ này, con có thể tuần tự luyện tập để dần quyết đoán hơn mỗi ngày. Đưa ra ý kiến, quan điểm của cá nhân con là dạng quyết đoán mà con có thể thực hành ngay đó.
– Lần nữa, như đã nêu, ký ức cảm xúc thường tạo nên tình huống mà con kể. Não bộ chúng ta nhớ các tình huống cảm xúc và ghi lại cả tình huống *và* các cảm xúc mình cảm thấy tại thời điểm đó. Nếu mình từng bị chó cắn, lần tới gặp một chú thì mình dễ cảm thấy tê hãi (cảm xúc) và nhớ lại lần bị táp trước đây (tình huống). Nếu ba má mình hoặc ai đó khác đã có phản ứng xung hấn khi mình bày tỏ ý kiến thì mình có thể dần bị tổn thương khi muốn biểu đạt chính bản thân mình. Việc con khóc và cảm thấy cảm xúc mơ hồ, khó chịu, nặng nề thì đích thị ký ức của con sợ hãi hậu quả mà con từng biết ít nhiều trong quá khứ. Thầy từng làm việc với một chị trẻ tuổi hay nhăn mặt lại mỗi khi chị ấy biểu đạt cảm xúc. Rồi chúng tôi phát hiện là mẹ chị ấy có thói quen bị thôi thúc không kiềm chế được nên hay tát tới tấp chị í mỗi khi không hài lòng với lời đáp trả của con gái. Vẻ mặt nhăn nhó lạ lùng là ‘ký ức cảm xúc’ của trạng thái bị tát lặp đi lặp lại và não bộ của cô gái trẻ sẵn sàng cho một cái tát khác mỗi khi cô gái biểu đạt cảm xúc bản thân, ngay cả với người lạ.
– Lòng tự tin không cao có thể cũng làm nảy sinh phản ứng như con kể. Có thể con cảm thấy ý kiến mình cơ chừng không đáng giá hoặc không đúng đắn. Nếu con từng bị chỉ trích vì phát biểu của mình trước đây (lần nữa, ký ức cảm xúc đó) thì con dễ chần chừ khi bộc lộ bản thân. Con có thể tìm kiếm sách vở để cải thiện lòng tự tin và cảm thấy bản thân có giá trị. Con cũng có thể khởi sự bộc lộ bản thân từ các tình huống không gây đe dọa chút chi cho tới tăng dần lên các tình huống chứa đựng cảm xúc mãnh liệt trong khi biểu đạt. Ở tuổi con, còn nhiều thời gian và cơ hội để thực tập vụ này mà nhỉ.
– Một mức độ stress cao có thể khiến cho việc biểu đạt cảm xúc trở nên trục trặc, khó khăn; nếu đúng đây là trường hợp của con thì hãy làm sao để giảm thiểu stress (đỡ căng thẳng, thấy thư thái) đồng thời cải thiện, tăng lên sự tự tin. Nếu cần, con có thể nhờ trợ giúp của chuyên viên tư vấn học đường hoặc đến trung tâm tham vấn tâm lý phù hợp.

Ghi nhớ rằng có một phản ứng mang tính cảm xúc khi mình biểu đạt bản thân là điều rất bình thường. Nếu được kiểm soát và sử dụng đúng đắn, nó tạo ra ‘lửa’ trong cách nói năng, kịch tích trong hành động, chất ‘mãnh liệt’ của lối biểu đạt đậm tính nghệ sĩ, và sự quả quyết trong hứa hẹn nữa đó con. Cầu chúc yên an.–

Bất an, bất mãn, bất công, và bất lực: xung hấn bị động còn kéo dài

Vụ việc tương tự đã từng xảy ra ba năm trước, cùng nơi chốn; hàm ý một cái gì vừa như sự bắt chước và lặp lại thừa thãi nhờ lợi thế truyền thông hiện đại, vừa bộc lộ rõ ràng xu hướng ứng xử bạo lực tựa cách đối phó với những bất mãn tràn bờ, phản ánh bất công xã hội sâu sắc, và nói nhiều hơn cùng hết thảy chúng ta về trạng thái bất lực nên xung hấn bị động hẳn còn kéo dài chưa dứt.

Giáo dục, điển hình bởi thiết chế trường học, trở thành điểm hút của hậu quả trở về chỗ khởi phát. Không đơn giản là tâm lý cá nhân thiếu khả năng nhận diện, kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc bản thân (dùng chữ cho thiệt xịn xò: ‘trí tuệ cảm xúc’) mà nghiêm trọng hơn, những câu chuyện tương tự thế này chứng tỏ ranh giới đã bị bỏ mặc, coi thường, và xâm lấn ở cả đôi bên; đồng thời, nhầm nhọt với sự xứng đáng liên quan sát sườn nhân phẩm nội tại, lòng tham vi tế khiến người ta nghĩ mình mặc nhiên được quyền khiến sân si thêm phần ghê gớm. Các giải pháp công nghệ như cài đặt máy quay hoặc quẹt thẻ điện tử ở cửa, cổng nào thay thế được ưu tiên vun bồi yếu tính đạo đức đòi buộc thể hiện qua hành động, ứng xử đúng đắn. Khi không gian riêng tư và công cộng trộn lẫn, nhập nhằng thì căn tính người lẫn lộn giữa hậu trường tập luyện với sân khấu biểu diễn. Giáo viên mất quyền sở hữu lớp học và chủ động vai trò; phụ huynh lo lắng, ám ảnh, và bất an thường xuyên vì vậy, ‘dài tay’, ‘mở miệng’, nhìn ngó… Bộ phận quản lý giáo dục e chừng lúng túng, mất khả năng đối phó tạm thời, thậm chí, đôi khi tê cứng, hoảng sợ. Luôn thế, trong trạng thái đe doạ (dù thực tế hay tưởng tượng), nhu cầu an toàn đẩy mọi người căng thẳng (phản ứng ‘chiến/ biến’ đặc trưng stress) và chỉ lo toan bảo bọc bản thân, rất khó suy tư sáng tạo, thấu cảm với tha nhân, tâm thế đâu dễ nghĩ tới viễn cảnh lành mạnh, ý hướng lớn lao, bền vững dài hạn…

Câu chuyện xảy đến tại quê nhà lần nữa, chứng tỏ chú tâm ‘(vì một) thành phố đang sống’ là quan điểm giá trị hơn nhiều cụm từ mỹ miều rêu rao ‘thành phố đáng sống’. Vô hình trung, nó tiếp tục sỉ vả thầm lặng với lời kêu gọi sáo rỗng ‘tôn trọng sự đa dạng và khác biệt’. Bởi rốt ráo, đa dạng vẫn hãy còn là chữ dùng mô tả xã hội chúng ta đang chung đụng với toàn bộ những khác biệt vô vàn của bản dạng người (identity). Tuy thế, khi nói về yêu cầu quản lý sự đa dạng, những gì đích thị chúng ta cần quản lý là vô số những bản dạng xung khắc, phức tạp mà tất cả chúng ta mang chứa trong lòng mình. Một cách sỗ sàng, sự thật trần trụi ấy liệu có thúc đẩy những ai đảm trách, đương nhiệm khiêm cung học hỏi công vụ, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn, và lần hồi góp phần chuyển hoá xã hội theo hướng tương tác bất bạo động, từ bi, và trí tuệ. Lần nữa, nghe chăng lời tâm tình da diết của bậc thức giả uyên thâm và nhà hoạt động xã hội siêu tuyệt Phan Châu Trinh ‘chi bằng học’ để giáo dục tìm thấy con đường khai sáng lẫy lừng, quốc gia hùng mạnh, quê hương hưng thịnh, lòng người hoan hỉ, trong ấm ngoài êm.–

T.B: Bài báo khai thác thêm chút chút từ gợi hứng bên trên.–

Giữa lưng chừng Bach, tiếng điện thoại đời mới, và chó sủa chưa vơi…

Giữa ngã tư đường hay trong chốn mật thất thâm cung, hoặc giả vẫn đang đi- đứng- nằm- ngồi nơi rừng sâu núi thẳm, gió cùng nắng vẫn vô tư chiếu rọi. Giờ có thể nghe các tuyệt phẩm của Bach thoải mái, sải chân dài băng qua đại lộ của vô vàn thứ đồ bán hạ giá cuối năm, rồi từ tốn dừng ngắm mặt trời vừa ngang lưng chừng vai áo…

Cái trò chơi bi sắt (pétanque) một thuở trên nền đất dung dị đời thường của lũ trai phố thị, cả nghệ thuật luyện tập cùng tâm tư vắng bóng hơn thua… Rải khắp những vòng tròn vô tận hiến dâng người người thảy đều dễ dàng nắm bắt, mà trước tiên bản thân cảm nhận riêng mình. Bổ củi, tưới cây, gánh nước, quét nhà… vô lo chi sự. Đấy là khoảnh khắc siêu phàm của thăng hoa lủ khủ lần lặp lại. Tâm ban sơ, tâm thấu đáo mọi lẽ điều mầu nhiệm. ‘Shaman’, ta hội ngộ vị thầy ẩn nhẫn bấy lâu; cơ hội làm việc cho tiến trình trở thành toàn thể lần nữa: chữa lành ốm đau, giữ gìn kiến thức, khuyên bảo sự mất mát, và hiệp thông cùng thế giới thần linh. Trạng thái vén lộ trực tiếp muôn một ở khoảng hõm xương lõm vào kỳ diệu, cuộc hành trình dọc dài các chiều kích giăng kéo bất phân. Thứ công cụ cổ xưa nương dựa vào càn khôn đặng giúp kẻ khó tìm thấy đời muốn sống: vũ trụ và hang động gặp gỡ nhau với thực tại khác.

Ban trưa nghe vang vọng xa xăm những điều từng xảy đến từ rất lâu, và nó vẫn cứ diễn tiến. Một khuôn khổ tâm linh khởi nguồn từ trải nghiệm trực tiếp, khuyến khích tin tưởng vào chính mình; truyền cảm hứng hồi nảo hồi nao thời thơ ấu, sự hiểu biết triệt để của thế giới thực và trí tưởng tượng của tâm ban sơ. Bất toàn, chẳng hề thông thạo; vị ‘chuyên gia’ nào dám thừa nhận anh ta nỏ có rành rẽ chi chi. Không ai đánh giá kẻ mới bắt đầu. Và trong thế giới Youtube âm nhạc của Bach rơi cùng chiếc lá bàng nghiêng đổ bên vỉa hè lối nhỏ, khi điện thoại đời mới nhất ai đó reo vang, có lắm mối đau đầu với hạn cuối cùng sắp tới, và con chó sủa không chịu dừng vì giời đất chuyển dông; bất kỳ năng lực kiểm soát nỗi niềm lo âu giỏi giang mấy cũng khó bao gồm một chỉ định sẵn về điều thú vị. Thì đây, shaman, ta cần cởi mở, da diết, và thiếu vắng định đề tính sẵn. Tôi nhìn thấy mình nơi hòn đá phủ rêu, và lặng lẽ ngồi xuống lần nữa…–

Chết cười

Chọn xong tiêu đề thì sực nghĩ sao không thử tra từ điển tiếng Việt xem họ giải thích thế nào. Mục từ liên quan tới ‘chết’ chiếm gần hai trang, tùm lum thứ, tỷ như ‘chết đuối vớ phải bọt’ hoặc ‘chết chẹt’… (Hoàng Phê, Trung tâm Từ điển học, In lần thứ bảy, 2015). Mỗi tội chẳng nói chi về ‘chết cười’ cả.

Nỏ đáng buồn. Cóc thành vấn đề.

Phải tư duy một cách triết học nghĩa là, (a) xác định các thuật ngữ trao đổi; (b) cắt rời lập luận; (c) diễn giải ý kẻ khác hết sức rộng lượng song lại đặt nghi vấn về chính mình.

Tếu táo và vu vơ ăn theo tí tẹo khi mưa to gió lớn não nề về xu hướng giáo dục

Việc từ bỏ thói quen đọc báo, xem TV và theo dõi tin tức thời sự hàng ngày có cái lợi nhãn tiền là chính mình tiếp tục tự khẳng định niềm tin (riêng với bản thân thôi) chắc như định đóng cột rằng mục tiêu không đạt được bằng tốc độ.

Bất chợt gặp phải đây đó nghiến răng bàn về xu hướng giáo dục là thêm một lần giật thột phát hiện thấy rất nhiều người có tham gia vào dự án mãi vẫn chưa chịu kết thúc này. Mọi nỗ lực, về mặt lý thuyết, đều đáng tưởng thưởng. Tất cả chúng ta gánh lấy trách nhiệm trong sự phát triển nghề nghiệp (dân gian truyền tụng câu cửa miệng ‘tập trung vào chuyên môn nào’), vì thế, hãy cùng nhau cống hiến cho ý tưởng rằng khoa học giáo dục sẽ trở thành chủ để nổi bật đủ đem lại lợi lạc ở hết thảy bậc học và cho mọi lứa tuổi.

Điều cần nghiêm túc lần nữa, việc định dạng các nhấn mạnh và xác lập các mối quan tâm trong chính sách và thực thi giáo dục chắc chắn sẽ khác biệt, tỷ dụ, một số thuộc phương pháp luận, số khác nằm ở triết lý, số khác nữa là chuyện tổ chức; tương tự, không giống nhau ở tông giọng: một số cần ghi chú khẩn cấp, một số khác đòi hỏi kế hoạch dài hơi,…

Đêm hôm gió máy nên nhớ đại khái là xu hướng giáo dục chi chi có thể hiểu về mặt thao tác theo chương trình đào tạo thể hiện khả năng thích nghi với cuộc sống, tổ chức hướng dẫn bằng các vấn đề nảy sinh trong cộng đồng, tăng cường trách nhiệm của học sinh cho việc lập kế hoạch trải nghiệm giữa đời, cố gắng nhắm vào sự hiểu biết những phương thức mà trẻ đang học hỏi, phải liên quan tới các phương pháp tư duy…

Nên thẳng thắn vận dụng đúng điệu xứ Quảng ‘nói phải củ cải cũng phải nghe’ đặng mong rằng sẽ là nhiệm vụ tuyệt vọng trong nỗi niềm ước ao định hình *tất cả* các xu hướng giáo dục đương thời, tuyệt vọng và chắc chắn vô ích nữa, vì một số sẽ được khai thác cạn kiệt và các xu hướng mới mẻ sẽ phát triển trước khi bất cứ điều gì có thể được thực hiện về các xu hướng đã xác lập này.

Thiển nghĩ, vì giời vừa ngưng đổ mưa và tiếng động cơ máy bay đáp xuống phi trường thành phố ồn ào quá, nên tạm thời chốt lại là cần phải làm gì đó về các xu hướng; định hình chỉ vì lợi ích của việc định hình chung quy đâu có được chi, ngoài chuyện chúng mình bận rộn quay mòng mòng suốt ngày.

Đặt câu hỏi trong tham vấn buồn đau, sầu khổ vi tế

12271277_749431878494749_342457884_o
Vắng người mùi áo nhớ thay, bóng tan nhỡ giấc đọa đày hằn in…

Thấy ai đó lọ mọ kiếm tìm trên blog Tâm Ngã theo từ khóa ‘mẫu câu nói hay trong tham vấn’…

Dưới đây là cách đặt câu hỏi trong tham vấn buồn đau, sầu khổ vi tế được dùng khi lượng giá và góp phần giúp thân chủ dễ dàng biểu đạt cảm xúc hơn, một thành phần cốt yếu thuộc tiến trình trị liệu. Các mẫu câu hỏi kèm mục đích đề ra sẽ thể hiện rõ ràng quan điểm vừa nêu.

*Các câu hỏi:

  • “Liệu cô có thể kể cho tôi nghe về cái chết?”
  • “Điều gì đã xảy ra hôm đó thế?”
  • “Cô ở đâu khi nhận được tin mất mát?”

Mục đích:

Các câu hỏi này mở ra chủ đề về buồn đau, sầu khổ và tạo cơ hội để người chịu tang nói về sự mất mát; việc ấy cũng cung cấp thêm thông tin liên quan tới bản chất và hoàn cảnh của cái chết (bất kể đã lường trước hay bất ngờ xảy đến). Chối bỏ và các cơ chế phòng vệ khác sẽ bắt đầu xuất hiện. Cảm xúc tội lỗi và giận dữ cũng khởi lên bề mặt. Chứng tỏ người chịu tang miên man nghĩ về đầy cảm xúc…

*Các câu hỏi:

  • “Liệu có thể kể cho tôi nghe về người cô từng yêu thương?”
  • “Cô đã sống rất hòa hợp với anh ấy?”

Mục đích:

Các câu hỏi kiểu thế cho phép nhà tham vấn biết rõ hơn lịch sử người đã khuất và mối quan hệ với thân chủ. Trong những đáp ứng, nhà tham vấn nên lắng lòng trước thông tin ngụ ý chất lượng quan hệ, các kỳ vọng, nhu cầu, xung đột và vai trò đang khống chế sự biểu đạt cảm xúc.  Lịch sử cùng nhau với sự tương thích giữa nội dung và tình cảm sẽ là dấu chỉ rõ ràng của trạng thái yêu ghét mâu thuẫn và xung đột lẫn lộn.  Các cảm xúc đau buồn, sầu khổ có thể được coi như là giai đoạn tiến bộ thông qua tiến trình vật vã, tiếc thương.

*Các câu hỏi:

  • “Chuyện gì xảy ra khi người ấy mất đi?”
  • “Những chuyện vậy có ý nghĩa ra sao với cô, gia đình và bạn bè?”

Mục đích:

Các câu hỏi này tạo điều kiện tìm hiểu gia đình và các mẫu hình xã hội trong tương tác với người đã mất; nó bao gồm các yếu tố văn hóa- xã hội có thể ảnh hưởng tới tiến trình đau buồn. Tập trung chú ý vào sự giao thiệp sẽ giúp mình đánh giá mức độ chấp nhận của thân chủ về sự kéo dài mất mát.

*Các câu hỏi:

  • “Cô từng trải qua thời điểm khó khăn nào trước sự kiện mất mát này chưa?”

Mục đích:

Câu hỏi này giúp đánh giá chuyện đã xảy ra hoặc mới thêm vào gần đây dễ gây tác động tới sự đau buồn, sầu khổ, thương tiếc. Đặt câu hỏi kiểu thế có thể khám phá khả năng ‘bị tước quyền’ mà thân chủ đang phải chịu đựng.

Lời cuối, việc mất mát người thương yêu, thân thiết tác động tới mọi khía cạnh đời sống  cả hiện tại và tương lai của người ở lại, có thể phá vỡ nghiêm trọng sức khỏe tâm lý của họ nếu không được giải quyết đúng đắn và kịp thời.

Giơ tay rồi ngồi nhìn vào mắt nhau: trông thấy điều lo lắng không cân xứng

Vì người cười không khóc, lòng buông cùng cỏ cây...
Vì người cười không khóc, lòng buông cùng cỏ cây…

Thật cảm động khi có cơ hội ngồi đối diện nhìn vào mắt nhau; chắc càng tuyệt, nếu giơ thêm bàn tay vệ sinh sạch sẽ trước vấn nạn biến đổi khí hậu toàn cầu. Nghiên cứu cho thấy, chỉ cần 4 phút tiếp xúc mắt liên tục sẽ làm tăng thêm sự thân mật, thậm chí, có thể xảy ra chuyện khiến kẻ lạ phải lòng nữa. Vâng, thường thì tuổi trẻ vốn có xu hướng lãng mạn và không ngại ngần tiến hành cách mạng đủ mọi loại thứ trên đời.

Bọn ta *nên* lo lắng điều gì? (Lo lắng vì chẳng phải ai khác, chính chúng mình góp phần tạo dựng tương lai).

E chừng ấy là nỗi sợ hãi không cân xứng: sự thiếu nhất quán giữa trạng thái khách quan của khoa học với sự khinh rẻ của đám đông to mồm đó đây. Nguồn cơn khởi phát dễ tìm thấy khi cân nhắc điểm khác biệt căn bản giữa hai ‘thế giới’.

Một là thế giới của các ý tưởng mang nội dung khách quan, đặc thù khoa học như khối kiến thức gồm các lý thuyết khả thể và đích thực, sự đúng đắn hoặc có thể sai của chúng, tính có thể bác bỏ, các trắc nghiệm chấp nhận hoặc thất bại, các khẳng định tin cậy hoặc chẳng thuyết phục, các mục tiêu thỏa mãn hoặc không trả lời nổi, sự triển khai bằng chứng cốt lõi, thành tựu tiến bộ đạt được. Khoa học theo Darwin chẳng hạn, giữ vị thế cao trong thế giới này với kiến thức khách quan tựa như ‘ý tưởng duy nhất hay ho chưa từng ai sở hữu’, và chắc hẳn độc sáng trong lịch sử khoa học; tưởng chừng không thể bị thay thế, sinh học sẽ là mãi mãi theo kiểu Darwinian, vì sự chọn lọc tự nhiên có vẻ là cơ chế duy nhất thực hiện thiết kế mà không có nhà thiết kế. Và hiểu biết Darwinian về bản chất con người là sự ứng dụng trực diện với tuệ giác căn bản đó. Nỗ lực nghiêm cẩn đầu tiên khoa học vì bản thân chúng ta…

Thế giới khác là thế giới chủ quan của các trạng thái tinh thần, của con người và xã hội: suy nghĩ, niềm tin, tri giác, cảm xúc, tình cảm, hy vọng, hoài bão.

Lưu ý sự phân biệt này, chúng ta có thể ghi nhận hết sức chính xác sự mất cân đối, không tương xứng và tại sao nó lại gây lo lắng đến thế.

Nói chung, sự tiếp nhận của công luận về một lý thuyết khoa học tán thành do và đa phần nhất trí bởi việc đánh giá thế giới khách quan của các ý tưởng. Tuy nhiên, nó không giống trường hợp hiểu biết khoa học về bản chất tiến hóa của nhân loại và vượt trên tất cả, các bản chất giữa giống đực và giống cái, đàn ông và đàn bà. Nếu các tranh cãi về khoa học tiến hóa của bản chất người được thực hiện trong thế giới của các ý tưởng mang nội dung khách quan, sẽ không có cạnh tranh; lý thuyết tiến hóa sẽ thắng thật dễ dàng. Song, như một sự kiện xã hội học, giữa thị trường công khai thì khả năng nó sẽ thất bại thảm hại trước những chỉ trích om sòm.

Bằng cách nào ư? Vì trong một sự đảo chiều hoàn toàn của quan hệ khách quan giữa khoa học với những chỉ trích như thế, tất cả mọi sự bất tương xứng, không cân đối đều lật ngược. Thứ nhất, sức nặng của ‘chứng cứ’, sức nặng của lập luận được chuyển di từ những chỉ trích vào thành khoa học, nó là chủ nghĩa Darwinism vốn chờ xét xử. Các thái độ chống Darwin không buộc phải tự phòng thủ, họ được chấp nhận khỏi bị phê phán, các tiêu chí đánh giá về các quan điểm này gồm tất thảy sự sẵn sàng tín nhiệm và ngờ vực tuyệt không chút tin tưởng. Thứ đến, thêm sự sỉ nhục gây tổn thương, một trạng thái quá thừa thãi các đồ thay thế tạo tác tại gia dùng làm trò ảo thuật đặng lấp đầy khoảng cách với cái khoa học nên là. Dạng khoa học bản- thân- tự- làm- lấy này bao gồm những tuyên bố dựa trên phương pháp giả tạo vốn chỉ là tên gọi mà thôi; sự ‘vướng mắc’ không thể thay đổi giữa tự nhiên và nuôi dưỡng nhằm nêu lên bản chất đố mà hiểu thấu rốt ráo do đó, cởi bỏ ‘bản chất tinh tuyền’ để được thảo luận đầy đủ chi tiết, một kỵ sĩ không thèm đôi co với bằng chứng thực nghiệm khó khăn mới chiến thắng nổi, dù sở hữu thiên hướng động não giỏi giang; tiềm năng ma mãnh của ‘tạo mẫu rập khuôn’ và ‘các mô hình vai trò’; một quyền lực bất chấp logic để dựng lên những điều bí hiểm trong tâm lý của cái rỗng không, như trong ‘xã hội hóa’ và ‘trao quyền’; gán ghép các cơ chế mà thậm chí không mấy tin tưởng: làm nhiều việc cùng lúc, lòng tự trọng, đe dọa rập khuôn; những phàn nàn về ‘sự việc gây tranh cãi’ và ‘có dụng ý, động cơ’ tựa như khoa học xã hội đích thực nhưng thực sự thì giả dối về mặt khoa học. Chính sách thoát- ly- khoa- học kiểu như thế là do vận động hành lang, được gán cho giả thuyết ‘định kiến và rào cản’ và một sự chối bỏ tiền nghiệm về khoa học của những khác biệt giới tính chẳng hạn.

Sự rối rắm này coi thường giá trị khoa học, song nó lại không hề bị đối xử như ý kiến đối lập với khoa học; trái lại, về mặt tâm lý và xã hội học, nó có một tiếng nói cực kỳ ảnh hưởng và gây tác động mạnh mẽ hơn địa vị khách quan được đảm bảo của chính nó.

Bi hài và thực trạng gì thì chí ít nó đang hiện diện. Song, dưới quan điểm dài hạn, vô tư của bản chất con người như sản phẩm của công trình chọn lọc tự nhiên, một viễn cảnh rộng lớn hơn đang mở ra. Và điều đó gây ấn tượng cho chúng ta về đặc ân được sống trong thời điểm của các giá trị Phục hưng, phương thức hiếm hoi, cục bộ, các giá trị gần đây trong lịch sử hai triệu năm cũng như đấy là các giá trị thuộc bản chất của giống loài chúng ta sẽ tiếp tục được bồi dưỡng. Đóng góp của Darwin trong sự hiểu biết của chúng ta về chính bản thân mình là điển hình cho tiến bộ nhân loại, một lý tưởng thần kỳ không chỉ của khoa học mà cả dí sản văn hóa rộng lớn hơn là các tư tưởng Phục hưng.

Hiểu biết sự phân biệt giữa tính khách quan tự trị của thế giới các ý tưởng và trạng thái hết sức khác của tâm lý và xã hội, chúng ta có thể lượng định giá trị đích thực của khoa học. Và khi ghi nhớ nằm lòng viễn tượng sâu xa ấy, chúng ta sẽ ít lo lắng hẳn đi về những nỗi sợ hãi thiếu cân đối, không tương xứng này.

Chối bỏ như một cơ chế phòng vệ

Với người nhiễu tâm (neurotics), chối bỏ (denial) là cơ chế phòng vệ vô thức bảo bọc họ chống lại trải nghiệm đớn đau không chịu đựng nổi. Với kẻ bị loạn tâm (disorderded), những gì chúng ta quen ghi nhận như các cơ chế phòng vệ vô thức (chối bỏ chẳng hạn) thường là các sách lược có tính toán nhằm khôn khéo tạo ấn tượng, diễn trò, và lảnh tránh trách nhiệm.

Dạng nhiễu tâm dùng nhiều thứ cơ chế nội tâm đặng chống giữ, che chắn trước trải nghiệm nỗi đau cảm xúc và làm khuây khỏa lo âu. Hầu hết mọi người nghe nói về các ‘cơ chế phòng vệ’ cơ bản này. Đấy là các công cụ *vô thức*, dù quyền năng song tỏ ra không thích đáng hoặc không luôn luôn cực kỳ lành mạnh tựa các cách thức giảm bớt nỗi đau cảm xúc. Các ‘triệu chứng” mà cá nhân kẻ loạn tâm khiến nhà trị liệu chú ý là kết quả lo âu sót lại hoặc nỗi đau cảm xúc vẫn còn đó sau việc dùng chẳng mấy hiệu quả một hoặc nhiều các ‘cơ chế phòng vệ’ đặc thù. Vào những dịp khác, một người dễ nhờ cậy trợ giúp bởi vì ‘các phòng vệ’ dần tăng thêm sự thiếu thích ứng hoặc bắt đầu bẻ gãy, để mặc nỗi đau cảm xúc ẩn bên dưới chúng nổi lên bề mặt.

Các tính cách loạn tâm dấn thân vào một số hành vi quá ‘tự động’ đến độ gợi ý nghĩ thực hiện chúng hoàn toàn vô thức. Thoạt nhìn, các hành vi này giống với các cơ chế phòng vệ và dễ diễn giải thành như thế, nhất là bởi các cá nhân bị ngâm quá mức trong các hệ hình truyền thống. Tuy vậy, xem xét kỹ càng hơn, các hành vi này chính xác ra phải được gọi tên là những sách lược diễn trò, mánh lới gây ấn tượng và chống kháng trách nhiệm.

Lấy ví dụ về một người phụ nữ kết hôn và sống cùng chồng 40 năm nay, và bà vừa đưa ông vào bệnh viện vì trong khi họ làm việc ngoài vườn thì ông ấy chợt nói năng khó khăn rồi trông có vẻ kiệt quệ. Các bác sĩ chẩn đoán chồng bà bị đột quỵ, giờ não đã chết và sẽ không hồi phục được. Dẫu thế, mỗi ngày bà vẫn vào bên cạnh giường ông, nắm tay và trò chuyện. Các điều dưỡng bảo ông không thể nghe thấy song bà vẫn nói với ông hàng ngày. Các bác sĩ bảo ông không hồi phục được song bà thì tự nhủ với bản thân rằng ‘tôi biết ông ấy sẽ qua khỏi, ông ấy là một người đàn ông mạnh mẽ’. Người phụ nữ này đang ở trong một trạng thái tâm lý lạ lùng: trạng thái chối bỏ. Bà rất khó khăn để tin những gì diễn ra. Mới đây thôi, bà còn ở ngoài vườn cùng ông, thích thú bên nhau làm công việc ưa thích. Trước hôm xảy đến sự cố một ngày, họ cùng nhau đến thăm gia đình một người bạn. Ông ấy cơ chừng toát lên nét vẻ thật hạnh phúc và khỏe mạnh. Ông ấy không đau ốm gì lắm khi bà đưa vào bệnh viện. Thế mà, trong chớp mắt thôi, họ đang nói rằng ông sắp chết. Nỗi đớn đau thấm đẫm cảm xúc này bà chưa từng phải chịu đựng. Bà không sẵn sàng chấp nhận việc người đàn ông đầu ấp tay gối suốt 40 năm qua sẽ không về cùng nhà với bà nữa. Bà không chuẩn bị tinh thần cho việc sống cuộc đời vắng bóng hình ông. Vì vậy, tâm trí vô thức cung cấp một phòng vệ hiệu quả (hầu như tạm thời) để bà chống lại nỗi đớn đau. Rồi dần mai một, khi bà đủ khả năng chấp nhận thực tế phiền não, sự chối bỏ của bà bị bẻ gãy, lúc ấy, nỗi đau bấy lâu tích chứa phun trào và bà sẽ xót buốt cõi lòng ghê gớm.

Một ví dụ khác về cái gọi là ‘chối bỏ’. Nam (tên giả), quen bắt nạt trên lớp, đi dạo với một trong các bạn học không nghi ngờ gì rồi tiến hành giật tung cặp sách bạn đang cầm, đá tung tóe sách vở khắp nơi dưới sàn nhà. Đúng lúc đó, giám thị hành lang bắt gặp nên nghiêm nghị hét lên “Nam!”. Cậu bé mở rộng vòng tay, làm cử chỉ ngạc nhiên và biểu tỏ vẻ mặt ngây thơ vô tội “Cô gọi gì em ạ?”. Liệu Nam đang sống một tâm trạng khác? Trạng thái thay thế này có thể giúp cậu chịu đựng nỗi đau cảm xúc? Nam không thực sự hiểu chuyện gì vừa diễn ra hay cậu ta nghĩ rằng mình nào có làm điều gì đâu cơ chứ? Cậu ta quá héo hon vì tội lỗi và/ hoặc tủi hổ vì điều mình gây ra đến độ cậu đơn giản không thể tin nổi mình thực sự đã làm chuyện khủng khiếp? Khả năng câu trả lời là Không. Nam chắc chắn quan tâm nhiều tới chuyện cậu ta có thể bị trừng phạt, kèm với lời thông báo tới bố mẹ, và thậm chí có thể bị đình chỉ học tập. Nên cậu chuẩn bị thử một chiến lược dài hơi. Cậu sẽ làm hết sức để vị nữ giám thị tin rằng không thực sự thấy những gì đôi mắt mình đã ghi nhận. Sảnh đường đông nghẹt. Có thể là ai đó khác chăng. Có thể hành động ấy chỉ là ‘tình cờ’. Nếu cậu ta thể hiện vừa đủ vẻ ngạc nhiên, ngây thơ, và sự phẫn nộ chính đáng thì biết đâu chừng, đúng là biết đâu đấy, cô giáo sẽ bắt đầu tự nghi ngờ bản thân. Cậu bé hy vọng, không giống mình, cô giáo có thể là dạng nhiễu tâm (chẳng hạn, mang lương tâm thái quá và cảm giác cực đoan về tội lỗi hoặc tủi hổ) để nghĩ rằng cô giáo có thể đánh giá nhầm tình huống, có thể cô giáo thậm chí tự mắng mỏ bản thân vì vội vàng quy kết hoặc dễ góp phần gây nên một nỗi đau cảm xúc. Sách lược này từng được việc rồi, có thể nó sẽ lại tiếp tục được việc lần nữa.

Ví dụ vừa nêu dựa vào một trường hợp có thật. Đáng lưu ý, khi ‘Nam’ nhận ra cậu ta không thể diễn trò với giám thị hành lang, cậu bất đắc dĩ ngừng việc chối bỏ và nói rằng, ‘Vâng, có thể em làm thế thật song cô giáo giám thị đã tin chắc vậy vì cô ấy luôn nói xấu về em’. Nam đang dùng một số chiêu thức khác để diễn tiếp trò sắp đặt, dẫn dắt và tạo mánh khóe gây ấn tượng; điều quan trọng nhất cần nhận ra là không giống với những gì xảy ra trong trường hợp chối bỏ tâm lý đích thực như một cơ chế phòng vệ, vụ của Nam không cho thấy nỗi thống khổ được biểu lộ và thể hiện buồn thương khi sự chối bỏ kết thúc. Lý do đơn giản là tự bản thân Nam chưa bao giờ ‘chối bỏ’ (trạng thái tâm lý). Cậu ta chỉ đang nói dối thôi, và dần cậu ta ngừng việc nói dối vì chuyện đó chẳng dẫn cậu ta đến đâu cả. Cậu ta chuyển từ việc nói dối sang xin lỗi và hành hạ nạn nhân cũng là các chiêu trò dẫn dắt và mánh khóe gây ấn tượng hiệu quả.

Không thể nhấn mạnh đủ rằng ‘chối bỏ’ của người phụ nữ lớn tuổi bất hạnh thì không giống với sự ‘chối bỏ’ của cậu bé bắt nạt bạn học tên Nam. Một là cơ chế phòng vệ, một thuộc chiêu trò dẫn dắt và lảng tránh trách nhiệm; một là cơ chế vô thức bảo bọc người ta khỏi nỗi đau khổ cảm xúc sâu thẳm, một là lời nói dối được tính toán và cân nhắc rõ ràng.

Tuy thế, thực tế nhiều vị dùng cùng thuật ngữ để mô tả các hành vi rất khác hẳn nhau này. Ít nhiều cảm thấy khó chịu khi ngay cả người hành nghề chăm sóc sức khỏe còn xem là chỉ có mỗi một dạng chối bỏ và họ thường giả định rằng hễ cứ nhắc tới chối bỏ thì bó nó vào mớ cơ chế phòng vệ phức tạp. Nghe họ nói về thân chủ cứ ngoan cố ‘phòng vệ’ thuộc hành vi có vấn đề này khác khi thực chất, họ đang mô tả thân chủ còn tiếp tục ‘nói dối và trình diễn’ như phần của trò chơi bày đặt gây ấn tượng và lảng tránh trách nhiệm. Lần nữa, ‘chối bỏ’ e là một trong các thuật ngữ sức khỏe tâm thần dễ bị dùng sai.

Thấy gì qua huyền thoại ‘nhà tâm lý có thể đọc vị tâm trí kẻ khác’?

Chưa cần tốt nghiệp rồi vừa không ngừng bổ túc kiến thức lẫn kỹ năng vừa mò mẫm hành nghề, chỉ mới gặp mặt hoặc nghe nói mình học Tâm lý thôi là có vẻ dễ khiến thiên hạ hay bạn bè quen biết nghĩ ta thừa sức xem tướng, coi bói, rành chuyện này chuyện nọ hay giỏi đến mức đọc vị được tâm trí họ.

Các bình phẩm suýt xoa thường kiểu ‘Nè, nói chuyện cẩn thận nghe, vì nhà tâm lý học ở đây có thể đoán biết những gì bọn mình suy nghĩ đó’. Khởi sự ấy có thể là tấm lòng thán phục chân thành hoặc lời đùa tếu vô tư; rằng nhiều người nghĩ làm một nhà tâm lý học thì sở hữu quyền năng ghê gớm: dễ dàng khám phá những gì kẻ khác che giấu. Tin tắp lự (đáng ngờ vực vô cùng) là người này có khả năng mở cái đầu ta và nhìn thấy những gì nằm trong đó.

Điều ấy không chỉ là niềm tin sai lầm duy nhất từng nghe về công việc tâm lý học. Còn nhiều nhiều vô kể. Chúng gây phấn khích đến độ đủ khiến ta một ngày muốn nhặt nhạnh rồi đặt cái tên: những trò mèo tâm lý; dù lắm lúc dùng giải lao, buồn cười vui vẻ phết song đôi khi trở thành vấn đề quan ngại thực sự.

Chẳng hạn, nghĩ tới cách một thân chủ cảm nhận khi anh ta tiếp cận tham vấn tâm lý và nghĩ về nhà trị liệu như thể vị này đã biết tuốt các suy tư của mình đến độ không cần thiết dành nhiều thời gian kể lể, mô tả cảm xúc bản thân: ‘Quái lạ, nhà tâm lý này cứ hỏi đi rồi hỏi lại mãi. Tại sao? Chẳng phải ông này biết mọi thứ chỉ đơn giản nhìn vào mình thôi mà? Có lẽ tay nghề ông này không giỏi lắm, hoặc có thể đây chưa là dạng trị liệu xịn, hoặc tự thân cái môn tâm lý học e có vấn đề chăng! Đúng thế, tâm lý học đích thực đồ đểu giả; chỉ tổ làm tốn thời gian và tiền bạc!’

Nghiêm túc mà nói, rất quan trọng việc cần có ý tưởng thực tế những gì người ta có thể và không thể mong đợi khi làm việc với một nhà tâm lý, và đôi khi có thể bảo vệ họ khỏi cảm giác bị lừa dối. Vì vậy, phải nói to lên và rõ ràng (nếu ai đó cảm thấy quá thẳng thừng thì mong được cảm thông) rằng nếu nghĩ một nhà tâm lý biết mỗi một suy nghĩ của mình chỉ nhờ quan sát thì ta đã sai.

Làm thế nào những trò mèo tâm lý này lại có thể khởi lên rồi lớn nhanh dễ dàng đến thế? Chúng không thể sinh ra từ sự rỗng không. Hãy thử gắng tưởng tượng xem chúng từ đâu tới. Khi trò mèo về ‘nhà tâm lý thấu thị’, khả năng cao giữ vai trò lý giải ở đây là khái niệm “vô thức” (unconscious). Nhờ Freud nghiên cứu, hầu hết người làm tâm lý biết ý nghĩa của từ đó; bất chấp vài khác biệt giữa các trường phái phân tâm học, tất cả đều tán đồng rằng nó là điều trong tâm trí mà chúng ta không nhận ra được. Freud làm việc dựa trên khái niệm này; ông nghĩ một bệnh nhân có thể cải thiện sức khỏe tâm lý nhờ dần nhận biết nền tảng vô thức trong các cảm xúc của bản thân. Vậy nên ông đặt để điều ấy như là mục tiêu trị liệu và gắng giúp các bệnh nhân của mình nhìn thấy những gì nằm bên dưới bề mặt đời sống ý thức. Đấy là điều nhà phân tâm học vẫn còn làm việc cho tới ngày nay.

Chẳng nghi ngờ chuyện một người không làm tâm lý phát hiện bao điều huyền bí ở đây. Được giúp đỡ để nhìn ra điều nằm sẵn trong tâm trí mình dù nó vốn chẳng hề rành mạch gì thì nghe ra như sự bói toán vậy. Và người ta dễ nghĩ những ai có thể giải mã cảm xúc của họ giỏi đến thế khác chi thầy phù thủy có phép lạ. Kỳ thực, không bí hiểm gì cho cam; nó đơn giản là vấn đề của kỹ năng.

Các kiểu dạng công việc thảy đều cần những kỹ năng chuyên biệt. Một thợ may áo quần giỏi việc ướm đo, chọn vải, cắt và ráp vá.  Anh ta sẽ cho điều ấy là tự nhiên và không hề nghĩ rằng việc may vá là chuyện gì to tát lắm, dù với không ít cánh đàn ông ấy thật bất khả vì họ không hề có kỹ năng.

Nhà tâm lý cũng cần các kỹ năng chuyên biệt. Công việc là trợ giúp và để trợ giúp, nhà tâm lý phải giỏi giang trong việc lắng nghe và thấu hiểu mọi người tốt hơn… thường dân. Do vậy sự thật kém lãng mạn hẳn đi: các nhà tâm lý học đơn giản tập trung chú ý vào những gì nghe được và nhìn thấy, và biết các lý thuyết có thể lý giải mọi chuyện liên quan. Lý thuyết và trải nghiệm giúp nhà tâm lý học lưu ý tới các chi tiết nhỏ nhặt mà hầu hết mọi người không hay nhìn ra và thậm chí còn thấy chúng thú vị, và nhà tâm lý giúp người ta nghĩ về những ý nghĩa bị giấu kín.

Song khoan, đợi chút nhé: nếu dừng tại đây, người ta chắc đúng khi tin rằng một người được đào tạo bài bản có thể đọc vị tâm trí họ. Người ta dễ phát biểu dạng: “Ồ, chỉ là do học hành chăm chỉ và nghiên cứu thấu đáo thôi ư? Nên kẻ không nhiều trải nghiệm thật khó, còn chuyên gia được đào tạo ngọn ngành thông tỏ có thể thực sự đọc được suy tư của mình chứ nhỉ.’

Anh ta không thể đâu. Điều giảng dạy cốt lõi trong đào tạo tâm lý là không có nhà tâm lý được đào tạo hoàn hảo nhất cũng như lý thuyết tốt nhất trên thế giới thì không thể chứng thực sai sót. Sự thật, kết quả tốt nhất một nhà tâm lý giỏi có thể thành tựu là chọn lựa nhiều đầu mối rồi tìm ra một cách lý giải cung cấp vài ý nghĩa liên quan nhất.  Song sẽ luôn luôn có điều gì đó không khít khớp, phù hợp.

Con người ta vốn phức tạp, phức tạp hơn lý thuyết nhiều, và mình phải luôn sẵn sàng thay đổi các giả thuyết của bản thân. Thử làm một bước tiến xa hơn: mình không thể đưa ra bất kỳ diễn giải nào có sẵn vì chẳng những con người phức tạp mà họ còn luôn tiến hóa, thay đổi rồi phát triển theo nhiều cách thức mới mẻ nữa. Ví von khi nghĩ về điều này là đừng ‘phải lòng’ bất kỳ chẩn đoán nào, ngay các chẩn đoán sát hợp và làm ta say mê ghê gớm. Một nhà tâm lý giỏi nhất thiết phải luôn giữ một không gian tự do trong lòng để anh ta có thể khai sinh các giả thuyết mới.

Lý do khác để mọi người có những niềm tin sai lầm về nhà tâm lý: các nguồn không luôn luôn đáng tin cậy. Nghĩ về cách các nhà tâm lý được mô tả trên phim ảnh và truyền hình nhiều tập thì tất rõ. Các nhà tâm lý là sự nhào trộn từ sự kiện và hư cấu; ngay cả khi lấy cảm hứng bởi công việc của một nhà tâm lý thực thì nhiều điều trong đó vẫn thừa yếu tố bịa đặt, dựng chuyện. Và mình thường quên mất một bộ phim là một bộ phim, và một bộ phim có thể không bao giờ mô tả thực tế đúng như nó là, chưa nói nhiều lúc gây phản cảm và buồn chán…

Hy vọng những câu từ trên thuyết phục ai còn mơ hồ, hoài nghi  và mong sẽ ngày càng ít đi người sẽ cảm thấy bị lột trần trước một nhà tâm lý.

Lời cuối. Chỉ nghĩ thôi sẽ buồn cười ngay chuyện có thể đoán biết trúng phóc tất cả các câu trả lời trong chương trình truyền hình Ai Là Triệu Phú nhỉ mà không phải đầu tư học hỏi, tích lũy kiến thức lẫn cóc cần ai trợ giúp téo tẹo gì cả.

Thiền tập như một hệ thống

Cách tiếp cận mang tính hệ thống đối với việc tập thiền (meditation) chắc chắn đem lại nhiều lợi lạc hơn hẳn so với các kiểu tiến hành ít quy củ, thiếu tổ chức chặt chẽ.

Thử hình dung một danh sách ngắn để lý giải tại sao.

Một hệ thống thiền tập (phát triển) thì…

  • 1. Có khả năng lặp lại.
  • 2. Được cấu trúc/ xác định rất rõ ràng.
  • 3. Học viên và người hướng dẫn, giảng dạy có thể so sánh tiến bộ và kết quả.
  • 4. Các thuật ngữ và khái niệm dùng nhất quán, đủ để giải thích, thấu hiểu và so sánh tiến bộ/ kết quả.
  • 5. Tính độc lập của vị thầy/ sư phụ; cho dẫu bậc thầy có mất đi sau đó thì hệ thống vẫn vận hành được. Nói khác, nó ít phụ thuộc vào ‘con người’ mà nghiêng về sự vận dụng của hệ thống.
  • 6. Tự thân hệ thống có thể được nhìn nhận như vị thầy (tựa Đức Phật tôn kính Pháp là vị thầy của Ngài vậy).
  • 7. Một hệ thống có thể được giảng dạy và phân xếp thật dễ dàng; chí ít xử lý ổn hơn so với việc kế thừa đặc thù từ nhân cách của vị thầy.
  • 8. Một hệ thống cần có yếu tố khoa học: giống như một thục nghiệm ai đó có thể thử lại hết sức thành công.
  • 9. Một hệ thống lôi cuốn người học: con đường được sắp đặt rõ ràng, nhiều học viên khóa trước có thể trợ giúp và xác lập con đường. Tiến bộ tạo nên từng bước và có thể so sánh với người khác.
  • 10. Các vị thầy của hệ thống thế có khả năng đánh giá tốt tiến bộ của mỗi học viên dựa trên kinh nghiệm của họ với cùng bộ hướng dẫn tương tự cho những người trước… Điều này làm giáo viên giỏi hơn và hệ thống càng thêm tinh tế.
  • 11. Hệ thống tốt lên, càng tường tận tỉ mỉ và vị hướng dẫn càng dễ dự liệu, đoán biết cũng như đánh giá tiến bộ của người học.

Cần lưu ý, điều diễn giải trên không hề biện hộ cho bất kỳ hệ thống thiền tập Phật giáo riêng biệt nào. Xem các kinh có thể nhìn ra cách (các) hệ thống được đặt để suốt thời Đức Phật. Và ngay cả một phương pháp luận nào đó cần thiết cho phép các biến thể dựa vào tính cách của hành giả thì chuyện ấy cũng có thể được tiếp cận một cách hệ thống.

Dĩ nhiên, khi dạng hệ thống ấy dần chỉ còn được ghi nhận qua giấy tờ và chết héo (không có sự truyền thừa, tiếp nối) thì thật khó khăn để phục hồi nó đúng như những ‘câu chữ’ vốn dùng ghi lại. Và người ta có lý do biết ơn một số hệ thống thiền tập xác thực trong vài thập niên trở lại đây như phương pháp Goenka, Mahasi, v.v…

Năng lực cải tiến của các hệ thống thiền tập này sẽ trở nên sành sỏi với các hướng dẫn (sau khi lão luyện về chúng) và nhờ cập nhật dựa trên trải nghiệm của người học các hệ thống này, và mối quan hệ của chúng với các lời chỉ dạy rõ ràng Đức Phật tất càng thêm ý nghĩa cho những ai theo đuổi…